Về lý luận cũng như trong thực tế, ngoàicác khái niệm giá thành xã hội, giá thành cá biệt, còn có khái niệm giá thành côngxưởng, giá thành toàn bộ …Xét theo thời điểm tính và nguồn gốc s
Trang 1Trong nền kinh tế hiện nay, với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệpNhà nước cũng như doanh nghiệp Tư nhân, muốn tồn tại và phát triển được các doanhnghiệp cần phải trải qua quá trình sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận từ chính sản phẩm
đó
Biện pháp hạ giá thành sản phẩm sản xuất kinh doanh là một trong những chỉtiêu hết sức quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu kinh tế tài chính Tiết kiệm trong giáthành sản xuất của các doanh nghiệp bao giờ cũng có ý nghĩa to lớn đối với việc tăngtích luỹ và góp phần từng bước nâng cao đời sống người lao động Phấn đấu để khôngngừng tiết kiệm chi phí sản xuất là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thườngxuyên của công tác quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay nhiệm vụ tiết kiệm chi phí sảnxuất của doanh nghiệp có ý nghĩa kinh tế chính trị đặc biệt quan trọng để phát triển và
đi lên đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược cạnh tranh tối ưu, sản phẩm củadoanh nghiệp làm ra phải được thị trường chấp nhận, và phải đáp ứng nhu cầu ngườitiêu dùng Do đó giá thành là vấn đề quan tâm của các doanh nghiệp và nó là yếu tố rấtquan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp
Đối với Công ty Xi măng Hoàng Thạch trải qua 25 năm bề dày kinh nghiệmsản xuất xi măng phục vụ cho ngành xây dựng Mặc dù phải cạnh tranh đối đầu vớinhiều Công ty xi măng trong nước nhưng tới nay sản phẩm của Công ty đã khẳng địnhchỗ đứng trên thị trường trong nước Trong thời gian tìm hiểu và nghiên cứu thực tếsản xuất kinh doanh tại Công ty Xi măng Hoàng Thạch bản thân em nhận thấy Công tycòn một số vấn đề cần quan tâm đó là thực hiện kế hoạch giá thành của Công ty Ximăng Hoàng Thạch
Được sự nhất trí của Thầy giáo hướng dẫn em chọn đề tài :
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm và một số biện pháp giảm giá thành tại Công ty Xi măng Hoàng Thạch năm 2005
Với kiến thức đã được học ở trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội và sự hướng
dẫn tận tình của Thầy giáo hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Văn Nghiến, cùng với sự giúp
Trang 2Thạch đã giúp đỡ em hoàn thành đồ tốt nghiệp này.
* Nội dung đồ án gồm 3 chương :
Chương I : Cơ sở lý thuyết về phân tích giá thành sản phẩm
Chương II: Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm tại Công
ty Xi măng Hoàng Thạch
Chương III: Các biện pháp hạ giá thành sản phẩm
Song khả năng của bản thân còn nhiều hạn chế, vì thế phương pháp phân tíchtổng hợp và xác định kế hoạch giá thành còn nhiều điểm chưa sâu sát, cô đọng Nên
em rất mong được sự giúp đỡ chỉ bảo của các Thầy, Cô khoa Kinh tế Quản lý - TrườngĐại học Bách khoa Hà Nội
Em xin trân trọng cảm ơn./
Trang 3Cơ sở lý thuyết về phân tích giá thành sản phẩm
I Khái niệm về giá thành
Giá thành sản phẩm là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá Giáthành là sự biểu hiện bằng tiền, của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và laođộng vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩmnhất định
Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt : mặt hao phísản xuất và mặt kết quả sản xuất Tất cả các khoản chi phí phát sinh ( phát sinh trong
kỳ, kỳ trước chuyển sang ) các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sảnphẩm, lao động, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên giá thành sản phẩm Nóicách khác giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí màdoanh nghiệp bỏ ra ở bất kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sảnphẩm đã hoàn thành trong kỳ
* ý nghĩa của giá thành sản phẩm :
Trong hoạt động kinh tế, giá thành là một chỉ tiêu quan trọng của chỉ tiêu chấtlượng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giá thành là biểuhiện bằng tiền của tổng số chi phí lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp
bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Bởi nó bao gồm tất cả các chi phí sản xuất cóliên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nó phản ánh trình độ sử dụng các yếu tốsản xuất, trình độ về tổ chức sản xuất , quản lý lao động vật tư quản lý tiền vốn
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các phương án kinh tế.Giá thành là cơ sở để xác định giá cả của sản phẩm Trong phạm vi xã hội việcgiảm giá thành sản phẩm là một trong những biện pháp chủ yếu tăng nguồn tích luỹcho nền kinh tế
Để đánh giá đúng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi giáthành phải tính đúng tính đủ để bù đắp được lao động sống , lao động vật hoá đã bỏ ra
để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Trong phạm vi toàn doanh nghiệp giá thành càng hạ
Trang 4pháp chủ yếu tăng nguồn tích luỹ cho doanh nghiệp
Trang 5Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũngnhư yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ,nhiều phạm vi tính toán đánh giá khác nhau Về lý luận cũng như trong thực tế, ngoàicác khái niệm giá thành xã hội, giá thành cá biệt, còn có khái niệm giá thành côngxưởng, giá thành toàn bộ …
Xét theo thời điểm tính và nguồn gốc số liệu để tính giá thành, giá thành đượcchia thành giá thành kế hoạch, giá thành định mức, giá thành thực tế :
1.Giá thành kế hoạch :
Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinhdoanh trên cơ sở giá thành thực tế của kỳ trước và các định mức các dự toán chi phícủa kỳ kế hoạch Giá thành kế hoạch xác định mức độ giới hạn chi phí để sản xuất sảnphẩm của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch Giá thành kế hoạch là một chỉ tiêu kinh tếquan trọng trong hệ thống chỉ tiêu kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính của doanhnghiệp
để phù hợp với sự thay đổi của định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhấtđịnh trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức luôn luôn thay đổi phù hợp với sự thayđổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm
3.Giá thành thực tế :
Giá thành thực tế được xác định sau khi đã kết thúc quá trình sản xuất sản phẩmtrên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm Nếu giá thành kếhoạch và giá thành định mức chỉ bao gồm các chi phí trong phạm vi kế hoạch và địnhmức thì giá thành thực tế bao gồm toàn bộ các chi phí thực tế phát sinh có liên quan
Trang 6định mức và giá thành kế hoạch như các thiệt hại về sản phẩm hỏng, các thiệt hại dongừng sản xuất, các khoản vượt chi Việc xác định giá thành thực tế nhất thiết phảiđược xác định theo số liệu kế toán
Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành thực tế được chia thành giá thành sảnxuất và giá thành tiêu thụ :
a Giá thành sản xuất ( còn gọi là giá thành phân xưởng ) là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm viphân xưởng sản xuất ( chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuấtchung ) Bởi vậy giá thành sản xuất còn có tên gọi là giá thành phân xưởng
b Giá thành tiêu thụ ( giá thành toàn bộ ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi
phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm , chi phí sản xuất, chi phí,chi phí quản lý , chi phí bán hàng ) Do vậy giá thành tiêu thụ còn gọi là giá thành đầy
đủ và được tính theo công thức :
III Các phương pháp phân loại chi phí SX kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền củacác nguồn lực khác nhau như nhân công, vật tư, thiết bị, công cụ , mặt bằng, dịch vụmua ngoài … đã được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhấtđịnh Giá trị của sản phẩm được biểu hiện bằng công thức
G = C + V + MTrong đó :
G : là giá trị sản phẩm ;
