Phân bố hiệu giá kháng nguyên virus dịch tả lợn trên lợn nái sinh sản nuôi ở các địa phương của huyện Hải Lăng trong tháng 1/2015 bằng phương pháp SSIA....31 Bảng 4.3.. Phân bố hiệu giá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Chăn nuôi – Thú y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Tình hình cảm nhiễm virus dịch tả lợn trên đàn lợn nái sinh sản nuôi ở một số địa phương thuộc huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THÁI LINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn quýThầy cô giáo trường Đại học Nông lâm Huế đã truyền đạt kiến thức cho tôitrong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS
TS Phạm Hồng Sơn đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian họctập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Đồng thời tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến chính quyền và các
hộ dân chăn nuôi lợn trên địa bàn các xã Hải Lệ, Hải Phú, Hải Thượng, huyệnHải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã hợp tác và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trìnhlấy mẫu để thực hiện đề tài tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ phòng thí nghiệm Vi trùng –Truyền nhiễm, bộ môn Kí sinh – Truyền nhiễm đã tạo điều kiện để tôi hoànthành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã độngviên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng tìm tòi nghiên cứu, song không tránhkhỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp.Rất mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý Thầy cô và các bạn để khóaluận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các loại vaccine thường được sử dụng tại Việt Nam 19 Bảng 3.1 Các bước tiến hành làm phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHA) 26 Bảng 3.2: Sơ đồ phản ứng trắc định xê lệch ngưng kết gián tiếp chuẩn (SSIA) 28 Bảng 4.1: Kết quả xét nghiệm IHA đánh giá chuyển hóa huyết thanh ở lợn được tiêm vaccine virus dịch tả lợn 30 Bảng 4.2 Phân bố hiệu giá kháng nguyên virus dịch tả lợn trên lợn nái sinh sản nuôi ở các địa phương của huyện Hải Lăng trong tháng 1/2015 bằng phương pháp SSIA 31 Bảng 4.3 Phân bố hiệu giá kháng nguyên virus dịch tả lợn trên lợn nái sinh sản nuôi ở các địa phương của huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị trong tháng 3/2015 bằng phương pháp SSIA 33 Bảng 4.4 Phân bố hiệu giá kháng nguyên virus DTL trên đàn lợn nái nuôi ở các đại phương thuộc huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị qua hai đợt lấy mẫu 35 Bảng 4.5 Phân bố hiệu giá kháng nguyên virus dịch tả lợn trên lợn nái sinh sản nuôi ở các địa phương của huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị trong 2 tháng (1/2015 và 3/215) bằng phương pháp SSIA 36 Bảng 4.6 Phân bố hiệu giá kháng nguyên virus DTL trên đàn lợn nái sinh sản nuôi ở nông hộ và một số trang trại thuộc huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị 38
Trang 4DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 2.1: Cấu trúc virus dịch tả lợn 1Hình 2.2 Xuất huyết ở da (bên trái) và đốm xuất huyết ở thận (bên phải) 6Hình 2.3 Xuất huyết ở màng bụng (bên trái) và viêm loát ruột già có hình cúc
áo (bên phải) 9Hình 3.1: Phản ứng IHA xác định hiệu giá kháng huyết thanh kháng dịch tả lợn
từ lợn nuôi thí nghiệm 26Hình 3.2: Phản ứng trắc định xê lệch ngưng kết gián tiếp chuẩn (SSIA) 29Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm của virus dịch tả lợn trênđàn lợn nái sinh sản nuôi ở huyện Hải Lăng, thị xã Quảng Trị (1/2105) 31Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm của virus dịch tả lợn trênđàn lợn nái sinh sản nuôi ở huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị (3/2105) 33Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ nhiễm virus dịch tả lợn của đàn lợn nái sinh sản tại 3 địaphương Hải Lệ, Hải Phú và Hải Thượng qua các tháng 37Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm của virus dịch tả lợn trênđàn lợn nái sinh sản nuôi ở nông hộ và một số trang trại tại các xã Hải Lệ, HảiPhú, Hải Thượng 38
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Ý nghĩa 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình chăn nuôi của huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị 3
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình đất đai và khí hậu 3
2.1.2 Tình hình chăn nuôi ở huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị trong những năm qua 4
2.2 Tình hình bệnh Dịch tả trên thế giới 5
2.3 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở Việt Nam 7
2.4 Virus gây bệnh 9
2.4.1 Phân loại 10
2.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo virus 1
2.4.3 Sức đề kháng của virus 1
2.4.4 Cơ chế sản sinh của virus 2
2.5 Tính gây bệnh 3
2.6 Chất chứa mầm bệnh 3
2.7 Đường truyền lây 4
2.8 Loài, lứa tuối mắc bệnh và mùa xảy ra bệnh 4
2.9 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh dịch tả lợn 5
2.9.1 Triệu chứng 5
2.9.2.Bệnh tích của bệnh Dịch tả lợn 8
2.10.Chẩn đoán bệnh 10
2.10.1 Chẩn đoán dịch tễ học 11
2.10.2 Chẩn đoán lâm sàng 11
2.10.3 Chẩn đoán virus học 12
2.10.4 Chẩn đoán huyết thanh học 12
2.10.5 Kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction 15
2.10.6 Chẩn đoán bằng phản ứng hóa học màu 15
Trang 62.11 Phòng bệnh 15
2.11.1 Biện pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn 15
2.11.1.1 Tuyên truyền phòng, chống bệnh dịch tả lợn 15
2.11.2 Vaccine phòng bệnh bằng vaccine 18
PHẦN 3 NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Thời gian và địa điểm 20
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 20
3.3.3 Phương pháp pha hóa chất 21
3.3.4 Phương pháp tạo kháng huyết thanh chuẩn 22
3.3.5 Phương pháp chế kháng nguyên hồng cầu gắn virus 22
3.4 Các phản ứng tiến hành 24
3.4.1 Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHA) 25
3.4.2 Phản ứng SSIA 26
3.3 Xử lý số liệu 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Đáp ứng miễn dịch chống virus dịch tả lợn ở gà khi tiêm vaccine dịch tả lợn. 30
4.2 Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm dịch tả lợn trên lợn nái sinh sản nuôi ở các địa phương của huyện Hải Lăng trong tháng 1/2015 30
4.3 Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm dịch tả lợn trên lợn nái sinh sản nuôi ở các địa phương của huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị trong tháng 3/2015 32
4.4 Tình hình lưu hành virus dịch tả lợn trên đàn lợn nái sinh sản nuôi ở các xã Hải Lệ, Hải Phú và Hải Thượng, huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị qua hai đợt lấy mẫu 34
4.5 So sánh tỉ lệ nhiễm virus dịch tả lợn của đàn lợn nái sinh sản tại 3 địa phương Hải Lệ, Hải Phú và Hải Thượng qua các tháng 36
4.4 Tình hình lưu hành virus dịch tả lợn ở hai nhóm cơ sở chăn nuôi lợn (Trang trại và nông hộ)mẫu p 38
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
Trang 75.2 Kiến nghị 40
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
IHA : Indirect Heamagglutination Assay
Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếpSSIA : Shifting Assay of Standardized Indirect Agglutination
Trắc nghiệm xê lệch ngưng kết gián tiếp chuẩnELISA : Enzyme-Linked Immunosorbent Assay
LMLM : Lở mồm long móng
PCR : Polymerase Chain Reaction
IFAT : Fluorescent antibody method
Phương pháp huỳnh quang kháng thểARN : Acid Ribonucleic
DNA : Deoxyribonucleic acid
GMT : Geometric Mean Titre
Giá trị trung bình nhânHC-KN : Hồng cầu - Kháng nguyên
WHO : The World Health Organization
Tổ chức y tế Thế giớiOIE : Office Internationale des Enzooties
Tổ chức Thú y thế giới
Trang 9PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã và đang có những bướcphát triển vượt bậc về mọi mặt, đời sống của người dân ngày càng được cảithiện Đóng góp một phần không nhỏ cho sự thành công đó phải kể đến cácthành tựu của ngành nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi lợn Ngành chănnuôi lợn đã không ngừng phát triển và chiếm một vị trí quan trọng trong pháttriển kinh tế của đất nước trong những năm gần đây, nó là nguồn cung cấp thựcphẩm có nguồn gốc từ động vật chủ yếu cho con người và xã hội (chiếm 75%tổng số các loại thịt tiêu dùng hàng ngày ở nước ta), đồng thời là nguồn nguyênliệu dồi dào phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu, nó cũng lànguồn phân bón hữu cơ cung cấp cho nông nghiệp rất có giá trị Tuy nhiên, mộtthách thức không nhỏ đối với việc phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôilợn nói riêng là dịch bệnh xảy ra còn khá phổ biến trên các đàn lợn nuôi ở mọilứa tuổi, làm giảm năng suất, giảm chất lượng con giống hoặc nhiễm vào sảnphẩm thịt lợn gây nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm, gây thiệt hại cho đànlợn nuôi tập trung cũng như nuôi ở các hộ gia đình Một trong số các dịch bệnhphải kể đến là bệnh dịch tả lợn (DTL)
Tác nhân gây bệnh là virus DTL thuộc nhóm Pestivirus, họ Flaviridae, đểchuẩn đoán chính xác bệnh DTL dựa vào triệu chứng lâm sang là rất khó Dovậy, mà các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm là rất cần thiết choviệc xác chẩn một ca bệnh có mắc DTL hay không
Sau những năm nghiên cứu gần đây, đến nay PGS-TS Phạm Hồng Sơn,Khoa Chăn nuôi thú y-Trường Đại học Nông Lâm Huế, cùng các nhóm nghiêncứu đã thành công với bộ chẩn đoán nhanh virus cúm A ở gia cầm và thuỷ cầm,Gumboro [15] [31][ 57] Đây là phương pháp vận dụng phản ứng ngăn trởngưng kết hồng cầu gián tiếp dưới dạng trắc định xê lệch ngưng kết gián tiếpchuẩn, gọi tắt là phản ứng SSIA (Shifting assay of standardized indirectagglutination) một dạng mở rộng của phương pháp ngưng kết gián tiếp (indirecthaemagglutination – IHA) có thể dùng để chẩn đoán nhanh, lại chi phí thấp, dễthực hiện phù hợp với điều kiện thực tập cảu sinh viên
Với tinh thần muốn đưa phương pháp mới vào nghiên cứu, mong muốnđược đóng góp phần nào cho sự phát triển của xã hội nói chung và ngành chănnuôi lợn nói riêng, nhằm kiểm tra, chẩn đoán, xác định tỉ lệ nhiễm virus gây
Trang 10ngăn ngừa, khống chế và thanh toán dịch bệnh nguy hiểm này Được sự chophép của trường Đại học Nông Lâm Huế, của giáo viên hướng dẫn PGS TS.
