1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

124 1,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 22,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng tạo bể chứa cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn, cung cấp số liệu khoa học cho việc xây dựng và thực hiện chương trình cắt giảm khí nhà kính như REDD+ tại Việt Nam, góp phần làm giảm các khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu. 3. Nội dung nghiên cứu của luận văn 3.1. Nghiên cứu năng suất lượng rơi Cơ sở xác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi của rừng. 3.2. Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng thuần loài trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và rừng trồng hỗn giao gồm hai loài trang (Kandelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris). 3.2.1. Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng thuần loài trang (Kandelia obovata) trên đất bãi bồi vào các năm 2000, 2002, 2003 (rừng 13 tuổi, 11 tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. 3.2.2. Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris) vào các năm 1992, 2002, 2003 (rừng 22 tuổi, rừng 11 tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. 3.2.3. Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng hỗn giao gồm hai loài trang (Kandelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris) vào các năm 2000, 2002, 2003 (rừng 13 tuổi, rừng 11 tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. 3.3. Đánh giá khả năng tạo bể chứa cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tậntình của rất nhiều thầy cô giáo Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lờicảm ơn chân thành tới:

TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh là cô giáo trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đềtài này Mặc dù công việc hết sức bận rộn, song cô luôn tận tình chỉ bảo và tạo điềukiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu

PGS TS Mai Sỹ Tuấn, ThS Phạm Hồng Tính, ThS Nguyễn Xuân Tùng đãchia sẻ, truyền đạt kinh nghiệm nghiên cứu vô cùng bổ ích và quý báu trong quátrình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong phòng thí nghiệm của Bộ mônThực vật học, Khoa Sinh học; các cán bộ thuộc Trung tâm nghiên cứu HST rừngngập mặn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cùng các thầy cô ở Bộ môn Độc học,các thầy cô ở Phòng Thí nghiệm, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường HàNội đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ cho tôi khi tôi tiến hànhthí nghiệm

Đề tài nghiên cứu của tôi thuộc đề tài nghiên cứu KHCN cấp Bộ Tài nguyên

và Môi trường: “Nghiên cứu định lượng cacbon tích lũy để đánh giá khả năng tạo

bể chứa cacbon của rừng ngập mặn ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ”, mã số đềtài: TNMT.04.57 Thuộc chương trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệphục vụ quản lý và bảo vệ môi trường ở Việt Nam giai đoạn 2010-2015 Tôi cũngxin trân trọng cảm ơn đề tài đã tạo điều kiện cho tôi về mặt kinh phí, hỗ trợ tôi trongquá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin được gửi tới gia đình, bạn bè lời cảm ơn về sự động viên,khích lệ trong suốt thời gian qua

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Hà Thị Mỹ Lý

Trang 2

NSLR : Năng suất lượng rơi.

IPCC : Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

REDD : Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng tại

các nước đang phát triển (Reducing Emission from Deforestation and Degradation in developing countries)

REDD+ : Giai đoạn sau của REDD, các nước đang phát triển giảm tỷ lệ

mất rừng và suy thoái rừng so với giai đoạn tham khảo để nhậnđược hỗ trợ về mặt tài chính từ phía các nước phát triển)

DRC : Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch

TEPCO : Công ty nghiên cứu điện lực Nhật Bản

JRC : Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản

ACTMANG : Tổ chức Hành động và phục hồi rừng ngập mặn Nhật Bản.UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Nghiên cứu về năng suất lượng rơi 4

1.2 Nghiên cứu về hàm lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn 11

1.3 Phương pháp nghiên cứu năng suất lượng rơi và định lượng cacbon tích lũy 13

1.3.1 Phương pháp nghiên cứu năng suất lượng rơi của các tác giả 13

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu năng suất lượng rơi theo IPCC 13

1.3.3 Phương pháp xác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi rừng ngập mặn .14

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN 15

2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.1.1 Loài trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong) 15

2.1.2 Loài bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.) 17

2.2 Đặc điểm tự nhiên ở các khu vực nghiên cứu 18

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định 19

2.2.2 Đặc điểm tự nhiên tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 25

2.2.3 Đặc điểm tự nhiên tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 31

2.2.4 So sánh một số đặc điểm tự nhiên và rừng ngập mặn trồng ở các khu vực 38

2.3 Thời gian nghiên cứu 39

2.4 Phương pháp nghiên cứu 40

2.4.1 Phương pháp tổng hợp và kế thừa 40

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 40

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu năng suất lượng rơi 41

2.4.4 Phương pháp xác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi (cành, lá, hoa quả rụng) rừng ngập mặn 41

2.4.5 Phương pháp thống kê 42

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Năng suất lượng rơi – Cơ sở xác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi của rừng 43

Trang 4

3.1.1 Năng suất lượng rơi của rừng trang (K obovata) trồng thuần loài tại xã

Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 43

3.1.2 Năng suất lượng rơi của rừng bần chua (S caseolaris) trồng thuần loài tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 47

3.1.3 Năng suất lượng rơi của rừng hỗn giao gồm trang (K obovata) và bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 51

3.2 Hàm lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng 57

3.2.1 Hàm lượng cacbon trong lượng rơi của rừng trang (K obovata) trồng thuần loài tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 57

3.2.2 Định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng bần chua (S caseolaris) trồng thuần loài tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 59

3.2.3 Định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng hỗn giao gồm trang (K obovata) và bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 61

3.3 Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng 63

3.3.1 Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng trang (K obovata) trồng thuần loài tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 63

3.3.2 Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng bần chua (S caseolaris) trồng thuần loài tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 65

3.3.3 Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng trồng hỗn giao gồm trang (K obovata) và bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 66

3.4 Đánh giá khả năng tạo bể chứa cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 5

Bảng 1.3: Năng suất lượng rơi của rừng đước (R apiculata) trên 4 lứa tuổi khác

nhau tại Cần Giờ 9

Bảng 1.4: Năng suất lượng rơi của rừng trang (K obovata) với 4 tuổi rừng khác

nhau tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 10

Bảng 1.5: Năng suất lượng rơi tổng số của rừng trang (K obovata) trồng ở các tuổi khác

nhau 10Bảng 1.6: Lượng cacbon tích lũy trong lượng rơi và lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng 12Bảng 2.1: Diễn biến khí hậu tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định từ tháng 10/2013 đến tháng 9/2014 21Bảng 2.2: Kết quả phân tích đất tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

ở độ sâu 0 – 20 cm 23Bảng 2.3: Diện tích RNM đã trồng tại tỉnh Nam Định do tổ chức NGO tài trợ (ha) 23

Bảng 2.4: Đặc điểm rừng trang (K obovata) 10T, 11T, 13T trồng tại xã Giao Lạc,

huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 24Bảng 2.5: Diễn biến khí hậu tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng từ tháng 10/2013 đến tháng 9/2014 26Bảng 2.6: Diện tích RNM đã trồng tại tỉnh Hải Phòng do tổ chức NGO tài trợ (ha) 29Bảng 2.7: Tổng hợp hiện trạng rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng (ha) 29

Bảng 2.8: Đặc điểm rừng bần chua (S caseolaris) 10T, 11T, 22T trồng tại xã Đông

Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 40Bảng 2.9: Diễn biến khí hậu tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình từ tháng 10/2013 đến tháng 9/2014 32Bảng 2.10: Tổng hợp hiện trạng rừng ngập mặn ven biển huyện Tiền Hải (ha) 35

Trang 6

Bảng 2.11: Diện tich RNM đã trồng tại tỉnh Thái bình do tổ chức NGO tài trợ (ha) 36

Bảng 2.12: Đặc điểm rừng hỗn giao gồm trang (K obovata) và bần chua (S

caseolaris) trồng tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 36

Bảng 2.13: Bảng so sánh sự khác nhau của hệ thống đặc điểm tự nhiên ở các khu vực nghiên cứu 38Bảng 2.14: Kế hoạch thực hiện đề tài nghiên cứu 39Bảng 3.1: Năng suất lượng rơi bộ phận theo tuổi của rừng trang trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (g/m2/ngày) 44

Bảng 3.2: Năng suất lượng rơi tổng số của rừng trang (K obovata) trồng tại xã Giao

Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định ở các tuổi rừng khác nhau 46

Bảng 3.3: Năng suất lượng rơi bộ phận theo tuổi của rừng bần chua (S caseolaris)

trồng tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng (g/m2/ngày) 48

Bảng 3.4: Năng suất lượng rơi tổng số của rừng bần chua (S caseolaris) trồng tại xã

Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng ở các tuổi rừng khác nhau 49

Bảng 3.5: So sánh NSLR tổng số của rừng trang (K obovata) trồng tại xã Giao Lạc với rừng bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Đông Hưng 51 Bảng 3.6: Năng suất lượng rơi bộ phận theo tuổi của rừng hỗn giao gồm trang (K obovata) và bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái

xã Nam Phú 56

Bảng 3.10: Hàm lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng trang (K obovata) trồng tại xã Giao Lạc 58