C : là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất tiêu hao trong quá trình chế tạo ra sản phẩm ;
V : là chi phí nhân công phải trả cho người lao động để chế tạo ra sản phẩm ;
M : là toàn bộ giá trị mới do người lao động sống tạo ra trong quá trình sản xuất ra sảnphẩm
Giá thành
toàn bộ của
sản phẩm
= Giá thành sản xuất +
Chi phí quản
lý doanh nghiệp
+ Chi phí bán
hàng
Trang 7sản phẩm được tính trên cơ sở các chi phí sản xuất đã được tập hợp
Trong thực tế để phục vụ cho các yêu cầu quản lý doanh nghiệp, người ta tiến hànhphân loại chi phí theo nhiều phương pháp khác nhau như sau :
1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố chi phí :
Để phục vụ cho việc tập hợp , quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầuđồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh của chi phí,chi phí được phân theo yếu tố Về thực chất chỉ có 3 yếu tố chi phí là chi phí về sứclao động, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về tư liệu lao động Tuy nhiên đểcung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng vàphân tích định mức lao động, việc lập kiểm tra và phân tích và phân tích dự toán chiphí , các yếu tố chi phí trên có thể được chi tiết hoá theo nội dung kinh tế cụ thể củachúng Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý ở mỗi nước , mỗi thời kỳ mà mức độ chitiết của các yếu tố có thể khác nhau Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chiphí được chia thành 5 yếu tố sau :
1.1 Yếu tố chi phí nguyên vật liệu :
Yếu tố này bao gồm giá thực tế của nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,dụng cụ, phụ tùng, bán thành phẩm ( tất cả đều mua ngoài ) đã được đưa vào sử dụngcho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
1.2 Yếu tố chi phí nhân công :
Thể hiện số tiền doanh nghiệp phải bỏ ra cho việc sử dụng nhân công vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh bao gồm toàn bộ tiền lương các khoản phụ cấp các khoảnthưởng có tính chất lượng, các khoản trích theo chế độ như : BHXH , BHYT, Kinh phícông đoàn của những CBCNV tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
1.3 Yếu tố chi phí khấu hao :
Bao gồm tổng số khấu hao của toàn bộ TSCĐ sử dụng vào hoạt động sản xuất kinhdoanh trong kỳ
1.4 Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài :
Trang 8sản xuất kinh doanh trong kỳ ( ví dụ như tiền điện, nước, điện thoại, fax , thuê ngoàiTSCĐ )
1.5 yếu tố chi phí bằng tiền :
Gồm các khoản tiền doanh nghiệp đã trả hoặc sẽ trả phải trả trực tiếp dưới hìnhthái giá trị cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ ( ví dụ trả lãi vay, thuế phảinộp, công tác phí chi tiếp khách hội họp )
Việc hệ thống chi phí theo yếu tố có tác dụng cho biết để tiến hành hoạt động sảnxuất kinh doanh với quy mô như kỳ báo cáo , doanh nghiệp cần huy huy động đưa vào
sử dụng những nguồn lực nào , mỗi nguồn lực là bao nhiêu, trên cơ sở đó lập kế hoạchcung ứng vật tư , lập dự toán chi phí , lập kế hoạch quỹ lương tính toán nhu cầu vốnlưu động cho kỳ tiếp theo
2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục giá thành sản phẩm :
Căn cứ vào địa điểm phát sinh chi phí và nơi nhận chi phí để phân loại khôngphân biệt nội dung kinh tế Người ta chia chi phí thành 5 khoản mục như sau :
2.1 Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
Gồm giá thực tế của nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu ( có thể muangoài hay tự chế ), bán thành phẩm mua ngoài tham gia trực tiếp vào công nghệ chếbiến sản phẩm ( sau khi đã trừ giá trị phế liệu thu hồi )
2.2 Khoản mục chi phí tiền lương trực tiếp :
Gồm tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương, tiền thưởng thườngxuyên, các khoản trích BHXH, BHYT, Kinh phí công đoàn theo quy định, lương phéptrích trước ( nếu có) của công nhân trực tiếp sản xuất
2.3 Khoản mục chi phí sản xuất chung :
Chi phí sản xuất chung là những chi phí về tổ chức và quản lý và những chi phíchung khác phát sinh ở bộ phận sản xuất ( phân xưởng công trường đội sản xuất ) nóicách khác đó là những chi phí còn lại chi phí phát sinh ở bộ phận sản xuất ngoài chi
Trang 9này bao gồm các khoản sau
*Chi phí nhân viên phân xưởng : bao gồm tiền lương, các khoản phụ cấp cótính chất lương, các khoản tiền thưởng trong lương, các khoản trích BHXH, BHYT,Kinh phí công đoàn theo lươngcủa CBCNV gián tiếp ở bộ phận sản xuất
*Chi phí vật liệu: Gồm giá thực tế của vật liệu sử dụng ở bộ phận sản xuấtnhưng không có tham gia trực tiếp vào công nghệ chế biến sản phẩm Ví dụ như chiphí vật liệu công cụ cho sửa chữa thanh lý TSCĐ
*Chi phí dụng cụ sản xuất : Gồm giá trị ( hoặc một phần giá trị ) dụng cụ đồdùng sử dụng cho sản xuất và thanh lý ở bộ phận sản xuất trong kỳ
*Chi phí khấu hao TSCĐ : Gồm tổng số khấu hao của toàn bộ TSCĐ dùng vàosản xuất trong kỳ
*Chi phí dịch vụ mua vào : Số tiền phải trả cho dịch vụ mua ngoài đã sử dụngvào sản xuất trong kỳ
*Chi phí bằng tiền : Gồm các khoản chi phí cho hoạt động sản xuất trực tiếpdưới hình thái giá trị như tiếp khách, hội họp chè nước, văn phòng phẩm
2.4 Khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp
Bao gồm chi phí quản lý hành chính chi phí kinh doanh, những chi phí liênquan đến toàn bộ hoạt động quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, không riêng chomột phân xưởng nào hoặc sản phẩm nào
Nội dung chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các điều khoản sau :
+Chi phí nhân viên quản lý : Phản ánh các chi phí về tiền lương, các khoản phụcấp, các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT và KPCĐ của công nhân viênthuộc bộ máy quản lý của doanh nghiệp
+Chi phí vật liệu quản lý : Gồm giá thực tế của vật liệu sử dụng cho công việcquản lý như sửa chữa TSCĐ, dụng cụ, công cụ, văn phòng phẩm
+Chi phí đồ dùng văn phòng : Là phản ánh giá trị dụng cụ đồ dùng văn phòngcho công tác quản lý như bàn , ghế, tủ hồ sơ, máy tính, máy điều hoà , điện thoại
Trang 10doanh nghiệp như nhà văn phòng, kho tàng, đường xá, cầu cống, thiết bị quản lý
+Thuế phí và lệ phí : Gồm có thuế môn bài , thuế tài nguyên, thuế nhà đất , thuếGTGT đối với doanh nghiệp
2.5 Khoản mục chi phí bán hàng :
Bao gồm toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm dịch vụcủa doanh nghiệp như chi phí tiền lương, tiền công, BHXH, BHYT , của nhân viênbán hàng , chi phí nguyên vật liệu, khấu hao máy móc nhà cửa kho bãi, chi phí dịch vụmua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Cách phân loại này để xác định giá thành đơn vị sản phẩm, giá thành toàn bộ,xác định hàng tồn kho, phân bịêt được chi phí theo từng chức năng cũng như căn cứ đểkiểm soát và quản lý chi phí
3 Phân loại chi phí theo phương pháp phân bổ chi phí vào giá thành
Theo phương pháp này người ta chia chi phí làm 2 loại : Chi phí trực tiếp và chiphí gián tiếp
3.1 Chi phí trực tiếp : Là những chi phí sản xuất trực tiếp có liên quan đến những loại
sản phẩm và được tính trực tiếp vào giá thành sản phẩm hay loại sản phẩm
3.2 Chi phí gián tiếp : Là chi phí có liên quan đến các hoạt động chung của phân
xưởng, xí nghiệp và tính vào giá thành bằng phương pháp phân bổ
4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí và tình hình tăng giảm sản lượng hàng hoá
Theo phương pháp người ta chia chi phí thành hai loại : chi phí biến đổi và chiphí cố định
4.1 Chi phí biến đổi : Là khoản chi phí thay đổi tỷ lệ với những biến đổi của mức độ
hoạt động Trong các doanh nghiệp sản xuất thi chi phí biến đổi bao gồm chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí biến đổi chia 2 loại:
- Chi phí biến đổi cùng tỷ lệ
- Chi phí biến đổi không cùng tỷ lệ
Trang 11mức độ hoạt động trong phạm vi nhất định nào đó như chi phí thuê nhà đã ký hợpđồng Loại chi phí cố định rất phù hợp với các doanh nghiệp có xu hướng tự động hoáđiều đó có ý nghĩa là tăng cường về máy móc, giảm bớt công nhân lao động phổthông.