Phạm Hồng Sơn tôi thực hiện đề tài “Tình hình cảm nhiễm virus dịch tả lợn trên đàn lợn nái sinh sản nuôi ở một số địa phương thuộc huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị”
1.2 Mục tiêu
Khảo sát tình hình mang virus dịch tả lợn trên đàn lợn giống sinh sản tạicác hộ chăn nuôi thuộc các xã Hải Lệ, Hải Phú và Hải Thượng, huyện Hải Lăng,tỉnh Quảng Trị bằng phương pháp SSIA
1.3 Ý nghĩa
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu góp phần đánh giá được khả năng sử dụng phươngpháp SSIA trong chẩn đoán bệnh dịch tả lợn và làm rõ thực trạng về tình hìnhnhiễm bệnh ở đàn lợn nái sinh sản
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Sử dụng phản ứng trắc định xê lệch ngưng kết gián tiếp chuẩn (SSIA) làphương pháp phát hiện nhanh chóng và rẻ tiền khi muốn đánh giá về tỷ lệ cảmnhiễm cũng như cường độ cảm nhiễm virus dịch tả lợn có trong phân lợn, để từ
đó đưa ra đối sách thích hợp nhằm loại trừ nguy cơ tiềm ẩn từ đàn lợn giốngsinh sản trên địa bàn
Trang 11PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình chăn nuôi của huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình đất đai và khí hậu
2.1.1.1 Huyện Hải Lăng
Hải Lăng là huyện phía Nam của tỉnh Quảng Trị, cách thành phố Đông Hà
về phía Nam khoảng 21km, cách thành phố Huế về phía Bắc khoảng 50km Phía Bắc giáp huyện Triệu Phong và thị xã Quảng Trị;
Phía Nam giáp huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế;
Phía Đông giáp Biển Đông;
Phía Tây giáp huyện Đakrông
Huyện Hải Lăng có tọa độ địa lý từ: 16033’40’’ đến 16048’00’’ độ vĩ Bắc
và 107004’10’’ đến 107023’30’’ độ kinh Đông [38]
Đặc trưng của địa hình Hải Lăng nghiêng từ Tây sang Đông Vùng đồi núi
và ven biển bị chia cắt bởi các sông, suối, một số khu vực đồng bằng có địa hìnhthấp trũng do đó việc phát triển giao thông, mạng lưới điện cũng như tổ chứcsản xuất cũng gặp những khó khăn nhất định Có thể chia địa hình ra 3 vùng:Vùng đồi núi (55% diện tích tự nhiên), vùng đồng bằng (32%), vùng cồn cát, bãicát ven biển (12%) [38]
Huyện Hải Lăng cũng nằm trong vùng miền khí hậu nhiệt đới gió mùanhưng có địa hình thấp và bị phân dị, do đó khí hậu có đặc điểm Mùa hè có giómùa Tây Nam khô nóng, nhưng mức độ khắc nghiệt giảm dần từ phía Bắc đếnphía Nam của huyện; gió Mùa Đông Bắc ẩm ướt về mùa đông Nền nhiệt tươngđối cao, tổng nhiệt lượng cả năm trên dưới 9000 °C , nguồn nhiệt lượng này chophép trồng trọt với đa dạng cây trồng và cải tạo mùa vụ trong năm Nhiệt độtrung bình hàng năm hầu hết các vùng trong huyện khoảng 24 - 25°C Nhiệt độtháng cao nhất (từ tháng 5 đến tháng 7) khoảng 35°C , có khi gần lên tới 40°C ;tháng thấp nhất (tháng 1 - tháng 2) khoảng 18°C , có khi xuống tới 12-13°C , nóichung biên độ nhiệt khá lớn
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.500 - 2.700 mm, cao hơn mức trungbình cả nước Tổng lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 (chiếm
Trang 12từ 75 - 80% lượng mưa cả năm) Số ngày mưa phân bố không đều, trong cáctháng cao điểm trung bình mỗi tháng có 17 - 18 ngày mưa, thường có kèm Theobão, gây lũ lụt làm ngập úng, ảnh hưởng đến bố trí thời vụ và bố trí sản xuấtnông nghiệp Về mùa gió Tây Nam khô nóng, độ ẩm không khí thường xuyêndưới 50%, có khi xuống dưới 40%
Có thể đánh giá rằng: Thời tiết, khí hậu khá khắc nghiệt đã gây bất lợi chosản xuất và đời sống, điều kiện lao động khó khăn, năng suất lao động giảm, vàcũng là nguyên nhân làm phát tán dịch bệnh ở động vật nuôi
Hải Phú và Hải Thượng là hai xã thuộc huyệnHải Lăng, tỉnhQuảng Trị, ViệtNam [38]
2.1.1.2 Thị xã Quảng Trị
Nằm ven châu thổ sông Thạch Hãn, Thị xã Quảng Trị cách cố đô Huếkhoảng 60km về phía bắc, phía tây và phía bắc giáp huyện Triệu Phong, phíađông giáp huyện Hải Lăng và phía nam giáp huyện Đakrông và Hải Lăng [39] Địa hình thị xã Quảng Trị chia thành 2 vùng rõ rệt Phía nam là vùng đồinúi với những thảm rừng có hệ sinh thái phong phú Phía bắc là vùng đồng bằngtương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc trồng lúa và các loại cây ăn quả lâunăm [39]
Khí hậu thị xã Quảng Trị mang đậm nét điển hình của khí hậu vùng nhiệtđới gió mùa Sự khắc nghiệt của khí hậu kết hợp với sự phức tạp của địa hìnhthường xuyên gây ra bão, lụt, hạn hán, giá rét, … Đặc biệt, gió mùa tây-nam bắtđầu từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, nhiệt độ có lúc lên tới 40°C - 41°C, làm chonguồn nước sông cạn kiệt, nước mặn tràn vào gây ảnh hưởng không nhỏ đến sảnxuất, sinh hoạt của nhân dân thị xã Quảng Trị[39]
Hải Lệ là một xã thuộc thị xãQuảng Trị, tỉnhQuảng Trị, Việt Nam
Xã gồm 6 thôn: Như Lệ, Tân Mỹ, Tích Tường, Phước Môn, Tân Lệ, TânLập [40]
2.1.2 Tình hình chăn nuôi ở huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị trong những năm qua
Theo số liệu thống kê, hiện nay tổng đàn lợn toàn tỉnh Quảng Trị là235.000 con Tuy nhiên điều đáng lo ngại là tình hình chăn nuôi chưa được cảithiện, tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện Hải Lăng đều có xu hướng giảm.Trong đó tổng đàn lợn 38.945 con, giảm 13.905 con so với cùng kỳ và chỉ đạt62,8% kế hoạch đề ra Nguyên nhân đàn lợn giảm mạnh là do tình hình dịch
Trang 13bệnh chưa được khống chế, trong năm xảy ra nhiều đợt dịch, gây tổn thất chongười chăn nuôi Bên cạnh đó giá con giống, thức ăn tăng cao nên người dânkhông mạnh dạn đầu tư Do chăn nuôi giảm sút nên đã ảnh hưởng lớn đến thunhập và cải thiện đời sống của người dân địa phương [42]
Đến cuối năm 2011, toàn thị xã Quảng Trị có tổng đàn gia súc gần 10nghìn con, chủ yếu giảm ở đàn lợn và trâu, riêng đàn gia cầm gần 40.500 con.Trong thời gian qua, huyện Hải Lăng đã chú trọng phát triển chăn nuôi theohướng tập trung, bán công nghiệp, chăn nuôi kết hợp với trồng trọt, thủy sản Bêncạnh đó, địa phương cũng đã tích cực chỉ đạo và có chính sách khuyến khích hợp
lý để giúp người dân phát triển mạnh đàn bò, đàn lợn Đến nay, tổng đàn bò toànhuyện là 6.500 con, trong đó bò lai 3.400 con; đàn lợn 60.000 con, tổng sản lượngthịt hơi xuất chuồng đạt 7.000 tấn Toàn huyện có 69 mô hình chăn nuôi lợn cóquy mô và hiệu quả, trong đó có 4 trang trại và 65 gia trại; đàn gia cầm 560.000con, đàn dê 450 con,… Công tác tiêm phòng và vệ sinh thú y đã thực hiện tốt, gópphần chủ động trong phòng chống dịch bệnh Mô hình chăn nuôi kết hợp sử dụnghầm ủ khí sinh học được nhiều hộ chăn nuôi hưởng ứng [51]
Để chủ động phòng chống, ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh cho đàn giasúc, gia cầm thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Sở Nông nghiệp
và PTNT có chỉ thị cho các địa phương tổ chức thực hiện tiêm phòng định kỳcho đàn gia súc, gia cầm trong năm 2014, trước mắt tập trung tiêm phòng cho vụxuân Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có hướng dẫn chỉđạo trong vụ xuân tiêm phòng cho lợn, tập trung tiêm phòng toàn đàn trongtháng 3, tháng 4 Các tháng còn lại tiêm bổ sung cho đàn nuôi mới Để đạt tỷ lệbảo hộ cao, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo tiêm phòng Tụhuyết trùng cho đàn trâu bò đạt 80% tổng đàn (100% trong diện tiêm), vaccinedịch
tả lợn lợn đạt trên 60% tổng đàn.Tiêm phòng LMLM gia súc và cúm gia cầm đạttrên 80% tổng đàn (100% trong diện tiêm) [44]
