1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng

99 420 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 5,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột (BTNB) trong dạy học nghề điện dân dụng ở trung tâm KTTH HNDN, từ đó vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột để thiết kế hoạt động dạy học nghề điện dân dụng góp phần phát huy tính tích cực, khả năng tìm tòi kiến thức, hứng thú học tập của học sinh. 3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3.1 Khách thể nghiên cứu Hoạt động dạy và học nghề điện dân dụng của giáo viên và học sinh có sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trung tâm KTTHHNDN. 3.2 Đối tượng nghiên cứu Phương pháp bàn tay nặn bột Chương trình nghề điện dân dụng 4. Giả thuyết khoa học Nếu trong quá trình dạy học môn điện ở trung tâm KTTHHNDN giáo viên vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột theo một quy trình hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể thì sẽ phát huy được tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS. Qua đó nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm KTTH HNDN 5. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến phương pháp dạy học BTNB. Nghiên cứu thực trạng dạy học và việc đổi mới PPDH nghề điện dân dụng ở trung tâm KTTHHNDN. Thiết kế hoạt động dạy học nghề điện dân dụng có sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột Thực nghiệm sư phạm để xác định tính khả thi của việc vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học nghề điện dân dụng

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY HỌC 5

NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG 5

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5

1.1.1 Tình hình nghiên cứu và vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở nước ngoài 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trong nước 8

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 11

1.2.1 Các khái niệm công cụ 11

1.2.1.1 Bàn tay nặn bột 11

1.2.1.2 Phương pháp bàn tay nặn bột 11

1.2.1.3 Nghề Điện dân dụng 13

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp bàn tay nặn bột 15

1.2.3 Nguyên tắc khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột 15

1.2.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột 16

Trang 2

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY

NẶN BỘT 19

1.3.1 Phương pháp bàn tay nặn bột chính là dạy học tìm tòi - khám phá 19

1.3.2 Phương pháp bàn tay nặn bột về mặt cơ sở khoa học dựa trên thuyết kiến tạo 25

1.3.3 Ý nghĩa của phương pháp bàn tay nặn bột 27

1.4 THỰC TRẠNG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG DƯỚI GÓC ĐỘ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 29

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” 35

TRONG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG 35

2.1 NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG 35

2.1.1.Vị trí, mục tiêu, chương trình nghề điện dân dụng 35

2.1.2 Đặc điểm nghề điện dân dụng 40

2.2 QUY TRÌNH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG 42

2.3 MỘT SỐ BÀI SOẠN MINH HỌA 46

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 KIỂM NGHIỆM - ĐÁNH GIÁ 72

3.1 MỤC ĐÍCH CỦA KIỂM NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ 72

3.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN 72

3.2.1 Phương pháp chuyên gia 72

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 78

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, HÌNH TRONG LUẬN VĂN

1 Danh mục bảng

Bảng 1.2 Bảng so sánh vai trò của quan niệm ban đầu đối với GV và HS 24

Bảng 3.1 GV nhận định về tác dụng của việc vận dụng phương pháp BTNB 74

Bảng 3.2 Mức độ phân bổ thời gian vận dụng phương pháp bàn tay nặn bộttrong dạy học nghề điện dân dụng do GV nhận xét 76

Bảng 3.3 Căn cứ vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột của GV 77

Bảng 3.4 Bảng phân phối kết quả kiểm tra sau khi dạy xong bài (Một số vấn

đề chung về máy biến áp) 80

Bảng 3.5 Bảng phân phối kết quả kiểm tra sau khi dạy xong bài (Quấn máybiến áp một pha) 80

Bảng 3.6: Bảng phân phối tần số, tần suất, tần số tích lũy bài “Một số vấn đềchung về máy biến áp” 82

Bảng 3.7: Bảng phân phối tần số, tần suất, tần số tích lũy bài “Quấn máy biến

áp một pha” 83

Bảng 3.8: Tổng hợp phân loại HS theo kết quả điểm 85

Bảng 3.9: Bảng giá trị các tham số đặc trưng 85

2 Danh mục hình

Hình 1.1 Sơ đồ tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học 22Hình 2.3 Chiếu sáng và nguồn cung cấp điện cho phòng ở 70Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong bài ( Một số vấn đề chung về máy biến áp) 84Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong bài(Quấn máy biến áp một pha) 84

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Điều 28, Khoản 2 của Luật Giáo dục chỉ rõ: “ Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phùhợp với đặc điểm của từng lớp học môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”

Những năm vừa qua, cùng với những thành tựu về kinh tế - xã hội củađất nước, giáo dục - đào tạo trong đó có đào tạo nghề đã đạt được những thànhtựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu,

nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Chất lượng giáo dục có tiến bộ,

nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, so vớimong muốn của thầy và trò, của phụ huynh, của Đảng, Nhà nước và xã hội thìchưa đáp ứng Giáo dục và đào tạo nước ta chưa đóng góp được vào việc đưanguồn nhân lực (chất lượng cao) trở thành thế mạnh thực sự của đất nước trongquá trình hội nhập và phát triển

Một trong những nguyên nhân quan trọng của thực trạng trên là do cáchdạy và học trong nhà trường hiện nay về cơ bản vẫn là: Thầy truyền thụ vàgiảng giải kiến thức; trò tiếp nhận và ghi nhớ kiến thức thầy trao cho Cách dạyhọc như vậy kết hợp với cách thi, cách đánh giá học sinh (ai nhớ nhiều, họcthuộc nhiều, đưa đúng đáp số thì điểm cao) khiến cho việc tiếp thu kiến thứccủa HS còn thụ động, việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HScòn nhiều hạn chế

Một phương pháp dạy học mới “Bàn tay nặn bột” (BTNB) đã được triểnkhai áp dụng ở Việt Nam Đây là phương pháp dạy học đã gặt hái được nhiềuthành công ở các nước có nền giáo dục tiên tiến như Pháp, Mỹ, Canada

Trang 5

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, khaithác được khả năng tự tìm tòi, sáng tạo của học sinh.

Trong chương trình đào tạo nghề ở các trung tâm KTTH - HNDN thìđào tạo nghề Điện dân dụng có nhiều ứng dụng gắn với thực tiễn nên khi giảngdạy đòi hỏi người dạy bên cạnh trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản cầnhướng dẫn học sinh rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo Việc này không chỉ giúphọc sinh có những kiến thức lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nâng cao khả năngsáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huốngtrong thực tiễn cuộc sống, sau khi tốt nghiệp ra trường học sinh có thể hoànthành tốt công việc được giao tại nơi làm việc mà còn có thể có những ý tưởngmới có thể đem lại hiệu quả cao hơn cho các công việc đó, đáp ứng được cácyêu cầu ngày càng cao của xã hội

Từ những lý do trên, cùng với mong muốn được tìm hiểu và nâng caotính ứng dụng của phương pháp BTNB trong dạy nghề điện dân dụng, chúng

tôi đã chọn đề tài “Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học

nghề điện dân dụng”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương phápbàn tay nặn bột (BTNB) trong dạy học nghề điện dân dụng ở trung tâm KTTH-HNDN, từ đó vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột để thiết kế hoạt động dạyhọc nghề điện dân dụng góp phần phát huy tính tích cực, khả năng tìm tòi kiếnthức, hứng thú học tập của học sinh

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy và học nghề điện dân dụng của giáo viên và học sinh cósử dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trung tâm KTTH-HNDN

2

Trang 6

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp bàn tay nặn bột

- Chương trình nghề điện dân dụng

4 Giả thuyết khoa học

Nếu trong quá trình dạy học môn điện ở trung tâm KTTH-HNDN giáoviên vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột theo một quy trình hợp lý, phù hợpvới điều kiện cụ thể thì sẽ phát huy được tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS.Qua đó nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm KTTH - HNDN

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến phương pháp dạy

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích lý thuyết, tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu cáctài liệu về lý luận dạy học, phương pháp bàn tay nặn bột, về tính tích cực họctập Phân tích tổng hợp, hồi cứu tư liệu, so sánh… để xác định mục đích nghiêncứu và các nhiệm vụ của đề tài

- Phương pháp quan sát sư phạm, điều tra phỏng vấn: Điều tra khảo sáttình hình dạy học nghề điện dân dụng ở Trung tâm KTTH-HNDN hiện nay đểtìm hiểu thực trạng và kiểm nghiệm đánh giá các đề xuất của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác: Phương pháp chuyên gia, thựcnghiệm sư phạm, thống kê toán học… để thu thập và xử lí số liệu trong kiểmnghiệm đánh giá các đề xuất của đề tài

Trang 7

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phục lục, luận văngồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp

“bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng

Chương 2: Vận dụng phương pháp “ bàn tay nặn bột” trong dạy học

nghề điện dân dụng

Chương 3: Kiểm nghiệm, đánh giá

4

Trang 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY HỌC

NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Năm 1995, giáo sư Georges Charpak dẫn một đoàn gồm các nhà khoahọc và các đại diện của Bộ Giáo dục quốc gia Pháp đến một khu phố nghèo ởChicago, Mỹ nơi có một phương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thựchành, thí nghiệm đang được thử nghiệm

Trong năm học 1995-1996, Ban Trường học đã vận động khoảng 30trường thuộc 3 tỉnh tình nguyện thực hiện

