Nhưng thực tế cho thấy, hệ thống cung ứng vacxin tại địa phương và công tác tiêm phòng vacxin thú y chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tỷ lệ tiêm phòng không cao và số lượng vacxin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ KHOA KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Thời gian thưc hiện : 05/01/2015 đến 05/05/2015
Địa điểm thực tập : Xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh ThừaGiáo viên hướng dẫn : Th.S Lê Văn Nam
Bộ môn : Khuyến nông
Trang 2Lời cảm ơn
Sau một quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Huế, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình và tiếp thu được một lượng kiến thức nhất định Để có được kết quả đó, ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự cổ vũ, động viên của gia đình, sự hướng dẫn, giảng dạy tận tình của quý thầy cô giáo trong nhà trường và sự giúp đỡ của bạn bè Nhất là trong kỳ thực tập và làm khóa luận cuối khóa này, sự động viên, hướng dẫn đó đối với tôi là vô cùng quý báu.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi trân trọng cảm ơn thầy giáo Th.S Lê Văn Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn, luôn động viên
và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này một cách tốt nhất.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú làm việc tại Trạm Khuyến nông - Lâm - Ngư huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể học hỏi, nắm bắt được nhiều thông tin, kiến thức thực tế phục vụ cho bài viết của mình được hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên, do kiến thức và thời gian thực tập còn hạn chế nên nội dung đề tài không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý và chỉ dẫn thêm của quý thầy cô giáo và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.
Huế, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Bùi Thị Hạnh
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bản đồ 4.1: Bản đồ hành chính huyện Quảng Điền – Thừa Thiên Huế
Bảng 4.1 Đặc điểm của vùng nghiên cứu
Bảng 4.2: Đặc điểm nhân khẩu, lao động và trình độ học vấn của các hộ điều tra năm 2014
Bảng 4.4: Số lượng đàn gia súc, gia cầm của các hộ điều tra
Bảng 4.5: phương thức chăn nuôi của các hộ điều tra
Bảng 4.6: Số lượng và giá trị sản xuất của toàn xã Quảng Vinh qua các năm 2012,2013, 2014.
Bảng 4.7: Phân loại hộ theo quy mô chăn nuôi ở xã Quảng Vinh năm 2012,
2013, 2014.
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ tiêm chủng vacxin thú y tại xã Quảng Vinh
Bảng 4.8 Tình hình tiêm phòng vacxin trong chăn nuôi tại xã ở các năm 2012,2013,2014.
Bảng 4.9: Điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống cung ứng vacxin tại xã Quảng Vinh
Bảng 4.10: Tình hình sử dụng vacxin của các hộ điều tra
Bảng4.11 : Giá các loại vacxxin tại địa phương(đơn vị 1.000đ)
Bảng 4.12: Mức độ thỏa mãn về việc sử dụng vacxin thú y tại địa phương của các hộ điều tra( Đơn vị: %)
Bảng4.13: Mức độ tiếp cận các loại vacxin của các hộ điều ( Đơn vị: %)
Bảng 4.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vacxin của hộ điều tra( đơn vị: %)
Bảng 4.15: Chi phí trong chăn nuôi của các loại hộ
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN – PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
LMLM : Lở mồm long móng
BNNPTNT : Bộ nông nghiệp, phát triển nông thôn
TT-BNNPTNT : Thông tư - Bộ nông nghiệp, phát triển nông thônTT-BNN : Thông tư - Bộ nông nghiệp
QĐ-BNN : Quyết định - Bộ nông nghiệp
ATVSTP : Chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm
CHLB : Cộng hòa liên bang
GMP : Tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt nhằm đảm bảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm
Codex : Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm
Trang 6Để giảm thiểu dịch bệnh trong chăn nuôi, thì hệ thống cung ứng vacxin được thực hiện một cách đồng bộ từ trung ương đến địa phương là rất quan trọng Đây được xem là biện pháp hiệu quả và ít tốn kém trong công tác quản lý
và phòng trống dịch bệnh tại tỉnh Nhưng thực tế cho thấy, hệ thống cung ứng vacxin tại địa phương và công tác tiêm phòng vacxin thú y chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tỷ lệ tiêm phòng không cao và số lượng vacxin thú y cung cấp chủ yếu được các hộ có quy mô chăn nuôi lớn như gia trại và trang trại sử dụng
Xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một địa phương có quy mô đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tương đối lớn và hoạt động chăn nuôi phát triển mạnh mẽ đang chuyển dần sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp Nhưng do diễn biến thời tiết phức tạp, và công tác phòng chống dịch bệnh tại địa phương chưa được thực hiện nghiêm ngặt dẫn đến dịch bệnh trong chăn nuôi vẫn thường xuyên xảy ra trên địa bàn xã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho hộ chăn nuôi Để xây dựng cơ sở dữ liệu, nhằm hạn chế tình trạng trên,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tìm hiểu hệ thống cung ứng và mức độ sử dụng vacxin cho hoạt động chăn nuôi tại xã Quảng Vinh, huyện Quãng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.”
II Mục tiêu, nội dung, phương pháp
* Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả hệ thống cung cấp vacxin cho hoạt động chăn nuôi của người dân
Trang 7- Đánh giá mức độ sử dụng vacxin cho hoạt động chăn nuôi của người dân tại Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng vacxin trong hoạt động chăn nuôi của người dân tại xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
* Nội dung nghiên cứu
Mô tả hệ thống cung cấp vacxin cho chăn nuôi của người dân tại Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tình hình chăn nuôi của các hộ dân tại xã
- Hệ thống cung ứng vacxin cho hoạt động chăn nuôi
- Vai trò của từng tác nhân trong hệ thống cung ứng vacxin tại xã
- Cơ chế quản lý, giám sát hệ thống cung ứng vacxin
- Điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống cung ứng vacxin
Đánh giá mức độ sử dụng vacxin cho hoạt động chăn nuôi của người dân tại Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tình hình dịch bệnh tại địa phương, công tác phòng chống dịch bệnh
- Đánh giá mức độ sử dụng vacxin theo quy mô của hộ và theo loại vacxin
- Đánh giá mức độ hài lòng về cơ chế cung ứng vacxin, khả năng tiếp cận các loại vacxin qua các kênh thông tin
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng vacxin trong hoạt động chăn nuôi của người dân tại xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng vacxin cho chăn nuôi của các hộ dân:
- Yếu tố kinh tế - Yếu tố quy mô chăn nuôi
- Yếu tố thị trường - Yếu tố chính sách
- Yếu tố chính sách
* Phương pháp nghiên cứu
- Chọn điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại xã Quảng Vinh, huyện
Trang 8+ Địa điểm nghiên cứu được chọn đáp ứng các tiêu chí:
Có số hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm lớn
Có giao thông đi lại thuận tiện
- Chọn mẫu nghiên cứu: Hộ điều tra được chọn ngẫu nhiên có phân loại
gồm 45 hộ Trong đó 15 hộ với quy mô chăn nuôi vừa và nhỏ ( số lượng con gia súc dưới 20 con, gia cầm dưới 1.000 con trên lứa) , 15 hộ quy mô gia trại ( số lượng con gia súc từ 20 con trở lên , gia cầm từ 1.000 con/lứa trở lên) và 15 hộ quy mô trang trại ( số lượng gia súc từ 100con/lứa, gia cầm 3.000con/lứa)
Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin thứ cấp
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã
- Tài liệu về công tác tiêm phòng vacxin tại xã
- Tài liệu về Vacxin tại trạm Thú y huyện
- Các báo cáo của huyện, xã và thôn, các tài liệu sách, báo, internet
Thu thập thông tin sơ cấp
* Phương pháp phân tích xủ lý số liệu:
- Xử lý theo phương pháp định tính từ các thông tin thu được trong phỏng vấn người am hiểu, và một số thông tin trong bảng hỏi bán cấu trúc
- Xử lý theo phương pháp định lượng: số liệu cấp hộ và cấp cộng đồng đã được nhập và sử lý bằng phần mềm Excell
III Kết quả nổi bật, kết luận và đề xuất
Quảng Vinh là xã có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa với các vùng phụ cận và trung tâm thành phố huế Xã Quảng Vinh có 14 thôn, đội ngũ lao động dồi dào, diện tích sản xuất lớn 1.563.43 ha, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp Số hộ gia trại và trang trại trong địa bàn xã còn
Trang 9ít tính đến năm 2014 có 43 gia trại, 20 trang trại đạt yêu cầu Tuy số lượng hộ ít nhưng đàn gia súc, gia cầm chiếm đến 99,7% tổng đàn tại xã.