2.2 Tình hình bệnh Dịch tả trên thế giới.
Bệnh dịch tả lợn (DTL) hay còn gọi là Hog Cholera (tiếng Anh, Bắc Mỹ),Classical swine fever (tiếng Anh, châu Âu), Peste du pore (tiếng Pháp),Shweinepest (tiếng Đức), Trư ôn (tiếng Trung) [16], là bệnh truyền nhiễm củaloài lợn, gây ra bởi một loại virus Tortor suis, thuộc giống Pestivirus, họFlaviridae Bệnh chỉ xảy ra ở loài lợn (kể cả lợn nhà và lợn rừng) với các thể quácấp tính, cấp tính, mạn tính hoặc dạng không điển hình Mức độ trầm trọng củabệnh tùy thuộc vào độc lực của virus, tuổi của động vật mẫn cảm và thời gian
Trang 14nhiễm bệnh Lợn trưởng thành thường bị bệnh ít trầm trọng hơn và cũng cónhiều cơ hội phục hồi hơn so với lợn con Bệnh dịch tả lợn có tốc độ lây lan rấtnhanh và tỷ lệ chết đến 90% và thường ghép với bệnh khác như bệnh Phóthương hàn, Tụ huyết trùng, Đóng dấu lợn, bệnh do Mycoplasma [36].
Cho đến nay việc nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn trên thế giới và trong khuvực đã có nhiều nhà khoa học quan tâm Tuy nhiên, về vấn đề nguồn gốc củabệnh vẫn chưa được xác định chính xác, còn tồn tại hai quan điểm lớn
Thứ nhất một số tác giả cho rằng bệnh DTL xảy ra đầu tiên tại Tenneze vàonăm 1980, sau đó bệnh xuất hiện ở bang Ohio (bắc Mỹ) vào năm 1833 và lanrộng khắp nước Mỹ Năm 1822 bệnh xuất hiện tại Pháp, năm 1893 xuất hiện tạiĐức (Hanon,1957; Dahle.J, 1992) [27]
Thứ hai, các tác giả khác lại cho rằng bệnh DTL xuất hiện đầu tiên tại Anhvào năm 1862, sau đó lan ra các nước châu Âu Năm 1899 bệnh xảy ra tại Nam
Mỹ và đến năm 1900, bệnh xuất hiện tại Nam Phi [16]
Hiện nay, bệnh DTL có ở khắp nơi trên thế giới thậm chí ở cả những quốcgia có tiềm lực kinh tế và khoa học kĩ thuật rất mạnh, chỉ trừ một số nước ở châu
Mỹ là an toàn về bệnh DTL Bệnh này vẫn còn xuất hiện ở châu Mỹ Latin vàvùng biển Caribe đã làm trở ngại sản xuất, hoạt động thương mại và kinh tếtrong khu vực [4] Theo thống kê của Tổ chức Dịch tể thế giới (OIE) thì vàonăm 1984 ở Mehico có 179 ổ dịch, Malaysia có 5 ổ dịch, và Hàn Quốc có 45 ổdịch Vào năm 1997 có 5 năm nước trong khối EU chịu ảnh hưởng của bệnhDTL (Đức, Italia, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ) và đã có hơn 10 triệu con lợn phảiloại bỏ
Do sự nguy hiểm của bệnh nên nhiều nước đã xây dựng chương trìnhphòng chống và thanh toán bệnh DTL, ở Mỹ chương trình thanh toán bệnh bắtđầu từ năm 1962 đến năm 1976, nó đã tiêu phí hết 140 triệu USD, EC cũng đãtài trợ cho các nước thành viên một chương trình thanh toán bệnh dựa trên việcgiết hủy gia súc ốm cùng với các biện pháp vệ sinh và pháp chế thú y khác [33]
Ở Hà Lan, trong giai đoạn năm 1983 - 1985 chương trình thanh toán bệnh DTL
đã tiêu tốn đến 93 triệu USD và người ta đã từng cho rằng một số nước trên thếgiới đã đi đến khống chế và coi như đã thanh toán được bệnh như: Australia,Canada, Anh, New Zealand, Thụy Sỹ, các nước thuộc bán đảo Scadinave (ThụyĐiển, 1944; Phần Lan, 1917), Nhật Bản là một trong những nuớc đã thực hiệnchương trình thanh toán và đã thành công [19]
Tuy vậy, gần đây bệnh DTL vẫn còn xảy ra ở nhiều nước EC gây thiệt hại
Trang 15kinh tế lớn: Ở Hà Lan 1997 – 1998, kéo dài 14 tháng làm 429 đàn lợn bị nhiễm
và 13 trại lợn bị giết hủy, thiệt hại đến 02 tỷ USD Còn ở nước Đức, trong thờigian từ năm 1990 - 1998 đã có 424 vụ dịch DTL ở lợn nuôi và một số lớn trườnghợp xảy ra cũng được ghi nhận ở lợn rừng trong thời gian đó hầu hết tất cả bangđều bị nhiễm Nghiên cứu dịch tễ học và sinh học phân tử cho thấy 28% số vụdịch tả lợn là bùng nổ nguyên phát Đại đa số là do trực tiếp hoặc gián tiếp tiếpxúc với lợn rừng mắc bệnh hoặc do cho ăn thức ăn thừa từ các nhà hàng Lợnrừng bị cảm nhiễm vẫn còn là mối nguy cơ chính đối với lợn nuôi [30]
Vấn đề nổi lên hiện nay là các chủng virus DTL giảm độc lực, nhữngchủng virus này thường gây ra hiện tượng nhiễm bệnh dai dẳng và khó chẩnđoán được sau khi virus đã lây sang đàn khác Đó là nguyên nhân chính giảithích tại sao cho đến nay các chương trình thanh toán bệnh DTL của một sốnước không mang lại hiệu quả Lý do khác là các nước EU đã bỏ việc tiêmphòng vaccine từ năm 1991, lợn phát bệnh từ một số vùng có nguồn bệnh lừ lợnrừng và lây lan khi được vận chuyển
Mesplede và Albina (1997) cho thấy 46% số 0 dịch có nguồn gốc từ lợnrừng và 19% từ thức ăn thừa Năm 1997, dịch xảy ra tại Đức, Hà Lan, Italia, TâyBan Nha và Bỉ làm chết và phải tiêu hủy 07 - 08 triệu con lợn [7]
2.3 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở Việt Nam
Ở Việt Nam bệnh dịch tả lợn đã có từ lâu, bệnh có ở khắp vùng gây thiệthại lớn cho người chăn nuôi Ở Việt Nam, bệnh DTL được phát hiện đầu tiênvào năm 1923 - 1924 bởi Houdemer [8]
Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (1985) số lợn chết hàng năm do bệnh DTLbình quân từ 10 - 20% tổng đàn lợn nuôi, trong đó lợn chết do bệnh DTL chiếm60% [19]
Theo Năm 1960 bệnh dịch tả lợn xảy ra ở các tỉnh Nghệ An, Phú Thọ doviệc vận chuyển gia súc bệnh từ các vùng ngoài vào Đến năm 1968 là năm có sốlượng ổ dịch xảy ra nhiều nhất ở miền Bắc có tới 481 ổ dịch (Lê Độ, 1981) [30].Năm 1973, bệnh DTL xảy ra trên 11 trại chăn nuôi quanh Sài Gòn (nay làThành phố Hồ Chí Minh) Năm 1974, bệnh DTL xảy ra ở 17 tỉnh phía Bắc gâythiệt hại hơn 04 vạn con lợn, đến năm 1981 ở 15 tỉnh thuộc Nam Bộ có dịch gâychết 145.078 con lợn [4]
Theo Nguyễn Bá Huệ (1983) tại tỉnh Hải Hưng bệnh DTL làm chết 227 lợnnuôi, trong đó có 74 lợn con Theo mẹ, 128 lợn cai sữa, 16 lợn thịt và 9 lợn nái[12] Năm 1990 bệnh xảy ra trên 1.800 con lợn tại lò mổ Huỳnh Thúc Kháng,
Trang 16tỉnh Thừa Thiên Huế ( Cục thú y, 1990).