Tháng 4/1996: Một hội thảo nghiên cứu được tổ chức tại Poitiers (miềnTrung nước Pháp), tại đây kế hoạch hành động đã được giới thiệu và triển khai

Ngày 09/7/1996: Viện Hàn lâm khoa học đã thông qua quyết định thựchiện chương trình

Tháng 9/1996: Cuộc thử nghiệm đầu tiên được tiến hành bởi Bộ Giáodục quốc gia Pháp với cuộc thi giữa 5 tỉnh Cuộc thi này thu hút 350 lớp Nhiềutrường đại học, viện nghiên cứu tham gia giúp đỡ các giáo viên thực hiện cáctiết dạy

Tính từ đây, phương pháp BTNB được ra đời nhưng đó là một sự kếthừa của các thử nghiệm trước đó Lịch sử ra đời của nó là cả một quátrình lâu dài

Năm 1997, một nhóm chuyên gia của Viện Hàn lâm khoa học và ViệnNghiên cứu sư phạm quốc gia Pháp được thành lập để thúc đẩy sự phát triểncủa khoa học trong trường học Dưới sự tài trợ của Bộ Giáo dục quốc gia Pháp,trang web http://www.inrp.fr/lamap ra đời vào tháng 5/1998 nhằm cung cấpthông tin, tài liệu để giúp đỡ giáo viên trong các hoạt động dạy học khoa họctrong nhà trường Trang web cũng tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin

Trang 9

giữa các giáo viên và trao đổi giữa các nhà khoa học với các giáo viên xungquanh hoạt động dạy học khoa học.

Tháng 9/1998, Viện Hàn lâm khoa học Pháp soạn thảo 10 nguyên tắc cơbản của BTNB Sáu nguyên tắc đầu tiên liên quan đến tiến trình phương pháp

và bốn nguyên tắc còn lại nêu rõ những bên liên quan tới cộng đồng khoa họcgiúp đỡ cho BTNB

Tháng 5/2004 tại Paris, hội thảo quốc gia về hỗ trợ khoa học, công nghệtrong các trường Tiểu học được tổ chức Trong khuôn khổ hội thảo này, Hộiđồng quốc gia về hỗ trợ khoa học, công nghệ trong trường Tiểu học được thànhlập Hiến chương về hỗ trợ khoa học, công nghệ trong trường Tiểu học đượcsoạn thảo để phục vụ hướng dẫn cho các đơn vị liên quan

Năm 2005, một thỏa thuận đã được ký kết giữa Viện Hàn lâm khoa họcPháp và Bộ Giáo dục quốc gia Pháp nhằm tăng cường vai trò của hai cơ quannày đối với giáo dục khoa học và kỹ thuật Một thỏa thuận mới được ký kết vàonăm 2009 giữa Viện Hàn lâm khoa học, Bộ Giáo dục quốc gia và Bộ Giáo dụccấp cao và nghiên cứu

Các cơ quan báo chí, truyền thông cũng đã có nhiều chương trình, phóngsự khoa học dành cho BTNB Từ tháng 9/2002 đến tháng 8/2005, kênh FranceInfo đã giới thiệu liên tục BTNB vào thứ 5 hàng tuần trên truyền hình Trongcác chương trình này, các giáo viên, các giảng viên và các nhà khoa học đãtrình bày các hoạt động khoa học thực hiện được với trẻ em

Cùng với việc phát triển và truyền bá rộng rãi phương pháp này trongnước, Bộ Giáo dục quốc gia Pháp đã phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, các

bộ liên quan và Viện nghiên cứu Sư phạm quốc tế tại Paris để tổ chức các hộithảo quốc tế về BTNB nhằm giúp các quốc gia quan tâm về nguồn tài liệu,cách làm và triển khai phương pháp này vào chương trình giáo dục của mỗinước theo đặc thù về văn hóa cũng như chương trình giáo dục Hội thảo quốc

6

Trang 10

tế lần thứ nhất về Dạy học khoa học trong trường học đã được tổ chức vàotháng 5/2010 Hội thảo đã thu hút thành viên đại diện của 33 quốc gia tham dự.Tại Hội thảo này, Hội gặp gỡ Việt Nam cũng đã tài trợ cho bà Nguyễn ThịThanh Hương - chuyên viên phụ trách Tiểu học Phòng Giáo dục và Đào tạoquận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham dự Sau thành công của Hội thảonày, hội thảo lần thứ hai được tổ chức từ 9-14/5/2011 tại Paris với gần 40 quốcgia ngoài khối công đồng chung châu Âu (EU) tham gia Việt Nam có 2 đạidiện tham dự đó là TS Phạm Ngọc Định (Vụ Tiểu học-Bộ Giáo dục-Đào tạo)

và NCS Ths Trần Thanh Sơn (Đại học Quảng Bình, cộng tác viên phụ tráchchương trình BTNB của Hội Gặp gỡ Việt Nam) [25]

1.1.1 Tình hình nghiên cứu và vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở nước ngoài

Ngay từ khi mới ra đời, BTNB đã được tiếp nhận và truyền bá rộng rãi.Nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp tác với Viện Hàn lâm khoa học Pháp trongviệc phát triển phương pháp này như Brazil, Afghanistan, Bỉ, Campuchia,Chili, Trung Quốc, Thái Lan, Colombia, Hy Lạp, Malaysia, Marốc, Serbi, Thụysỹ, Đức… trong đó có Việt Nam thông qua Hội Gặp gỡ Việt Nam Tính đếnnăm 2009, có khoảng hơn 30 nước tham gia trực tiếp vào chương trình BTNB

Nhờ sự bảo trợ của Vụ Công nghệ - Bộ Giáo dục quốc gia Pháp, trangweb quốc tế dành cho 9 quốc gia được thành lập năm 2003 nhằm đăng tải tàiliệu cung cấp bởi các giáo viên, giảng viên theo ngôn ngữ của mỗi nước thànhviên tham gia

Hệ thống các trang web tương đồng (site miroir) với trang web BTNBcủa Pháp được nhiều nước thực hiện, biên dịch theo ngôn ngữ bản địa của cácquốc gia như Trung Quốc, Hy Lạp, Đức, Serbia, Colombia…

Bản đồ một số vùng, quốc gia tham gia phát triển phương pháp BTNBtrên thế giới (theo LAMAP France)

Trang 11

Tháng 7 năm 2004, trường hè quốc tế về BTNB với chủ đề "Bàn tay nặnbột trên thế giới : trao đổi, chia sẽ, đào tạo" đã được tổ chức ở Erice-Ý dànhcho các chuyên gia Pháp và các nước.

Hội đồng khoa học quốc tế (International Council for Science-ICSU) vàHội các viện hàn lâm quốc tế (Inter Academy Panel-IAP) phối hợp tài trợ đểthành lập cổng thông tin điện tử về giáo dục khoa học, trong đó nội dungBTNB được đưa vào Cổng thông tin đa ngôn ngữ này được thành lập vàotháng 4/2004 [26]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trong nước

Hội Gặp gỡ Việt Nam (tên theo tiếng Pháp là Rencontres du Vietnam)được thành lập vào năm 1993 theo luật Hội đoàn 1901 của Cộng hòa Pháp doGiáo sư Jean Trần Thanh Vân-Việt kiều tại Pháp làm Chủ tịch Hội tập hợp cácnhà khoa học ở Pháp với mục đích hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vựckhoa học, giáo dục; tổ chức các hội thảo khoa học, trường hè về Vật lý; traohọc bổng khuyến học, khuyến tài cho học sinh và sinh viên Việt Nam

Phương pháp dạy học BTNB được đưa vào Việt Nam là một cố gắng nỗlực to lớn của Hội Gặp gỡ Việt Nam Phương pháp BTNB được giới thiệu tạiViệt Nam cùng với thời điểm mà phương pháp này mới ra đời và bắt đầu thửnghiệm áp dụng trong dạy học ở Pháp Dưới đây chúng tôi xin tóm lược sơ bộ

về lịch sử quá trình đưa phương pháp BTNB vào Việt Nam dựa trên tổng hợpcác tài liệu, biên bản họp, hội nghị, hội thảo và chương trình làm việc của HộiGặp gỡ Việt Nam trong 15 năm từ năm 1995 đến 2010 :

10/1995: Với lời mời của Giáo sư Jean Trần Thanh Vân, chủ tịch HộiGặp gỡ Việt Nam, Giáo sư Georges Charpak (cha đẻ của phương pháp BTNB)

đã về Việt Nam tham dự hội thảo quốc tế về Vật lý năng lượng cao tổ chức tạiThành phố Hồ Chí Minh Trong khuôn khổ hội thảo quốc tế này, Giáo sư

8

Trang 12

Georges Charpak đã thăm làng trẻ em SOS Gò Vấp và trường phổ thôngHermann Gmeiner tại thành phố Hồ Chí Minh và đã hứa giúp đỡ Việt Namtrong việc đưa phương pháp BTNB vào các trường học.