Trang 7

Bảng 3.11: Hàm lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Đông Hưng 59 Bảng 3.12: So sánh hàm lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng trang (K obovata) trồng tại xã Giao Lạc và rừng bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Đông

Hưng 61Bảng 3.13: Hàm lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng hỗn giao gồm

trang (K obovata) và bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Nam Phú 61

Bảng 3.14: Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng trang (K obovata) trồng

thuần loài trồng tại xã Giao Lạc 64Bảng 3.15: Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng bần chua (S caseolaris)

trồng thuần loài tại xã Đông Hưng 65Bảng 3.16: So sánh hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng trang (K obovata) trồng tại xã Giao Lạc và rừng bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Đông Hưng 66

Bảng 3.17: Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng trồng hỗn giao gồm trang (K obovata) và bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Nam Phú 66

Bảng 3.18: So sánh hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng trang trồng tại Giao Lạc và đất rừng hỗn giao trồng tại xã Nam Phú 67Bảng 3.19: So sánh lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng ở rừng thuần loài và rừng hỗn giao 69

Trang 8

Hình 2.5: Rừng trang (K obovata) trồng năm 2000 (R13T) tại xã Giao Lạc, huyện

Giao Thủy, tỉnh Nam Định 33

Hình 2.6: Rừng trang (K obovata) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Giao Lạc, huyện

Giao Thủy, tỉnh Nam Định 24

Hình 2.7: Rừng trang (K obovata) trồng năm 2003 (R10T) tại xã Giao Lạc, huyện

Giao Thủy, tỉnh Nam Định 25Hình 2.8: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 26

Hình 2.9: Rừng bần chua (S caseolaris) trồng năm 1992 (R22T) tại xã Đông Hưng,

huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 30

Hình 2.10: Rừng bần chua (S caseolaris) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Đông

Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 31Hình 2.12: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 32

Hình 2.13: Rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (K obovata) và bần chua

(S.caseolaris) trồng năm 2000 (R13T) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

37

Hình 2.14: Rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (K obovata) và bần chua

(S.caseolaris) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 37 Hình 2.15: Rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (K obovata) và bần chua

(S.caseolaris) trồng năm 2003 (R10T) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 37

Hình 2.16 Sơ đồ các ô thí nghiêm khu vực nghiên cứu 40

Trang 9

Hình 3.1: Năng suất lượng rơi bộ phận theo tuổi của rừng trang (K obovata) trồng

tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 45

Hình 3.2: Năng suất lượng rơi tổng số của rừng trang (K obovata) trồng tại xã Giao

Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định ở các tuổi rừng khác nhau 46

Hình 3.3: Năng suất lượng rơi bộ phận theo tuổi rừng bần chua (S caseolaris) trồng

tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 49

Hình 3.4: Năng suất lượng rơi tổng số của rừng bần chua (S caseolaris) trồng tại xã

Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng ở các tuổi rừng khác nhau 50Hình 3.5: Năng suất lượng rơi bộ phận theo tuổi rừng hỗn giao gồm trang và bần chua tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (g/m2/ngày) 53

Hình 3.6: Năng suất lượng rơi tổng số của rừng hỗn giao gồm trang (K obovata) và bần chua (S caseolaris) trồng tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 55

Hình 3.7: Lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng trang 58

Hình 3.8: Lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng bần chua (S

caseolaris) trồng tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng 60

Hình 3.10: Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng trang (K obovata) trồng tại

xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 64Hình 3.11: Hàm lượng CO2 trong lượng rơi của rừng bần chua (S caseolaris)

trồng tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 65Hình 3.13: Lượng cacbon trong lượng rơi cung cấp cho đất rừng ở rừng thuần loài

và rừng hỗn giao 70

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rừng ngập mặn là hệ sinh thái phân bố ở vùng cửa sông ven biển các vùngnhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có khí hậu ẩm, đất ngập nước thường xuyên, giàumùn, phù sa và chịu ảnh hưởng của thủy triều Hệ sinh thái rừng ngập mặn có vaitrò quan trọng đối với đời sống con người và môi trường

Tuy nhiên, ở nhiều nước nhiệt đới, rừng ngập mặn bị chặt phá hàng năm dokhai thác quá mức, đô thị hoá, công nghiệp hoá, … Việt Nam, những năm gần đâynhiều vùng rừng ngập mặn đã bị chuyển sang làm nơi nuôi trồng thủy hải sản, nêndiện tích rừng bị thu hẹp đáng kể Diện tích rừng ngập mặn bị mất đi không chỉ tácđộng đến đa dạng sinh học, năng suất sinh thái mà còn liên quan đến việc chuyểnhóa cacbon của các hệ sinh thái rừng, ảnh hưởng tới cân bằng CO2, một trong cácloài khí gây hiệu ứng nhà kính trong chu trình cacbon toàn cầu

Đặc biệt trong những năm gần đây, do những biến đổi bất thường của khíhậu đã có nhiều cơn bão đổ bộ vào khu vực ven biển, cướp đi sinh mạng và tài sảncủa nhiều người, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho gia đình, xã hội nên việc bảo vệnguồn tài nguyên rừng ngập mặn là quan trọng và hết sức cấp bách nhằm bảo vệcuộc sống bình yên của người dân ven biển và ứng phó với biến đổi khí hậu

Nhằm đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường, góp phần giảm nhẹ phát thảikhí nhà kính, ngày 05 tháng 09 năm 2012, Thủ Tướng Chính phủ đã đưa ra Quyếtđịnh số 1216/QĐ – TTg “Phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đếnnăm 2020, tầm nhìn đến 2030” Tại điều 1 của Quyết định có nội dung: Xây dựngnăng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; Khai thác,

sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Bảo tồn thiênnhiên và đa dạng sinh học Đưa ra các giải pháp hướng tới mục tiêu phục hồi, táisinh các hệ sinh thái tự nhiên đã suy thoái, đặc biệt là rừng ngập mặn Ngoài ra, kếtluận của Hội nghị Trung ương 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nhấttrí thông qua nghị quyết về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cườngquản lý tài nguyên và môi trường” và khẳng định, đây là chiến lược có ý nghĩaquyết định đến sự phát triển bền vững của nước ta

Trang 11

Để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên vàmôi trường, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; nhiều nhà khoa học trong nước đã tậptrung nghiên cứu về khả năng tích luỹ cacbon của rừng để tham gia chương trình cắtgiảm khí nhà kính giữa các nước phát triển và đang phát triển như dự án CDM

(Clean Development Mechanism), đặc biệt hơn là chương trình REDD, REDD+

(Reducing Emission from Deforetation and Forest Degradation: giảm phát từ suy

thoái và mất rừng kết hợp với bảo tồn, quản lý bền vững rừng và tăng cường trữlượng cacbon rừng ở các nước đang phát triển) Tuy nhiên, để tham gia chươngtrình REDD+ Việt Nam phải tính được trữ lượng cacbon của rừng

Năm 2006, IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change) và năm

2012, CIFOR (the Center for International Forestry Research) đã đưa ra bộ

hướng dẫn về phương pháp tính toán hàm lượng cacbon của rừng thông qua 5

bể chứa như sau:

Bể chứa 1: lượng cacbon của cây trên mặt đất

Bể chứa 2: lượng cacbon của cây dưới mặt đất (trong rễ)

Bể chứa 3: lượng cacbon trong lượng rơi (cành, lá rụng)

Bể chứa 4: lượng cacbon của cây trong đất

Bể chứa 5: lượng cacbon trong cây đổ và chết

Với thời gian cho phép và khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, chúng tôi lựachọn nghiên cứu bể chứa thứ 3 đó là định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng

ngập mặn trồng ven biển đồng bằng Bắc Bộ với tên đề tài là: “Nghiên cứu định

lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”.

Kết quả của đề tài bước đầu đánh giá khả năng tích lũy cacbon của rừngngập mặn để phục vụ quản lý nhà nước về giảm phát thải khí nhà kính, cung cấp cơ

sở khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chương trình cắt giảm khí nhà kính

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng tạo bể chứa cacbon trong lượng rơicủa rừng ngập mặn, cung cấp số liệu khoa học cho việc xây dựng và thực hiện

Trang 12

chương trình cắt giảm khí nhà kính như REDD+ tại Việt Nam, góp phần làm giảmcác khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu.

3 Nội dung nghiên cứu của luận văn

3.1 Nghiên cứu năng suất lượng rơi - Cơ sở xác định hàm lượng cacbontrong lượng rơi của rừng

3.2 Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng

thuần loài trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và rừng trồng hỗn giao gồm hai loài trang (Kandelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris).

3.2.1 Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn

trồng thuần loài trang (Kandelia obovata) trên đất bãi bồi vào các năm 2000, 2002,

2003 (rừng 13 tuổi, 11 tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thuỷ, tỉnhNam Định

3.2.2 Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn

trồng thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris) vào các năm 1992, 2002, 2003

(rừng 22 tuổi, rừng 11 tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng,thành phố Hải Phòng

3.2.3 Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn

trồng hỗn giao gồm hai loài trang (Kandelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris) vào các năm 2000, 2002, 2003 (rừng 13 tuổi, rừng 11 tuổi và rừng 10

tuổi) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

3.3 Đánh giá khả năng tạo bể chứa cacbon trong lượng rơi của rừngngập mặn

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn: rừng

trồng thuần loài trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (Kandelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris).