IV Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm :
1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm :
Để hạch toán tính chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác,kịp thời, đòi hỏi công việc đầu tiên mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng tínhgiá thành sản phẩm Vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt cả trong lý luận lẫn trongthực tiễn hạch toán là nội dung cơ bản nhất của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất, tínhgiá thành sản phẩm
Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và cóquan hệ mật thiết với nhau Đó là giai đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinhtheo từng sản phẩm nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ phân xưởng
và giai đoạn tính giá thành sản phẩm , chi tiết sản xuất , sản phẩm theo đơn đặt hàng
đã hoàn thành theo đơn vị tính giá thành quy định Việc phân chia này xuất phát từyêu cầu quản lý , kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ,theo đặc điểm quy trình công nghệ của từng doanh nghiệp và yâu cầu tính gía thànhsản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định có thể nói việc phân chia phân loại quátrình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chiphí sản xuất tức là đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cầnphải tính giá thành một đơn vị tức là đối tượng tính giá thành
Như vậy xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác địnhgiới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chiphí Còn xác định đối tượng tính giá thành là việc xác định sản phẩm, bán thànhphẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành đơn vị Đối tượng có thể
là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền sản xuất tuỳtheo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm
Trang 12thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một , cần dựa vào các cơ sở sau đây :
a Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất : Sản xuất giản đơn hay phức tạp
Với sản xuất giản đơn đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩmhay toàn bộ quá trình sản xuất ( nếu sản xuất một thứ sản phẩm ) hoặc có thể là mộtnhóm sản phẩm ( nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trìnhlao động ) Đối tượng tính giá thành ở đây là sản phẩm cuối cùng
Với sản xuất phức tạp, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận,chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộphận sản phẩm Còn đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở các bước chế tạo cuốicùng hay bán thành phẩm ở các bước chế tạo
b Loại hình sản xuất : Đơn chiếc sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng loạt với
c Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức quản lý kinh doanh :
Dựa trên cơ sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng hạchtoán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành, với trình độ cao, có thể chi tiết đốitượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở các góc độ khác nhau, ngược lại ,nếu trình độ thấp thì đối tượng đó có thể bị hạn chế và thu hẹp lại
Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau đối tượng hạch toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm đồng thời thể hiện được mục đích và phạm vi tiếnhành hai giai đoạn của công tác kế toán trên
Trang 132 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm :
Do sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượngtính giá thành mà có sự khác biệt giữa phương pháp hạch toán chi phí và phương pháptính giá thành sản phẩm
a Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất :
Hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương phápđược sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn củađối tượng hạch toán chi phí Về cơ bản , phương pháp hạch toán chi phí bao gồm cácphương pháp hạch toán chi phí theo sản phẩm , theo đơn đặt hàng , theo giai đoạncông nghệ, theo phân xưởng, theo nhóm sản phẩm Nội dung của phương pháp hạchtoán chi phí sản xuất là kế toán mở thẻ ( hoặc sổ ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuấttheo từng đối tượng đã được xác định phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đếnđối tượng, hàng tháng tập hợp chi phí theo từng đối tượng Mỗi phương pháp hạchtoán chi phí thích ứng với mỗi loại hình hạch toán chi phí nên tên gọi của phương phápnày biểu hiện đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí sản xuất
b Các phương pháp tính giá thành sản phẩm :
Để đánh giá đúng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi giáthành phải được tính đúng tính đủ Tính đúng tính đủ là yêu cầu cơ bản của việc xácđịnh giá thành , làm thế nào để tính đúng tính đủ giá thành, giá thành là một vấn đềkhông đơn giản đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên xem xét đánh giá lại tư liệusản xuất kể cả TSCĐ đã được đầu tư hình thành trong giai đoạn trước Tính toán chặtchẽ các định mức tiêu hao nguyên vật liệu , mức sử dụng TSCĐ vào thời gian lao độngcần thiết , chỉ trên cơ sở đó mới đảm bảo được sự vận động của các định mức , yếu tốgiá trị vật chất , tạo điều kiện giám sát chặt chẽ các định mức kinh tế , kỹ thuật Tínhtoán đúng giá thành sản phẩm có điều kiện để tính toán đúng chi phí sản xuất Mọicách tính toán chủ quan , không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều
có thể dẫn đến việc mối quan hệ hàng hoá , tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinhdoanh và không thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Muốn vậycần phải xác định các phương pháp tính giá thành
Trang 14toán , xác định giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm , lao vụ, dịch vụ hoàn thành Tuỳ theo đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất cũng như yêu cầu và trình độ củacông tác quản lý công tác kế toán từng doanh nghiệp , từng loại hình sản xuất cụ thể,
kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá thành sau:
1 Tính giá thành theo phương pháp phân bước :
Phương pháp tính giá thành theo phương pháp phân bước được áp dụng trongsản xuất hàng khối, quá trình sản xuất liên tục theo chu kỳ sản xuất ngắn và tương đối
ít loại sản phẩm thường được chia nhiều giai đoạn và được tiến hành một hoặc nhiềuphân xưởng
Phương pháp phân bước là phương pháp bán thành phẩm ở các bước gia côngcuối cùng làm đối tượng tính giá thành
+ Đặc điểm của phương pháp phân bước :