Theo Bùi Trần Thi [29] bệnh có ở hầu khắp các vùng và gây hậu quả khálớn Từ năm 1923 - 1924 đã thấy bệnh có nhiều vùng thuộc Bắc Bộ và Trung
Bộ, do việc vận chuyển lợn từ Lào sang nên thường xuyên ở các tỉnh NinhThuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, PhúYên đều phát dịch bệnh Có xã bệnh đã làm chết 500 đến 600 con, chỉ còn lạivài chục con ở các xã sau mỗi vụ dịch Ở Nam Bộ bệnh có nhiều ở Tân An,miền Hậu Giang suốt từ năm 1947 - 1950 Từ năm 1951 – 1952 dịch đã xảy ra ởHải Phòng, Sơn Tây, Hưng Yên, Hà Nam làm thiệt hại hàng nghìn lợn Từ năm
1959 – 1961 dịch xảy ra trên một diện rộng tại các tỉnh Miền Bắc như: HòaBình, Phú Thọ, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Việt Bắc, Tây Bắc, Hà Bắc làmthiệt hại trên 3 vạn lợn Trong thời gian này bệnh cũng xảy ra ở các tỉnh Trung
Bộ và Đông Nam Bộ làm chết đến hàng vạn con lợn
Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả trong nước đi vào nghiêncứu bệnh DTL ở nhiều góc độ khác nhau như những nghiên cứu về dịch tễ họccủa bệnh, các nghiên cứu về đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm phòng hay cácphương pháp chẩn đoán bệnh bằng các kỹ thuật hiện đại đã cho nhiều kết quả
Ở khu vực miền Trung khoảng hơn 10 năm (từ năm 1984 đến năm 1994)bệnh dịch tả lợn chỉ phát thành dịch ở Bắc miền Trung, khu vực Trung và Nammiền Trung chỉ phát lẻ tẻ ở các khu vực chăn nuôi tập trung và chăn nuôi hộ giađình (Theo Báo cáo của Trung tâm kiểm dịch miền Trung năm 1994)
Từ năm 1995 đến 1997, tại các tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên,Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam dều có ỏ khắp trong vùng (Nguyễn ThịPhương Duyên và cộng sự, 2000) [9]
Theo nghiên cứu về dịch tễ học bệnh DTL của Bùi Quang Anh (2000) chothấy tỷ lệ nhiễm bệnh DTL ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, từ năm 1994 - 1998 tỷ lệnhiễm cao nhất ở tỉnh Thanh Hóa (2,6 - 3,4%) và thấp nhất ở tỉnh Thừa ThiênHuế (0,82 - 1,55%) [16]
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả thuộc Phân viện Thú y MiềnTrung (2000) cho thấy tỷ lệ nhiễm DTL mạn tính tại các tỉnh Duyên Hải MiềnTrung là 46,87% Trong đó lợn dưới 20kg chiếm 60%, lợn từ 21 - 50kg chiếm38,29% [9]
Mai Thế Phong và Trương Quang (2006) khi thực hiện khảo sát tình trạngmang trùng virus dịch tả lợn và đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm vaccine phòngbệnh cho đàn lợn ở Quảng Trị, cho thấy tỷ lệ mang virus theo vùng sinh thái là
Trang 17khác nhau, vùng đồng bằng 19,23%, trung du 27,42% và vùng núi là 32,22%.Đến nay nhiều nghiên cứu trong nước cho nhận xét rằng do công tác tiêmphòng vaccine phòng bệnh DTL và áp dụng một số biện pháp phòng bệnh tốtnên đến nay bệnh DTL không gây chết hàng loạt như trước kia mà chỉ xảy ra âm
ỉ, lẻ tẻ, triệu chứng bệnh tích không điển hình, số ổ dịch giảm một nửa, số conchết giảm 3 lần và chủ yếu tập trung ở lợn con [16]
Theo báo cáo của Cục thú y năm 2000, cả nước đã có 25 tỉnh thành có DTLvới 14.280 con mắc bệnh, số con chết phải xử lý là 12.150 con [27]
Chi cục thú y Hà Tĩnh (2009) cho biết từ 31/01/2009 đến 06/02/2009, bệnhDTL xảy ra ở xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ làm chết 278 con lợn Ngày03/02/2009 bệnh DTL xảy ra tại Công ty cổ phần chăn nuôi Di Linh tỉnh LâmĐồng phải tiêu hủy gần 200 con lợn Ngày 09/4/2009, Chi cục Thú y tỉnh Nghệ
An cho biết ổ dịch tả lợn đã xuất hiện tại xã Nghi Kim (TP Vinh) làm 53 con lợnmắc dịch ốm và chết
Trước đây, việc dùng vaccine DTL tiêm thẳng vào ổ dịch thường đạt kếtquả tốt nhưng cho đến nay thì việc tiêm phòng như vậy là hoàn toàn chưa đầy đủ
để có thể dập tắt ổ dịch nhất là ở những cơ sở chăn nuôi lợn nái sinh sản
Trong những năm gần đây, với biện pháp chủ động phòng chống dịch bằngtiêm vaccine để khống chế các ổ dịch và áp dụng các biện pháp vệ sinh thú ykhác, cơ bản đã tạo ra cho đàn lợn có khả năng chống lại bệnh dịch tả lợn Tuyvậy, virus dịch tả lợn vẫn khu trú tiềm ẩn trong đàn lợn và diễn biến ngày càngphức tạp, bệnh có nhiều thay đổi về biểu hiện lâm sàng, bệnh tích cũng như độtuổi lợn mẫn cảm Các nhà nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng bệnh chủ yếudiễn ra ở thể mạn tính, những triệu chứng không điển hình bệnh gây chết nhều ởlợn con [4,8]
2.4 Virus gây bệnh
Năm 1885 Salmon và Smith lần đầu tiên phân lập mầm bệnh là một loại vi
khuẩn Gram (-) và đặt tên là Bacillus cholerasuis Năm 1903 Scheweinitz và
Dorset trong khi nghiên cứu DTL ở IOWA đã chứng minh huyễn dịch bệnhphẩm không có vi khuẩn vẫn gây bệnh, phát hiện này có ý nghĩa lớn đưa DTLsang một hướng mới Năm 1947 Holmes đặt tên cho virus gây bệnh DTL Tortorsuis Từ đó việc xếp loại virus này có nhiều ý kiến khác nhau
Trang 18Cho đến nay, Tortor suis đã được các nhà khoa học xác minh là thành viên của họ Togarividae, thuộc giống Pestivirus cùng với virus gây bệnh tiêu chảy ở bò
(Bovine disease virus) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border diarrhea virus) [12]
2.4.1 Phân loại
Trong các hệ thống phân loại cũ, các Arbovirus (Arbovirus, tức các virus truyền lây nhờ chân đốt) nhóm B bao gồm chi Flavivirus, chi Pestivirus, gồm
các bệnh nguyên chủ yếu ở động vật, và nhóm virus viêm gan B
Chi Flavivirus được môi giới nhờ các loại muỗi và ve bét Hiện tại, chi này
có hơn 60 loài và được phân loại thành 6 nhóm trên cơ sở đặc tính khángnguyên
Trong chi Pestivirus có 3 loài: - Classical Swine fever virus (lợn)
- Border diarrhea virus (bò)
- Bovine disease virus (cừu) [20]
Nhờ vào kỹ thuật kháng thể đơn dòng Monoclonal antibodies - Mab(MCAS) các nhà vi sinh vật đã phân virus DTL thành một số nhóm khángnguyên (Edwards và Sans, 1990) Aynaud (1974) đã phân chia virus thành 2nhóm phụ là:
- Nhóm 1 hoặc nhóm phụ A: gồm các chủng virus cường độc Alfort, chủng
C và chủng Thiveral
- Nhóm 2 hoặc nhóm phụ B: gồm chủng 331 và một số chủng gây bệnh ởthể mạn tính [34]
Các chủng virus có độc lực cao ổn định với nhiệt hơn các chủng có độc lựcyếu Khả năng gây bệnh của virus ổn định ở pH = 5 - 10, ở ngoài phạm vi nàytính gây bệnh của virus bị mất đi
Độc lực của các chủng gây bệnh thay đổi rất lớn, các chủng virus phân lập
từ các địa phương có độc lực rất khác nhau Lợn nhiễm virus có độc lực cao sẽtăng nhanh hàm lượng virus trong máu và mô bào gây bệnh ở thể cấp tính với tỷ
lệ chết cao và lây lan rất nhanh Lợn nhiễm virus có độc lực trung bình và yếuthường gây nhiễm trùng thể á cấp tính và mạn tính như chủng 331 được phânlập từ Mỹ cho thấy virus không gây bệnh lâm sàng cho lợn trưởng thành mà chỉgây bệnh cho bào thai lợn, gây ra các rối loạn sinh sản như chết thai hoặc chếtyểu, Tuỳ thuộc vào độc lực của chúng gây bệnh mà có tỷ lệ chết khác nhau.Ngày nay, người ta đã sử dụng các phương pháp làm giảm độc lực của virus và
Trang 19thu được một số chủng nhược độc có thể sử dụng làm vaccine như virus DTLchủng C, chủng IFFA, chủng GPE 0, chủng Thiverval [17].