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Năm 2001, Houhgton J T và cs [38] cho rằng: cacbon điôxit (CO2) chiếmtới 55% khối lượng các khí gây hiệu ứng nhà kính, nó được coi là khí chính trongviệc gây hiệu ứng nhà kính Sự gia tăng nhanh chóng nồng độ khí CO2 trong khíquyển là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi khí hậu làm cho TráiĐất nóng dần lên Nhằm hạn chế sự gia tăng khí CO2, các nhà khoa học đã đi sâunghiên cứu chu trình cacbon trong hệ sinh thái rừng, kể cả hệ sinh thái rừng ngậpmặn, nhằm tìm ra cơ sở khoa học để đánh giá chính xác khả năng hấp thụ, tích lũycacbon của cây, trong lượng rơi và đất rừng

Theo Ayukai T (1998) [29] thì hệ sinh thái rừng ngập mặn là một hệ sinhthái có năng suất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái Vì vậy, mà chúng ta nênchú ý nghiên cứu đến việc quản lý, bảo tồn và duy trì khả năng lưu giữ cacbon trongcây, trong đất và để làm tốt được vấn đề đó, chúng ta nên tìm hiểu hàm lượng CO2trong lượng rơi trả lại cho đất rừng

1.1 Nghiên cứu về năng suất lượng rơi

Lượng rơi (litter fall) là một mắt xích vô cùng quan trọng trong chuỗi thức

ăn, đây là một nhân tố tham gia vào quá trình tích lũy vật chất hữu cơ trong đất rừngngập mặn Thông qua quá trình quang hợp, cây rừng đã sử dụng nguồn năng lượngánh sáng mặt trời và CO2 trong bầu khí quyển để tổng hợp chất hữu cơ cho cơ thể.Một phần chất hữu cơ được phân giải tạo ra các chất đơn giản và năng lượng chocây rừng Một phần nhỏ chất hữu cơ được trả về cho đất rừng thông qua lượng rơi(cành, lá, hoa, quả,…) rụng của cây rừng

Việc nghiên cứu năng suất lượng rơi của rừng có ý nghĩa quan trọng nhằmxác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi trả lại cho đất rừng, đánh giá mộtphần lượng cacbon trong chu trình cacbon của rừng Đồng thời góp phần đánhgiá và giải thích nguồn cacbon tích lũy trong đất rừng Qua đó, đánh giá khảnăng tạo bể chứa cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn, góp phần giảm phát

Trang 14

thải khí gây hiệu ứng nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu (dẫn Nguyễn ThịHồng Hạnh, 2009) [4].

Ngoài ra, nghiên cứu năng suất lượng rơi còn có ý nghĩa trong việc đánh giánăng suất sơ cấp (GPP) của rừng

GPP = NPP (tăng lượng sinh khối + lượng rơi) + hô hấp

Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới:

Để nghiên cứu lượng rơi, phần lớn các tác giả trên thế giới đã dùng bẫylượng rơi “litterfall trap” với nhiều kích cỡ khác nhau, đặt tại các vị trí cần nghiêncứu để hứng các bộ phận của cây như: hoa, lá, cành, trụ mầm,… rơi xuống từ trêncây, chẳng hạn như:

Năm 1964, Bray J R & Goham E đã sử dụng các bẫy lượng rơi làm bằngkhung gỗ hình vuông, kích thước mỗi cạnh 0,5 m có gắn các lưới đan bằng sợinilon, bẫy đặt cao cách mặt đất 1 m (dẫn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Năm 1968, Shaw M W đã dùng những chiếc bẫy lượng rơi kiên cố chonhững nơi khó thu nhặt lượng rơi do bị trôi dạt hay bị đất vùi lấp ở phía bắc xứWales (dẫn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Năm 1975, hai tác giả Pool P J & Lugo A E nghiên cứu về năng suấtlượng rơi ở 6 loài rừng ngập mặn khác nhau tại vùng Nam Florida và Puerto Rico

đã sử dụng một số lượng lớn các bẫy lượng rơi nhưng với kích thước chỉ là 0,25 m2/chiếc (0,5 m × 0,5 m) Những chiếc bẫy lượng rơi nhỏ này được đặt dọc theo mặtcắt ngang của rừng với khoảng cách giữa các bẫy từ 5 m đến 10 m Để tránh bịphân huỷ mẫu, các bẫy được đặt cao hơn mực nước triều cao nhất Từ 14 – 21

Trang 15

ngày, mẫu lượng rơi được thu nhặt một lần, sau đó mẫu được sấy khô cho tới khitrọng lượng khô không đổi (ở nhiệt độ 80oC) và đem cân để xác định trọng lượngkhô tuyệt đối Kết quả nghiên cứu của hai tác giả như sau: lượng lá rơi trungbình ở Puerto Rico là 17 tấn/ha/năm, Nam Florida là 4,9 tấn/ha/năm (dẫnNguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4].

Năm 1981, tại Hội nghị Hải Dương học quốc tế diễn ra ở Tokyo, Nhật Bản,các nhà khoa học đã giới thiệu một mô hình bẫy lượng rơi mới với kích thước mỗibẫy là 1 m2 và 4 m2, mắt lưới có kích thước 1 mm2 Các nhà khoa học cũng nhấnmạnh tuỳ thuộc vào mật độ cây trong rừng mà có thể sử dụng các loài bẫy có kíchthước khác nhau cho phù hợp (dẫn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Năm 1983, Aksornkoae S đã ứng dụng mô hình bẫy lượng rơi được đề cậptại hội nghị Hải Dương học năm 1981 Ông sử dụng bẫy lượng rơi có kích thước

1 m2 đặt trên 4 mặt cắt ngang của rừng ở Thái Lan với khoảng cách giữa các bẫy

là 20 m Lượng rơi cũng được sấy khô ở 80oC cho tới khi trọng lượng khô khôngđổi như cách của các tác giả đã làm năm 1975 Kết quả ông thu được như sau:

Năng suất lượng rơi của rừng đước đôi (Rhizophora apiculata) ở Chantabury là

883-978 g/m2/năm, rừng mắm (Avicennia) là 964-1002 g/m2/năm (dẫn NguyễnThị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Tuy nhiên, năng suất lượng rơi của rừng ngập mặn cao hay thấp còn phụthuộc vào loài cây, tuổi cây, kiểu rừng trồng hay rừng tự nhiên, rừng thuần loài hayrừng hỗn giao, vị trí địa lý

Năm 1996, Day J W T và cộng sự cho biết năng suất lượng rơi của rừng

đước (R mangle) và rừng mắm (A germinans) ở Mêhicô tương ứng là 793 g/

m2/năm, 307 - 496 g/m2/năm (dẫn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Năm 1997, Twilley và cộng sự lại cho rằng: năng suất lượng rơi của rừng

đước (R mangle) ở Ecuador đạt giá trị rất cao, khoảng từ 647 - 1064 g/m2/năm (dẫnNguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Năm 2005, Chimner và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu năng suất lượng rơi

trên rừng bàng nước (Terminalla carolirensia) ở đảo Kosrae, Federated States của

Trang 16

Micronesia thuộc phía Tây Thái Bình Dương Kết quả của tác giả cho biết, thànhphần lượng rơi của rừng cũng không giống nhau, năng suất lượng rơi của lá thườngchiếm tỉ lệ cao nhất trong năng suất lượng rơi tổng số và năng suất lượng rơi thường

bị biến động theo các tháng trong năm (dẫn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Ngoài ra, theo nhiều nguồn tham khảo khác ta thấy, năng suất lượng rơi rừngngập mặn còn được nghiên cứu tại một số nước sau đây:

Bảng 1.1: Tóm tắt một số công trình nghiên cứu của các tác giả trên Thế giới

về năng suất lượng rơi

Năm Tác giả nghiên cứu Loài được

nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu

Lượng rơi (tấn/ha/năm)

Florida (USA)Florida (USA)

Phuket (Tháilan)Philippines

Queensland(Úc)

10,918,699,347,187,999,96

Trang 17

Sasekumar A & Loi J J.