09/1999-03/2000: Tổ chức BTNB Pháp (LAMAP FRANCE) đã tiếpnhận và tập huấn cho một nữ thực tập sinh Việt Nam là giáo viên Vật lý tại mộttrường trung học dạy song ngữ tiếng Pháp ở thành phố Hồ Chí Minh Đây làngười Việt Nam đầu tiên được tiếp cận và tập huấn với phương pháp BTNB

11/2000: Hội Gặp gỡ Việt Nam với sự giúp đỡ của ông Léon Lederman

đã gửi 5 đại biểu của Việt Nam tham dự Hội thảo quốc tế về giảng dạy khoahọc ở trường Tiểu học tại Bắc Kinh-Trung Quốc Các đại biểu gồm : BàNguyễn Thị Thanh Hương-Phó trưởng Khoa Vật lý, Đại học Sư phạm Hà Nội;

Bà Lê Phương Trà và ông Lê Trọng Tường giảng viên Khoa Vật lý, Đại học Sưphạm Hà Nội; ông Hà Huy Bằng, giảng viên; ông Nguyễn Kế Hào - Vụ trưởng

Vụ Giáo dục Tiểu học, Bộ Giáo dục-Đào tạo

2000-2002 Tại Hà Nội, BTNB đã được phổ biến cho sinh viên ĐHSP HàNội, phương pháp BTNB được áp dụng thử nghiệm tại trường Tiểu học ĐoànThị Điểm (Hà Nội), trường Herman Gmeiner Hà Nội và trường thực hànhNguyễn Tất Thành (thuộc ĐHSP Hà Nội) Chủ đề giảng dạy là: Nước, Khôngkhí và Âm thanh Các lớp này được giảng dạy bởi các sinh viên Đại học SưPhạm Hà Nội

Nhóm hỗ trợ cho BTNB được thành lập gồm bà Nguyễn Thị ThanhHương-Phó trưởng khoa Vật lý, bà Lê Phương Trà và ông Lê Trọng Tường,giảng viên Khoa Vật lý-Đại học Sư phạm Hà Nội Nhóm này gặp gỡ giáo viênmột tuần một lần và liên hệ, làm việc trực tiếp với Giáo sư Trần Thanh Vân

Từ 2002 đến nay, dưới sự giúp đỡ của Hội Gặp gỡ Việt Nam, phối hợpvới các trường đại học và các sở Giáo dục-Đào tạo địa phương, các lớp tậphuấn về BTNB đã được triển khai cho các giáo viên cốt cán và các cán bộ quản

lý tại nhiều địa phương trong toàn quốc với hơn 1000 người Các giảng viên

Trang 13

tập huấn là các giáo sư tình nguyện người Pháp đến từ Viện đào tạo giáo viên(IUFM), Đại học Tây Bretagne.

12/2009: Trong chuyến công tác về Việt Nam để tham dự Hội nghịngười Việt Nam ở nước ngoài theo lời mời của Chính phủ Việt Nam, Giáo sưTrần Thanh Vân đã gặp gỡ và trao đổi về chương trình phát triển BTNB tạiViệt Nam với Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển (phụ trách Giáo dục Tiểu học) và

Vụ trưởng Vụ Tiểu học Lê Tiến Thành

8/2010: Giáo sư Trần Thanh Vân có cuộc gặp gỡ, trao đổi với Bộ trưởng

Bộ Giáo dục-Đào tạo Phạm Vũ Luận và thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển (phụtrách Giáo dục Tiểu học) trong đó có nội dung về định hướng phát triểnphương pháp BTNB tại Việt Nam

8/2011: Lần đầu tiên Bộ Giáo dục-Đào tạo phối hợp với Hội Gặp gỡViệt Nam tổ chức Hội thảo cho Cán bộ quản lý Tiểu học và THCS và 1 lớptập huấn về phương pháp BTNB cho chuyên viên, giáo viên cốt cán các tỉnhThừa Thiên-Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình tại thành phố Huế Hội thảo

và tập huấn tại Huế được quan tâm chỉ đạo sâu sát của Thứ trưởng NguyễnVinh Hiển, TS Phạm Ngọc Định - Phó Vụ trưởng Vụ Tiểu học, TS NguyễnSỹ Đức - Phó Vụ trưởng Vụ Trung học, các chuyên viên của Bộ Giáo dục-Đào tạo [27]

Như vậy, phương pháp bàn tay nặn bột đã được triển khai, áp dụng ởcấp tiểu học và THCS ở Việt Nam Tuy nhiên đối với nghề điện dân dụng thìphương pháp bàn tay nặn bột là chưa được áp dụng rộng rãi Để đáp ứng sựphát triển không ngừng của xã hội, đổi mới phương pháp trong dạy học nhưmột điều tất yếu Vì vậy nghiên cứu cơ sở lí luận trong phương pháp dạyhọc BTNB nhằm vận dụng vào thực tiễn giảng dạy nghề điện dân dụngnhằm phát huy tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê môn học của họcsinh khi học nghề

10

Trang 14

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Các khái niệm công cụ

1.2.1.2 Phương pháp bàn tay nặn bột

Phương pháp dạy học "Bàn tay nặn bột" (BTNB), tiếng Pháp là La main

à la pâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạy họckhoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy họccác môn khoa học tự nhiên Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sưGeorges Charpak (Giải Nobel Vật lý năm 1992) Theo phương pháp BTNB,dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đềđược đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiêncứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình [7]

Triết lí căn bản của phương pháp “Bàn tay nặn bột” (BTNB) là dạy họcdựa vào các hoạt động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá thực tiễn để chính họcsinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống, từ đó rút racác kiến thức và hình thành kĩ năng theo yêu cầu dưới sự hướng dẫn của giáoviên Với triết lí đó, phương pháp BTNB đề cao vai trò chủ thể tích cực, độclập sáng tạo của học sinh, đặt học sinh vào vị trí của một nhà khoa học Học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động, học tập tiến bộdần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, trao đổi với bạn bè, trình bày

Trang 15

quan điểm của mình, đối lập với các quan điểm của người khác, tranh luận tạo

ra môi trường học tập tích cực

Minh họa sau đây sẽ làm rõ hơn về sự khác nhau giữa phương pháp dạyhọc truyền thống và phương pháp BTNB [30]

Khái niệm LAMAP: LAMAP là một phương pháp dạy học tích cực dựatrên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự

12

Trang 16

nhiên LAMAP chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng cácthí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đềđược đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiêncứu tài liệu hay điều tra… Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt

ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thínghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông quathảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức [33]

Phương pháp bàn tay nặn bột (PPBTNB) là phương pháp dạy học tíchcực do Giáo sư Georger Charpak (người Pháp) sáng tạo ra và phát triển từ năm

1995 dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu Đây là PPDH đượctổng hợp của nhiều PPDH tích cực khác nhau [23]

1.2.1.3 Nghề Điện dân dụng

a) Nghề phổ thông

Trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Nghề là công việc chuyên làm theophân công lao động trong xã hội Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và để phục

vụ xã hội

Nghề phổ thông là một khái niệm đã được đề cập rất nhiều trong các vănbản pháp luật thuộc lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên cho đến nay chưa có từ điểnnào đề cập đến khái niệm nghề phổ thông

Trong luận án tiến sĩ của mình, Nguyễn Toàn có đưa ra khái niệm “ Nghềphổ thông là nghề phổ biến trong xã hội đã được đưa vào kế hoạch giáo dục củatrường phổ thông, thuộc học vấn phổ thông nhằm dạy HS vận dụng kiến thứcphổ thông vào một lĩnh vực nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng cơ bản của mộtnghề, tạo điều kiện làm tốt công tác hướng nghiệp và rèn luyện kỹ năng cơ bảncủa một nghề, tạo điều kiện làm tốt công tác hướng nghiệp cho HS phổ thông”

Trong điều 27, Luật Giáo dục quy định Mục tiêu của giáo dục phổ thông

“ Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh….Có những hiểu biết ban đầu

Trang 17

về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp,học nghề hoặc đi vào đời sống lao động”, Giáo dục trung học phổ thông nhằmgiúp học sinh… có những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp, cóđiều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục họcđại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào đời sống lao động”

Trong quá trình thực hiện giáo dục nghề phổ thông và giáo dục hướngnghiệp, HS cần được tìm hiểu các lĩnh vực nghề nghiệp phổ biến trong xã hội

để định hướng nghề nghiệp, qua đó cũng thấy rõ sự phù hợp của năng lực bảnthân với yêu cầu của từng nghề cụ thể Thông qua học nghề, HS vận dụng đượckiến thức kỹ năng đã học ở môn Công nghệ và các môn học khác vào thực tiễnđời sống Nghĩa là sau khi học nghề, HS có thể tham gia lao động nghề nghiệpđơn giản tại địa phương hoặc học tiếp nghề tại các trường chuyên nghiệp Ởđây quan trọng là HS có thể hiểu về nghề đã học, hiểu năng lực của bản thân để

có sự lựa chọn nghề thích hợp

b)Nghề điện dân dụng

Nghề điện dân dụng là một nghề phổ thông nên nó cũng có những đặcđiểm, tính chất của nghề phổ thông như:

- Là một nghề phổ biến trong xã hội, mang tính chất học vấn phổ thông,

có nội dung, chương trình thuộc kế hoạch giáo dục phổ thông

- Mục tiêu của nghề điện dân dụng là cung cấp cho học sinh những trithức và hình thành những kỹ năng ban đầu của một số công việc về điện như:

An toàn điện, vật liệu và dụng cụ dùng trong nghề điện, mạng điện sinh hoạt vàcác đồ dùng điện trong gia đình