Các chi phí phát sinh ở bước công nghệ nào thì được tập hợp theo bước côngnghệ đó Các chi phí phát sinh cơ bản như nguyên vật liệu, tiền lương công nhân sảnxuất được tính theo bước công nghệ và trong mỗi bước theo từng loại sản phẩm hoặcnhóm sản phẩm cùng loại bằng phương pháp tính toán trực tiếp
Các chi phí quản lý ở phân xưởng trước hết được tính toán theo phân xưởng sau
đó phân bổ theo các bước công nghệ theo các sản phẩm bằng phương pháp phân bổthích hợp, chi phí quản lý doanh nghiệp được tính chung và phân bổ vào sản phẩmtheo phương pháp thích hợp
* Tính giá thành phân bước có hai cách :
Phân bước có tính bán thành phẩm và phân bước không tính bán thành phẩm
Để tính toán với các loại bán thành phẩm không bán ra ngoài thì được áp dụngphương pháp phân bước không tính bán thành phẩm
Sơ đồ tính như sau :
Giá thành
sản phẩm
= Chi phí nguyên vật liệu
+ Chi phí chế biến bước 1
+ Chi phí chế biến bước 2
+ Chi phí quản lý doanh
Trang 15Đối với sản phẩm dở dang của mỗi bước chế biến căn cứ vào đặc điểm của sảnxuất ngay một lần hay nhiều lần mà áp dụng phương pháp thích hợp hơn
2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng :
Theo phương pháp này việc xác định chi phí và tính giá thành được tiến hànhtheo đơn đặt hàng của người mua Phương pháp này thích hợp với loại hình sản xuất
có quy trình công nghệ đơn giản hay phức tạp loại hình sản xuất đơn chiếc Nội dungloại hình sản xuất có đặc điểm là :
+ Sản lượng ít mặt hàng không ổn định sản xuất đơn chiếc hoặc loại nhỏ ít lặplại mẫu hàng đã qua
+ Chu kỳ sản xuất dài tương đối với đơn đặt hàng chỉ khi nào làm xong hoàntoàn mới gọi là sản phẩm Đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng
+ Các chi phí cơ bản được tính trực tiếp vào các bản chi tiết giá thành của từngđơn đặt hàng tương ứng với các chi phí chung phải chọn tiêu chuẩn thích hợp để phân
bổ vào đơn đặt hàng mà phân xưởng tham gia sản xuất, chi phí quản lý doanh nghiệpthì được phân bổ cho tất cả các đơn vị đặt hàng
Các phương pháp tính giá thành nêu trên Mỗi phương pháp đều thích hợp vớimột quy trình sản xuất nhất định Trong thực tế các phương pháp này là phương pháptính chung nhất đặc trưng cho tính chất giá thành và quy trình sản xuất sản phẩm Cácphương pháp này có nhược điểm thiếu cụ thể và khó vận dụng
Hiện nay trong thực tế để tính giá thành sản phẩm thường áp dụng các phươngpháp sau đây :
3 Phương pháp trực tiếp :
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sảnxuất giản đơn , số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuấtngắn, mà đối tượng tập hợp chi phí cũng chính là đối tượng tính giá thành Giá thànhsản phẩm được tính bằng cách trực tiếp lấy tổng chi phí sản xuất cộng (+) hoặc trừ (-)
số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho tổng sảnlượng sản phẩm hoàn thành
4 Phương pháp loại trừ chi phí theo sản phẩm phụ :
Trang 16thu được còn có thể thu được sản phẩm phụ, để tính giá trị sản phẩm chính, kế toánphải loại trừ sản phẩm phụ ra khỏi chi phí sản xuất sản phẩm Giá thành sản phẩm phụ
có thể được xác định theo nhiều phương pháp như giá trị có thể sử dụng được , giá trịước tính, giá kế hoạch, nguyên giá nguyên liệu ban đầu … Giá thành sản phẩm chínhđược xác định theo phương pháp sau :
kỳ
+
Tổng chi phí sản xuất phát sinh
-Giá trị sản phẩm phụ thu hồi
-Giá trị sản phẩm chính dở dang cuối kỳ
5 Phương pháp cộng chi phí :
Phương pháp này được áp dụng với các doanh nghiệp mà các quá trình sản xuấtsản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giá đoạn công nghệ, đốitượng tập trung chi phí sản xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn côngnghệ hay bộ phận sản xuất nhưng đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng Giáthành sản phẩm được tính bằng tổng cộng các chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộphận tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm
Công thức : Z = Z1 + Z2 …+ Zn
6 Phương pháp hệ số :
Phương pháp hệ số được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng mộtquá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lực lượng lao động nhưngthu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập chung cho cả quátrình sản xuất, còn đối tượng tính giá thành lại là từng sản phẩm Theo phương phápnày, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, từ
đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính
ra sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm :
= Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm
Trang 17Tổng chi phísản xuất phátsinh trong kỳ
-Giá trị sảnphẩm dở dangcuối kỳ
7 Phương pháp tỷ lệ :
Phương pháp này chỉ được áp dụng trong trường hợp giới hạn tập hợp chi phí làmột nhóm sản phẩm cùng loại Căn cứ vào tỷ lệ chi phí phát sinh thực tế với chi phísản xuất kế hoạch ( hoặc định mức) kế toán tính ra giá thành đơn vị và tổng gía thànhsản phẩm từng loại :
Công thức tính :
Tỷ lệ chi phí = Tổng giá thành sản xuất thực tế của các loại sản phẩm x 100
Tổng giá thành sản xuất kế hoạch của các loại sản phẩm
8 Phương pháp liên hợp :
Trong nhiều trường hợp do đặc điểm tổ chức sản xuất , tính chất công nghệ vàtính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi giá thành sản phẩm không cho phép sử dụng phươngpháp tính đơn lẻ, mà phải sử dụng đồng thời nhiều phương pháp khác nhau Tính giáthành theo phương pháp này gọi là tính giá thành thep phương pháp liên hợp
Trong thực tế thường gặp những trường hợp kết hợp các phương pháp sau:+ Kết hợp phương pháp trực tiếp với phương pháp hệ số hoặc phương pháp tỷ
lệ để xác định giá thành của từng loại sản phẩm khi đối tượng hạch toán chi phí lànhóm sản phẩm hoặc nhóm chi tiết sản phẩm
Giá thành đơn vị sản
phẩm từng loại =
Giá thành đơn vịsản phẩm gốc x
Hệ số quy đổi sảnphẩm từng loại
Số lượng sản phẩm
Tổng lượngsản phẩm loại i x
Hệ số quy đổi sảnphẩm loại i
Trang 18định giá thành sản phẩm cuối cùng khi đối tượng hạch toán tính chi phí là một chi tiếthoặc một bộ phận sản phẩm
+ Kết hợp phương pháp tính trực tiếp với phương pháp hệ số hoặc phương pháp
tỷ lệ và phương pháp cộng chi tiết để xác định giá thành sản phẩm cuối cùng khi đốitượng hạch toán chi phí là các giai đoạn công nghệ, công đoạn sản xuất hoặc các phânxưởng
V Phương pháp hạ giá thành sản phẩm :
1.ý nghĩa của việc hạ giá thành sản phẩm :