Trang 202.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo virus
Virion virus DTL thuộc chi Pestivirus là một virus hình cầu có đườngkính khoảng 53 nm, nhưng có thể là đa hình thái, được bao bọc bởi một lớpmàng (áo ngoài, envelope) không tách biệt, virion DTL có một lỗi (core)ARN chứa lipid [18]
Hạt virus gây nhiễm gồm các thành phần:
Nhân (Core): nằm ở chính giữa hạt virus là một ARN sợi đơn nên virus chủyếu nhân lên trong bào tương của tế bào vật chủ Nhân là yếu tố di truyền, yếu
tố sinh sản của virus Theo Moorrmann Hulst [31] bộ gen virus DTL là mộtchuỗi ARN dơn sợi dài khoảng 12 kilobase (KB), có trình tự sắp xếp giống nhaurất cao giữa gen của virus DTL và virus gây tiêu chảy ở bò (BDV) và virus gâybệnh border ở cừu (BVDV)
Vỏ Protein (Nucleocapside): Mang những thành phần bên ngoài có dộ dảy
29 nm trên bề mặt có những gai lồi tới 6 - 8 nm là thành phần có tính chất bảo
vệ virus Theo P.J Enzmann và Weiland (1978), lớp Nucleocapside của virusbao gồm 2 glycoprotein có trọng lượng phân từ là 55 KD (Kilodalton) và 46KDcùng với một lớp 36 KD [31]
Hình 2.1: Cấu trúc virus dịch tả lợn [43]
2.4.3 Sức đề kháng của virus
Virus DTL có sức đề kháng yếu, tuỳ thuộc vào trạng thái vật lý của chấtchứa virus Hạt virus không bị vô hoạt bởi enzym ribonuclease trừ khi vỏ bọcprotein bị tổn thương Virus DTL trong dịch nuôi cấy tế bào bị vô hoạt ở 60°C
Trang 21trong 10 phút, nhưng ở trong máu đã khử Fibrin lại không bị vô hoạt 68°C trong
30 phút Trong thịt, nưóc tiểu và xác chết thối virus bị diệt trong 2-3 ngày Virus
có thể tồn tại nhiều tháng hoặc nhiều năm trong thịt ướp lạnh, ướp đông và 6tháng trong thịt muối và xông khói Virus DTL nhạy cảm với bức xạ cực tím vàbền vững ở pH 5 - 10, trên và dưới độ pH đó thì tính gây bệnh mất đi Để tiêuđộc người ta thường dùng NaOH 2% hoặc nước vôi 10% [16]
2.4.4 Cơ chế sản sinh của virus
Sự nhân lên và thành thục của virus trong tế bào không gây bệnh lý cho tếbào và hoàn toàn chỉ diễn ra trong tế bào chất và chỉ ở mạng lưới nội chất hoặcthể Golgi
Từ những chỗ thâm nhập đầu tiên (niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp, hạchamidan, niêm mạc mắt hay da bị xước, bị thương…) virus dịch tả lợn sinh sảnngay trong các mô liên kết và sau đó lùa vào mạch máu, di hành đến mọi nơi của
cơ thể lợn Trong quá trình di hành, chúng sản sinh ngay trong các tế bào nội môcủa thành mạch máu, sau đó chúng được hấp thụ và bám dính trên bề mặt hồngcầu, tiếp tục các đợt di hành mới và gây ra hiện tượng nhiễm trùng huyết, lợnsốt Sự sinh sản và phát triển của virus dịch tả lợn trong các tế bào nôi mô củathành mạch dẫn đến thoái hóa, co mạch, tắc mạch và gây ra hiện tượng xuấthuyết, hoại tử ở rất nhiều cơ quan như lách, thận, hạch lâm ba, ruột, bang quang,
…[25]
Một đặc tính mà virus dịch tả lợn gây ra nữa là giảm bạch cầu huyết từ11.000- 21.000 xuống dưới 9.000/ml máu, phá hủy hồng cầu giải phónghemoglobin và bilirubin gây vàng một số tổ chức, cơ quan
Khi virus tác động lên hệ thống thần kinh trung ương gây ra hiện tượng cogiật, bại liệt hai chân sau hoặc bại liệt nửa thân
Khi virus xâm nhập vào hệ thống lưới nội bì của thành mạch quản làm chomạch quản sung huyếtsưng to, mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số bị tắcnghẽn dẫn đến những bệnh tích đặc trung của bệnh dịch tả lợn như là xuất huyếtlấm tấm, nhồi huyết (lách), [16]
Sự phân bố của virus trong bào thai cũng giống như trong cơ thể lợn trưởngthành bị nhiễm bệnh DTL Đối với chủng virus có độc lực trung bình thì sự nhânlên của virus trong tế bào lại thấp hơn Còn những chủng virus có độc lực thấpkhi gây bệnh người ta thấy chúng có thể xuất hiện trong máu hoặc không,thường các chủng này thường giới hạn ở các tế bào biểu mô quanh mạch
Trang 22Tại các cơ quan nhiễm virus có sự đáp ứng miễn dịch tế bào thông qua hiệntượng thực bào của các tế bào đại thực bào, virus được giữ lại và phát triển tạicác tế bào bạch cầu từ đó làm giảm số lượng bạch cầu, sau đó di hành trongmáu, virus DTL dẫn đến chứng virus huyết (viremia).
Virus có thể tồn tại trong các đại thực bào, trốn tránh kháng thể và gây sựcảm nhiễm dai dẵng
Sự suy giảm miễn dịch do virus DTL trong máu tạo thuận lợi cho sự kếnhiễm các loại vi sinh vật khác, lúc này khả năng đáp ứng miễn dịch giảm vì các
tế bào lympho T và B đã bị phá hủy do các tác động của virus Trong thực tế, córất nhiều trường hợp lợn bị bệnh dịch tả luôn bị nhiễm trùng kế phát bởi các vikhuẩn thường trú trong cơ thể:
- Khi bị bội nhiễm bởi vi khuẩn Pasteurella multocida thì luôn kèm Theocác triệu chứng viêm phổi nặng hơn, rõ hơn
- Khi bị bội nhiễm với Salmonella thì ngoài các biến đổi xuất huyết hoại tửtrong các hạch lâm ba còn thấy viêm xuất huyết hoại tử ruột tạo ra các ổ loéthình xoáy trôn ốc gọi là Button của dịch tả và xen lẫn các ổ loét sâu có gờ trongruột già
Cả hai trường hợp bội nhiễm trên luôn là nguyên nhân làm cho lách sưng
to, dai và rắn hơn bình thường [24]
2.5 Tính gây bệnh
Trong thiên nhiên, chỉ có loài lợn mắc bệnh dịch tả lợn (lợn nhà cũng nhưlợn rừng) các lứa tuổi đều mắc, nhưng mắc nặng nhất là lứa tuổi lợn con, lợn caisữa Lợn giống sinh sản mắc truyền bệnh cho lợn con Các loài vật khác vàngười không mắc bệnh Trong phòng thí nghiệm, rất dễ truyền bệnh cho lợncon Bệnh phát ra giống như bệnh trong thiên nhiên với những triệu chứng vàbệnh tích tương tự
Tiêm virus cho thỏ và chuột lang gây bệnh dưới thể ẩn tính, có thể tìm thấyvirus trong vài ngày Tiêm truyền virus qua thỏ liên tục trong nhiều đời (hơn 150đời) tạo ra một giống virus nhược độc, không độc đối với lợn, nhưng vẫn giữđặc tính kháng nguyên, dùng để chế vaccine phòng bệnh
2.6 Chất chứa mầm bệnh
Trong cơ thể, virus dịch tả lợn hấp thụ mạnh lên bạch cầu nên máu có độc lựcsớm nhất, chỉ 24 giờ sau khi truyền bệnh hoặc lây bệnh Các chất bài tiết như chấtdãi, nước tiểu, nước mũi, nước mắt, phân, các phủ tạng, hạc lâm ba và lách chứa
Trang 23nhiều virus nhất Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang chỉ ra rằng virus dịch
tả lợn có trong các tế bào biểu bì của hạnh nhân, niêm mạc thực quản, ống tiêu hóa,thận, tuyến nước bọt, tử cung, tuyến thượng thận và tuyến giáp trạng [16]
2.7 Đường truyền lây
Virus DTL xâm nhập vào cơ thể Theo nhiều con đường khác nhau Quađường hô hấp và tiêu hóa, qua mũi - hầu, niêm mạc hầu, tuyến hạch nhân Virusxâm nhập Theo con đường niêm mạc mắt, mũi, niêm mạc đường sinh dục, quanhau thai, virus có thể thâm nhập vào cơ thể qua da bị tổn thương do sây sát, dothiến hoạn [16],
Không phải tất cả các chủng virus đều truyền lây như nhau mà còn phụthuộc vào độc lực của các chủng Chủng độc lực cao thường lây truyền nhanhhơn chủng độc lực thấp, do sự phát triển nhanh trong cơ thể và bài thải lượnglớn mầm bệnh ra bên ngoài cơ thể Những con đường lây truyền chủ yếu là: Lây trực tiếp do nhốt chung con bệnh và con khỏe, nhất là mật độ chuồngnuôi cao và điều kiện vệ sinh kém
Truyền lây gián tiếp qua nước tiểu, đất và nước, thức ăn có nhiễm mầmbệnh, thức ăn dư thừa, thú sản, các dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, ngườichăn nuôi, phương tiện chuyên chở,
Truyền lây qua động vật trung gian mang trùng như chuột, thú ăn thịt,chim, côn trùng hút máu,
Hiện nay nhiều công trình nghiên cứu dã cho rằng bệnh DTL được truyềnTheo chiều dọc, khi lợn mẹ bị nhiễm cảc chủng virus độc lực yếu thường khôngphát bệnh trong quá trình mang thai mà chỉ gây bệnh cho bào thai, lợn mẹ biểuhiện rối loạn sinh sản và lợn con khi sinh ra đã mang mầm bệnh [24]
2.8 Loài, lứa tuối mắc bệnh và mùa xảy ra bệnh
Trong thiên nhiên, có thể có những động vật khác cảm nhiễm dịch tả lợnnhưng chỉ có loài lợn biếu hiện lâm sàng bệnh dịch tả lợn Lợn nhà, lợn rừng ởmọi lứa tuổi đều mắc, lợn cai sữa hoặc đang bú mắc nhiều hơn và chết nhiều,lợn nái mắc bệnh DTL truyền cho lợn con qua nhau thai
Trong phòng thí nghiệm, tiêm truyền cho lợn con, bệnh phát ra giống nhưtrong thiên nhiên về triệu chứng cũng như bệnh tích [16] Tiêm virus DTL chothỏ và chuột lang sẽ gây bệnh ở thể ẩn Người ta dùng virus DTL tiêm truyềncho thỏ liên tục trong nhiều đời Độc lực đối với thỏ tăng lên, độc lực đối vớilợn giảm xuống, đến hơn 150 đời thì giống virus này hoàn toàn không độc đối
Trang 24với lợn nữa nhưng vẫn giữ được đặc tính kháng nguyên Đây là giống virusnhược độc DTL qua thỏ dùng để chế vaccine [28].