Tại xã những năm gần đây công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc gia cầm được đẩy mạnh nên hầu như không có dịch bệnh bùng phát Hệ thống cung ứng vacxin tại xã, bao gồm hai kênh cung ứng chính đó là: kênh từ nhà nước và kênh từ công ty Xanh Trong đó kênh cung ứng vacxin từ chi cục thú ý đến thú y cơ sở là kênh chính, được quản lý theo cơ chế ngành dọc, còn kênh cung ứng từ công ty thú y Xanh là kênh không chính quy, các hộ dân tiêm phòng vacxin của công ty không được cấp giấy chứng nhận đã tiêm phòng vacxin Mức độ sử dụng vacxin của các loại hộ là khác nhau, chủ yếu vacxin được cung ứng cho hộ gia trại và trang trại, còn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có tỷ lệ sử dụng rất ít Nguyên nhân của điều này do cơ chế quản lý tiêm phòng vacxin chưa nghiêm ngặt, và do các yếu tố như: kinh tế, quy mô, thị trường, chính sách, thời tiết, dịch bệnh gây ảnh hướng lớn đến việc tiêm phòng vacxin của các loại
hộ chăn nuôi
IV Kết luận:
Sau quá trình nghiên cứu tại xã Quảng Vinh tôi rút ra một số kết luận sau:
Tỷ lệ tiêm phòng vacxin thú y ở xã đã được nâng cao, nhưng tỷ lệ này còn rất thấp ở những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ Hệ thống cung ứng vacxin trên địa bàn hoạt động rất tốt, có cơ chế quản lý rõ ràng và được thực hiện một cách đồng bộ Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong hệ thống như: công tác quản
lý tiêm phòng chưa nghiêm ngặt, hệ thống quản lý cứng nhắc, thiếu linh hoạt
Bùi Thị Hạnh Lê Văn Nam
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế, là ngành sản xuất mang lại nguồn thu chính cho người dân giúp họ nâng cao thu nhập Hiện nay,tình hình chăn nuôi của tỉnh đang phát triển mạnh mẽ theo hướng thương phẩm Tuy nhiên sự phát triển đó đã nảy sinh một số vấn đề như: ô nhiễm môi trường, tình trạng dịch bệnh trong chăn nuôi xảy ra ngày càng nhiều, gây thiệt hại lớn cho người dân
Để giảm thiểu dịch bệnh trong chăn nuôi, thì hệ thống cung ứng vacxin được thực hiện một cách đồng bộ từ trung ương đến địa phương là rất quan trọng Đây được xem là biện pháp hiệu quả và ít tốn kém trong công tác quản
lý và phòng trống dịch bệnh tại tỉnh Nhưng thực tế cho thấy, hệ thống cung ứng vacxin tại địa phương và công tác tiêm phòng vacxin thú y chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tỷ lệ tiêm phòng không cao và số lượng vacxin thú y cung cấp chủ yếu được các hộ có quy mô chăn nuôi lớn như gia trại và trang trại sử dụng
Xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một địa phương có quy mô đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tương đối lớn và hoạt động chăn nuôi phát triển mạnh mẽ đang chuyển dần sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp Nhưng do diễn biến thời tiết phức tạp, và công tác phòng chống dịch bệnh tại địa phương chưa được thực hiện nghiêm ngặt dẫn đến dịch bệnh trong chăn nuôi vẫn thường xuyên xảy ra trên địa bàn xã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho hộ chăn nuôi Để xây dựng cơ sở dữ liệu, nhằm hạn chế tình trạng trên,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tìm hiểu hệ thống cung ứng và mức độ sử dụng vacxin cho hoạt động chăn nuôi tại xã Quảng Vinh, huyện Quãng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả hệ thống cung cấp vacxin cho hoạt động chăn nuôi của người dân tại Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đánh giá mức độ sử dụng vacxin cho hoạt động chăn nuôi của người dân tại Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 11- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng vacxin trong hoạt động chăn nuôi của người dân tại xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm vacxin thú y
Vacxin là chế phẩm sinh học chứa các mầm bệnh đã bị làm yếu hay bị làm chết đi (Không có khả năng gây bệnh) Sau khi tiêm vào cơ thể chế phẩm này mới kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại mầm bệnh (gọi là miễn dịch) Vacxin là chế phẩm sinh học được chế từ vi sinh vật đã bị giết chết (Vacxin chết, vacxin vô hoạt) hoặc bị giảm độc (Vacxin nhược độc)
Vacxin vô hoạt là chế phẩm sinh học từ vi khuẩn, virut mầm bệnh đã bị giết chết bằng các tác nhân vật lý như tia cực tím, các chất hóa học như axit phenic, formol, crystal violet, (Vacxin ung khí thán cũng như các vacxin tụ huyết trùng trâu bò, tụ huyết trùng lợn, thường dùng trước đây là những vacxin vô hoạt bằng formol pha chất bổ trợ là keo phèn) Các loại vacxin vô hoạt và giải độc tố thường an toàn và ít gây phản ứng phụ Tuy nhiên, cần phải dùng với liều tiêm khá lớn do trong vacxin phải có chất bổ trợ để duy trì kháng nguyên kéo dài trong cơ thể, nên việc sử dụng gặp nhiều phiền toái và chất bổ trợ cũng có thể gây kích thích dẫn đến những phản ứng phụ bất lợi Sau khi tiêm trung bình từ 2 - 3 tuần lễ thì cơ thể mới có miễn dịch.Độ dài miễn dịch thường ngắn (3 - 6 tháng) vì vậy có loại phải tiêm nhiều lần trong năm
Vacxin nhược độc là chế phẩm sinh học từ vi khuẩn hoặc virut đã được làm yếu đi đến mức không nguy hiểm cho cơ thể nhưng vẫn gây miễn dịch tốt, hoặc là
từ những chủng vi sinh vật vốn có tính gây bệnh thấp đối với động vật được tuyển chọn từ tự nhiên Các vacxin nhược độc được chế từ vi khuẩn và virut có độc lực thấp, gây miễn dịch tốt hơn vacxin vô hoạt Vacxin virut nhược độc thường gây miễn dịch sớm (3 - 4 ngày sau khi tiêm, do hiện tượng cảm nhiễm hay can thiệp cảm nhiễm), thời gian miễn dịch tương đối dài Nhưng những loại vacxin này khi dùng dễ gây phản ứng, đòi hỏi nhiệt độ bảo quản thấp, có thể lây bệnh không điển hình hoặc làm trỗi dậy các bệnh khác sau khi tiêm
Vacxin tái tổ hợp là những vacxin được chế bằng cách tách gen chịu trách