Hạ giá thành sản phẩm là giảm các chi phí để sản xuất và tiêu thụ một đơn vịsản phẩm Thực chất của việc hạ giá thành sản phẩm là tiết kiệm lao động sống và laođộng vật hoá bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm Đây là biện pháp tổng hợp , trực tiếp nhất
để thực hiện tiết kiệm các chi phí trong toàn xí nghiệp Hạ giá thành sản phẩm làphương pháp quan trọng để tăng tích luỹ trong nội bộ doanh nghiệp nói chung và phânxưởng nói riêng Trong phạm vi doanh nghiệp và phân xưởng hạ giá thành sản phẩmthì sẽ tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Các quỹ doanh nghiệp ngày càng mở rộng, khảnăng tái sản xuất mở rộng tăng lên, đời sống tinh thần của CNVC trong doanh nghiệpngày càng được cải thiện
Trong cơ chế thị trường hạ giá thành sản phẩm là một biện pháp quan trọngnhất làm tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của xí nghiệp tạo ra uy tín , có chỗ đứngvững chắc trên thị trường Để làm tốt công tác này phải tiến hành các công việc sau :
Nghiên cứu cơ cấu giá thành, nghiên cứu tỷ trọng các khoản mục kỳ báo cáo đểtìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan làm tăng giá thành, phát hiện những khảnăng, tiềm năng để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Đề ra biện pháp hạ giá thành và tính toán ảnh hưởng của những biện pháp đónhằm dự tính khái quát tỷ lệ hạ giá thành
Căn cứ vào giá thành đơn vị sản phẩm để tính toán chính xác mức độ và tỷ lệ hạgiá thành của sản phẩm so sánh được
Trang 192 Các phương hướng hạ giá thành sản phẩm :
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng có tính chất tổng hợp
vì vậy các phương hướng hạ giá thành có liên quan nhiều phương hướng khác nhau để
hạ giá thành sản phẩm , song có thể tổng hợp các phương hướng đó thành 3 nhóm sau :
a Phương hướng tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu và năng lượng :
Trong đại bộ phận các ngành công nghiệp chi phí vầ nguyên vật liệu chiếm tỷtrọng rất lớn trong kết cấu giá thành sản phẩm, vì vậy nếu trong sản xuất một đơn vịsản phẩm chỉ tiết kiệm được một ít nguyên vật liệu, động lực thì nói chung toàn bộ sảnphẩm sẽ mang lại hiệu quả lớn
Doanh nghiệp có khả năng quản lý chi phí vật tư kể từ khi bắt đầu thu mua, chiphí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm được tính Nguyên vật liệu lúc mua và cótính đến chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản vì vậy công việc chọn nguồn cung cấpmột cách đúng đắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm Cần chọn nguồncung cấp gần doanh nghiệp, phải chọn hình thức vận chuyển hàng hoá rẻ tiền nhất.điều kiện cần thiết để hạ thấp tiêu hao nguyên vật liệu trong sản xuất một đơn vị sảnphẩm là cải tiến kết cấu sản phẩm hoàn thành quy trình kỹ thuật, áp dụng những địnhmức tiên tiến về sử dụng nguyên vật liệu Ngoài ra để giảm mức tiêu hao vật tư thìdoanh nghiệp cần giảm bớt tổn thất về phế liệu, phế phẩm Từ đó tìm ra các biện phápnhằm hạn chế tổn thất về phế liệu, phế phẩm sử dụng hợp lý phế phẩm, phế liệu này
Để tính toán ảnh hưởng của các biện pháp này ta cần phải xác định tỷ lệ giảmmức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm và giá cả kế hoạch của từngloại nguyên vật liệu Có thể dùng phương pháp chỉ số để tính toán ảnh hưởng củanhững biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng để tỷ lệ hoá giá thành sản phẩmtrong kỳ kế hoạch theo công thức sau :
X
Chỉ số giá cảcủa nguyên vậtliệu
- 1 x
Chỉ sốnguyên vậtliệu trong giáthành sảnphẩm
Trang 20Chỉ số định mức tiêu hao nguyên vật liệu kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo, chỉ sốgiá cả nguyên vật liệu và chỉ số chi phí nguyên vật liệu trong giá thành
b Phương hướng tăng năng suất lao động làm giảm chi phí tiền lương trong mỗi đơn
ảnh hưởng của việc giảm chi phí tiền lương tính theo công thức sau :
Côngthứcnày cho ta thấy chỉ số hạ giá thành sản phẩm do 3 yếu tố tác động :
Năng xuất lao động, tiền lương bình quân và tỷ trọng chi phí tiền lương trong giáthành sản phẩm
c Phương hướng tăng sản lượng làm giảm chi phí cố định trong giá thành đơn vị sản phẩm
Để hạ giá thành sản phẩm ngoài việc sử dụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu,nhiên liệu, năng lượng, giảm chi phí tiền lương trong giá thành thì phải tìm cách giảmchi phí phục vụ quản lý trong sản xuất
=
Chỉ số chi phítiền lươngtrong giá thànhsản phẩm
Trang 21phẩm hàng hoá sẽ làm cho chi phí cố định tăng chậm hơn tốc độ tăng và quy mô tăngsản lượng Nói cách khác là tăng chi phí cố định không tỷ lệ với tốc độ và quy môtăng sản lượng Sản lượng hàng hoá càng nhiều thì chi phí cố định trên mỗi đơn vị sảnphẩm sẽ giảm đi
Chi phí cố định là cả chi phí quản lý và các chi phí về phục vụ sản xuất Để tiếtkiệm khoản chi phí này thì trước hết phải giảm nhẹ bộ máy quản lý, giảm nhẹ lao độnglàm công tác phục vụ sản xuất Trong cơ chế thị trường muốn tăng sản lượng sảnphẩm hàng hoá thì ngoài việc phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường còn phải căn cứvào khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường
Để tăng sản lượng tiêu thụ thì doanh nghiệp phải không ngừng tăng chất lượngsản phẩm, cải tiến mẫu mã phù hợp với người tiêu dùng trên thị trường kết hợp với cácbiện pháp quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, các biện pháp tiếp cận và mở rộng thịtrường
Trên cơ sở kết quả tính toán ảnh hưởng của các biện pháp đến hạ giá thành sảnphẩm ta có thể tổng hợp lại bằng cách cộng tỷ lệ giá thành khi áp dụng các biện pháptrên sẽ xác định được tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so với kỳ báo cáo
Tuy nhiên phải nhấn mạnh rằng việc tăng hoặc giảm các yếu tố đều có giới hạnbởi những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan trong đó luôn phải tính toán đầy đủđến quan hệ cung cầu trên thị trường đã quyết định tăng hay giảm đầu vào, đề ra mứctối ưu nhất để doanh nghiệp có thể đạt được lợi nhuận cao nhất
3 Nhiệm vụ và nội dung phân tích giá thành sản phẩm :
Phân tích giá thành có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân làm cho giá thành thực tếtăng hay giảm so với giá thành kế hoạch và so với năm trước và tìm ra khả năng giảmgiá thành, khuyến khích người lao động triệt để tiết kiệm trong sản xuất, nâng caonăng suất lao động, hiệu suất công tác, đánh giá hiệu quả kinh tế trong việc áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đề ra những biện pháp hữu hiệu cho kỳ tớinhằm phát hiện và khai thác mọi khả năng, tiềm năng phấn đấu hạ thấp giá thành sảnxuất sản phẩm