A marina

R apiculata

Rừng hỗn giaoRừng đướcRừng hỗn giao

“New Zeland

Pennisula(Malaysia)Chantabury(Thái Lan)Matang(Malaysia)Ranong (Thái Lan)

7,92

8,013,69 - 8,1315,819,316,96 – 11,48,88

Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ở Việt Nam việc tiến hành nghiên cứu về năng suất lượng rơi bắt đầu rấtmuộn so với trên thế giới

Năm 1986, Nguyễn Hoàng Trí [24] là người đầu tiên nghiên cứu về vấn đềnày, công trình được tiến hành tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau trong rừng đước

đôi (Rhizophora apiculata) Tác giả đã sử dụng bẫy lượng rơi có kích thước 50 cm

× 50 cm, mắt lưới 1 mm2 để thu nhặt mẫu Bẫy được đặt theo vệt cắt ngang từ venkênh vào sâu trong rừng với khoảng cách giữa các bẫy là từ 10 m – 15 m Để tránhcho mực nước triều cao nhất không ngập tới bẫy, các bẫy lượng rơi được treo caocách mặt đất 1,5 m Mẫu được thu mỗi tuần một lần, sau đó mẫu được phân loài rathành: cành, lá, hoa, quả, trụ mầm, phân sâu bọ Những mẫu nằm ngang bẫy thì chỉlấy phần trong bẫy, phần ngoài không lấy Sau khi phân loài, mẫu được sấy khô ở

100oC cho tới khi trọng lượng khô không đổi Kết quả nghiên cứu của NguyễnHoàng Trí thu được có thể tóm tắc (bảng 1.2)

Trang 18

Tổng lượng rơi trung bình là 2,673 g/m2/ngày.

Bảng 1.2: Thành phần lượng rơi của rừng đước (R apiculata), huyện Nam

Căn, tỉnh Cà Mau

(Nguồn: Nguyễn Hoàng Trí, 1986) [24]

Ngoài ra, thành phần lượng rơi còn có phân của sâu bọ: 0,008 g/m2/ngày,chiếm 0,32% từ đó tính ra lượng lá bị sâu bọ ăn là 0,016 – 0,020 g/m2/ngày

Năm 1998, Viên Ngọc Nam [13] đã tiến hành nghiên cứu về năng suất lượng

rơi trong rừng đước (R apiculata) gồm 4 lứa tuổi khác nhau tại Cần Giờ, thành phố

Hồ Chí Minh Ông đã sử dụng bẫy lượng rơi có kích thước 1 m2 với mắt lưới là 1

mm Mỗi ô tiêu chuẩn đặt 10 bẫy, khoảng cách giữa các bẫy là 5 - 10 m, bẫy được

bố trí theo hướng từ Đông sang Tây Hàng tháng mẫu được thu định kỳ, sau đó mẫuđược sấy khô ở 105oC để xác định trọng lượng khô tuyệt đối Kết quả nghiên cứucủa Viên Ngọc Nam về năng suất lượng rơi được tóm tắt trong bảng 1.3

Bảng 1.3: Năng suất lượng rơi của rừng đước (R apiculata) trên 4 lứa tuổi khác

nhau tại Cần Giờ, TP HCM

Năng suất lượng

(Nguồn: Viên Ngọc Nam, 1998) [13]

Trong nghiên cứu, tác giả còn đề cập tới các lượng rơi thành phần với tỷ lệkhác nhau …

Ở miền Bắc, những nghiên cứu về lượng rơi của rừng ngập mặn được tiếnhành cho đến nay còn rất ít

Năm 1999, có nghiên cứu của Lê Hương Giang [2] được tiến hành ở xã Thụy

Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình với đối tượng là cây trang (Kandelia obovata) Tác giả tiến hành thực nghiệm theo phương pháp do Aksornkoae S đã

Trang 19

mô tả năm 1983 và phương pháp của UNDP/UNESCO thực hiện tại Ranong, TháiLan năm 1986 (UNDP/UNESCO, 1991) [47] Các bẫy lượng rơi có kích thước 1 m

× 1 m, mắt lưới 1 mm2 được đặt tại rừng trang ở các tuổi khác nhau: 6 tuổi, 7 tuổi, 8tuổi, 9 tuổi Ở những rừng có chiều cao cây thấp như rừng 6 tuổi, vào những ngàyđợt nước lớn thì bẫy lượng rơi ở đây bị ngập một phần - đây là khó khăn khi đặt bẫylượng rơi trong rừng ngập mặn mới trồng Để khắc phục tình trạng này, tác giả tiếnhành thu mẫu thường xuyên, trước những đợt nước lớn Ở những tuổi rừng khác,bẫy lượng rơi được treo cao hơn mức triều lên xuống hằng ngày Mẫu thu về đượcphân ra thành: lá + lá kèm, cành, quả, hoa + nụ, sau đó mẫu được sấy khô ở nhiệt độ

80oC cho tới khi trọng lượng khô không đổi, từ đó xác định được trọng lượng khôtuyệt đối Kết quả cho thấy tổng lượng rơi trung bình qua các tháng là 30,4 g/

m2/tháng, trong đó năng suất lượng rơi cao nhất vào tháng 1 với 43,09 g/m2/tháng

và thấp nhất vào tháng 5 là 13,26 g/m2/tháng Trong thành phần của lượng rơi thì lá,

lá kèm chiếm một lượng lớn nhất Kết quả nghiên cứu của Lê Hương Giang về năngsuất lượng rơi được tóm tắt trong bảng 1.4

Bảng 1.4: Năng suất lượng rơi của rừng trang (K obovata) với 4 tuổi rừng khác

nhau tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

Năng suất lượng rơi

(Nguồn: Lê Hương Giang, 1999) [2]

Năm 2000, Lê Thị Phượng [15] cũng tiến hành nghiên cứu năng suất lượng

rơi trên cây trang (K obovata) ở xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Tác giả cũng dùng bẫy kích thước 1 m × 1 m với mắt lưới 1 mm2, sau đó sấy khô ởnhiệt độ không đổi 80oC Kết quả thu được ở các độ tuổi rừng khác nhau 7, 8 , 9, 10tuổi với năng suất lượng rơi tổng số tương ứng là 304,68 g/m2/năm; 377,28 g/m2/năm; 526,92 g/m2/năm; 614,88 g/m2/năm

Năm 2009, Nguyễn Thị Hồng Hạnh cũng nghiên cứu về năng suất lượng rơi

của rừng Trang (Kandelia obovata) trồng ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam

Trang 20

Định nhưng ở độ tuổi nhỏ hơn: R5T, R6T, R8T, R9T Giống các nghiên cứu trước

đó, tác giả cũng sử dụng các bẫy lượng rơi có kích thước 1 m × 1 m, mắt lưới 1

mm2 được đặt tại rừng trang ở các tuổi khác nhau Trong mỗi ô tiêu chuẩn của R5T,R6T, R8T, R9T treo lên cây 3 bẫy lượng rơi dọc theo rừng và vuông góc với bờ đê.Tổng số bẫy lượng rơi là 36 bẫy Hàng tháng, tác giả thu nhặt lượng rơi của cây rừngtrong bẫy lượng rơi, rửa sạch mẫu, phân loài theo các bộ phận của cây (lá, cành, hoa,quả và trụ mầm), cân xác định trọng lượng tươi Sau đó sấy khô đến khi khối lượngkhông đổi Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu củaViên Ngọc Nam (1998) [13] khi nghiên cứu năng suất lượng rơi của rừng đước ở CầnGiờ (bảng 1 5)

Bảng 1.5: Năng suất lượng rơi tổng số của rừng trang (K obovata) trồng ở các tuổi

85,42 ±3,12

103,22 ±1,23

(Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Các công trình nghiên cứu về năng suất lượng rơi của các tác giả nêu trênnhư: Pool P J và cộng sự (1975), Nguyễn Hoàng Trí (1986), Aksornkoae S vàcộng sự (1987), Viên Ngọc Nam (2003), Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009) đều

sử dụng bẫy lượng rơi có kích thước 1 m x 1 m, đường kính mắt lưới là 1 mm2 Theophương pháp hướng dẫn của tổ chức quốc tế như IPCC (2006) và CIFOR (2012) trongviệc thu mẫu lượng rơi, lại không sử dụng bẫy lượng rơi mà thu mẫu tại thời điểm xácđịnh Vấn đề này chúng tôi sẽ phân tích rõ trong mục 2.4

1.2 Nghiên cứu về hàm lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn

Cũng giống như các hệ sinh thái rừng khác, rừng ngập mặn với tán lá rộng,dày và thường xanh quanh năm nên có khả năng hấp thụ và tích lũy một lượng lớn

CO2 từ quá trình quang hợp Một phần chất hữu cơ được phân giải tạo ra các chấtđơn giản và năng lượng cho cây rừng Một phần nhỏ chất hữu cơ được trả về chođất rừng thông qua lượng rơi (cành, lá, hoa, quả, ) rụng của cây rừng

Trang 21

Việc xác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi trả lại cho đất rừng ngậpmặn là quan trọng và cần thiết, nhằm đánh giá lượng cacbon của một phần trongchu kỳ cacbon của rừng Tuy nhiên, việc xác định này lại rất khó bởi vì lượng rơixác thực vật của cây rừng khi rơi xuống sàn rừng một phần được nước mang đi racác kênh rạch, các đầm tôm hoặc các khoảng đất trống lân cận khu vực nghiên cứu,một phần được giữ lại trên sàn rừng sẽ được phân hủy nhờ các vi sinh vật và trả vềcho đất rừng một lượng chất hữu cơ đáng kể Phần lượng rơi do nước triều mang đichính là lượng cacbon xuất khẩu ra các vùng xung quanh và điều này cũng là lý do giảithích tại sao vùng đất trống không có rừng lại có lượng cacbon trong lượng rơi Lượngcacbon trong lượng rơi được giữ lại đất rừng thấp hơn so với lượng rơi ban đầu.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về năng suất lượng rơi của các tác giảnêu trên đều dừng lại ở việc đánh giá năng suất sơ cấp của rừng, chưa đi sâu việcđánh giá hàm lượng cacbon tích lũy trong lượng rơi và lượng cacbon mà lượng rơitrả lại cho đất rừng ngập mặn