Trang 12nuôi cấy, chế tạo, bảo quản và cũng ít độc hơn (Virut vacxin đậu, trực khuẩn đại tràng, tằm hoặc thậm chí thực vật cho rau và quả, ) để sản xuất đồng loạt sinh vật biểu hiện tính trạng mới là sản sinh kháng nguyên do gen của mầm bệnh ngoại lai chi phối Những thí nghiệm qua đường miệng (Nhữ mồi thịt cho cáo, chồn, ) về ứng dụng vacxin virut dại tái tổ hợp trong virut vaccinia (Vacxin đậu mùa) để khống chế bệnh dại ở châu Âu đã cho kết quả rất khích lệ: làm giảm số trường hợp động vật nông nghiệp bị dại quanh vùng thử nghiệm.
2.1.2 Vai trò của ngành thú ý
Chăn nuôi gia súc, gia cầm từ lâu đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của loài người nói chung và đời sống của người dân Việt Nam nói riêng Ở Việt Nam hoạt động chăn nuôi, chính là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu của người dân, hàng năm chăn nuôi cung cấp khoảng 30% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Nhưng trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm rất nghiêm trọng và phức tạp, đặc biệt như các bệnh: cúm gia cầm H5N1, cúm A/H1N1 có nguồn gốc từ lợn, gần đây là cúm A/H7N9 cũng có nguồn gốc từ gia cầm, bệnh tai xanh ở lợn, bệnh LMLM trên gia súc,
……… Các hoạt động như buôn lậu động vất qua biên giới, buôn bán động vật thông qua kiểm dịch và hiện tượng biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng dịch bệnh bùng phát triên diện rộng, và làm xuất hiện một số bệnh nguy hiểm lây từ người động vật sang người
Phòng chống dịch bệnh luôn được xem là nhiệm vụ trung tâm của toàn bộ hệ thống thú y Ngành thú y làm nhiệm vụ giám sát sức khoẻ động vật, phát hiện sớm
và ứng phó nhanh đối với các bệnh dịch động vật Cơ quan thú y trung ương, trung tâm của hệ thống thú y, sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ này nếu như không có
hệ thống văn bản pháp lý phù hợp và các công cụ cần thiết để thực thi pháp luật Đây chính là cơ sở của việc quản lý tốt thú y Một hệ thống thú y quốc gia phù hợp phải đảm bảo: Phát hiện dịch bệnh sớm và thông báo ngay các ổ dịch một cách minh bạch, không dấu dịch; ứng phó nhanh để dập tắt dịch, kể cả việc sử dụng tiêm phòng nếu cần thiết và phù hợp; áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và phòng ngừa sinh học; và có chiến lược đền bù cho người chăn nuôi Như vậy, ngành thú y được xem là ngành bảo vệ sức khỏe, không những cho con vật mà còn cho con người Ngành thú y giải quyết các vấn đề thực phẩm thừ gốc tránh tình trạng nhiễm bệnh trong chăn nuôi, tức là từ trang trại đến khi ăn vào là ngành thú y có trách nhiệm đảm bảo an toàn Ngành thú y tập chung vào công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho gia súc gia cầm trong chăn nuôi
Trang 13Ngành thú y Việt Nam ngày 11 - 7 - 1950, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký Sắc Lệnh số 125 - SL chỉ rõ việc phòng trống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm là trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi người, trong đó ngành thú y là phải tiên phong Đó là sắc lệnh đầu tiên về ngành thú y Việt Nam Sau 55 năm, ngày
12 - 7 - 2005 Thủ tướng đã có Quyết định số 664/ QĐ - TTg lấy ngày 11 - 7 hàng năm là ngày “ Truyền thống của ngành thú y Việt Nam”
Ngành thú y Việt Nam được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Chính phủ,
Bộ NN - PTNT Hệ thống thú y được tăng cường, mạng lưới thú y đã được tổ chức đến xã, phường và một số nơi còn có hệ thống đến tận thôn Ngành thú y đã
tự mình làm chủ công việc phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trong chăn nuôi Tuy nhiên cũng đặt ra những khó khăn và thách thức rất lớn đối với vai trò của ngành thú y nhà nước về phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; bệnh lây từ động vật sang người; đảm bảo thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu rộng
Trên phạm vi thế giới, thú y là ngành có từ lâu đời nguyên nhân là do yêu cầu thực tiễn cuộc sống, cùng với vai trò và trách nhiệm của nó trong xã hội Ở nhiều quốc gia, thú y được đặc biệt coi trọng Đầu vào ngành thú y được xếp nganh ngành y, có nghĩa là phải học giỏi mới đủ tiêu chuẩn vào ngành thú y Bác sĩ thú y phải học thêm 1 - 2 năm so với các ngành khác (Tương đương với ngành y) Bác sĩ thú y ra trường được ưu tiên tạo việc làm hơn các ngành khác
2.1.2 Vai trò của vacxin thú y trong chăn nuôi
Vacxin học (Vacxinology) được mở đầu thành công vào cuối thế kỷ 18 bởi bác sĩ thú y E.Jenner (Anh) với vacxin làm từ chủng gây bệnh đậu bò, tiêm cho cậu bé 13 tuổi J.Philip Hiện nay tổ chức y tế thế giới (WHO) đã công nhận tiêm vacxin là phương pháp bảo vệ hiệu quả giúp nhân loại tránh được các bệnh truyền nhiễm Từ 1880, Louis Pasteur (Pháp) đã sang chế thành công vacxin chống bệnh Than và nhiều lại vacxin khác trên ý tưởng của Jenner, tạo ra một trường phái riêng tồn tại cho đến ngày nay Sang nửa thế kỷ 20, mặc dù công nghệ vacxin có những bước tiến vượt bậc và đạt nhiều thành tích đáng kể, nhưng cũng đã nảy sinh nhiều thách thức, nhiều bệnh dịch nguy hiểm tái phát mới xuất hiện
Trong 2 thế kỷ qua, vacxin là loại dược phẩm đặc biệt đã góp phần rất lớn đẩy lùi nhiều bệnh tật và giảm tỷ lệ tử cho con người và giảm thiệt hại trong chăn nuôi gia súc gia cầm Hiện nay việc lựa chọn và sử dụng vacxin thú y cho
Trang 14biện pháp cơ bản quan trọng trong quy trình phòng bệnh cho vật nuôi Việc tiêm phòng vacxin thú y cho các loại gia súc, gia cầm như cúm gia cầm H5N1, cúm A/H1N1 có nguồn gốc từ lợn, gần đây là cúm A/H7N9 cũng có nguồn gốc từ gia cầm, bệnh tai xanh, bệnh lở mồm long móng…… hiện nay là rất cần thiết, các loại vacxin này giúp phòng chống các dịch bệnh này, ngăn chặn nguy cơ bùng phát dịch bệnh trên toàn đoàn gia súc, gia cầm gây thiệt hại nặng cho các hộ chăn nuôi trong nước và các nước trên thế giới.