Trang 22theo trình tự nhất định Việc phân tích giá thành sản phẩm được thực hiện theo cácbước sau :
Bước 1: Đánh giá chung tình hình thực hiện giá thành sản phẩm mục của bướcnày là nêu những nhận xét ban đầu về kết quả thực hiện kế hoạch giá thành toàn bộ.Phương pháp phân tích là tính ra mức chênh lệch và tỷ lệ (%) thực hiện giá thành sảnphẩm Ngoài ra còn so sánh giá thành thực tế năm nay so với giá thành năm trước.Sau khi đã có kết quả các chỉ tiêu thực hiện thì lập ra bảng phân tích tình hình thựchiện kế hoạch giá thành Bảng này là căn cứ để nêu lên những nhận xét về kết quả thựchiện kế hoạch giá thành
Bước 2: Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm so sánhđược
Mục tiêu đặt ra cho các đơn vị sản xuất là phấn đấu hạ giá thành toàn bộ sảnlượng sản phẩm, mức hạ này càng nhiều thì chỉ tiêu doanh lợi càng cao Hạ giá thành
là mục tiêu chung của các doanh nghiệp vì vậy phân tích giá thành sản phẩm là nhiệm
vụ không thể thiếu được trong phân tích giá thành
Việc phân tích giá thành chủ yếu là “ Mức hạ và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm “của lượng sản phẩm so sánh được
+Mức hạ giá thành tính như sau :
Mức hạ giá thành sản phẩm toàn bộ theo kế hoạch = Qkh.Zkh – Qkh.ZNT
Mức hạ giá thành sản phẩm toàn bộ theo thực tế = QTT.ZTT – QTT.ZTT
+Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được tính như sau :
Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm toàn bộ theo kế hoạch =
Trang 23bước quan trọng nhất để làm rõ nguyên nhân dẫn đến giá thành cao hay thấp so với kếhoạch Dựa vào kết quả phân tích ở bước này từ đó đề ra các biện pháp thiết thực đểphấn đấu hạ giá thành sản phẩm Để phân tích ta phải thực hiện các công việc sau :
a Đánh giá kết quả thực hiện giá thành đơn vị sản phẩm :
Nhiệm vụ của bước này là so sánh xem tiết kiệm hay vượt chi phí giữa giáthành đơn vị thực hịên với giá thành đơn vị kế hoạch và căn cứ vào sản lượng thực tế
để tính ra tổng mức tiết kiệm hay vượt chi của kỳ kế hoạch
b Phân tích giá thành theo yếu tố chi phí :
Kết cấu giá thành bao gồm nhiều yếu tố, để thấy rõ chất lượng công tác quản lýgiá thành theo từng yếu tố, ta cần phân tích tình hình thực hiện giá thành theo yếu tố
để tìm ra nguyên nhân làm thay đổi so với kế hoạch, việc phân tích này có thể theo giáthành đơn vị hoặc giá thành toàn bộ sản lượng Phương pháp thích hợp là so sánh Từ
đó nêu ra nguyên nhân thay đổi của các yếu tố và nhận xét đánh giá
c Phân tích chi phí theo khoản mục giá thành :
+Phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Bằng phương phápthay thế liên hoàn để tìm ra những nhân tố ảnh hưởng về lượng, giá cả của vật liệu trựctiếp để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
+Phân tích khoản mục chi phí nhân công trực tiếp : là so sánh chi phí nhân côngtrực tiếp thực tế với kế hoạch
+Phân tích khoản mục chi phí sản xuất chung ( quản lý phân xưởng)
+ Phân tích khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp
+ Phân tích khoản mục chi phí bán hàng
Mục tiêu phân tích ở ba khoản mục này là phân tích tình hình thực hiện dự toánchi phí, dựa vào kết quả phân tích là tiết kiệm hay vượt chi để đưa ra nhận xét trong
việc thực hiện dự toán và tìm ra nguyên nhân của các hiện tượng
4.Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
- Xác định ảnh hưởng của sản lượng tới mức hạ giá thành theo công thức :
Mq = QTTZNT x TK - MK
Trang 24QTTZNT x TK là mức hạ tính theo sản lượng thực tế kết cấu giá thành đơn vị kếhoạch
- ảnh hưởng của cơ cấu sản phẩm đến mức hạ giá thành
I Quá trình hình thành và phát triển của công ty
1 Thời điểm thành lập các mốc quan trọng trong quá trình phát triển, quy
mô hiện tại của Công ty
Công ty xi măng Hoàng Thạch là một doanh nghiệp nhà nước, hạch toán độclập, có tư cách pháp nhân, chịu sự quản lý của Tổng Công ty xi măng Việt Namthuộc Bộ Xây dựng
Hoạt động của Công ty là sản xuất kinh doanh xi măng, theo giấy phép của Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương số: 11158 ngày 30/07/1997
Công ty xi măng Hoàng Thạch tiền thân là Nhà máy xi măng Hoàng Thạch,được thành lập theo Quyết định số 333/BXD/TCLĐ, ngày 4/3/1980 của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng
Ngày 1/9/1993 Nhà máy xi măng Hoàng Thạch sát nhập vào Công ty Kinhdoanh xi măng Hoàng Thạch thành Công ty xi măng Hoàng Thạch theo Quyết định số388/BXD/TCLĐ ngày 12/08/1993 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng
Trang 25Dương và Quảng Ninh, phần sản xuất của Công ty nằm gọn trên thôn Hoàng Thạch,
xã Minh Tân, huyện Kinh Môn, Tỉnh Hải Dương, rộng 100ha, phần tiêu thụ của Công
ty nằm trên thôn Vĩnh Tuy 2, Thị trấn Mạo Khê, Huyện Đông Triều, Tỉnh QuảngNinh Công ty xi măng Hoàng Thạch nằm tiếp giáp giữa 3 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng,Quảng Ninh, được hưởng một vùng tài nguyên rộng lớn: các mỏ đá vôi, đá sét với trữlượng rất lớn đảm bảo đủ nguyên liệu cho nhà máy sản xuất hàng trăm năm, mặt khácnhà máy có lợi thế về giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, rất thuận lợi chothu mua nguyên nhiên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm (Xi măng, Clinker) góp phần quantrọng cho sản xuất kinh doanh
Công ty xi măng Hoàng Thạch là một doanh nghiệp lớn, có 2 dây chuyền côngnghệ, sản xuất xi măng bằng phương pháp khô hiện đại, tiên tiến ở trong nước và trênthế giới hiện nay Hoạt động của dây chuyền sản xuất xi măng 90% tự động hóa, dohãng FLS Smidth (Đan Mạch) cung cấp thiết bị và công nghệ có công suất 2,3 triệutấn/năm
Dây chuyền 1:
Dây chuyền này có công suất 1,1 triệu tấn/năm, vốn đầu tư là 73.683.060 USDđược khởi công xây dựng từ ngày 19/5/1977 đến ngày 25/11/1983 lò nung của nhàmáy cho ra mẻ clinker đầu tiên, đây là nguồn động viên lớn nhất đối với người côngnhân xây dựng và cán bộ công nhân viên Nhà máy xi măng Hoàng Thạch Với đà đó,ngày 10/11/1984, bao xi măng đầu tiên được mang nhãn hiệu Con Sư tử được xuấtxưởng đi đến các công trình xây dựng trong cả nước
Dây chuyền II:
Năm1993, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ cho phép mở rộng dâychuyền II Công ty xi măng Hoàng Thạch
Ngày 28/12/1993, bắt dầu khởi công xây dựng dây chuyền II và đến ngày12/05/1996, dây chuyền II đã được khai thác và đưa vào sản xuất
2 Chức năng, nhiệm vụ, mặt hàng sản xuất kinh doanh của Công ty
* Chức năng :
Trang 261997, PCB40 TCVN 6262-1997 đang lưu thông trên thị trường.