Lợn ở mọi lứa tuổi (sơ sinh, 1 tháng, 2 tháng, 2-3 tháng), lợn thịt đều mắcbệnh DTL với các biểu hiện lâm sàng như buồn bã, sốt cao 41- 42°c, chảynước mắt, đau mắt, nằm chồng chất, tiêu chảy, tai mõm tím bầm,…
Ở nước ta bệnh dịch tả lợn phát ra quanh năm Tuy nhiên, do thời tiết và dobiến động của đàn lợn hoặc tỷ lệ tiêm phòng trong năm nên bệnh cũng có lúctăng lúc giảm (Phạm Sỹ Lăng, 1995)
Theo thống kê của Lê Độ (1981) về tình hình dịch trong 20 năm qua chothấy số 0 dịch xảy ra từ tháng 11, tháng 12 năm trước tới tháng 1, 2, 3 năm sauchiếm tới 80% số 0 dịch trong năm, tháng 4 chỉ có 10% số 0 dịch và suốt tháng
5 tới tháng 10 chỉ có 10% Vào vụ đông xuân sau bão lụt thức ăn thiếu, sức đềkháng của gia súc kém, thời tiết lạnh thích hợp cho virus tồn tại lâu trong thiênnhiên, hiện tượng bán chạy lợn ốm, thu mua 0 ạt phục vụ tết, dẫn đến kết quả làdịch xảy ra nhiều [30]
2.9 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh dịch tả lợn
2.9.1 Triệu chứng
Triệu chứng lâm sảng của bệnh DTL không phải luôn luôn đặc trưng bởi sốt
là triệu chứng điển hình Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng của quá trình diễn biếnbệnh, bệnh DTL được phân thành hai thể: thể điển hình và thể không điển hỉnh.Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau của những diễn biến lâm sàng đó là do mộtmặt vì độc lực và tính kháng nguyên của virus, mặt khác do sức đề kháng và tình
trạng dinh dưỡng của lợn quyết định Thời gian nung bệnh nói chung từ 4 - 6 ngày
và có thể dao động từ 2 - 20 ngày Bệnh DTL ở thể điển hình có các dạng: quá cấp
tính, cấp tính và mạn tính Ở thể bệnh này phần lớn lợn mắc bệnh đều bị chết [7]
2.9.1.1 Thể quá cấp tính
Bệnh xuất hiện rất nhanh chóng, đột ngột, phần lớn chưa có những triệuchứng điển hình của bệnh, thân nhiệt tăng cao tới 41 - 42° c có kèm Theo nhữngtriệu chứng thần kinh như giẫy giụa, co giật trước khi chết, ở những vùng da mỏngphía trong đùi, phía dưới bụng đỏ ửng lên Lợn chết trong vòng 24 - 48 giờ vàkhông có bệnh tích, tỷ lệ chết có thế lên đến 100% [16]
2.9.1.2 Thể cấp tính
Thể này thường gặp ở nước ta, bệnh gây ra do một chủng virus độc lực cao, ởbất cứ lứa tuổi nào Lợn bị bệnh đã có đầy đủ những triệu chứng lâm sàng và bệnhtích điển hình của bệnh (thể này thường tiến triển trong vòng 6-20 ngày)
Trang 25Lúc đầu lợn bệnh ủ rũ, bỏ ăn, thân nhiệt tăng 41 - 42°c, con vật mệt mỏi,không thích vận động và kém ăn, sốt cao liên tục trong 4-5 ngày liền, khi thân nhiệt
hạ xuống là lúc con vật sắp chết nhưng nếu thân nhiệt tăng cao lên lần nữa thường
do biến chứng hoặc sự xuất hiện của một chứng bại huyết gây ra hoặc nhiễm ghépvới Salmonella cholerae suis [27]
Lợn có những triệu chứng ở da, mắt, bộ máy tiêu hóa, hô hấp, thần kinh Ởnhững vùng da mỏng, xuất hiện những chấm nhỏ bằng đầu đinh ghim hoặc hạt đậu,những đám xuất huyết, có khi nó tập trung lại thành từng mảng những vết đỏ nàydần dần tím lại, có thể thối loét ra rồi bong vẩy Viêm kết mạc dẫn đến chảy nướcmắt cũng xuất hiện sớm, mắt có ghèn đặc như mủ trắng, che mắt làm con vậtkhông thấy được [16]
Virus tác động đến bộ máy tiêu hóa làm lợn nôn ra dịch vàng chứa dịch mật Lợn bị táo bón ở giai đoạn sốt cao, nhưng đến những ngày ở giai đoạn cuốicủa bệnh có tiêu chảy nặng có khi có cả máu tươi, phân lỏng có mùi hôi thối đặcbiệt Niêm mạc miệng, mắt, trong môi, chân răng và gốc lưỡi có mụn loét phủ bựavàng trắng, vàng xám Hạch một, phúc mạc viêm dính lại Lợn con thường có biếuhiện nằm chất chồng lên nhau [16]
Lợn nái mang thai có thể sảy thai, chết thai, lưu thai, đẻ con yếu Virus tácđộng lên bộ máy tiêu hóa gây viêm dạ dày một nên có hiện tượng nôn và tiêu chảy
có khi ra máu tươi, giai đoạn sau phân lỏng mùi thối kham rất đặc trung (thườnggọi là dịch tả ướt), nếu có nhiễm trùng kế phát do Salmonella cholerae thì hiệntượng tiêu chảy và sốt trở nên trâm trọng hơn, mùi phân thối kham
Virus tác động lên hệ thống hô hấp làm viêm niêm mạc mắt mũi, chảy nướcmũi đặc có trưong hợp loét vành mũi, thở khó, ho và nôn
Ở hệ thống thần kinh virus gây ra viêm màng não, xuất huyết dưới màng nãodẫn đến triệu chứng thần kinh như run, co giật, yếu cơ, Giai đoạn cuối của thểbệnh này lợn có biểu hiện ngoẹo đầu, hai chân sau yếu, run, đi lại loạng choạng sau
đó liệt phần sau của cơ thể [16]
Hình 2.2 Xuất huyết ở da (bên trái) và đốm xuất huyết ở thận (bên phải)
Trang 26Ngay từ khi cơ thể có những biểu hiện bệnh lý lâm sàng, nếu làm xét nghiệmmáu để kiểm tra bạch cầu ta thấy số lượng bạch cầu giảm rõ rệt, do virus xâm nhậpvào hệ thống tạo máu.
Bình thường số lượng bạch cầu trong máu là 14,8 - 22,9 nghìn/mm3 máunhưng khi bị nhiễm virus DTL thì số lượng này giảm xuống còn dưới 6,7nghìn/mm3 máu [27]
2.9.1.3 Thể mạn tính
Ở thể này, những triệu chứng thường gặp là kém ăn, bỏ ăn, viêm da, sốtcách quãng (41°C) Hiện tượng sốt 41°Ccó thể kéo dài trong thời gian 1 - 2 tuần.Giai đoạn đầu táo bón có màng nhầy (thường gọi là Dịch tả khô) Giai đoạn sau
có hiện tượng tiêu chảy kéo dài do viêm hoại thư có màng fibrin ở một già, cótrường hợp tiêu chảy cách quãng, lợn mắc bệnh thể mạn tính thường kéo dàitrong một thời gian dài, có khi vài tháng nên lợn thường còi cọc chậm lớn, cuốicùng lợn cũng chết [31]
Phần lớn thể mạn tính, thường có hiện tượng nhiễm trùng kế phát các loại vikhuấn như: Salmonella cholerae, Pasteurella multocida, E.coli, Mycoplasma, Khi
mổ khám có thế thấy các loại ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể lợn gây bại huyết,hoại tử niêm mạc một, viêm phổi thùy
Ở thể mạn tính do lượng virus thấp hoặc chủng độc lực thấp chủ yếu nằmtrong tế bào máu, virus phá hủy các tế bào máu và các tế bào Lympho T và B từ đólàm giảm khả năng thực bào, giảm khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Thể mạn tính ít gặp ở lợn con nhưng đóng vai trò trong việc lan truyền viruscho đàn lợn khỏe mạnh [03]
Ở lợn nái sinh sản thể bệnh này phát triển thành hội chứng mang trùng và lantruyền mầm bệnh cho bào thai, con của những lợn nái bị nhiễm virus có thể mangtrùng trong một thời gian dài Lợn nái thường có biểu hiện rối loạn sinh sản nhưsảy thai, thai khô, tiêu thai, đẻ non, có thể động dục trở lại sau 18 - 23 ngày Lợn sơsinh có các biểu hiện yếu ớt, chậm lớn, sai lệch bẩm sinh ở miệng, não, mắt, phổi
và hay bị run [25]
2.9.1.4 Thể không điển hình (thể tiềm ẩn)
Thể này biểu hiện dưới các dạng khác nhau của rối loạn sinh sản như sảy thai,chết thai, thai gỗ, dị dạng, lợn con sinh ra run rẩy, rối loạn vận động yếu ớt, thườngphát bệnh khi tiêm phòng, [14]
Theo quan điếm dịch tễ học những lợn mắc bệnh ở thế tiềm ẩn mà không chết
Trang 27khi được sinh ra chúng không có biểu hiện lâm sàng rõ ràng nên khó phát hiệntrong khi đó lợn vẫn thải mầm bệnh ra bên ngoài nên trở thành nguồn lây bệnh rấtnguy hiểm [03].