2.1.3 Hệ thống cung ứng vacxin:
Theo Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường, ước tính, tổng giá trị thị trường thuốc thú y Việt Nam (Bao gồm thuốc, vắc xin, các loại hóa chất, chế phẩm sinh học sử dụng trong chăn nuôi) hiện nay vào khoảng 3.280 tỉ đồng Trong đó, thuốc thú y cho gia cầm khoảng 920 tỉ đồng, cho heo (lợn) khoảng 2.140 tỉ đồng, cho bò khoảng 220 tỉ đồng Thị trường vắc xin cho chăn nuôi tăng trưởng mạnh mẽ đặc biệt sau dịch cúm gia cầm năm 2003 - 2004 Sau năm
2004, giá trị lượng vắc xin nhập khẩu cả nước từ dưới 100 tấn/năm lên hơn 300 tấn/năm Vào những năm sau đó, khi nhiều loại bệnh khác trên vật nuôi xuất hiện như bệnh lở mồm long móng trên gia súc (Bùng phát năm 2005), bệnh heo tai xanh bùng phát năm 2010…, thị trường này càng tăng trưởng và từ đó đến nay gần như chủ yếu rơi vào tay các doanh nghiệp nước ngoài
Theo thống kê của Trung tâm chính sách và chiến lược nông nghiệp nông thôn miền Nam (SCAP), hiện tại Việt Nam có khoảng 530 loại vắc xin sử dụng trong chăn nuôi với khoảng 51 đơn vị sản xuất và nhập khẩu Có đến 80% loại vắc xin được cấp phép lưu hành tại Việt Nam có nguồn gốc nhập khẩu từ 17 quốc gia Đứng đầu là Hà Lan với hơn 80 loại vắc xin, tiếp theo là Mỹ và Pháp
Ở Việt Nam, đến nay có khoảng 4 đơn vị sản xuất được vắc xin Nhưng nếu gom tất cả doanh thu từ việc sản xuất vắc xin của cả 4 đơn vị này cũng chỉ chiếm chưa tới 5% thị phần vắc xin trên thị trường, còn lại 95% thị phần thuộc
về nhà nhập khẩu “Với trình độ hiện nay, theo ông Vũ, Việt Nam chỉ có thể sản xuất được các loại vắc xin vô hoạt (Vắc xin chết) và có thể thay thế được hàng nhập khẩu Đối với vắc xin nhược độc (Vắc xin sống) thì “Chắc còn lâu” Việt Nam mới có thể sản xuất được
Hệ thống cung ứng vacxin tại Nam phụ thuộc vào sự quản lý nghiêm ngặt của nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương:
Ở trung ương :
Trang 15Cục thú y Cơ quan quản lý nhà nước về thú y thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ở địa phương:
Chi cục thú y Cơ quản lý nhà nước về thú y ở cấp tỉnh
2.1.4 Quy định về quản lý và kinh doanh vacxin
Hệ thống quản lý thuốc – vacxin thú y từ trung ương đến địa phương:
Ở trung ương:
Cục Thú y là Cơ quan quản lý nhà nước về thú y thuộc Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Cục có trách nhiệm:
- Chủ trì xây dựng, trình Bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc thú y; công bố danh mục thuốc thú y được phép lưu hành, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng theo quy định của pháp luật;
- Quy định việc nghiên cứu, kiểm nghiệm, thử nghiệm, thủ tục đăng ký, công nhận thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất dùng trong thú y được sản xuất, lưu hành tại Việt Nam; các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc thú y;
Danh mục thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất dùng trong thú y phải áp dụng và phải được chứng nhận chất lượng phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
Cho phép nhập khẩu thuốc thú y, vắc xin chưa có trong danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam theo quy định và uỷ quyền của Bộ trưởng;
Nuôi thủy cầm an toàn sinh học
- Hướng dẫn, giải quyết việc đăng ký lưu hành, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển cửa khẩu, quá cảnh, sản xuất, chế thử, gia công, sang chai, đóng gói lại thuốc thú y; nguyên liệu làm thuốc thú y; chế phẩm sinh học; vi sinh vật; sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường và hóa chất dùng trong thú y (sau đây gọi chung là thuốc thú y);
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và thực hiện việc kiểm nghiệm, thử nghiệm, khảo nghiệm, kiểm tra chất lượng thuốc thú y theo quy định của pháp luật
Trang 16- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các quy định về chứng chỉ hành nghề, điều kiện kinh doanh thuốc thuốc thú y và việc tiêu huỷ hoặc trả về nơi xuất xứ Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thuốc thú y theo quy định của pháp luật.