Tình hình nghiên cứu trên thế giới:

Đa số các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đều tập trungnghiên cứu về hàm lượng cacbon tích lũy trong cây rừng ngập mặn, nghiên cứulượng cacbon tích lũy trong lượng rơi còn rất ít và hạn chế, nếu có chỉ đơn thuần tậptrung nghiên cứu vào lượng chất khoáng và chất dinh dưỡng lượng rơi cung cấp chođất rừng, chẳng hạn:

Năm 1984, Gong W K và cộng sự nhằm đánh giá vai trò của rừng ngậpmặn trong việc tự cung cấp các chất khoáng và chất dinh dưỡng cho rừng thông qualượng rơi đã nghiên cứu năng suất lượng rơi của rừng ngập mặn ở Matang,Malaysia và tính được lượng khoáng trong lượng rơi tương ứng là: 46,6 kgN/ha/năm, 4,7 kg P/ha/năm, 25,6 kg K/ha/năm, 99,3 kg Ca/ha/năm, 34,1 kg Mg/ha/năm, 31,8 kg Na/ha/năm và tổng lượng chất dinh dưỡng trả lại cho đất thông qualượng rơi là 242,1 kg/ha/năm (dẫn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Trang 22

Năm 1988, Aksornkoae S và cộng sự đã tính lượng khoáng thông qua lượngrơi của rừng ngập mặn ở Ranong, Thái Lan là 306,3 kg/ha/năm (dẫn Nguyễn ThịHồng Hạnh, 2009) [4].

Năm 2001, theo báo cáo về rừng ngập mặn nhiệt đới ở Nam Thái Lan,Alongi và cộng sự cho thấy xấp xỉ 60% trong tổng số chất hữu cơ của lượng trầmtích đưa vào đất được giữ lại (dẫn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009) [4]

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngậpmặn, nhưng các công trình nghiên cứu về sự tích lũy cacbon trong cây rừng ngậpmặn rất ít, đặc biệt ít công trình nghiên cứu về hàm lượng cacbon tích lũy tronglượng rơi rừng ngập mặn Các công trình thường tập trung nghiên cứu về đặc điểm,sinh trưởng, sinh khối, sinh thái, diễn thế, …

Năm 2009, Nguyễn Thị Hồng Hạnh [4] đã tiến hành nghiên cứu khả năng tích

lũy cacbon trong lượng rơi của rừng trang (K obovata) và lượng cacbon mà lượng rơi

đó trả lại cho đất rừng Để xác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi: cành, lá, hoa quả,

… của rừng trang, tác giả đã sử dụng phương pháp Walkley – Black Lượng cacbontrong cành, lá, rụng được tính bằng sinh khối cành, lá rụng ở mỗi loài rừng nhân vớihàm lượng cacbon (%) trong cành, lá rụng Kết quả thu được của tác giả như sau:

Bảng 1.6: Lượng cacbon tích lũy trong lượng rơi và lượng cacbon trong lượng

rơi trả lại cho đất rừng Tuổi

rừng Năm trồng

NSLR tổng số (tấn/ha/năm)

Lượng cacbon (%)

Lượng cacbon cung cấp cho đất rừng (tấn/ha/năm)

Trang 23

gia chương trình REDD và REDD+, Việt Nam cần phải có các nghiên cứu về quy trìnhtính toán, định lượng cacbon của rừng để cung cấp thông tin, dữ liệu có cơ sở khoa họcđáng tin cậy về khả năng tạo bể chứa cacbon của rừng, trong đó có bể chứa cacbon trongthảm mục hay còn gọi là lượng rơi là cấp thiết.

1.3 Phương pháp nghiên cứu năng suất lượng rơi và định lượng cacbon tích lũy trong lượng rơi rừng ngập mặn

1.3.1 Phương pháp nghiên cứu năng suất lượng rơi của các tác giả

Như các dẫn liệu ở phần trên cho thấy, các công trình nghiên cứu trước đây

về phương pháp xác định năng suất lượng rơi như: Pool P J và cộng sự (1975),Nguyễn Hoàng Trí (1986), Aksornkoae S và cộng sự (1987), Viên Ngọc Nam(2003), Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009) đều sử dụng bẫy lượng rơi có kích thước 1m

x 1m, đường kính mắt lưới là 1 mm2 Tiến hành thu lượm mẫu lượng rơi theo ngày,tháng, từ đó có thể tính được lượng rơi của năm (tấn/ha/năm)

Các nhà khoa học cũng nhấn mạnh tuỳ thuộc vào mật độ của cây rừng để

sử dụng các loài bẫy có kích thước khác nhau cho phù hợp

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu năng suất lượng rơi theo IPCC

Theo IPCC, 2006 [39], để xác định được năng suất lượng rơi ở các tuổi rừngkhác nhau trên cùng thời điểm, trước hết lập ô tiêu chuẩn có kích thước 10 m x 10

m = 100 m2, sau đó chia thành ô dạng bản có kích thước 25 m2, lựa chọn và tiếnhành thu nhặt lượng rơi trong ô dạng bản có kích thước 25 m2 Mẫu lượng rơi saukhi thu về được tách thành các phần chứa các bộ phận: cành, lá, hoa, trụ mầm,

Mẫu sau khi phân loài sẽ được rửa sạch đất, cát, để ráo nước, cân xác địnhtrọng lượng tươi, sau đó xác định trọng lượng khô

Năng suất lượng rơi ở mỗi tuổi rừng khi tính toán được phân ra thành: năngsuất lượng rơi tổng số và năng suất lượng rơi bộ phận Năng suất lượng rơi tổng số

là tổng tất cả các lượng rơi bộ rơi như: lượng rơi của lá, cành, hoa, quả, …

Như vậy, theo IPCC (2006) [39] thu lượm mẫu lượng rơi được thực hiện tạimột thời điểm, thu nhặt lượng rơi trên sàn rừng Đây chính là điểm khác biệt vềphương pháp thu mẫu lượng rơi giữa các tác giả trước và phương pháp của IPCC

Trang 24

1.3.3 Phương pháp xác định hàm lượng cacbon trong lượng rơi rừng ngập mặn

Việc tính cacbon tích lũy trong lượng rơi hay trong sinh khối của thực vật cóthể sử dụng bằng các phương pháp khác nhau như phương pháp phân tích hóa họctrong phòng thí nghiệm của Loss on Ignition, hay phương pháp của Chiurin

Ngoài ra, hiện nay người ta có thể tính hàm lượng cacbon tích lũy tronglượng rơi bằng cách chuyển đổi đơn vị và giá trị từ năng suất lượng rơi thực vật.Theo phương pháp của Trung tâm Hợp tác quốc tế và Xúc tiến lâm nghiệp Nhật

Bản (JIFPRO): Khối lượng cacbon chiếm 50% khối lượng sinh khối khô không đổi.

Từ lượng cacbon được tích lũy (C), xác định lượng CO2 hấp thụ (Q) dựa trênphương trình quang hợp: Q = C x (44/12) = C x 3,67 (hằng số chuyển đổi được ápdụng cho tất cả các loài rừng)

Trang 25

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Rừng ngập mặn trồng thuần loài trang (Kandelia obovata) trên đất bãi bồi

vào các năm 2000, 2002, 2003 (rừng 13 tuổi, 11 tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã GiaoLạc, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

Rừng ngập mặn trồng thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris) vào các

năm 1992, 2002, 2003 (rừng 22 tuổi, rừng 11 tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã ĐôngHưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng

Rừng ngập mặn trồng hỗn giao gồm hai loài trang (Kandelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris) vào các năm 2000, 2002, 2003 (rừng 13 tuổi, rừng 11

tuổi và rừng 10 tuổi) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

2.1.1 Loài trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong)

Đặc điểm hình thái:

Cây trang (Kandelia obovata Sheue Liu & Yong) thuộc họ Đước

(Rhizophoraceae), bộ Sim (Myrtales)

Trước đây, các công trình nghiên cứu đều cho rằng chi Trang (Kandelia) chỉ

có một loài duy nhất, đó là Kandelia candel (L.) Druce, cây trang ở miền Bắc Việt

Nam cùng loài với cây trang ở miền Nam, Việt Nam

Tuy nhiên, theo tài liệu công bố gần đây nhất của tác giả Chiou - RongSheue, Ho - Yih Liu và Jean W H Yong, 2003 [32] khi nghiên cứu về hình thái lá,hoa, giải phẫu lá, số lượng nhiễm sắc thể và Nguyễn Thị Hồng Liên, 2006 [12]nghiên cứu về hình thái, cấu tạo của hoa, quả, hạt, trụ mầm đã cho rằng chi Trang

có hai loài là Kandelia candel (L.) Druce và Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong Cây trang ở miền Nam, Việt Nam thuộc loài Kandelia candel (L.) Druce, cây trang

ở miền Bắc, Việt Nam thuộc loài Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong.