* Nhiệm vụ :
Sản xuất Clinker và xi măng theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước thông quaTổng Công ty Xi măng Việt Nam Cung ứng xi măng đến tận tay người tiêu dùng vànhập khẩu Clinker để điều tiết thị trường cung cầu khách hàng trên địa bàn các tỉnhphía bắc, trung nam
* Mặt hàng sản xuất :
Mặt hàng sản xuất của chính Công ty Xi măng Hoàng Thạch là sản xuấtCLinker và xi măng đen thành phẩm PCB 6260-1997, PCB 40 TCVN 6262-1997 Sảnphẩm của Công ty được nhà nước cấp dấu chất lượng cấp I và được tặng thưởng nhiềuhuy chương vàng tại các hội chợ triển lãm kinh tế kỹ thuật toàn quốc và hệ thống quản
lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001 – 2000; 14001 – 2004
Sau đây là là một số sản lượng trong năm ( 2004-2005) :
Bảng I 2 Sản lượng Công ty thực hiện trong năm 2004 – 2005:
Trang 27II Công nghệ sản xuất xi măng
Quy trình công nghệ sản xuất xi măng của Công ty xi măng Hoàng Thạch
theo phương pháp khô bằng lô quay, quá trình sản xuất diễn ra các phản ứng hoá học,các công đoạn sản xuất có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ và linh động với nhau
Sơ đồ I.1 : Dây chuyền công nghệ sản xuất xi măng
Trang 28Dây chuyền sản xuất xi măng do phòng điều hành trung tâm điều khiển bằng hệthống vi tính, 90% dây chuyền này là tự động.
Từ mỏ đá vôi, đá sét : do các thiết bị máy móc hiện đại khai thác đá vôi, đá sétbằng phương pháp nổ mìn vi sai, cắt tầm Chuyển đá vôi đến trạm đập búa đá vôi đểđập đá cho nhỏ, có kích thước 25mm x 25mm
Chuyển đá sét đến đập búa, đập trục đá sét để đập cho đá sét nhỏ có kích thước25mm x 25mm
III Kết cấu sản xuất của công ty
Than mịn
Hàm sấy dầu
Trang 29xưởng phụ trợ.
1 Bộ phận sản xuất chính
Phân xưởng nguyên liệu
Đảm nhiệm từ khâu đập đá vôi, đá sét được chuyển tới si lô đồng nhất bộ liệu
Đá sét được khai thác từ núi đất, dùng phương tiện máy xúc, ô tô vận chuyển vềtrạm đập và đưa về kho đồng nhất sơ bộ đá sét
Phân xưởng lò nung
Đảm nhận từ khâu cấp bột vào tới silô chứa clinker Sau khi bột đựơc đồngnhất qua bộ phận tiếp liệu vào lò nung qua hệ thống xyclon trao đổi nhiệt, tại đây dòngkhí nóng từ lò nung ra truyền nhiệt cho liệu Khi lò quay than mịn được thổi vào vàcháy ở nhiệt độ 14500C, khu vực nung bột liệu được nung và liên tiếp xảy ra phản ứnghoá học tạo ra clinker và đưa tới silô chứa clinker qua hệ thống làm lạnh
Phân xưởng xi măng
Clinker sau khi ủ ngày được đưa vào máy nghiền bi cùng với lượng thạch cao
từ 0.5% đến 3.5%, tùy theo mức độ yêu cầu của xi măng, ngoài ra còn pha thêm mộtlương phụ gia cần thiết để đảm bảo theo yêu cầu của khách hàng, tùy theo chất lượngcủa công trình
Phân xưởng đóng bao
Xi măng bột được đóng bao qua hệ thống máy tự động đảm bảo trọng lượngbao xi măng 50kg và được xuất theo 3 đường (đường bộ, đường sắt, đường thủy) tùytheo nhu cầu của khách hàng
2 Bộ phận phụ trợ
Phân xưởng cơ khí
Có nhiệm vụ gia công sửa chữa, thay thế và bảo dưỡng thiết bị, duy trì cho dâychuyền hoạt động liên tục và ổn định
Phân xưởng địện, điện tử
Quản lý các thiết bị điện, sửa chữa lắp đặt các thiết bị điện để đảm bảo khâu tựđộng hóa hệ thống dây chuyền hoạt động liên tục và ổn định dài ngày
Trang 30Có nhiệm vụ sửa chữa, xây vá lò nung, xây dựng và sữa chữa các công trìnhdân dụng.
Đảm bảo công tác vệ sinh môi trường công ty
Phân xưởng khai thác
Có nhiệm vụ khai thác đá vôi, đá sét đảm bảo đủ nguyên liệu cho dây chuyềnhoạt động
Phân xưởng xe máy
Có nhiệm vụ vận chuyển nguyên liệu đá vôi, đá sét do xưởng khai thác sản xuất
đổ vào đập đá vôi, đập đá sét, vận chuyển clinker từ silô đổ ra bãi để dự trữ (khi cầnthiết) và vận chuyển clinker từ bãi vào máy nghiền
Phân xưởng nước
Có nhiệm vụ xử lý sơ bộ nuớc dùng cho làm mát máy và xử lý nước thô thànhnước sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên Quản lý, lắp đặt hệ thống ống cấp nước chotoàn công ty
Đoàn vận tải thủy
Có nhiệm vụ vận chuyển vật tư, nguyên nhiên vật liệu đầu vào, vận chuyển ximăng, clinker đi tiêu thụ
IV Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty theo mô hình trực tuyến – chứcnăng được thể hiện theo sơ đồ 1.2
Công ty có 2.614 người, trong đó :
- Kỹ sư, cao đẳng : 403 người
- Công nhân kỹ thuật : 1.638 người
- Cán bộ lãnh đạo (từ giám đốc đến đốc công) : 199 người
- Lao động phổ thông : 169 người
Trang 31Sơ đồ I.2 : Cơ cấu tổ chức các đơn vị trong Công ty xi măng Hoàng Thạch
1 Chức năng nhiệm vụ cơ bản của từng bộ phận quản lý
Giám đốc Công ty
Trang 32định của Luật Doanh nghiệp của Nhà nước, là chủ tài khoản, chịu trách nhiệmtrước Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Tổng Giám đốc Công ty xi măng ViệtNam.
Phó Giám đốc phụ trách Kinh doanh
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn được phân công, gồm: các
chi nhánh, các đại diện trực thuộc Công ty,
Phó Giám đốc phụ trách sản xuất
- Tổ chức sản xuất, thực hiện sản lượng tháng, quý, năm về sản xuất clinker
và xi măng bột đảm bảo chất lượng theo quy định
Phó Giám đốc Cơ điện
- Quản lý toàn bộ thiết bị cơ khí, lắp ráp, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị cơ khí
2 dây chuyền sản xuất của Công ty
Phó Giám đốc đầu tư và xây dựng
- Kiểm tra và giám sát các công trình xây dựng của Công ty, đôn đốc và giámsát các đợt sửa chữa, xây lò theo định kỳ
- Xây dựng dự án dây chuyền Hoàng Thạch 3
2 Khối phòng ban nghiệp vụ
Trang 33kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ tay nghề, xác định mức lao động.