- Kiểm tra và giám sát việc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển cửa khẩu, quá cảnh, sản xuất, chế thử, gia công, đóng gói lại, lưu hành, kinh doanh, sử dụng thuốc thú y
- Kiểm tra việc sử dụng thuốc thú y bổ sung trong thức ăn chăn nuôi
- Trình Bộ việc lập quỹ và sử dụng dự trữ quốc gia về thuốc thú y Hướng dẫn việc lập dự trữ địa phương về thuốc thú y, chế độ quản lý, phương thức sử dụng dự trữ về thuốc thú y ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Kiểm tra, thanh tra các điều kiện của cơ sở kinh doanh thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y; và việc tiêu hủy, thu hồi thuốc thú y giả, không rõ nguồn gốc; hết hạn sử dụng; kém chất lượng, cấm sử dụng, không có trong danh mục được phép lưu hành; không có nhãn hoặc có nhãn nhưng không đúng quy định của pháp luật
Quy định Điều kiện kinh doanh thuốc thú y đối với các cửa hàng, đại lý bán buôn, bán lẻ thuốc thú y như sau:
- Có địa chỉ cố định, có biển hiệu ghi tên cửa hàng, cơ sở hoặc tên doanh nghiệp, mã số kinh doanh được cấp; bảng niêm yết đăng ký kinh doanh
- Diện tích cửa hàng tối thiểu 10m2
- Có đủ phương tiện cần thiết để bày hàng, bán hàng; hàng hóa được sắp xếp khoa học, giữ gìn sạch sẽ
- Có đủ sổ sách theo dõi xuất, nhập hàng;
- Bảo quản thuốc theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, cụ thể
Trang 17- Bảo quản ở điều kiện bình thường: nhiệt độ từ 15-300C.
- Bảo quản mát: nhiệt độ từ 8-150C
- Bảo quản lạnh: nhiệt độ từ 2-80C
- Bảo quản đông lạnh: nhiệt độ ≤-100C
- Không được phép bày bán thuốc thú y cùng với hàng hoá khác Nếu được phép kinh doanh thức ăn chăn nuôi chung với thuốc thú y, phải bày bán ở khu vực riêng
- Đối với cửa hàng, đại lý bán buôn thuốc thú y phải có kho chứa hàng, đủ diện tích; có đủ các trang thiết bị, phương tiện phù hợp với yêu cầu bảo quản các loại thuốc, nguyên liệu làm thuốc được phép kinh doanh Hàng hóa phải được sắp xếp trên kệ, giá Kệ, giá để hàng phải cách mặt sàn ít nhất 20 cm, cách tường
ít nhất 20cm, khoảng cách giữa các giá, kệ tối thiểu 30 cm để đảm bảo độ thông thoáng, dễ vệ sinh tiêu độc; có máy phát điện dự phòng đủ công suất
- Cửa hàng kinh doanh vắc xin phải có thiết bị bảo quản lạnh và có phương tiện dự phòng để bảo quản vắc xin, chế phẩm sinh học khi xảy ra sự cố mất điện; có nhiệt kế theo dõi nhiệt độ và ghi chép hàng ngày
- Chủ cơ sở, người bán hàng được cơ quan thú y có thẩm quyền cấp Chứng chỉ hành nghề theo qui định
- Điều kiện kinh doanh thuốc thú y đối với cơ sở nhập khẩu thuốc thú y như sau:
Ngoài các quy định tại khoản 1, 4, 5, 7, 8 Điều 8, phải có thêm các điều kiện sau:
- Đối với cơ sở nhập khẩu vắc xin thú y phải có phương tiện vận chuyển chuyên dùng đảm bảo yêu cầu bảo quản khi vận chuyển, phân phối đến nơi tiêu thụ
- Chủ cơ sở hoặc người phụ trách kỹ thuật được cơ quan thú y có thẩm quyền cấp Chứng chỉ hành nghề theo qui định
Quy định quản lý và kinh doanh thuốc thú y căn cứ vào các thông tư và quyết định sau:
Sản xuất, kinh doanh thuốc thú y
- Thông tư số 51/2009/BNNPTNT ngày 21/8/2009 quy định kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thuốc thú y, chế phẩm sinh học,
vi sinh vật, hoá chất dùng trong thú y
Trang 18- Thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/3/2011 quy định kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản.
- Thông tư số 07/2012/TT-BNNPTNT ngày 13/02/2012 quy định thủ tục đăng ký, kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP)
Kiểm tra chất lượng thuốc thú y
- Quyết định số 72/2007/QĐ-BNN ngày 06/8/2007 quy định về việc kiểm tra chất lượng thuốc thú y;
- Quyết định số 100/2007/QĐ-BNN ngày 03/12/2007 về việc bổ sung, sủa đổi Quyết định số 72/2007/QĐ-BNN ngày 06/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định kiểm tra chất lượng thuốc thú y;
- Thông tư số 02/2009/TT-BNN ngày 14/01/2009 hướng dẫn thủ tục thu hồi và xử lý thuốc thú y;
Quản lý phân phối lưu hành
- Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng;
- Thông tư số 03/2012/TT-BNNPTNT ngày 16/1/2012 về việc sửa đổi bổ sung Thông tư 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng
- Thông tư số 28/2013/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2013 về việc ban hành Danh mục thuốc thú y, vắc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y được phép lưu hành tại Việt Nam
- Thông tư số 25/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/6/2012 về việc ban hành Danh mục thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam
2.2 Cơ sở thực tế
2.2.1 Hệ thống cung ứng vacxin trong chăn nuôi thế giới
Hầu hết các nước trên thế giới, hệ thông thú y được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến cấp xã (Cơ quan thú y cấp trung ương bổ nhiệm lãnh đạo
cơ quan thú y cấp tỉnh, cơ quan thú y cấp tỉnh bổ nhiệm lãnh đạo cơ quan thú y cấp huyện, cơ quan thú y cấp huyện bổ nhiệm lãnh đạo cơ quan thú y cấp huyện,
Trang 19cơ quan thú y cấp xã, cơ quan thú y cấp xã tuyển chọn, trả lương cho thú y thôn, bản)
Tại Ấn độ, hệ thống thú y được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến cấp xã, do vậy với số lượng gần 600 triệu trâu, bò, dê, cừu được chăn nuôi tập trung, chăn thả tại Ấn Độ (Trong đó, đa sood là chăn nuôi nhỏ lẻ và di chuyển từ vùng này sang vùng khác) đã được kiểm soát tốt về dịch bệnh, chủ động tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm cho gia súc, xây dựng được nhiều vùng an toàn dịch bệnh LMLM và các bệnh truyền nhiễm khác Hiện Ấn Độ đã XK thịt trâu đến 65 nước trên thế giới
Ở Hàn Quốc, quản lý nhà nước về thú y còn được chia thành 2 Cục là Cục Phòng chống dịch bệnh cho động vật và Cục Quản lý ATVSTP thú y thuộc Bộ Nông Nghiêp Ở CHLB Đức có viện vệ sinh thú y thực phẩm & bảo vệ người tiêu dùng Đây là viện liên bang lớn hơn cả viện vi trùng và viện siêu vi trùng thú y
Tổ chức y tế thế giới (WHO) tôn vinh thú y công đồng là một bộ phận của
y tế cộng đồng Thú y cộng đồng chăm lo về thể chất và tinh thần cho con người thông qua toàn thể các hoạt động của ngành thú y……
Một số tổ chức quốc tế mà thú y Việt Nam là thành viên như tổ chức thú
y thế giới (OIE) là tổ chức quốc tế có quyền lực trong việc ban bố danh mục các dịch bệnh được phép hay không được phép buôn bán, giết thịt và sử dụng phụ phẩm cho chăn nuôi, quản lý dịch bệnh toàn cầu
Hiệp định kiểm dịch đông thực vật (SPS) của tổ chức thương mại thế giới (WTO) là hiệp định quy định những biện pháp kiểm dịch mà các nước tham gia buộc phải tuân thủ
Các quy chuẩn, tiêu chuẩn ban hành cho sản phẩm động vật đều quy định bới tổ chức tiêu chuẩn hóa (Codex) của tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc(FAO) và Y tế thế giới (WHO) Quy định các nước buôn bán thực phẩm phải tham thảo và áp dụng
Nhiệm vụ thực hiện các quy định trên thuộc ngành thú y và hệ thống thú y Việt Nam cần phải tuân thủ thông lệ quốc tế trong xu thế hội nhập sâu rộng vào
hệ thống kinh tế quốc tế
Nhân đây chung ta có thể nêu một ví dụ điển hình là năm 2006, EU đã đưa danh sách Việt Nam ra khỏi các nước được phép XK mật ong vào thị trường
Trang 20EU với lý do là hệ thống kiểm soát thú y về VSATTP của Việt Nam về mật ong chưa đáp ứng được êu cầu của EU.