- Đặc điểm về đối tượng lao động của nghề điện dân dụng là: Nguồnđiện một chiều, xoay chiều điện áp dưới 380 Mạch điện sinh hoạt trong các hộtiêu thụ, các đồ dùng điện, các thiết bị đo lường, bảo vệ và điều khiển điện

Từ những đặc điểm và tính chất trên ta có thể khái quát về nghề điện

dân dụng (phổ thông) như sau: Nghề điện dân dụng là một nghề phổ biến trong

14

Trang 18

xã hội được đưa vào kế hoạch giáo dục trong trường phổ thông, nhằm định hướng nghề nghiệp cho HS và cung cấp cho HS những kỹ năng kỹ xảo ban đầu về an toàn điện cũng như kỹ năng kỹ xảo khác về mạng điện sinh hoạt và các thiết bị điện khác trong mạng, làm cơ sở cho việc tham gia lao động hay tiếp tục học nghề điện ở mức độ cao hơn [6]

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp bàn tay nặn bột [23]

Phương pháp bàn tay nặn bột có các đặc trưng sau:

- Nghiên cứu các đồ vật của thế giới thực tế, gần gũi với HS để HS cóthể cảm nhận được dễ dàng

- Khoa học cũng như các hoạt động khám phá

- Chính HS là người thực hiện các thí nghiệm thực hành, chứ không phảicác thí nghiệm đã được làm sẵn hay thiết kế sẵn

- GV giúp HS xây dựng nên kiến thức của riêng các em

- Thực hiện trong khoảng thời gian dài liên tục

- HS có một cuốn vở nhật kí học tập của riêng mình với các từ ngữ của

riêng mình

- Chú trọng đến: Đặt câu hỏi, tự chủ, kinh nghiệm

- Cùng nhau xây dựng kiến thức

- Bài học không phải là những nội dung phải học thuộc lòng

1.2.3 Nguyên tắc khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột [23]

10 nguyên tắc cơ bản của PPBTNB: chia làm 2 nhóm

a) 6 nguyên tắc về tiến trình sư phạm:

- Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại,gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó

- Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa

ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có nhữnghiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên

Trang 19

- Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theotiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làmcho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phầntự chủ khá lớn.

- Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đềtài Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảmbảo trong suốt thời gian học tập

- Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các

em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em

- Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩthuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của học sinh

b) 4 nguyên tắc về những đối tượng tham gia:

- Các gia đình và/ hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các côngviệc của lớp học

- Các cơ sở khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…)giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình

- Các viện đào tạo giáo viên (Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học Sưphạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp dạy học

- Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung vềnhững môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về cáchoạt động, những giải pháp thắc mắc Giáo viên cũng có thể tham gia hoạtđộng tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với cácnhà khoa học Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất nhữnghoạt động của lớp mình phụ trách

1.2.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột

1.2.4.1 Vai trò của giáo viên

Người GV ở đây không phải là truyền thụ những kiến thức dưới dạngthuyết trình, trình bày mà là giúp HS xây dựng kiến thức bằng cách cùng hành

16

Trang 20

động Do đó GV có vai trò là người hướng dẫn, lãnh đạo, tổ chức HS hoạtđộng, làm việc để chiếm lĩnh tri thức khoa học GV phải đưa ra những tìnhhuống, các hoạt động, quyết định hành động đi liền với những chuẩn đoán vềsự tiến bộ của HS, thu hẹp những cái có thể và chỉ ra các thông tin nếu thấy cầnthiết Làm cho HS học tập một cách tích cực trong giờ học GV là người trunggian giữa khoa học và HS, là người đàm phán với HS những thay đổi nhậnthức liên quan đến những câu hỏi được xử lý với các thiết bị thực nghiệm thíchđáng, với mô hình giải thích hợp lý, phải đảm bảo sự đón trước và giải quyết cácxung đột nhận thức hành động với mỗi cá nhân HS cũng như với mỗi nhóm HS

và cả lớp Khi làm việc với HS, GV có thể đặt câu hỏi gợi ý nhưng không đượcphép áp đặt HS làm theo, hiểu theo chủ quan của mình, câu hỏi phải là câu gợi

mở Tuy nhiên, thế giới tự nhiên muôn hình, muôn vẻ, sự tò mò ham hiểu biếtcủa HS, những thắc mắc, chúng sẽ đặt ra cho GV những câu hỏi bất ngờ, khógiải thích nổi thì ở mức độ nào đó không phải yêu cầu GV phải biết tất cả Họ cóthể nói “Tôi không biết, chúng ta hãy quan sát và cùng thử tìm xem”

1.2.4.2 Vai trò của học sinh

Phương pháp này đặt HS vào vị trí của nhà nghiên cứu, tích cực, chủđộng tự khám phá, phát hiện ra tri thức, chân lý khoa học HS sẽ học cách trảlời và tổ chức hành động của họ để có thể đưa ra câu hỏi thích đáng Công việcnày đòi hỏi HS phải mày mò việc nghiên cứu thông tin Nghiên cứu nhữngphương tiện có sẵn để trả lời, chính nó đã đề cập đến việc học tập làm khoahọc Trước một vấn đề khoa học được nêu ra, dưới sự gợi ý tùy theo mức độcủa GV, HS sẽ chia nhóm, đề xuất quan điểm riêng trong nhóm, thảo luận, raquan điểm, phương án thí nghiệm nhằm lý giải tiên đoán của mình Mỗi HS,mỗi nhóm có một quyển vở để tự phác họa, thiết kế thí nghiệm của mình và tựrút ra kết luận, có thể diễn đạt bằng những sơ đồ, hình vẽ hay lời văn diễn giải.Quyển vở này sẽ được HS lưu lại và HS sẽ tự điều chỉnh quan điểm, phương ánthực hiện khi tìm được câu trả lời có lý hơn Thiết bị để làm thí nghiệm cũng có

Trang 21

thể do HS tự lựa chọn theo ý đồ của riêng mình, của nhóm Có thể chọn mộtvài thứ trong số đồ dùng thí nghiệm có sẵn trong phòng thí nghiệm, hoặc vali

đồ dùng thí nghiệm nhưng HS cũng có thể tự sưu tầm, tự tạo thiết bị thí nghiệmtừ các nguyên vật liệu có sẵn trong đời sống Với cách này, không nhất thiết

HS chỉ có một phương án thống nhất mà có thể bằng nhiều phương án để tìm rakết luận

1.2.5 Tiến trình dạy học phương pháp bàn tay nặn bột

Tiến trình thực hiện của PPBTNB

Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

(do GV đưa ra phải ngắn gon, gần gũi và dễ hiểu đối với HS)

Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu của HS (từ tình huông xuất phát

do GV đưa ra, HS tự đua ra câu hỏi, quan niệm ban đầu của mình)

Bước 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

Bước 5: Kết luận, hợp thức hòa kiến thức

Từ bước 2 đến bước 5 là hoàn toàn HS tự làm, GV chỉ giúp đỡ để HS tựxây dựng kiến thức của riêng mình

Như vậy, để đạt được mục tiêu của phương pháp BTNB ngoài đòi hỏi

HS phải luôn động não, sáng tạo, hoạt động, thảo luận tích cực để tìm ra kiếnthức, thì việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với HS theo độ tuổi là mộtvấn đề quan trọng đối với GV GV phải tự đặt ra các câu hỏi như: Có cần thiếtgiới thiệu kiến thức này không? Cần thiết giới thiệu kiến thức này vào thời

18

Trang 22

điểm nào? Cần yêu cầu HS tìm hiểu kiến thức này ở mức độ nào? Buộcngười giáo viên phải năng động, sáng tạo, không theo một khuôn mẫu nhấtđịnh để xác định các kiến thức khoa học xây dựng tình huống xuất phát cho

HS, giáo viên có quyền biên soạn tiến trình dạy học cho riêng mình phù hợpvới từng đối tượng HS và điều kiện nhà trường [23]

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAYNẶN BỘT

1.3.1 Phương pháp bàn tay nặn bột chính là dạy học tìm tòi khám phá

-Khám phá (chỉ nói riêng trong lĩnh vực khoa học) được dùng để chỉ sựphát hiện ra cái mới Các hoạt động học tìm kiếm kiến thức mới bằng giảiquyết xong một nhiệm vụ học tập từ cá nhân HS do trí thông minh hay nghiêncứu các tài liệu từ thảo luận nhóm… những hoạt động đó của học sinh được gọi

là khám phá

Phương pháp dạy học khám phá được hiểu là phương pháp mà dưới sựhướng dẫn của GV, thông qua các hoạt động, HS khám phá ra một tri thức nào

đó trong chương trình môn học

Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phương pháp dạy

và học khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh,bản chất của nghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức khoa học cũngnhư kĩ năng mà học sinh cần nắm vững Phương pháp dạy học này cũng dựatrên sự tin tưởng rằng điều quan trọng là phải đảm bảo rằng học sinh thực sựhiểu những gì được học mà không phải đơn giản chỉ là học để nhắc lại nộidung kiến thức và thông tin thu được Không phải là một quá trình học tập hờihợt với động cơ học tập dựa trên sự hài lòng từ việc khen thưởng, dạy học khoahọc dựa trên tìm tòi nghiên cứu đi sâu với động cơ học tập được xuất phát từ sựhài lòng của học sinh khi đã học và hiểu được một điều gì đó Dạy học khoa