Bệnh chủ yếu cảm nhiễm ở lợn con, thể hiện sốt, biếng ăn và chậm lớn, một
sổ lợn bị què và co giật Khi lợn chưa mẫn cảm bị nhiễm các chủng virus DTL độclực thấp thì có thể dẫn đến sẩy thai, thai gỗ và chết ngay sau khi đẻ [3]
Theo Nguyễn Tiến Dũng & cs [4], bản chất của thể bệnh khởi phát muộn này
là lợn con bị nhiễm virus DTL tử lúc còn trong bào thai làm cho lợn con sinh ra từlợn nái mang trùng có thể là: lợn con dung nạp miễn dịch; lợn con mang trùng khisinh ra khỏe mạnh và trong bề ngoài bình thường không có gì khác so với các lợnkhác Sau khi cai sữa, lợn con thưởng phát bệnh DTL (từ lúc 1 - 2 tháng tuổi) làmlây lan bệnh cho lợn con khác trong đàn
Theo Nguyễn Xuân Bình (1998) cho rằng, do tình trạng lợn nái mang thai mà
bị bệnh ở thể mạntính thì lợn con khi sinh ra có hiện tượng dung nạp miễn dịch [15].Hiện tượng dung nạp miễn dịch xảy ra do bào thai bị nhiễm virus DTL ở giaiđoạn đầu của quá trình mang thai, lúc này bào thai chưa có khả năng sinh miễndịch vì vậy chúng chưa có khả năng chống lại virus DTL và lợn con khi sinh ra sẽphát triến thành bệnh ở thế tiềm ấn
Ở thể này bệnh tích đặc trung của bệnh dịch tả lợn đã xuất hiện khá đầy đủ,tuy nhiên khó có thể tìm được một bệnh súc có đầy đủ các bệnh tích biểu hiệncùng lúc
- Bệnh tích ở da: xuất huyết điểm và xuất huyết từng đám thường hiện diệntrên khắp cơ thể lợn đặc biệt ở vùng da mỏng như vành tai, bẹn, bốn chân, vùng
da bụng, mông, bao dương vật
Trang 28- Bệnh tích ở lách: lách có hiện tượng nhồi huyết ở phần rìa, bệnh tích nàyTheo một số tác giả thì thường chiếm 25 - 65% các trường họp mắc bệnh Nóđược coi như một bệnh tích điểnhình khi lợn mắc bệnh DTL Khi lợn mắc bệnhDTL ở thể cấp tính thì lách không sưng, có màu đất sét và xuất hiện những nốtxuất huyết [21].
Bệnh tích này xuất hiện dưới dạng những nốt màu đen sẫm hoặc xám vớinhiều kích cỡ hơi nhô lên bề mặt và thường tập trung lại thành một đường viền
và chạy liên tục Theo hai bên rìa lách Trong chẩn đoán lâm sàng thường gọiđây là hiện tượng nhồi huyết hình răng cưa
- Bệnh tích ở thận và niêm mạc đường sinh dục: xuất huyết ở bàng quang,xuất huyết điển hình đầu đinh ghim và xuất huyết thành mảng thường gặp trênvùng vỏ thận [21]
- Bệnh tích ở đường tiêu hóa: niêm mạc đường tiêu hóa thường có hiệntượng xuất huyết, ở dạ dày đặc biệt ở vùng hạ vị đỏ phủ đầy chất bựa nhầy Phầnmột non xuất huyết, đặc biệt ở van hồi manh trang có nhiều nốt loét có bờ dofibrin đọng lại tạo ra các đường tròn đồng tâm [11] Các nốt loét này có hìnhgiống chiếc cúc áo nên thường được gọi là nốt loét hình cúc áo và nó cũng đặctrưng trong bệnh DTL
Hình 2.3 Xuất huyết ở màng bụng (bên trái) và viêm loát ruột già có hình cúc
áo (bên phải)
- Ở niêm mạc miệng: Lợi viêm xuất huyết, có khi tạo ra các nốt loét nônghoặc sâu có bựa màu vàng Trong trường hợp có nhiễm trùng kế phát do vi
khuẩn Salmonella cholerasuis thì các bệnh tích ở đường tiêu hóa có thể trầm
Trang 29bị xuất huyết, các hạch hạnh nhân đôi khi xuất huyết nhưng có màu đậm hơn sovới bình thường
2.9.2.3.Bệnh tích ở thể mạn tính và thể tiềm ẩn
Ở thể không điển hình, có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện phần lớn cóhiện tượng nhiễm trùng kế phát Tuy nhiên khi mổ khám có thể gặp các trưonghợp có các nốt loét hình cúc áo ở một già và rõ nhất ở kết trang đường kính 1-2
cm Tuyến giáp của những lợn mắc bệnh ở thể này có hiện tượng teo lại, ở dathường bị viêm mạn tính Ở lợn nái sinh sản có những biểu hiện về rối loạn sinhsản như: tiêu thai, sảy thai, thai gỗ, ở lợn đực nọc thì giảm tính hang [21],
2.9.2.4 Bệnh tích vi thể
Bệnh tích vi thể thường thấy nhất ở hệ thống lưới nội bì của thành mạchquản, các tế bào nội bì sưng to do thái hóa, thủy thủng, các mạch quản ngoạibiên giãn rộng, một số bị tắc nghẽn dẫn đến các bệnh tích đặc trung của bệnhDTL như: sung huyết, xuất huyết, nhồi huyết, hoại tử, viêm màng não, viêmmàng não không có mủ, sưng và thái hóa các tế bào nội bì, nghẽn mạch vànhiễm Lymphocyte quanh mạch [03]
2.10 Chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán bệnh là một khâu quan trọng để phát hiện sớm bệnh DTL Việcchẩn đoán không phải dễ dàng, lúc nào chúng ta cũng thực hiện được nhanhchóng và chính xác Bởi các biểu hiện về triệu chứng lâm sàng, về bệnh tích đạithể và vi thể đối với bệnh DTL thường có sự biến đổi rất đa dạng Do sự khácnhau về độc lực của các chủng virus, về số lượng virus xâm nhập vào các cơquan và về sự mẫn cảm của cơ thể bệnh súc
Vì thế, để chẩn đoán đạt được độ chính xác cao cần phải tiến hành hàngloạt cảc phương pháp như: quan sát về dịch tễ học, lâm sàng và giải phẫu bệnhhọc, bên cạnh đó cần phải tiến hành hàng loạt các phân tích xét nghiệm trongphòng thí nghiệm như chẩn đoán virus học hoặc chẩn đoán huyết thanh học[21]
Mỗi phương pháp chuẩn đoán đều có ưu nhược riêng, thí dụ: phản ứng kếttủa khuyếch tán trong thạch có độ nhạy kém, phản ứng miễn dịch huỳnh quangkhông cho biết chính xác kháng nguyên phát hiện được và virus DTL cường độchay nhược độc; dùng phản ứng trung hoà chậm có thể phân biệt được hai loạivirus DTL và dịch tả trâu bò nhưng không phân biệt được kháng nguyên (hoặckháng thể) là virus độc hay virus vaccine So với phản ứng trung hoà, phương
Trang 30pháp ELLISA đặc hiệu và nhạy hơn, tuy nhiên ELISA còn chưa có sẵn và kháđắt do sinh phẩm được chế tạo một cách tinh chế đặc biệt, chất thải plastic khánhiều làm ô nhiễm môi trường và chưa chế tạo được ở trong nước.
Hiện nay hai phương pháp IHA và SSIA đã được PGS TS Phạm Hồng Sơn
và các cộng sự nghiên cứu phát triển từ những năm gần đây [20, 24, 27] để chẩnđoán cảm nhiễm một số virus, kể cả virus gây ngưng kết hồng cầu, có thể khảthi đối với bệnh dịch tả lợn, khắc phục một số nhược điểm của các phương pháphiện đại trên, như chi phí thấp, dễ thực hiện, không đòi hỏi phương tiện trangthiết bị hiện đại và hóa chất đắt tiền, không phải giết chết con vật để lấy mẫu.Vật liệu chủ yếu được chế sẵn là kháng nguyên IHA (hay HC-KN) và khánghuyết thanh chuẩn tùy Theo yêu cầu thực tế có thể áp dụng để phát hiện vàchuẩn độ kháng thể (IHA) hoặc phát hiện và chuẩn độ kháng nguyên (SSIA).Nếu được nghiên cứu chuẩn hóa để chẩn đoán bệnh dịch tả lợn thì các phươngpháp này sẽ là một đóng góp đáng được ghi nhận trong tiến trình thanh toánmầm bệnh DTL
2.10.1 Chẩn đoán dịch tễ học
Bệnh DTL có tính chắt lưu hành mạnh, lây lan nhanh và giết hại nhiều lợncác lứa tuổi, nhất là lợn con Không có vùng dịch rỏ rệt về mặt địa lý Còn bệnhdóng dấu lộn, phó thương hàn lợn, tụ huyết trùng lợn có tính chất lưu hành địaphương (Nguyễn Vĩnh Phước & cộng sự, 1978) [17] Tuy nhiên, cần lưu ýkhuynh hướng bệnh trở nên mạn tinh, không diển hình và ẩn tính ỏ nhiều lợn(Phạm Hồng Sơn, 2004a) [20]
2.10.2 Chẩn đoán lâm sàng
Căn cứ và triệu chứng và bệnh tích của bệnh dịch tả lợn để chẩn đoán, tuy
độ chính xác không cao nhưng là khâu rất không thể thiếu trong chẩn đoán bệnhdịch tả lợn, cần chẩn doán phân biệt với bệnh: phó thương hàn lợn, đóng dấu lợn
và tụ huyết trùng lợn, dịch tả lợn Châu Phi Ví dụ: bệnh phó thương hàn lợn thì
lá lách sưng to, do tăng sinh, dai và đàn hồi cao su, màu xanh sẫm cắt ra thấychất lách chắc chứ không mềm nhũn; bệnh thường xảy ra ở lợn từ 3 đến 6 thángtuổi, triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh là ỉa chảy dữ dội Đối với bệnh tụhuyết trùng lợn có triệu chứng và bệnh tích chủ yếu ở đường hô hấp Còn ở bệnhdịch tả lợn Châu Phi thì khi mắc bệnh này lợn có thân nhiệt tăng rất cao và biếnđổi bệnh lý đặc trưng là hiện tượng xuất huyết ở phủ tạng và các mô rất nặng,lách sưng to chứa đầy máu và hạch lâm ba cũng xuất huyết nặng [17]