Trong gần 7 năm cục thú y đã rất kiến trì thực hiện các yếu cầu phía EU đưa ra, qua nhiều lắm phái đoàn EU sáng kiểm tra và đánh giá, cuối cùng vào đầu năm 2013, EU đã công nhận hệ thống kiểm soát ATVSTP của chúng ta đạt được những yêu cầu của EU
Trang 212.2.2 Hệ thống cung cấp vacxin cho chăn nuôi ở Việt Nam
Hệ thống cũng cấp vacxin thú y cho chăn nuôi ở Việt Nam có những chuyển biến rất lớn Hiện nay, hầu hết các loại vắc xin dùng cho phòng dịch bệnh gia súc, gia cầm mà các trang trại chăn nuôi đang sử dụng đều là sản phẩm sản xuất ở nước ngoài Các danh nghiệp và cơ quan trong nước đã nghiên cứu, nhưng do hạn chế về công nghệ nên chưa có nhiều sản phẩm được đưa vào sản xuất Sự kết hợp giữa các nhà khoa học và nhà sản xuất lại chưa chặt chẽ, thiếu sự gắn kết nên kết quả nghiên cứu không có địa chỉ ứng dụng Theo Cục Thú y (Bộ NN&PTNT), tổng đàn lợn của nước ta là 26,7 triệu con, đàn gia cầm
là 340 triệu con Mỗi năm, cả nước có khoảng 200 nghìn con gia cầm và hơn
150 nghìn con gia súc mắc bệnh Đặc biệt, đối với dịch cúm gia cầm, bắt đầu từ năm 2011 xuất hiện các nhánh virút mới với 3 nhóm (A, B, C) lưu hành trong cả nước, không chỉ làm cho công tác phòng chống dịch bệnh trở nên phức tạp mà còn khiến cho số lượng vắc xin hiện có bị giảm sút nghiêm trọng Hiện việc quản lý và cung ứng vắc xin được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu là Nhà nước và các DN trong đó Nhà nước quản lý và chi phối việc cung ứng các loại vắc xin như cúm gia cầm và lở mồm long móng (LMLM) thông qua các chương trình quốc gia (năm 2009-2010, cả nước đã sử dụng 252 triệu liều vắc xin cúm A/H5N1 và năm 2011-2012 là 163 triệu liều vắc xin A/H5N1 Đối với vắc xin LMLM, trung bình mỗi năm sử dụng 7-8 triệu liều )
Việc không chủ động được nguồn cung cấp, phụ thuộc vào nhập khẩu là khó khăn lớn, trường hợp nguồn vắc xin cung cấp bị gián đoạn sẽ ảnh hưởng ngay đến kế hoạch tiêm phòng và việc miễn dịch toàn đàn "Nếu như thời điểm đó đang bùng phát dịch sẽ khó khăn trong việc tìm vắc xin thay thế phù hợp khi chủng virút gây bệnh có biến đổi Mặt khác, việc phân bố các chủng virút gây bệnh ở mỗi địa phương khác nhau nên không dễ dàng tìm kiếm một loại vắc xin phù hợp với toàn quốc, trong khi giá thành sản phẩm thay đổi theo tỷ giá ngoại tệ
Hiện cả nước có 109 cơ sở sản xuất thuốc thú y, tuy nhiên, chỉ có 5 cơ sở đăng ký sản xuất vắcxin với 86 loại vắcxin Lượng vắcxin sản xuất trong nước chỉ chiếm gần 5% so với tổng số các sản phẩm vắcxin đang được phép lưu hành Trong khi đó, hiện có tới gần 2.000 sản phẩm vắcxin của 209 công ty từ 36 quốc gia trên thế giới được phép lưu hành tại Việt Nam.Lãnh đạo Cục Thú y cho rằng, việc lệ thuộc quá lớn vào nguồn vắcxin nhập ngoại khiến hiệu quả của công tác phòng chống dịch không cao Do không chủ động được nguồn cung
Trang 22vật nuôi trong nước cũng bị ảnh hưởng Mặt khác, việc tìm vắcxin thay thế khi chủng virút bệnh biến đổi cũng sẽ gặp khó khăn Để khắc phục những yếu kém trong sản xuất vắcxin trong nước, chính phủ ban hành các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh phân phối vắcxin phù hợp với từng giai đoạn và yêu cầu của công tác phòng chống dịch Cụ thể, doanh nghiệp sản xuất vắcxin (đặc biệt là đối với dự án thuộc chương trình nghiên cứu vắcxin phòng chống dịch bệnh khẩn cấp) sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về vốn, về đất đai Mặt khác, Nhà nước cũng sẽ có chính sách ưu tiên sử dụng đối với vắcxin sản xuất trong nước trong các chương trình tiêm phòng sử dụng ngân sách nhà nước Chỉ khi nào trong nước không sản xuất được mới sử dụng vắcxin ngoại.