Trang 26

Hình 2.1: Cây trang (Kandelia obovata) trồng ở miền Bắc Việt Nam

Ghi chú: a & b: Cây Trang c Hoa d Trụ mầm

Cây trang là cây gỗ nhỏ, cao trung bình từ 4 m – 10 m Gốc cây rộng hìnhthành bạch gốc, phía dưới có nhiều rễ có tác dụng hút nước và chất dinh dưỡng Lácây mọc đối, hình thuôn dài, đầu lá thường bầu, hơi cong vào trong Cụm hoa hìnhtán hoa, có đĩa mật Trụ mầm của cây dài dạng trụ, phía cuối phìng to sau đó thondần và nhỏ Giữa quả và trụ mầm có đoạn thắt là vòng nhẫn - khi trụ mầm chín táchkhỏi quả rụng xuống đất hình thành cây con mới Mùa ra hoa kết quả của cây trangphụ thuộc vào khí hậu, thời gian ra hoa sớm nhất ở miền Nam sau đó muộn dần ramiền Bắc (Nguyễn Hoàng Trí, 1996) [23]

Đặc tính sinh thái:

Loài trang (Kandelia obovata) có khả năng chịu lạnh, phân bố ở Trung

Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và miền Bắc Việt Nam Cây mọc được trên nền bùn cát

và bùn xốp, độ mặn thay đổi từ 2- 7 %o

Trang 27

2.1.2 Loài bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.)

Đặc điểm hình thái:

Cây bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.) thuộc họ Bần

(Sonneratiaceae), bộ Sim (Myrtales)

Hình 2.2: Cây bần chua (Sonneratia caseolaris)

Ghi chú: a Cây bần chua b&c: Hoa và nụ cây bần chua c Quả

Bần chua thuộc loài thân gỗ nhỏ, nhẵn, có nhiều cành Cây gỗ cao 10 – 15 m,

có khi cao đến 25 m Cành non màu đỏ, 4 cạnh, có đốt phình to Gỗ xốp, bở, vỏthân chứa nhiều tannin Rễ gốc to, khỏe, mọc sâu trong bùn đất Từ rễ mọc ra nhiều

rễ thở thành từng khóm quanh gốc Lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mộng nước,hình bầu dục hoặc trái xoan, dai, dài 5 – 10 cm, rộng 35 – 45 mm Cuống và mộtphần gân chính màu đỏ, gân giữa nổi rõ ở cả 2 mặt, cuống dài 0,5 – 1,5 cm Cụmhoa ở đầu cành, có 2 - 3 hoa, có cuống hoa ngắn Đài hợp ở gốc, có 6 thuỳ dày và

dc

Trang 28

dai, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu tím hồng Cánh tràng 6, màu trắng đục, hìnhdải, thuôn hai đầu Nhị có chỉ hình sợi, bao phấn hình thận Bầu hình cầu dẹt, vòidài, đầu hơi thon Quả hơi dẹp với đường kính 3 – 5 cm, trong mỗi quả có từ 500 –

An, Hà Tĩnh Ở miền Nam, cây bần chua là thành phần chính yếu của các rừng ngậpmặn tự nhiên ven biển và chúng mọc dày ở ven sông, rạch ở Đồng bằng sông CửuLong như Bà Rịa – Vũng Tàu, Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang

Loài cây này ưa sáng và mọc được nơi có nước mặn hay nước lợ Sự phongphú của quần thể loài tùy theo mức nước lợ và chế độ thủy triều Cây phát triển kém

ở những vùng có nước ngọt quanh năm

2.2 Đặc điểm tự nhiên ở các khu vực nghiên cứu

Đồng bằng Bắc Bộ là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sôngHồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 10 tỉnh và thành phố như: VĩnhPhúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình,Nam Định, Ninh Bình

Trang 29

Hình 2.3: Vị trí nghiên cứu trên bản đồ (Ghi chú: )

Khí hậu: Nhìn chung, ba khu vực nghiên cứu gồm Hải Phòng, Thái Bình,

Nam Định đều mang kiểu khí hậu đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ Cụ thể,các vùng nghiên cứu đều có khí hậu cận nhiệt đới ẩm quanh năm, hàng năm chịuảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Nhiệt độ trung bình nămtăng dần từ phía Bắc xuống phía Nam và có khí hậu giao hoà, là đặc trưng của khuvực đồng bằng Bắc Bộ và ven biển Thời tiết mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 nóng

ẩm và mưa cho tới khi gió mùa về Mùa đông từ tháng 10 tới tháng 4 trời lạnh, khô,

có mưa phùn Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25oC, lượng mưa trung bình từ

1700 đến 2400 mm Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp nhất trong các tháng mườihai và tháng Giờng

Khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng thường phải hứng chịu nhiều tác độngxấu của thời tiết, trung bình hàng năm có từ 6 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đớigây ra lũ lụt, đe dọa trực tiếp đến con người và tài sản trong vùng

Trang 30

Thủy văn: Chế độ thuỷ triều ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung và các khu

vực nghiên cứu: Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình nói riêng là chế độ nhật triều dovậy thời gian ngập nước của cây ngập mặn thường kéo dài, điều này thường ảnhhưởng đến tốc độ sinh trưởng của cây

Thổ nhưỡng: Trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, đặc điểm thổ nhưỡng là

yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến hệ động thực vật, khả năng sinh trưởng vàphát triển của rừng

Vùng đồng bằng Bắc Bộ có rất nhiều con sông như sông Hồng, sông TháiBình… Chính tải lượng phù sa mà các con sông này mang lại đã góp phần khôngnhỏ trong quá trình hình thành bãi bồi lớn vùng cửa sông, là nơi thích hợp cho rừngngập mặn phát triển Quá trình bồi tụ diễn ra liên tục và từ từ, trải qua thời gian dài,kết hợp với gió bão, sóng biển, diễn biến thủy triều của biển Đông nên địa hình ởcác khu vực nghiên cứu thấp, bằng phẳng

Tuy nhiên, riêng 3 tỉnh nghiên cứu: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định dokhác nhau về tọa độ, vị trí địa lý nên bên cạnh những đặc điểm như điều kiện tựnhiên, thủy văn, thổ nhưỡng,… đều mang đậm nét đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộthì vẫn có nhiều nét khác nhau, chẳng hạn như sự chênh lệnh nhiệt độ giữa cáctháng trong năm, lượng mưa, độ ẩm, biên độ cường triều, lượng phù sa trong đất,…

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

Vị trí địa lý: Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển có diện tích rừng ngập

mặn khá lớn và là địa phương có phong trào trồng rừng mạnh

Giao Thủy là một huyện ven biển thuộc tỉnh Nam Định, thuộc vùng châu thổsông Hồng với diện tích bãi bồi trên 10000 ha Huyện Giao Thủy có 22 xã và thịtrấn, trong đó có 9 xã tiếp giáp với biển là: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, GiaoXuân, Giao Hải, Giao Long, Bạch Long, Giao Phong và Giao Lâm với 32 kmđường bờ biển nằm giữa hai cửa sông là: sông Hồng (cửa sông Ba Lạc) và sôngNinh Cơ (cửa Ninh cơ) Trong 9 xã giáp biển này thì các xã Giao Thiện, Giao Lạc,Giao An và Giao Xuân có hệ thống rừng ngập mặn phát triển nhất

Trang 31

Xã Giao Lạc có diện tích 840,7 ha, nằm giữa 20o13’ – 20o15’ vĩ độ Bắc,

106o15’ – 106o33’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp với xã Giao An, phía Nam giáp với

xã Giao Xuân, phía Đông giáp với biển Đặc biệt, xã Giao Lạc là một trong 5 xã(Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Hải) thuộc vùng đệm của khu bảotồn Ramsar

Hình 2.4: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh

Nam Định

Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn xã Giao Lạc khoảng 407,7 ha, nằm trongvùng cửa sông Hồng và cửa sông Ninh

Khí hậu: Giao Thủy nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu

ảnh hưởng trực tiếp của biển, do đó thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió bão và ápthấp nhiệt đới Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng tại khu vực nghiên cứu từ10/2013 – 9/2014 như sau:

Trang 32

Bảng 2.1 Diễn biến khí hậu tại Giao Lạc, Giao Thủy, Nam Định từ tháng

- Ttb: Nhiệt độ không khí trung bình tháng (0C)

- Txtb: Nhiệt độ không khí tối cao trung bình tháng (0C)

- Tx: Nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối (0C)

- R : Tổng lượng mưa tháng (mm)

- Rx: Cường độ mưa ngày cao nhất trong tháng (mm)

- N: Số ngày có mưa trong tháng (ngày)

- Utb: Độ ẩm không khí trung bình tháng (%)

- e: Tổng lượng bốc hơi tháng (mm)

- S: Tổng số giờ nắng tháng (giờ)

- Mưa phùn: Số ngày có mưa phùn (ngày)

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm của vùng ven biển Nam Định từ

23oC – 24oC Nhiệt độ trung bình vào mùa hè từ 29oC – 30oC, có khi tới 38oC, nhiệt

Trang 33

độ trung bình vào mùa đông từ 16oC – 17oC Nhiệt độ thấp nhất thường vào tháng

01, có lúc nhiệt độ xuống 7oC

Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình trong năm của khu vực nghiên cứu từ

1 056 – 1 470 mm, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa nhiều từ tháng 05 đến tháng 10,mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Tháng mưa lớn nhất vào tháng 8, có thểtới 400 mm Mùa thu – đông có lượng mưa thấp nhất, biến động từ 25 – 50 mm/tháng

Độ ẩm không khí: nhìn chung ở mức trung bình Mùa xuân (tháng 2, 3, 4) độ

ẩm trung bình là 90%, mùa hè (tháng 5, 6, 7) là 83%, mùa thu (tháng 8, 9, 10) là 82– 86%, mùa đông (tháng 11, 12, 1) là 83 – 88%

Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi hàng năm từ 1 000 – 1 200 mm.

Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm là 107 giờ Tháng có số giờnắng nhiều nhất là tháng 5 và tháng 6 (180- 191 giờ/tháng)

Chế độ gió: Về mùa đông thịnh hành gió hướng Bắc với tốc độ gió từ 3,2 – 3,9

m/s (trong đất liền 2,0 – 2,5 m/s), đầu mùa hè là hướng Đông sau chuyển sang ĐôngNam và Nam, tốc độ gió khoảng từ 4,0 – 4,5 m/s (trong đất liền 2,3 – 2,6 m/s)

Thủy văn: Ngoài chế độ nhật triều thuần nhất Riêng tỉnh Nam Định, dòng

triều chịu tác động của gió, nhất là gió mùa và lưu lượng nước sông vào mùa mưanên biên độ triều khá lớn, dao động từ 3,0 – 3,5 m

Thổ nhưỡng: Giao Lạc là một vùng đất mới được hình thành do sự bồi đắp

của phù sa sông Hồng và sông Ninh Cơ với tốc độ bồi lắng hàng năm là 6,38cm/năm (N H Thọ và cs, 2001) [19] nên địa hình tương đối bằng phẳng, đất chưaphân hóa rõ rệt mà còn giữ nguyên tính chất của lớp đất mới bồi tụ, thường có nhiềulớp xen kẽ nhau, càng xuống sâu thì thành phần cơ giới càng nhẹ Nền đáy bao gồmbùn lẫn đất sét và cát mịn Phía trong rừng nền đáy còn được phủ một lớp xác thựcvật tạo nên một lớp mùn hữu cơ, cung cấp một phần dinh dưỡng cho cây rừng pháttriển (Vũ Văn Hiển và cs, 2005) [5]

Bảng 2.2: Kết quả phân tích đất tại Giao Lạc, Giao Thủy, Nam Định

ở độ sâu 0 – 20 cm

Trang 34

Địa điểm

nghiên

cứu

pH KCl

Mùn

%

Tổng số (%) Dễ tiêu (mg/100g) Tổng

muối tan (%)

N P 2 O 5 K 2 O 5 N P 2 O 5 K 2 O 5

G Lạc 7,4 3,25 0,151 0,151 1,48 4,32 17,6 46,2 1,620

(Nguồn: Đào Văn Tấn, Trần Văn Ba, 2002) [16]

Đặc điểm rừng trồng khu vực nghiên cứu: Qua tìm hiểu số liệu tại UBND

xã Giao Lạc, chúng tôi thấy rừng trồng tại xã Giao Lạc chủ yếu là trang, được trồngtại các thời kỳ khác nhau từ năm 1997 đến năm 2005

Tuy nhiên, trước năm 1991, rừng ngập mặn tại xã Giao Lạc, huyện GiaoThủy, tỉnh Nam Định chủ yếu là rừng tự nhiên nhưng bị chặt phá hoàn toàn, điềunày ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người dân ven biển mỗi khi có gió bão vàtriều lên cao…

Năm 1994, Ủy ban nhân dân xã đã phát động nhân dân trồng rừng bảo vệ đê,

rừng bắt đầu được trồng thuần một loài là trang (Kandelia obovata), nhưng diện tích

Thời gian trồng

Diện tích trồng mới

*

Diện tích trồng xen

**

Tổng diện tích đã trồng

Trang 35

**: Diện tích rừng ngập mặn trồng xen (trồng đa dạng các loài cây ngập mặnnhư đước, mắm, bần) trên diện tích trồng mới.

Trong đó tại xã Giao Lạc, rừng trồng đã đạt khoảng 407,7 ha Rừng trồng

chủ yếu là cây trang (Kandelia obovata) (dẫn Nguyễn Thị Hồng Liên, 2006) [8],

cây trồng với mật độ 0,7 m × 0,7 m Diện tích rừng trang kéo dài 2,85 km dọc đêbiển và được trồng lấn dần ra phía biển theo thứ tự R16T, tiếp theo là R13T, R12T,R11T, R10T

Rừng trang (Kandelia obovata) trồng ở khu vực nghiên cứu có mật độ

tương đối cao (bảng 2.4 )

Bảng 2.4 Đặc điểm rừng trang (K obovata) 10T, 11T, 13T trồng tại Giao Lạc,

Giao Thủy, Nam Định Năm

trồng Tuổi rừng

Mật độ (cây/ha)

Thời gian đo

Chiều cao (m)

Đường kính (cm)

Hiện nay rừng trang (K obovata) tại đây phát triển rất tốt tăng hiệu quả bảo vệ

đất, chống gió bão xói mòn đê biển, đồng thời có khả năng tích luỹ một lượng lớncacbon trong cây nhờ quá trình quang hợp hấp thụ CO2 trong khí quyển

Đặc điểm rừng trang (K obovata) 10 tuổi, 11 tuổi, 13 tuổi trồng tại xã Giao

Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định được biểu thị qua hình 2.5, 2.6, 2.7

Trang 36

Hình 2.5: Rừng trang (K obovata) trồng năm 2000 (R13T) tại xã Giao Lạc,

huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Hình 2.6: Rừng trang (K obovata) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Giao Lạc,

huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Hình 2.7: Rừng trang (K obovata) trồng năm 2003 (R10T) tại xã Giao Lạc,

huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

2.2.2 Đặc điểm tự nhiên tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng

Vị trí địa lý: Hải Phòng là một thành phố ven biển có chiều dài đê biển là

125 km, với diện tích đất tự nhiên gần 152 nghìn ha, nằm trong vùng hạ lưu của hệthống sông Thái Bình nên có nhiều tiềm năng bãi triều và rừng ngập mặn TiênLãng là một huyện đồng bằng ven sông, ven biển của thành phố Hải Phòng với bamặt giáp sông và một mặt giáp Vịnh Bắc Bộ nên Tiên Lãng có tài nguyên rừngngập mặn phát triển gồm các loài cây: bần chua, trang, sú phân bố ở cửa sông Văn

Trang 37

Úc, sông Thái Bình và trên 3000 ha vùng bãi triều ngập mặn nên nơi đây có khí hậutrong lành, cảnh quan đẹp rất thuận lợi cho thăm quan, du lịch sinh thái.

Hiện nay, huyện Tiên Lãng có 1 thị trấn và 22 xã với các xã ven biển là VinhQuang, Đông Hưng, Tân Hưng có hệ thống rừng ngập mặn trồng phát triển mạnh

Hình 2.8: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng,

thành phố Hải Phòng Khí hậu: Tiên Lãng nằm trong vùng khí hậu có tính chất nhiệt đới, mùa hạ

nóng ẩm mưa nhiều và mùa đông khô lạnh ít mưa Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, sốgiờ nắng tại khu vực nghiên cứu từ tháng 10/2013 – 9/2014 như sau:

Bảng 2.5: Diễn biến khí hậu tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố

Nắng

Mưa phùn

Trang 38

đến tháng 9) và mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Tháng 4 và tháng 10

có khí hậu chuyển tiếp Nhiệt đô trung bình tháng 6, 7 khoảng 29o – 30oC Nhiệt độtrung bình mùa đông là 17o – 18oC

Lượng mưa: Tổng lượng mưa cả năm dao động trong khoảng 1 600 – 2 000

mm nhưng phân bố không đều trong mùa Lượng mưa cao nhất rơi vào tháng 8 (cóthể đạt 235 mm), thấp nhất vào tháng 12, khoảng 16 mm (số liệu thống kê tại trạmHòn Dáu) Tổng số ngày mưa trong năm đạt từ 100 – 150 ngày, tập trung chủ yếuvào các tháng mùa hạ (Địa chí Hải Phòng, 1990) [8]

Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình hằng năm của khu vực nghiên cứu dao

động trong khoảng từ 82% - 84%

Lượng bốc hơi: Tại Hải Phòng, tổng lượng bốc hơi thì đạt trung bình 700 –

750 mm Các tháng 10, 11 là thời kỳ khô hanh, nắng nhiều nên lượng bốc hơi lớnnhất trong năm, đạt trên 80 mm Vào các tháng 2,3 lượng bốc hơi thấp, chỉ trên 30

mm (N C Hồi, 1997) [7]

Số giờ nắng: Khu vực Hải Phòng có số giờ nắng khoảng 1600 – 1800 giờ.