Trang 23

học dựa trên tìm tòi nghiên cứu không quan tâm đến lượng thông tin được ghinhớ trong một thời gian ngắn mà ngược lại là những ý tưởng hay khái niệm dẫnđến sự hiểu biết ngày càng sâu hơn cùng với sự lớn lên của học sinh

a) Bản chất của nghiên cứu khoa học trong phương pháp bàn tay nặn bột

Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB là mộtvấn đề cốt lõi, quan trọng Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của HS không phải làmột đường thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp HS tiếp cận vấn đề đặt

ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận địnhban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếucác nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kếtquả với các nhóm khác; nếu không phù hợp HS phải quay lại điểm xuất phát,tiến hành lại các thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệm như đề xuất củacác nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt raban đầu Trong quá trình này, HS luôn luôn phải động não, trao đổi với các HSkhác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức Con đườngtìm ra kiến thức của HS cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra kiến thứcmới của các nhà khoa học

b) Lựa chọn kiến thức khoa học trong phương pháp bàn tay nặn bột

Việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với HS theo độ tuổi là mộtvấn đề quan trọng đối với GV GV phải tự đặt ra các câu hỏi như: Có cần thiếtgiới thiệu kiến thức này không? Cần thiết giới thiệu kiến thức này vào thờiđiểm nào? Cần yêu cầu HS tìm hiểu kiến thức này ở mức độ nào? GV có thểtìm câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và tàiliệu hỗ trợ GV (sách GV, sách tham khảo, hướng dẫn thực hiện chương trình)

để xác định rõ hàm lượng kiến thức phù hợp với trình độ cũng như độ tuổi của

HS và điều kiện nhà trường

20

Trang 24

c) Cách thức học tập của học sinh

Phương pháp BTNB dựa trên thực nghiệm và nghiên cứu cho phép GVhiểu rõ hơn cách thức mà HS tiếp thu các kiến thức khoa học Phương pháp

BTNB cho thấy cách thức học tập của HS là “khám phá có hướng dẫn” dựa

trên tính tò mò tự nhiên của các em, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xungquanh mình qua việc tham gia các hoạt động nghiên cứu Các hoạt động nghiêncứu cũng gợi ý cho HS tìm kiếm để rút ra các kiến thức cho riêng mình, qua sựtương tác với các HS khác cùng lớp để tìm phương án làm thí nghiệm hay giảithích các hiện tượng Các suy nghĩ ban đầu của HS rất nhạy cảm, ngây thơ, cótính lôgic theo cách suy nghĩ của HS, tuy nhiên thường không chính xác về mặtkhoa học

Trang 25

PHÁT BIỂU CÂU HỎI MỚI

Bạn còn câu hỏi gì? Bạn có câu

ĐỀ XUẤT

Bạn có thể thử làm gì? Bạn đang băn khoăn về điều gì? Bạn đã biết cái gì? Bạn

đang quan tâm đến cái gì?

THIẾT KẾ VÀ ĐIỀU KHIỂN QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU

RÚT RA KẾT LUẬN CUỐI CÙNG

Chúng ta biết được gì từ tất cả quá trình nghiên cứu?

Chúng ta có những minh chứng gì cho những ý tưởng của mình?

GIAO TIẾP VỚI MỌI NGƯỜI

Bạn muốn nói gì với những người khác?

Bạn nói với họ như thế nào? Điều gì là quan trọng?

Hình 1.1 Sơ đồ tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học

Trang 26

d) Quan niệm (biểu tượng) ban đầu của học sinh

Quan niệm ban đầu là những biểu tượng ban đầu, ý kiến ban đầu của HS

về sự vật, hiện tượng trước khi được tìm hiểu về bản chất sự vật, hiện tượng.Đây là những quan niệm được hình thành trong vốn sống của HS, là các ýtưởng giải thích sự vật, hiện tượng theo suy nghĩ của HS, cịn gọi là các "kháiniệm ngây thơ" (nạve conceptions) Thường thì các quan niệm ban đầu nàychưa tường minh, thậm chí cịn mâu thuẫn với các giải thích khoa học mà HS

sẽ được học Biểu tượng ban đầu khơng phải là kiến thức cũ, kiến thức đã đượchọc mà là quan niệm của HS về sự vật, hiện tượng mới (kiến thức mới) trướckhi học kiến thức đĩ Khơng chỉ ở HS nhỏ tuổi mà ngay cả đối với người lớncũng cĩ những quan niệm sai, biểu tượng ban đầu cũng cĩ những nét tươngđồng mặc dù người lớn cĩ thể đã được học một hoặc vài lần về kiến thức đĩ

Quan niệm ban đầu vừa là một chướng ngại vừa là động lực trong quátrình hoạt động nhận thức của HS Chẳng hạn, trước khi học, HS cho rằng

"Khơng khí khơng phải là vật chất" vì HS suy nghĩ "Cái gì khơng thấy là khơngtồn tại" Chính sự trong suốt khơng nhìn thấy của khơng khí đã dẫn HS đếnquan niệm như vậy Do đĩ để giúp HS tiếp nhận kiến thức mới một cách sâusắc và chắc chắn, GV cần "phá bỏ" chướng ngại này bằng cách cho HS thựchiện các thí nghiệm để chứng minh quan niệm đĩ là khơng chính xác Chướngngại chỉ bị phá bỏ khi HS tự mình làm thí nghiệm, tự rút ra kết luận, đối chiếuvới quan niệm ban đầu để tự đánh giá quan niệm của mình đúng hay sai

Tạo cơ hội cho HS bộc lộ quan niệm ban đầu là một đặc trưng quantrọng của phương pháp dạy học BTNB Trong phương pháp BTNB, HS đượckhuyến khích trình bày quan niệm ban đầu, thơng qua đĩ GV cĩ thể hướng dẫn

HS đề xuất các câu hỏi và các thí nghiệm để chứng minh Quan niệm ban đầucủa HS là rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên nếu để ý, GV cĩ thể nhận thấytrong các quan niệm ban đầu đa dạng đĩ cĩ những nét tương đồng Chính từnhững nét tương đồng này GV cĩ thể giúp HS nhĩm lại các ý tưởng ban đầu để

Hình 1.1 Sơ đồ tiến trình tìm tịi nghiên cứu khoa học

Trang 27

từ đó đề xuất các câu hỏi Quan niệm ban đầu của HS thay đổi tùy theo độ tuổi

và nhận thức của HS Do vậy việc hiểu tâm sinh lý lứa tuổi của HS luôn là mộtthuận lợi lớn cho GV khi tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp BTNB

Bảng so sánh sau cho thấy vai trò của quan niệm ban đầu đối với GV và

HS trong quá trình dạy học:

MỘT SỰ NHẬN THỨC

- Về sự tồn tại quan niệm "sai", hoặc

không thích hợp;

- Về việc những HS khác không có

cùng quan niệm như mình

ĐIỂM XUẤT PHÁT, NỀN TẢNG

MÀ TRÊN ĐÓ KIẾN THỨC SẼ

ĐƯỢC THIẾT LẬP

- Cần thiết xây dựng một vốn tri thức

khoa học, bắt buộc phải làm cho kiến

thức đó phát triển

MỘT SỰ CHUẨN ĐOÁN

- Về kiến thức của HS mà GV cầnquan tâm

- Tính đến những chướng ngại ẩnngầm và những khả năng hiểu biết củangười học

- Nhận thức được con đường còn phảitrải qua giữa các quan niệm của ngườihọc với mục đích của GV

- Sự chậm chạp của quá trình học tập

và con đường quanh co mà việc họctập này phải trải qua

XỬ LÍ

- Xác định một cách thực tế về trình

độ bắt buộc phải đạt được

- Lựa chọn những tình huống sưphạm, các kiểu can thiệp và nhữngcông cụ sư phạm thích đáng nhất.VÀ LÀ MỘT PHƯƠNG TIỆNĐÁNH GIÁ

Bảng 1.2 Bảng so sánh vai trò của quan niệm ban đầu đối với GV và HS Bảng 1.2 Bảng so sánh vai trò của quan niệm ban đầu đối với GV và HS

24

QUAN NIỆM = SỰ CHỈ DẪN = PHƯƠNG TIỆN THÚC ĐẨY

(ĐỂ ĐẠT MỤC ĐÍCH)

Trang 28

1.3.2 Phương pháp bàn tay nặn bột về mặt cơ sở khoa học dựa trên thuyết kiến tạo

Theo thuyết kiến tạo: Học tập là tự kiến tạo tri thức [4]

Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thểnhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Khi học tập, mỗi ngườihình thành thế giới quan riêng của mình Tất cả những gì mà mỗi người trảinghiệm sẽ được sắp xếp chúng vào trong “bức tranh toàn cảnh về thế giới” củangười đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình một bức tranh thế giới Từ đó chothấy cơ chế học tập theo thuyết kiến tạo trái ngược với cách học tập cơ họctheo thuyết hành vi: thay cho việc HS tham gia các chương trình dạy học đượclập trình sẵn, người ta để cho HS có cơ hội để tự tìm hiểu HS phải học tập từ

lý trí riêng và có thể làm điều này càng tốt hơn nếu không phải tuân theo mộtchương trình giảng dạy cứng nhắc, mà có thể tự mình điều chỉnh rất nhiều quátình học tập của chính mình

a) Quan niệm chính của thuyết kiến tạo

- Không có tri thức khách quan tuyệt đối Tri thức được xuất hiện thôngqua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, vì thếtri thức mang tính chủ quan

- Với việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhân thức trong việc giải thích vàkiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết định hướng chủ thể

- Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập để giúpngười học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình đã đượcchủ thể điều chỉnh

- Học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mớitri thức

b) Đặc điểm của thuyết kiến tạo

- Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiếntạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học và nội dung học tập

Trang 29

- Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực vàvấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát mộtcách tổng thể.

- Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực củangười học, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới

có thể thay đổi và cá nhân hóa những kiến thức và kỹ năng đã có

- Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua sự tương tác xãhội trong nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân

- Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa

- Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thểhọc hỏi dễ nhất từ những nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc có tínhthách thức

- Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức việcdạy và học Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có

lý trí, mà cả mặt tình cảm, thái độ, giao tiếp

- Mục đích học tập là kiến tạo kiến thức của bản thân, nên khi đánh giácác kết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểmtra những tiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tậpphức hợp

c) Hạn chế của thuyết kiến tạo

- Quan điểm cực đoan trong thuyết kiến tạo phủ nhận sự tồn tại của trithức khách quan là không thuyết phục

- Một số tác giả nhấn mạnh quá đơn phương rằng chỉ có thể học tập có ýnghĩa những gì mà người ta quan tâm Tuy nhiên cuộc sống đòi hỏi cả nhữngđiều mà khi còn đi học người ta không quan tâm

- Việc đưa các kỹ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không cóluyện tập cơ bản có thể hạn chế hiệu quả học tập

26

Trang 30

- Việc nhấn mạnh đơn phương việc học trong nhóm cần được xem xét.Năng lực học tập cá nhân vẫn luôn đóng vai trò qua trọng.

- Dạy học theo lý thuyết kiến tạo đòi hỏi thời gian lớn và yêu cầu cao vềnăng lực của GV

1.3.3 Ý nghĩa của phương pháp bàn tay nặn bột [40]

Phương pháp bàn tay nặn bột là phương pháp có nhiều ưu điểm , đóngvai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS Mở ranhiều triển vọng tốt đẹp nếu thực hiện lâu dài và có hệ thống đối với phương

pháp này.

a) Phát triển tri giác cho học sinh

Khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột, HS sẽ quan sát sự vật, hiệntượng một cách tỉ mỉ chính xác hơn, cùng lúc quan sát nhiều chi tiết và bắt đầuxuất hiện nhu cầu giải thích hiện tượng Quan sát độc lập, HS tự ghi chépnhững gì mình quan sát được Trình độ nhận thức của các em được nâng cao,các em phát huy khả năng tư duy sáng tạo trong học tập Mỗi thí nghiệm, mỗivấn đề khoa học các em suy nghĩ ra nhiều phương án mới, đồng thời có khảnăng làm ra các dụng cụ thí nghiệm khác để chứng minh cho một chân lý

b) Phát triển trí tưởng tượng

Trí tưởng tượng có vai trò rất quan trọng của mỗi con người Trong hoạtđộng khoa học, trí tưởng tượng lại càng quan trọng hơn Đối với các nhà khoahọc trí tưởng tượng góp phần to lớn trong việc khám phá, sáng chế phươngtiện, dụng cụ, phục vụ cho cuộc sống con người

Tưởng tượng bắt nguồn từ hiện thực khách quan Trong dạy học GV cầnchú ý đến việc phát triển trí tưởng tượng cho HS Dạy học theo phương phápbàn tay nặn bột đáp ứng được yêu cầu trên qua việc tập cho HS tưởng tượngdựa trên sự mô tả của ngôn ngữ, xây dựng nên biểu tượng mà không cần phải

có sự vật đặt trước mắt, mang tưởng tượng của HS từ chỗ dựa vào trực quan cụ

Trang 31

thể lên tưởng tượng dựa vào ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ Trong quá trình

HS thao tác với dụng cụ thí nghiệm, hình ảnh sự vật hiện tượng được thể hiện

có tính chất đầy đủ và trọn vẹn hơn Sự sắp xếp các hiện tượng khá chặt chẽ,đồng thời các em có khả năng gọt dũa những biểu tượng cũ và sử dụng để tạobiểu tượng mới Trí tưởng tượng dựa trên ngôn ngữ HS đã được phát triển

c) Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành và thói quen tự tìm tòi và phát triển ngôn ngữ khoa học cho học sinh

Đi đôi với việc cung cấp kiến thức, cần phải hình thành cho HS phươngpháp học Chẳng hạn, khi sử dụng các dụng cụ thí nghiệm khéo léo chính xác,hiệu quả là điều không thể thiếu được trong việc học tập nhất là đối với mônkhoa học thí nghiệm Trong dạy học, để rèn luyện HS những kĩ năng này, tránhtình trạng đa số các em vào thế bị động máy móc cần phải để các em chủ độngnhận thức các sự vật hiện tượng xung quanh cuộc sống Sự tích cực sẽ làm cho

tư duy của các em phát triển nhanh hơn Học tập theo phương pháp bàn tay nặnbột, người học sẽ chủ động đề xuất các phương án, tìm cách giải quyết cácphương án và giải thích kết quả đã thu được Điều này có nghĩa là HS phải tựtìm cách trình bày ý tưởng, phương án tiến hành thật rõ ràng, cụ thể thuyết phụcngười nghe.Vì thế HS phải vận dụng ngôn ngữ và khả năng sử dụng sắp xếp từngữ để diễn dạt Khi diễn đạt một hiện tượng nào đó mà HS không đủ vốn từ đểdiễn đạt thì GV có thể giúp đỡ Nhờ đó mà HS sẽ hiểu kỹ về sự vật hiện tượng

và nhanh chóng xây dựng mối quan hệ sâu sắc giữa thuật ngữ khoa học và nộihàm của nó Thông qua những hoạt động do mình tiến hành, các em sẽ nhận ratrước đây nhiều khái niệm còn hiểu lơ mơ hay thậm chí hiểu sai Như vậy, quaphương pháp bàn tay nặn bột, ngôn ngữ của HS được phát triển nhanh

d) Phương pháp bàn tay nặn bột sẽ hình thành thế giới quan khoa học đúng đắn

Khi học tập theo phương pháp này, HS có được vốn tri thức khoa họcphong phú và đa dạng, giúp HS giải thích được các hiện tượng tự nhiên, có

28

Trang 32

cái nhìn đúng đắn về hiện tượng tự nhiên Nghĩa là nhìn thế giới tự nhiên mộtcách duy vật biện chứng Ngoài ra, việc học tập theo phương pháp bàn taynặn bột sẽ rèn luyện cho HS đức tính tốt đẹp: cần cù, chịu khó, lòng kiênnhẫn, tính cẩn thận.

1.4 THỰC TRẠNG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG DƯỚI GÓC ĐỘPHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

* Mục đích

Nhằm phân tích đánh giá, khảo sát việc vận dụng phương pháp bàntay nặn bột trong dạy học nghề điện dân dụng, thực trạng cơ sở vật chấtđược trang bị phục vụ giảng dạy

* Nội dung

- Việc vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học nghề điệndân dụng

- Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học

- Thực trạng dạy và học nghề điện dân dụng

* Đối tượng khảo sát

Để làm rõ thực trạng quá trình dạy học và việc vận dụng phương phápbàn tay nặn bột trong dạy học nghề điện dân dụng Tác giả đã lập phiếu điều trakhảo sát 20 giáo viên dạy nghề điện dân dụng ở một số trung tâm KTTH-HNtại Hà Nội về thực trạng dạy và học nghề điện dân dụng

* Phương pháp tiến hành khảo sát

- Phương pháp điều tra khảo sát: Xây dựng phiếu điều tra (Phụ lục 3,4) gửi phiếu điều tra cho các giáo viên dạy và học sinh khối lớp 8 - 11 đangtheo học nghề điện dân dụng ở các Trung tâm KTTH-HNDN , thu thập ýkiến đánh giá

- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu để thu thập thêm các thông tin

- Tổng hợp và phân tích kết quả

Trang 33

* Kết quả khảo sát

Qua khảo sát thực tế và phân tích kết quả thu được, tác giả rút ra đượcnhận xét khái quát về thực trạng dạy học nghề điện dân dụng ở các Trung tâmKTTH-HNDN về vấn đề vận dụng phương pháp “bàn tay nặn bột” như sau:

Nhìn chung một số giáo viên đang có những biến chuyển theo hướngtích cực Đã nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng phương phápbàn tay nặn bột để tạo hứng thú học tập cho học sinh học nghề Trong phươngpháp dạy học từ dạy học thuyết trình, đàm thoại chuyển sang các phương phápđòi hỏi tính tích cực chủ động lĩnh hội kiến thức của học sinh như phương phápdạy học giải quyết vấn đề, dạy học nhóm Giáo viên không còn đóng vai tròđơn thuần là người truyền đạt kiến thức một chiều mà bước đầu đã trở thànhngười thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm đểhọc sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành kỹ năng, thái độ theo yêu cầucủa chương trình Tuy nhiên, đó chỉ là một số ít trong thực tế hiện nay do nhậnthức của cá nhân người giáo viên hoặc do cách quản lý của cơ sở, phòng banchuyên môn địa phương công tác Thực tế cho thấy ở các bộ môn hướngnghiệp nghề giáo viên chưa chú trọng giảng dạy một cách đúng mức, trangthiết bị dạy học còn thiếu Trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên không đồngđều do đó chất lượng dạy cũng không đảm bảo Phần lớn các giáo viên chưachú ý đến tính tích cực của học sinh học nghề, ít chú ý đến việc hướng dẫn tựhọc tập ở nhà Đa số các giáo viên chỉ quen thuộc với cách kiểm tra bài cũ đầugiờ cốt sao cho đủ số lần điểm miệng Việc kiểm tra định kỳ chỉ đơn giản làthực hiện theo phân phối chương trình, trước khi kiểm tra sẽ giới hạn cho họcsinh một phần kiến thức (kiểm tra viết) hoặc làm đơn giản đối với bài kiểm trathực hành