2.2.3 Tình hình phân phối và sử dụng vacxin cho chăn nuôi trên địa bàn tỉnh
Tỉnh Thừa Thiên Huế là một tỉnh mà người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp, nên có số hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm tương đối lớn Nhìn chung trong địa bàn toàn tỉnh có 23 trang trại chăn nuôi gia súc,gia cầm; 217 nghìn con lơn,
2007 nghìn con gia cầm…… với các loại quy mô chăn nuôi khác nhau như: trang trại, gia trại hay quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ
Trước tình hình chăn nuôi như vậy, để quản lý tốt đàn gia súc, gia cầm, thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do dịch bệnh gây ra Đồng thời quản lý, giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm tới thôn, xóm, hộ gia đình Nhà nước đã có các kế hoạch tiêm phòng vacxin cho gia súc, gia cầm vụ Xuân, vụ thu trên địa bàn tỉnh hàng năm để bảo đảm dịch bệnh không bùng phát
Tại đây các hộ chăn nuôi theo quy mô trang trại hoặc quy mô gia trại luôn
tự chủ động trong việc phòng chống dịch bệnh bằng các biện pháp tiêm phòng vacxin các loại và vệ sinh chuồng trại.Ngược lại, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ hoàn toàn của Nhà nước, trong khi công tác tiêm phòng hiện nay chỉ được hỗ trợ một phần tiền vaccin Số khác muốn chủ động tiêm phòng vaccin nhưng không biết tiêm ở đâu
Hiện việc quản lý và cung ứng vắc xin tại tĩnh cũng được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu là Nhà nước và các DN trong đó Nhà nước quản lý và chi phối việc cung ứng các loại vắc thông qua các chương trình quốc gia (năm 2009-2010, cả nước đã sử dụng 252 triệu liều vắc xin cúm A/H5N1 và năm 2011-2012 là 163 triệu liều vắc xin A/H5N1 Đối với vắc xin LMLM, trung bình mỗi năm sử dụng 7-8 triệu liều )
Trang 23PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng của nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu này bao gồm:
- Các hộ nông dân tham gia chăn nuôi gia súc, gia cầm tại xã Quảng Vinh
- Cán bộ xã, cán bộ trạm thú y huyện, người am hiểu
- Các cơ sở kinh doanh thuốc và vacxin thú y trên địa bàn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Xã Quảng Vinh, Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiện Huế
- Phạm vi thời gian: Tìm hiểu thông tin từ năm 2012 - 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Mô tả hệ thống cung cấp vacxin cho chăn nuôi của người dân tại Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tình hình chăn nuôi của các hộ dân tại xã
- Hệ thống cung ứng vacxin cho hoạt động chăn nuôi
- Vai trò của từng tác nhân trong hệ thống cung ứng vacxin tại xã
- Cơ chế quản lý, giám sát hệ thống cung ứng vacxin
- Điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống cung ứng vacxin
3.3.2 Đánh giá mức độ sử dụng vacxin cho hoạt động chăn nuôi của người dân tại Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tình hình dịch bệnh tại địa phương, công tác phòng chống dịch bệnh
- Đánh giá mức độ sử dụng vacxin theo quy mô của hộ và theo loại vacxin
- Đánh giá mức độ hài lòng về cơ chế cung ứng vacxin, khả năng tiếp cận các loại vacxin qua các kênh thông tin
3.3.3 Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng vacxin trong hoạt động chăn nuôi của người dân tại xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng vacxin cho
Trang 243.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
- Chọn điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiện Huế
+ Địa điểm nghiên cứu được chọn đáp ứng các tiêu chí:
Có số hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm lớn
Có giao thông đi lại thuận tiện
- Chọn mẫu nghiên cứu: Hộ điều tra được chọn ngẫu nhiên có phân loại gồm 45 hộ Trong đó 15 hộ với quy mô chăn nuôi vừa và nhỏ ( số lượng con gia súc dưới 20 con, gia cầm dưới 1.000 con trên lứa) , 15 hộ quy mô gia trại ( số lượng con gia súc từ 20 con trở lên , gia cầm từ 1.000 con/lứa trở lên) và 15 hộ quy mô trang trại ( số lượng gia súc từ 100con/lứa, gia cầm 3.000con/lứa)
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập thông tin thứ cấp
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã
- Tài liệu về công tác tiêm phòng vacxin tại xã
- Tài liệu về Vacxin tại trạm Thú y huyện
- Các báo cáo của huyện, xã và thôn, các tài liệu sách, báo, internet
* Thu thập thông tin sơ cấp
Trang 253.4.3 Phương pháp phân tích xủ lý số liệu:
Xử lý theo phương pháp định tính từ các thông tin thu được trong phỏng vấn người am hiểu, và một số thông tin trong bảng hỏi bán cấu trúc
Xử lý theo phương pháp định lượng: số liệu cấp hộ và cấp cộng đồng đã được nhập và sử lý bằng phần mềm Excell
Trang 26PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.2 Vị trí địa lý
Xã Quảng Vinh thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Nằm trong vùng đồng bằng lưu vực sông Bồ, có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ
và là vùng trọng điểm lúa của huyện
Bản đồ 4.1: Bản đồ hành chính huyện Quảng Điền – Thừa Thiên Huế
Xã Quảng Vinh có tỉnh lộ 11A đi ngang qua, địa bàn tương đối rộng kéo dài từ phong Hiền, huyện Phong Điền đến giáp thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền
Do đó rất thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa với trung tâm hệ
lỵ, trung tâm thành phố Huế và các vùng phụ cận Tuy nhiên, do địa hình thấp trũng nên hằng năm xã Quảng Vinh thường bị ngập úng vào mùa mưa làm ảnh hưởng lớn tới việc sản xuất nông nghiệp, đời sống của người dân
Trang 274.1.1.2 Điều kiện thời tiết, khí hậu
Xã Quảng Vinh nằm gọn trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu có hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên không khí nóng và oi bức Mùa mưa từ tháng 9 năm trước đến tháng riêng năm sau, trong đó từ tháng 9 - 10 thường có lũ lụt Tháng 11 mưa giai dẳng, nhiệt độ trung bình là 250c, nhiệt độ cao nhất là 39.90c và lúc thấp nhất là 8.80c, các tháng 7,8,9,10 thường hay có bão
Vì vậy, Quảng Vinh luôn phải đối mặt với tình trạng “ Chưa mưa đã úng, chưa nắng đã hạn” ở một số vùng gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất và
đời sống của người dân nơi đây Do đó, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng chống và có kế hoạch sản xuất thích hợp để hạn chế thiệt hại từ thiên tai
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã năm 2014