Trang 312.10.3 Chẩn đoán virus học
2.10.3.1 Kiểm tra trên kính hiển vi
Lấy bệnh phẩm gia súc làm tiêu bản nhuộm Gram, kiểm tra trên kính hiển
vi nếu không thấy vi khuẩn có thể nghi là bệnh DTL thuần túy, sau khi chẩnđoán lâm sàng đã xác định được bệnh Nếu có vi khuẩn tụ huyết trùng lợn, phóthương hàn lợn thì có thể nghi bệnh DTL ghép với các bệnh này
và mất nhiều thời gian Bên cạnh đó nếu virus có độc lực yếu, chỉ gây bệnh cholợn con thử nghiệm những triệu chứng nhẹ, làm cho con vật được miễn dịch, sẽkhông chẩn đoán được bệnh [27]
2.10.4 Chẩn đoán huyết thanh học
Đây là phương pháp cần nhiều kỹ thuật xét nghiệm bệnh dịch tả lợn đãđược đề nghị trên thế giới bao gồm phương pháp phát hiện kháng nguyên lẫnkháng thể trong huyết thanh (Pearson, 1992)
2.10.4.1 Thí nghiệm trung hòa trên thỏ
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc virus DTL cường độc và virus DTLnhược độc có tính gây bệnh khác nhau cho thỏ và lợn, nhưng có tính khángnguyên giống nhau Có thể dùng virus DTL cường độc tiêm cho thỏ gây miễndịch Sau đó chứng minh tính miễn dịch của thỏ đối với virus DTL bằng cáchtiêm virus nhược độc DTL Phương pháp này có độ chính xác cao nhưng tốnthời gian và kinh phí [28]
2.10.4.2 Phản ứng kết tủa khuếch tán thạch
Phản ứng này được Mansi dùng lần đầu tiên (1957) để chẩn đoán virus
DTL (Mancini, 1957; Theo Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) và cải tiến thêm
sau đó (Mancini, 1965) [28]
Trang 322.10.4.3 Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp
Phản ứng này được Segre dùng lần đầu tiên để chẩn đoán virus DTL năm 1962.Bình thường virus DTL không hấp phụ được lên hồng cầu, do đó phải xử lýhồng cầu bằng axit tanic 1%, chất này có một chức gắn với hồng cầu, còn mộtchức gắn với virus DTL, khi đó virus DTL dễ dàng hấp phụ lên hồng cầu thỏ,cừu hoặc chuột lang nhưng không gây ngưng kết hồng cầu Khi gặp kháng thểtương ứng, virus DTL sẽ kết hợp với kháng thể do đó hồng cầu dính lại qua cầunối kháng thể gây hiện tượng ngưng kết hồng cầu [21]
2.10.4.4 Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHI)
Phương pháp này là sự kết hợp giữa các phương pháp ngăn trở ngưng kết
và phương pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp và được mô tả gần đây
Phương pháp này dùng để phát hiện kháng nguyên trong các tổ chức nhu
mô bệnh phẩm
Nguyên lý của phương pháp này là khi nghiền tổ chức nhu mô với khánghuyết thanh trong điều kiện hóa băng nên có thể làm vỡ tế bào nhờ các tinh thểnước đá hình thành trong và ngoài tế bào chất Nếu trong tổ chức nhu mô đó cókháng nguyên, thì kháng nguyên đó sẽ kết hợp đặc hiệu với kháng thể trongkháng huyết thanh, làm cho hiệu giá kháng thể trong kháng huyết thanh giảm.Sau khi quay ly tâm để loại bỏ tổ hợp kháng nguyên - kháng thể cùng với tổchức nhu mô, sự sụt giảm hiệu giá trong kháng huyết thanh được phát hiện bằngphản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp [21]
2.10.4.5 Phương pháp kháng thể huỳnh quang (Fluorescent Antibody Test – FAT)
Phương pháp này trong chẩn đoán bệnh DTL, dùng kháng thể DTL đãđược nhuộm huỳnh quang, cho tiếp xúc với kháng nguyên là bệnh phẩm nghichứa virus DTL (lách, hạch, phủ tạng, ) đã được cố định trên phiến kính (kỹthuật huỳnh quang lát cắt – FATST) hoặc là lứa cấy tế bào đơn lớp (kỹ thuậtkháng thể huỳnh quang lứa cấy tế bào – FACCT) [28]
Nếu có kháng nguyên và kháng thể tương ứng, tức là có virus DTL trongbệnh phẩm thì có thể kết họp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể huỳnhquang và tổ họp này được lưu lại trên phiến kính ngay cả sau khi phiến kínhđược rửa
Kháng nguyên được nhuộm màu huỳnh quang sẽ phát sáng rõ rệt dưới kínhhiến vi huỳnh quang
Trang 33Phương pháp FATST có ưu điểm là chẩn đoán nhanh, có thể hoàn thànhtrong hai giờ Tuy vậy, trong nhiều trường họp khó phân biệt giữa sự phát màuđặc hiệu và không đặc hiệu
Phương pháp FACCT được sử dụng để phát hiện kháng nguyên virus DTLtrong lứa cấy tế bào thận lợn (PK - 15) nuôi trên lá kính đã bị gây nhiễm bởihuyễn dịch tổ chứclợn bệnh
Ưu điểm của phương pháp này là có tính đặc hiệu cao và dễ giải thích kếtquả nhưng nhược điểm là mất khá nhiều thời gian, ít nhất phải 16 giờ, bên cạnhnhững yêu cầu của việc nuôi cấy tế bào tổ chức
Đối với nước ta phương pháp này tốn kém do giá thành kháng thể đánh dấu(conjugate) còn cao và ta chưa chủ động được nguồn cung cấp
2.10.4.6 Phương pháp ELISA (Enzyme-linked immunosorbent assay)
Đây là phương pháp được áp dụng ngày càng rộng rãi trong chẩn đoánbệnh DTL Kỹ thuật miễn dịch enzyme có độ đặc hiệu rất cao do sử dụng khángthể đơn dòng kháng virus DTL nên khắc phục được hiện tượng dương tính giả
do virus gây bệnh tiêu chảy ở bò, như sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp đặc hiệuvirus như glycoprotein Ems hay E2 hoặc phương pháp ELISA cạnh tranh nhưng
có độ nhạy giảm so với ELISA thông dụng
Kháng thể đơn dòng cho phản ứng với hai loại glycoprotein vỏ (gp48 vàgp53) thì có thể trung hòa virus gây bệnh Lợn nhiễm bệnh có thể tạo kháng thểvới glycoprotein cấu trúc của virus, những protein này tương tự “kháng nguyênhòa tan” Đáp ứng kháng thể với polypeptid khác, kể cả pl4 của nucleocapsid thìrất yếu hoặc không có [35]
Những lợn được chủng ngừa vaccine E2 hoặc Ems có thể kháng với virusDTL khi công cường độc Hai loại vaccine chứa baculovirus để tạo E2 hoặcEms (hoạt động như kháng nguyên)
Khi xét nghiệm ELISA đồng bộ, kháng thế kháng với Ems chỉ được
phát hiện chỉ khi dùng kháng nguyên Ems tái tổ họp
Kỹ thuật ELISA được thiết kế để không phát hiện kháng thể ở lợn đượcchủng ngừa vaccine Ems mà chỉ dùng để phát hiện kháng thể của những lợnnhiễm virus DTL tự nhiên hoặc lợn đã chủng vaccine thông dụng [37]
Hiện nay đối với bệnh DTL, kỹ thuật này được dùng để phát hiện sự có mặtcủa HVC.Ag (P125) hoặc hàm lượng kháng thể trong máu,
Trang 342.10.5 Kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction
ARN virus có tính đặc hiệu cao đặc trưng cho loài và có thể dùng làmkhuôn tổng hợp invitro phân tử ADN tương bù một sợi nhờ enzyme sao chépngược (RT: reverse transcriptase) Sau đó ADN một sợi được tách khỏi ARNkhuôn và lại làm khuôn để tổng hợp sợi ADN tương bù với nó nhờ enzymeADN - polymeraza Nhờ phản ứng chuỗi polymeraza (PCR: polymerase chainreaction) đoạn ADN có kích thước đặc hiệu phù hợp với cặp mồi oligonucleotidđược tổng họp
Tổ hợp hai phản ứng trên gọi là RT - PCR Kỹ thật này dựa trên phiên mãngược với phản ứng PCR (RT - PCR) và xác định trình tự chuỗi của DNA bằngcDNA từ vùng không mã hóa 5’ Người ta có thể dùng kỹ thuật RT - PCR đểphân biệt trình tự chuỗi E2 hoặc có thể dựa vào RT -PCR và rồi dùng enzym hạnchế trên vùng không mã hóa 5’ [36]
2.10.6 Chẩn đoán bằng phản ứng hóa học màu
Chất chiết bệnh phẩm nghi DTL đem sấy khô Khi gặp axit nitric đậm đặcthì biến đổi thành màu hồng tím nếu có virus DTL Nếu không có virus DTL thì
2.11.1.1 Tuyên truyền phòng, chống bệnh dịch tả lợn
Cục Thú y xây dựng nội dung và tổ chức thực hiện chương trình tuyêntruyền phòng, chống bệnh dịch tả lợn Hướng dẫn Chi cục Thú y tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Chi cục Thú y) triển khai chương trìnhtruyền thông ở địa phương
Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các tổ chứcđoàn thể thực hiện thông tin tuyên truyền tại địa phương Theo nội dung tuyêntruyền của cơ quan thú y
Các cơ quan thông tin đại chúng, cơ quan chuyên môn và các tổ chức đoànthể thực hiện tuyên truyền phổ biến kiến thức về bệnh dịch tả lợn, tính chất nguyhiểm của bệnh và các biện pháp phòng chống tới người chăn nuôi, người buôn