Một thực tế hiện nay vẫn chưa có nhiều chuyển biến đó là đa số giáoviên quan niệm kiến thức là mục đích của quá trình dạy học nên chỉ quan tâm

30

Trang 34

đến phương pháp truyền thụ kiến thức của bài đúng với nội dung SGK Một sốgiáo viên chưa có kỹ năng soạn bài, vẫn áp dụng một cách rập khuôn, máy móclối dạy học truyền thống chủ yếu giải thích, minh hoạ tái hiện, liệt kê kiến thứctheo SGK là chính, ít sử dụng câu hỏi tìm tòi, tình huống có vấn đề… coi nhẹrèn luyện thao tác tư duy, năng lực thực hành, ít sử dụng các phương tiện dạyhọc nhất là các phương tiện trực quan để dạy học và tổ chức cho học sinhnghiên cứu thảo luận, tìm tòi khám phá, trên cơ sở đó tìm ra kiến thức và conđường để chiếm lĩnh kiến thức của học sinh và vận dụng kiến thức đó vào thực

tế Thực tế, giáo viên thường soạn bài bằng cách sao chép lại SGK hay từ thiết

kế bài giảng, không dám khai thác sâu kiến thức, chưa sát với nội dung chươngtrình, hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề từ nhỏđến lớn trong thực tế đời sống và sản xuất đặc biệt đối với nghề điện dân dụng

là những nghề nặng về thực hành và ứng dụng thực tiễn Khi dạy thường nặng

về thông báo, không tổ chức hoạt động học tập cho các em, không dự kiếnđược các biện pháp hoạt động, không tác động được đến niềm vui, hứng thú,tính tích cực của người học

Mặt khác, phương pháp dạy học phổ biến hiện nay vẫn theo lối mòn,giáo viên truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động lĩnh hội tri thức Thậm chí cógiáo viên còn đọc hay ghi phần lớn nội dung lên bảng hay trình chiếu nội dungSGK cho học sinh chép Việc sử dụng các phương tiện dạy học: Phiếu học tập,tranh ảnh, máy chiếu… không được sử dụng thường xuyên Do việc truyền đạtkiến thức của giáo viên theo lối thụ động nên rèn luyện kỹ năng tự học cũngnhư việc hướng dẫn tự học của giáo viên cho học sinh không được chú ý làmmất tính tích cực hoá học tập và vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành vàvận dụng vào thực tế

Đối với học sinh, qua phiếu điều tra tác giả nhận thấy hầu hết các emđều nhận thức được ý nghĩa của nghề điện dân dụng nhưng chưa có tính tích

Trang 35

cực học tập Việc tích cực và tự bản thân tìm ra tri thức của học sinh đa phầnchỉ dừng lại ở việc học bài cũ, làm bài tập về nhà và thực hiện một số yêu cầucủa giáo viên Với những số liệu cho thấy đa số học sinh chưa có kỹ năng vàtính tích cực học tập Chủ yếu học theo vở ghi chưa chủ động đặt câu hỏi vàtham khảo để trao đổi thảo luận với bạn bè Thời gian tự học còn ít, vẫn còntâm lý ỷ lại, không muốn tham gia học nghề, trong giờ học chưa chú tâm, coimôn học là phụ, điểm chuyên cần thường thấp, trong các giờ thực hành khôngtrú tâm, không tham gia hoặc tham gia lấy lệ vì ngại đụng vào các dụng cụ vàthiết bị thực hành Trong thực tế hiện nay, việc áp dụng các phương pháp dạyhọc tăng tính tích cực học tập của học sinh tại các nghề học đặc biệt là việc vậndụng phương pháp “bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng còngặp rất nhiều lúng túng và khó khăn.

Hiện nay, trên một số phương tiện truyền thông có đề cập đến vấn đềhọc sinh lười phát biểu và coi nhẹ việc học hướng nghiệp nghề đó cũng là yếu

tố tác động không nhỏ đến việc lựa chọn nghề cho các em trong tương lai, ảnhhưởng lớn đến sự phân bổ lao động trong xã hội (việc thừa “thầy” thiếu “thợ”).Sự am hiểu về nghề nghiệp còn thiếu, lựa chọn nghề vẫn mang tính tự phát, ýthích tức thời hoặc nghe theo bạn bè, việc nhận thức, định hướng đúng đắn vàlựa chọn nghề nghiệp cho tương lai của bản thân các em học sinh còn rất yếu

Tác giả xin được chia sẻ những nguyên nhân chính là:

+ Do một số câu hỏi nhàm chán, sự nhàm chán này thường rơi vào haikhả năng hoặc là do câu hỏi quá dễ hoặc là do câu hỏi quá khó nên chưa thuhút được tính tò mò, sáng tạo của học sinh

+ Do áp lực khối lượng kiến thức các môn học quá nhiều

+ Một số thầy cô quá nghiêm khắc, chưa tạo ra được hưng phấn chongười học, thậm chí còn tạo ra tâm lý sợ hãi, căng thẳng mệt mỏi cho học sinh

32

Trang 36

+ Một số học sinh chưa đủ tự tin về năng lực của bản thân nên ngại phátbiểu, một số khác do lười biếng không chuẩn bị bài trước khi đến lớp, một sốkhác lại biết nhưng sợ sai vì ngại với thầy cô, với bạn bè.

+ Do quan niệm nghề điện dân dụng chỉ là “môn phụ” nên không trú tâm

và thấy nó nhàm chán

+ Một số giờ dạy, một số thầy cô chưa thu hút được học sinh Nhữnghạn chế về năng lực, phương pháp, nghệ thuật, kỹ thuật giảng dạy và cả độnhiệt tình ở thầy cô giáo cũng góp phần cho sự lười biếng, ỷ lại trông chờcủa học sinh

+ Sự im lặng của nhiều học sinh trong lớp học kéo dài đã dần trở thànhphong trào cả lớp

+ Do ấn tượng không tốt của một số thầy cô trong quan hệ thầy – trò ảnhhưởng đến sự hợp tác phát biểu và tham gia hoạt động học tập

+ Do học sinh chưa hiểu hết tác dụng của việc xây dựng phát biểu bài.+ Do ảnh hưởng của các tác động trong cuộc sống: Phim ảnh xã hội,mạng internet, trò chơi điện tử, số ít khác do hoàn cảnh gia đình, một số do tácđộng của tình cảm yêu đương nam nữ nên sao nhãng việc học, và vì vậy tất yếucác em sẽ lười học và tính tích cực học tập là không có hoặc rất ít

Trang 37

Phương pháp BTNB có nhiều ưu điểm như: HS làm chủ tri thức, pháttriển kỹ năng làm việc nhóm, phát triển năng lực quan sát, rèn luyện kỹ năng,kỹ xảo thực hành Với phương pháp BTNB HS bắt buộc phải có một quyển vởthực hành do các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em.

Đặc biệt, việc áp dụng phương pháp BTNB vào môn nghề điện dândụng tạo cho học sinh một môi trường học tập thân thiện, mà ở đó chính các emlàm chủ tri thức, GV đóng vai trò hỗ trợ khi cần thiết

Tuy nhiên, HS sẽ lúng túng trong việc tiếp cận với phương pháp dạy họcmới và đòi hỏi HS phải chủ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Việc đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết để đáp ứng nhu cầu pháttriển của xã hội

34

Trang 38

Chương 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”

TRONG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG

- Sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng Đó là lĩnh vực hoạt độngcủa các doanh nghiệp thuộc tổng công ty điện lực Việt Nam và các Sở điệnlực địa phương, đảm bảo xây lắp, vận hành các nhà máy điện, hệ thống truyềntải và cung cấp điện đến từng hộ tiêu thụ

- Chế tạo vật tư và các thiết bị điện Đây là lĩnh vực hoạt động của cácdoanh nghiệp trong sản xuất, chế tạo các loại máy điện, khí cụ điện, thiết bị

đo lường, bảo vệ, điều khiển mạng điện, các vật tư thiết bị điện như dây dẫn,cáp, sứ cách điện…

- Đo lường, điều khiển, tự động hóa quá trình sản xuất Đây là nhữnghoạt động rất phong phú, tạo nên các hệ thống máy sản xuất dây chuyền tựđộng nhằm tự động hóa quá trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượngsản phẩm

- Sửa chữa những hỏng hóc của các thiết bị điện, mạng điện, sửa chữađồng hồ đo điện…

- Nghề điện dân dụng rất đa dạng, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sửdụng điện năng phục vụ cho đời sống, sinh hoạt và sản xuất của các hộ tiêuthụ điện như:

+ Lắp đặt mạng điện sản xuất nhỏ và mạng điện sinh hoạt, ví dụ: lắpđặt mạng điện sản xuất cho phân xưởng, xây lắp đường dây hạ áp, lắp đặtmạng điện chiếu sáng trong nhà và các công trình công cộng ngoài trời

Trang 39

+ Lắp đặt các thiết bị và đồ dùng phục vụ sản xuất và sinh hoạt, ví dụlắp đặt động cơ điện, máy điều hòa không khí, quạt gió, máy bơm…

+ Bảo dưỡng, vận hành, sửa chữa, khắc phục sự cố xảy ra trong mạngđiện sản xuất nhỏ và mạng điện gia đình, các thiết bị và đồ dùng điện gia đình

Do vậy, nghề Điện dân dụng giữ một vai trò quan trọng, góp phần thúcđẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát triển củangành Điện và nâng cao chất lượng cuộc sống con người

2.1.1.2 Mục tiêu nghề điện dân dụng

a) Về kiến thức

- Biết những kiến thức cần thiết về an toàn lao động của nghề

- Biết được những kiến thức cơ bản, cần thiết về đo lường điện trongnghề Điện dân dụng

- Hiểu được những kiến thức cơ bản, cần thiết về công dụng, cấu tạo,nguyên lý làm việc, bảo dưỡng và sửa chữa đơn giản một số đồ dùng điệntrong gia đình

- Hiểu được những kiến thức cơ bản về tính toán, thiết kế mạng điệntrong nhà đơn giản

- Biết tính toán, thiết kế máy biến áp một pha công suất nhỏ

- Biết những kiến thức cần thiết về đặc điểm, yêu cầu, triển vọng pháttriển của nghề Điện dân dụng

b) Về kỹ năng

- Sử dụng được dụng cụ lao động một các hợp lý và đúng kỹ thuật

- Thiết kế và chế tạo được máy biến áp một pha công suất nhỏ

- Thiết kế, lắp đặt được mạng điện trong nhà đơn giản

- Tuân thủ những quy định về an toàn lao động của nghề trong quátrình học tập

- Tìm hiểu được nững thông tin cần thiết về nghề Điện dân dụng

36

Trang 40

c) Về thái độ

2.1.1.3 Chương trình nghề điện dân dụng

Phân phối chương trình nghề điện dân dụng ( THPT - 105 tiết)

Chương I : Đo lường điện

Tiết 6: Bài 3 Khái niệm chung về đo đường điện

Tiết 7,8,9:

chiều

Tiết 20,21,22:

Bài 9 Thực hành tính toán, thiết kế máy biến áp

một pha

Ngày đăng: 11/04/2016, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Đề án phương pháp “Bàn tay nặn bột” ở trường phổ thông giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn tay nặn bột
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
2. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong giáo dục, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXBGiáo Dục
Năm: 1983
3. Nguyễn Văn Cường, Prof. Bernd Meier (2012), Một số phương diện của lý luận dạy học hiện đại, Đại học SP Hà Nội – Đại học Potsdam, Hà Nội 4. Nguyễn Văn Cường, Prof. Bernd Meier (2012), Lý luận dạy học hiện đại,Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học, Đại học SP Hà Nội – Đại học Potsdam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương diện của lýluận dạy học hiện đại", Đại học SP Hà Nội – Đại học Potsdam, Hà Nội4. Nguyễn Văn Cường, Prof. Bernd Meier (2012), "Lý luận dạy học hiện đại,"Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Prof. Bernd Meier (2012), Một số phương diện của lý luận dạy học hiện đại, Đại học SP Hà Nội – Đại học Potsdam, Hà Nội 4. Nguyễn Văn Cường, Prof. Bernd Meier
Năm: 2012
5. Đặng Văn Đào (Chủ biên), Trần Mai Thu (2007), Hoạt động giáo dục nghềphổ thông nghề điện dân dụng 11, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục nghề"phổ thông nghề điện dân dụng 11
Tác giả: Đặng Văn Đào (Chủ biên), Trần Mai Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2007
6. Phan Văn Điệp (2008), Phương pháp dạy học thầy thiết kế – trò thi công trong dạy nghề điện dân dụng ở Trung tâm KTTH-HN. Luận văn thạc sĩ giáo dục học. ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học thầy thiết kế – trò thi côngtrong dạy nghề điện dân dụng ở Trung tâm KTTH-HN
Tác giả: Phan Văn Điệp
Năm: 2008
7. Nguyễn Vinh Hiển (Chỉ đạo nội dung), Phạm Ngọc Định, Nguyễn Thị Thanh Hương, Trần Thanh Sơn, Nguyễn Xuân Thành (2011), Phương Pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học các môn khoa học ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở, Dự án giáo dục THCS vùng khó khăn nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: PhươngPháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học các môn khoa học ở trường Tiểuhọc và Trung học cơ sở, "Dự án giáo dục THCS "vùng khó khăn nhất
Tác giả: Nguyễn Vinh Hiển (Chỉ đạo nội dung), Phạm Ngọc Định, Nguyễn Thị Thanh Hương, Trần Thanh Sơn, Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2011
8. Lê Huy Hoàng, Quách Tất Kiên, Đặng Văn Nghĩa, Phạm Xuân Quế, Nguyễn Xuân Thành, Mai sỹ Tuấn (2013), Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh trường trung học, Bộ GD và ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa họckỹ thuật của học sinh trường trung học
Tác giả: Lê Huy Hoàng, Quách Tất Kiên, Đặng Văn Nghĩa, Phạm Xuân Quế, Nguyễn Xuân Thành, Mai sỹ Tuấn
Năm: 2013
9. Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Văn Bính (2007), Phương pháp luận nghiên cứu sư phạm kĩ thuật, Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứusư phạm kĩ thuật
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Văn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Khôi (2010), Phát triển chương trình giáo dục, Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chương trình giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại Học Sư Phạm
Năm: 2010
11. Nguyễn Văn Khôi (2013), Lý luận dạy học thực hành kỹ thuật, Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học thực hành kỹ thuật
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: Nhà xuấtbản Đại Học Sư Phạm
Năm: 2013
12. Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên) , Phạm Khắc Chương , Nguyễn Ngọc Bảo, Bui Minh Hiền, Bui Văn Quân, Phan Hồng Vinh, Từ Đức Văn, Phạm Viết Vượng (2005), Giáo dục học (Tập 1) Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên) , Phạm Khắc Chương , Nguyễn Ngọc Bảo, Bui Minh Hiền, Bui Văn Quân, Phan Hồng Vinh, Từ Đức Văn, Phạm Viết Vượng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học SưPhạm
Năm: 2005
13. Chu Thanh Thảo (2010), Vận dụng xu hướng bàn tay nặn bột vào dạy khoa học lớp 4, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng xu hướng bàn tay nặn bột vào dạy khoahọc lớp 4
Tác giả: Chu Thanh Thảo
Năm: 2010
14. Nguyễn Toàn (2008), Dạy học nghề điện dân dụng ở Trung tâm KTTH-HN theo hướng liên thông với môn công nghệ phổ thông, Luận án tiến sĩ giáo dục học. DHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nghề điện dân dụng ở Trung tâm KTTH-HNtheo hướng liên thông với môn công nghệ phổ thông
Tác giả: Nguyễn Toàn
Năm: 2008
15. Nguyễn Hữu Trí (1996), Suy nghĩ về dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm”, Tạp chí NCGD số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về dạy học “Lấy học sinh làm trungtâm”
Tác giả: Nguyễn Hữu Trí
Năm: 1996
16. Phạm Thị Hồng Tuyết, Chuyên đề áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột vào môn tự nhiên và xã hội và khoa học ở tiểu học, sở GD ĐT Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề áp dụng phương pháp bàn tay nặn bộtvào môn tự nhiên và xã hội và khoa học ở tiểu học
18. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Giáo trình tâm lý học đại cương, NXB DHSPTác giả người nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáotrình tâm lý học đại cương
Nhà XB: NXB DHSPTác giả người nước ngoài
19. A.V Petrôvxki ( Chủ biên) ( 1982), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sưphạm
Nhà XB: NXB GD
20. Georger Charpark (chủ biên) (1999), Bàn tay nặn bột – Khoa học ở trường tiểu học, Dịch giả Đinh Ngọc Lân, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn tay nặn bột – Khoa học ở trườngtiểu học
Tác giả: Georger Charpark (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
22. PGS-TS.Trần Thanh Ái, Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng và giải pháphttp://khoahocviet.info/site/index.php/khgd/11/15 Link
23. TS. Phạm Thị Hòa (Bộ môn Sinh – khoa Tự nhiên), Phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học khoa học tự nhiênhttp://caodanghaiduong.edu.vn/index.php/vi/don-vi-truc-thuoc/Khoa-Tu-nhien/PHUONG-PHAP-BAN-TAY-NAN-BOT-TRONG-DAY-HOC-KHOA-HOC-TU-NHIEN-53/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh sau cho thấy vai trò của quan niệm ban đầu đối với GV và HS trong quá trình dạy học: - Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng
Bảng so sánh sau cho thấy vai trò của quan niệm ban đầu đối với GV và HS trong quá trình dạy học: (Trang 25)
Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong - Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong (Trang 84)
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong - Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w