Theo dõi thời gian làm việc của cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty.Thực hiện các quyền lợi cho người lao động như tiền lương, tiền thưởng, cáccchế độ bảo hiểm đơn vị trong Công ty
Phòng Vật tư
Có nhiệm vụ tiếp nhận cung ứng nguyên nhiên vật liệu, thiết bị, phụ tùng phục
vụ cho sản xuất
Phòng Tài vụ
Có nhiệm vụ đảm bảo ổn định nguồn tài chính cho sản xuất và tiêu thụ tổng hợp
số liệu kế toán đầy đủ và chính xác, thực hiện chi trả cán bộ công nhân viên và thựchiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước
V Tình hình thực hiện kế hoạch và giá thành toàn bộ sản lượng sản phẩm năm 2005
Biểu II.1 Tình hình thực hiện kế hoạch sản lượng sản phẩm năm 2005
Đơn vị tính: tấn
Tên sản phẩm Sản lượng
theo kế hoạch
Sản lượng theo thực tế
VI Phân tích chung về tình hình thực hiện tổng giá thành sản phẩm
1 Tình hình thực hiện kế hoạch giá thành toàn bộ sản lượng sản phẩm năm
2005 (%)
Trang 34Biểu II.2 Giá thành toàn bộ sản lượng hàng hóa
Giá thành kế hoạch năm 2004
Giá thành thực
tế năm 2005 Mức Tỷ lệ %
Xi măng 1.096.320 1.086.042 1.062.060 - 23.982 - 2,21Clinker 118.800 117.150 115.500 - 1.650 - 1,41
Cộng 1.215.120 1.203.192 1.177.560 - 25.632 - 2,13
Qua biểu trên cho ta thấy tình hình thực hiện kế hoạch giá thành toàn bộ sảnlượng hàng hóa thực tế giảm so với kế hoạch là -2,13% tương ứng với -25.632 triệuđồng Nguyên nhân là do: Tổng giá thành sản lượng hàng hóa của xi măng giảm2,21% tương ứng với: -23.982 triệu đồng
Tổng giá thành sản lượng hàng hóa của clinker giảm -1,41% tương ứng với -1.650triệu đồng
Từ bảng II.2, nguyên nhân chính làm cho giá thành toàn bộ sản lượng giảm là:
* Sản lượng thực tế so với kế hoạch tăng, làm cho giá thành hạ, nhờ giảm chi phí
cố định cho một đơn vị sản phẩm
* Do tổ chức lao động tốt, tiết kiệm vật tư đầu vào
2 Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành toàn bộ sản phẩm
Bảng II.3 Tình hình thực hiện kế hoạch giá thành toàn bộ sản phẩm
Tổng cộng 1.205.000 1.193.175 1.215.120 1.203.192 1.177.560
Trang 35thành thực tế năm nay so với giá thành toàn bộ tính theo sản lượng kế hoạch và giáthành thực tế năm trước là giảm.
Giá thành toàn bộ tính theo sản lượng thực tế và giá thành thực tế năm nay so vớigiá thành toàn bộ tính theo sản lượng thực tế và giá thành năm trước đều giảm Để biết
rõ giảm bao nhiêu ta tiến hành phân tích nhiệm vụ hạ giá thành kế hoạch
2.1 Phân tích nhiệm vụ hạ giá thành kế hoạch
Từ bảng ta có mức hạ giá thành được tính như sau:
MKH = QKH ZKH QKH ZKH NNT
Trong đó:
MKH : Mức hạ của nhiệm vụ hạ giá thành kế hoạch
QKHZKH: Tổng giá thành tính theo sản lượng kế hoạch và giá thành kế hoạch
QKHNNT: Sản lượng kế hoạch giá thành năm trước
Trang 36M1 - Mức hạ giá thành thực tế
M1 = 1.177.560.000.000 - 1.215.120.000.000 = -37.560.000.000 đồng+ Tỷ lệ của nhiệm vụ hạ giá thành toàn bộ thực tế năm nay so với năm trước:
T1 = M1 100
QTT ZNT
T1 = - 37.560.000.000 100 = - 3,19%
1.177.560.000.000Kết quả cho ta thấy tỷ lệ hạ giá thành toàn bộ sản lượng năm nay so với nămtrước là -3,19% tương ứng với -37.560.000.000 đồng
2.3 Phân tích tình hình giá thành thực tế so với kế hoạch:
Điều này chứng tỏ Công ty đã thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm so với
kế hoạch được giao do ảnh hưởng của nhiều yếu tố sau:
ả nh hưởng của nhân số sản phẩm, sản lượng:
Trong điều kiện chỉ có sản lượng thay đổi, còn các nhân tố khác không đổi Việctăng sản lượng sẽ xác định việc tăng hay giảm mức hạ giá thành toàn bộ sản lượng.Xác định ảnh hưởng của sản lượng tới mức hoạt động giá thành theo công thức:
MQ = QTT ZNT TK MK
Trong đó: QTTZNT TK là mức hạ tính theo sản lượng thực tế kết cấu giá thànhđơn vị kế hoạch,
MQ = 1.215.120.000.000 (-0,99%) (-11.825.000.000) = +23.854.688.000
Trang 37Cơ cấu sản phẩm là mối quan hệ tỷ lệ giữa các loại sản phẩm sản xuất ra trong
kỳ Khi kết cấu mặt hàng sản xuất thay đổi sẽ dẫn đến mức hạ giá thành của toàn bộsản phẩm cũng thay đổi
- ảnh hưởng của cơ cấu sản phẩm đến mức hạ giá thành:
+ Do ảnh hưởng của giá thành đơn vị sản phẩm:
Nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến mức tăng hạ tổng giá thành:
Trang 38Nhận xét: Đây là biểu hiện tốt đối với Công ty vì giá thành thực tế thấp hơn giá
thành kế hoạch làm cho lợi nhuận của Công ty tăng so với kế hoạch và tăng sức cạnhtranh trên thị trường Để đánh giá chính xác những nguyên nhân làm cho giá thànhgiảm của từng loại sản phẩm, ta phân tích giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm
VII Phân tích chung về thực hiện kế hoạch giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm
Mục đích của việc phân tích giá thành đơn vị sản phẩm giúp cho ta đánh giá mộtcách tổng quát về tình hình thực hiện kế hoạch giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm.Phương pháp này tính ra mức chênh lệch của tình hình thực hiện giá thành đơn vịcủa từng loại sản phẩm
Ngoài ra có thể so sánh giá thành đơn vị thực tế năm nay và giá thành năm trước
so sánh giá thành thực tế với giá thành kế hoạch
+ Giá thành thực tế với giá thành kế hoạch:
Tỷ lệ thực hiện giá thành đơn vị sản phẩm = Giá thành đơn vị thực tế
100Giá thành đơn vị kế hoạch
+ Giá thành thực hiện với giá thành năm trước:
Tỷ lệ thực hiện so với năm trước = Giá thành đơn vị thực tế năm nay
100Giá thành đơn vị năm trước
Để thấy rõ được mức tỷ lệ tăng hay giảm giá thành đơn vị thực tế năm nay vớigiá thành đơn vị thực tế năm trước, giá thành thực tế với giá thành kế hoạch, tôi phân