Số giờ nắng lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 7 và 9, số giờ nắng ít thường vàotháng 2 (Đỗ Đình Chiến và cs, 2004) [1]

Chế độ gió: Mùa đông trùng với mùa mưa ít (lượng mưa tháng dưới 100

mm) và hướng gió Bắc, Đông Bắc và Đông, chủ đạo là hướng gió Đông Bắc – hệthống gió mùa Đông Bắc hình thành do khối khí lạnh từ vùng Siberia di chuyểnxuống phía Nam, vận tốc gió trung bình đạt từ 3,2 – 3,7 m/s Mùa hè trùng với mùa

Trang 39

mưa nhiều (lượng mưa tháng trên 100 mm) chiếm khoảng 78% so với tổng lượngmưa cả năm và hướng gió thịnh hành là Đông và Đông Nam và Nam Tốc độ giógiảm dần từ ngoài khơi vào trong bờ và tăng dần từ Bắc xuống phía Nam (Đỗ ĐìnhChiến và cs) [1] Trong thời kỳ chuyển tiếp khí hậu (tháng 4, 10), sự ảnh hưởng củagió mùa giảm, thường xuất hiện gió biển – đất liền (breeze) với vận tốc khoảng cấp

3 – cấp 4, ban ngày có gió thổi từ biển vào đất liền, ban đêm có gió thổi ngược từđất liền ra biển

Ngoài ra, do ven biển Hải Phòng nằm trong vùng có bão và áp thấp nhiệt đới

đổ bộ nhiều nên mỗi năm khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của 1 - 2 cơn bão vàgián tiếp của 2 – 3 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới khác Bão thường có gió thổimạnh từ 30 – 40 m/s, có khi trên 50 m/s như cơn bão Wendy đổ bộ vào Hải Phòngngày 09/9/1968, cơn bão Sarah (21/07/1997), đã gây thiệt hại rất lớn về người vàtài sản ở đây (V Đ Thái, 2008) [17]

Thủy văn: Cũng ngoài chế độ nhật triều thuần nhất, thủy văn của xã Đông

Hưng mang tính hỗn hợp sông biển do ảnh hưởng của lưu vực sông Văn Úc đổ raVịnh Bắc Bộ và tác động thường xuyên của sóng biển Trung bình một tháng có hai

kỳ triều cường, mỗi chu kì kéo dài từ 11 – 13 ngày với biên độ giao động từ 2 – 4

m Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9) thủy triều lên cao vào buổi chiều Mùa khô(từ tháng 11 đến tháng 3) thủy triều lên cao vào buổi sáng Triều lên cao nhất tới 3,8

m và xuống thấp nhất 0,2 m (Tổng cục biển và hải đảo, 2010) [21]

Thỗ nhưỡng: Tiên Lãng là huyện đồng bằng thấp ven biển được hình thành

trong quá trình biển tiến và biển lùi thuộc thời Toàn Tân, chủ yếu do phù sa của haisông Văn Úc và Thái Bình bồi đắp Do quá trình bồi đắp không liên tục của phù sa

và sự biến động không có núi đồi nên nơi đây có các vùng đất thấp, cao không đều,xen giữa những cánh đồng rộng lớn là sông ngòi, đầm hồ, lạch triều, bãi bồi

Mỗi năm vùng đất Tiên Lãng lại rộng ra thêm do quá trình tiến ra biển, tốc

độ lấn biển khoảng 10 – 15 m/năm Sức bồi của hai dòng sông tạo nên những bãiphù sa màu mỡ, đẩy biển xa dần

Trang 40

Đặc điểm rừng trồng tại xã Đông Hưng, huyện Tiên lãng: Theo khảo sát

đối với những người dân sinh sống lâu năm ở đây thì được biết trước đây khu vựcnày chỉ là bãi bồi hoang hoá, chưa có rừng ngập mặn Sau đó, rừng ngập mặn đượctrồng theo các dự án 327, PAM 5325, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của chínhphủ, chương trình trồng rừng của Hội chữ thập đỏ, chương trình hành động phụchồi rừng ngập mặn của tổ chức ACMAMG (Nhật Bản) (bảng 2.6) Nhờ đó mà rừngngập mặn tại ven biển Hải Phòng nói chung và xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng nóiriêng tăng dần về diện tích

Bảng 2.6: Diện tích RNM đã trồng tại thành phố Hải Phòng do tổ chức NGO tài trợ (ha) Tỉnh/

Thành phố

Tổ chức tài trợ

Thời gian trồng

Diện tích trồng mới

*

Diện tích trồng xen

**

Tổng diện tích đã trồng

(Nguồn: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hồng 2003, Tổ chức ACTMANG) [6, 9, 40]

Bắt đầu từ năm 1997, loài cây ngập mặn được trồng là trang (Kandelia obovata) và trang xen lẫn bần (Sonneratia caseolaris) Nơi đây có các kiểu trồng

như sau: rừng trang trồng ở giữa, ngoài phía biển trồng bần chua, phía giáp đê biểnđược trồng xen bần và trang, ngoài biển và bờ đê gồm bần xen trang là chủ yếu

Theo đánh giá chung của Chi cục kiểm lâm Hải Phòng (2007) thì diện tíchrừng ngập mặn từ chỗ chỉ có 293 ha năm 1992 đến 2007 đã tăng lên 3719,9 ha với

đa dạng loài cây tạo nên nhiều tầng tán (bảng 2.7)

Bảng 2.7: Tổng hợp hiện trạng rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng (ha)

STT Địa phương

Tổng diện tích

Rừng tự nhiên

Ngày đăng: 11/04/2016, 21:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Cây trang  (Kandelia obovata) trồng ở miền Bắc Việt Nam Ghi chú:  a & b: Cây Trang                      c - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.1 Cây trang (Kandelia obovata) trồng ở miền Bắc Việt Nam Ghi chú: a & b: Cây Trang c (Trang 21)
Hình 2.2: Cây bần chua (Sonneratia caseolaris) Ghi chú: a. Cây bần chua      b&c: Hoa và nụ cây bần chua                c - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.2 Cây bần chua (Sonneratia caseolaris) Ghi chú: a. Cây bần chua b&c: Hoa và nụ cây bần chua c (Trang 22)
Hình 2.3: Vị trí nghiên cứu trên bản đồ (Ghi chú:      ) Khí hậu: Nhìn chung, ba khu vực nghiên cứu gồm  Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định đều mang kiểu khí hậu đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.3 Vị trí nghiên cứu trên bản đồ (Ghi chú: ) Khí hậu: Nhìn chung, ba khu vực nghiên cứu gồm Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định đều mang kiểu khí hậu đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ (Trang 24)
Hình 2.4: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.4 Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh (Trang 26)
Hình 2.6: Rừng trang (K. obovata) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Giao Lạc, - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.6 Rừng trang (K. obovata) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Giao Lạc, (Trang 31)
Hình 2.7: Rừng trang (K. obovata) trồng năm 2003 (R10T) tại xã Giao Lạc, - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.7 Rừng trang (K. obovata) trồng năm 2003 (R10T) tại xã Giao Lạc, (Trang 31)
Hình 2.8: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.8 Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, (Trang 32)
Bảng số liệu 2.7 cho thấy, sự mở rộng diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn huyện Tiên Lãng do rừng trồng là chủ yếu - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Bảng s ố liệu 2.7 cho thấy, sự mở rộng diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn huyện Tiên Lãng do rừng trồng là chủ yếu (Trang 36)
Hình 2.10: Rừng bần chua (S. caseolaris) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Đông - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.10 Rừng bần chua (S. caseolaris) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Đông (Trang 37)
Hình 2.9: Rừng bần chua (S. caseolaris) trồng năm 1992 (R22T) tại xã Đông - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.9 Rừng bần chua (S. caseolaris) trồng năm 1992 (R22T) tại xã Đông (Trang 37)
Hình 2.12: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.12 Bản đồ khu vực nghiên cứu tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh (Trang 38)
Hình 2.14: Rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (K. obovata) và bần chua (S. caseolaris) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.14 Rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (K. obovata) và bần chua (S. caseolaris) trồng năm 2002 (R11T) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh (Trang 45)
Hình 2.15: Rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (K. obovata) và bần chua (S. caseolaris) trồng năm 2003 (R10T) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.15 Rừng trồng hỗn giao giữa hai loài trang (K. obovata) và bần chua (S. caseolaris) trồng năm 2003 (R10T) tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh (Trang 45)
Bảng 2.13: Bảng so sánh sự khác nhau của hệ thống đặc điểm tự nhiên ở - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Bảng 2.13 Bảng so sánh sự khác nhau của hệ thống đặc điểm tự nhiên ở (Trang 46)
Hình 2.16. Sơ đồ các ô thí nghiêm khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu định lượng cacbon trong lượng rơi của rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Hình 2.16. Sơ đồ các ô thí nghiêm khu vực nghiên cứu (Trang 48)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w