Đặc điểm cơ bản của vùng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất tại địa phương, bao gồm các chỉ tiêu cần được xem xét như: tổng số hộ, loai hộ, số lao động, diên tích đất sản xuất, gia trị sản xuất theo ngành Để hiểu rõ về đặc điểm vùng ta tiến hành phân tích các chỉ tiêu được thể hiện ở bảng 4.1:
Bảng 4.1 Đặc điểm của vùng nghiên cứu
( Báo cáo kinh tế xã hội xã Quảng Vinh, 2014)
Trang 28Kết quả nghiên cứu bảng 4.1 cho thấy, xã Quảng Vinh có đội ngũ lao động dồi dào, hộ nghèo chiểm tỷ lệ rất ít, với diện tích đất sản xuất lớn và giá trị sản xuất của các ngành tương đối cao thể hiện như:
Số người trong độ tuổi lao động khá cao là 6.000 người ( chiếm 58,27% tổng số dân), tạo điều kiện tốt cho việc phát triển kinh tế Hầu hết số người trong
độ tuổi lao động của xã đều tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệ, số ít còn lại tham gia vào lĩnh vực phi nông nghiệp như buôn bán, sản xuất TTCN và làm ăn tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp
Xã có 2.942 hộ và 14 thôn, trong đó hộ nghèo và cận nghèo chiếm tỷ lệ rất ít chỉ với 13,92%, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ hộ khá 86.574% Điều này cho thấy hầu hết các hộ dân ở xã có điều kiện kinh tế khá giả, với mức thu nhập
ổn định
Về giá trị sản xuất của các ngành, theo số liệu thống kê cho thấy ngành dịch vụ - thương mại chiếm tỷ lệ cao nhất 36.93%, đứng thú hai là nông nghiêp chiếm 34,03%, cuối cùng là TTCN – xây dựng chiếm 70% Nguyên nhân của sự khác biệt này là do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chính sách đầu tư phát triển đã làm giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành dịch
Trang 29Bảng 4.2: Đặc điểm nhân khẩu, lao động và trình độ học vấn của các hộ điều
tra năm 2014
Chỉ tiêu ĐVT nhỏ lẻ(n=15) Chăn nuôi trại(n=15) Gia trại(n=15) Trang
Tuổi bình quân của chủ hộ Tuổi 55,27 50,07 45
Độ tuổi bình quân của chủ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ cao nhất: 55.27 tuổi, thứ hai là gia trại 50.07 tuổi, cuối cùng là trang trại 45 tuổi Mức chênh lệch về độ tuổi giữa các loại chủ hộ với nhau là :5 tuổi, độ tuổi của chủ hô có ảnh hưởng phần nào đến khả năng tiếp cận và đầu tư cho hoạt động sản xuất của các hộ chăn nuôi.Về trình độ học vấn của chủ hộ thì trình hộ học vấn tăng dần từ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đến gia trại và cuối cùng là trang trại
Tất cả các chỉ tiêu trên cho thấy: hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có số lao động và số khẩu lớn nhất, kết hợp với trình độ học vấn lại thấp nhất nên việc tiếp cận cái mới và đầu tư vào hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn Hầu như nguồn sinh
kế của các hộ này không tập chung vào một hoạt động sản xuất mà phân tán thành nhiều hoạt động như chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán Còn các hộ gia trại
và trang trại có số khẩu và lao động tương đương nhau nhưng trình độ học vấn của trang trại cao hơn, độ tuổi trung bình của chủ hộ thấp hơn là một trong các yếu tố khác biệt làm ảnh hưởng đến mức độ đầu tư và sản xuất của hai loại hộ này
Trang 304.2.2 Cơ cấu thu nhập của các hộ khảo sát
Thu nhập của các hộ dân tại xã Quảng Vinh chủ yếu qua các hoạt động như: Chăn nuôi, trồng trọt và các hoạt động khác( buôn bán, làm nón, làm miến, làm thuê ) Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra được thể hiện cụ thể qua bảng 4.3:
Bảng 4.3: Nguồn thu nhập của các hộ điều tra năm 2015
Giá trị (ĐVT:1000)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (ĐVT:1000) Tỷ trọng (%)
Các nhóm hộ này với nguồn thu nhập từ các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt và từ các hoạt động khác có tỷ trọng(%) khác nhau, từ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nguồn thu nhập của loại hộ này phân tán từ nhiều hoạt động ( nuôi gà – vịt chiếm 8,09 % tỷ trọng, nuôi lợn 54,19% tỷ trọng, Trồng Lúa 22,05 tỷ trọng, Trồng màu 5,88 tỷ trọng, Khác 9,79 tỷ trọng), chăn nuôi là nguồn thu chiếm tỷ trọng (%) cao nhất, nhưng thực tế cho thấy tất cả các hoạt động trên của hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đều có vị trí quan trọng như nhau trong sinh kế của loại hộ này, chưa
có sự tập chung đầu tư vào một hoạt động sản xuất để mang lại nguồn thu nhập chính, Loại nhóm hộ gia trại, theo tỷ trọng (%) thu nhập của nhóm hộ này đã
có sự phân phân biệt rõ ràng về nguồn thu nhập từ các loại hoạt động sinh kế, trong đó nguồn thu nhập từ chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao nhất 98,28 % tỷ trọng, còn nguồn thu thừ trồng trọt chỉ chiếm tỷ trọng rất ít 1,72 % tỷ trọng thu nhập, Điều này cho thấy loại hộ gia trại đã đầu tư và tập chung vào hoạt động chăn nuôi tạo nên nguồn thu nhập chính của hộ, Riêng loại hộ trang trại, nguồn thu
Trang 31nhập của loại hộ này từ một nguồn chăn nuôi, các hộ này tập trung vào hoạt động chăn nuôi với quy mô lớn, đầu tư xây dựng chuồng trại, kỹ thuật, thú y và thức ăn công nghiệp theo hướng chăn nuôi công nghiệp hay bán công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, Nhìn chung nguồn thu nhập của các loại hộ có xu hướng giảm dần hoạt động khác và trồng trọt, thay vào đó là tập trung vào hoạt động chăn nuôi đi từ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, gia trại và trang trại,
4.2.4 Quy mô chăn nuôi của các hộ khảo sát
Việc tìm hiểu về quy mô chăn nuôi các các hộ nhằm nắm bắt được thực trạng và khả năng đầu tư của các hộ Kết quả của việc điều tra về các chỉ tiêu này thu được thể hiện ở bảng:
Bảng 4.4: Số lượng đàn gia súc, gia cầm của các hộ điều tra
Chỉ tiêu Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ (n=15) trại(n=15) Gia trại(n=15) Trang
Số con gia súc, gia cầm
(Con/lúa) Gà – vịtLợn 5389 18.950490 39.2001.810
( Số liệu phỏng vấn hộ năm 2015)
Qua bảng số liệu ta thấy số lượng đàn gia súc, gia cầm của ba nhóm hộ có
sự khác biệt rõ rệt; trong đó hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có số lượng con/lứa ít nhất(lợn
53 con, gà - vịt 89 con) điều này cho thấy mức độ đầu tư cho chăn nuôi của các
hộ này còn thấp, chăn nuôi chưa được chứ trọng và chưa được coi là hoạt động sinh kế chính của hộ; gia trại có số lượng con/lứa đứng thứ hai và cao hơn nhiều
so với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ( lợn 490 con, gà - vịt 18.950 con) điều này cho thấy chăn nuôi đã thực sự trở thành hoạt động sinh kế chính của hộ và đã được chú trọng đầu tư; còn trang trại có số lượng con/ lứa lớn nhất (lợn 1.810 con, gà - vịt 39.200 con), điều này cho thấy sự tập trung vào hoạt động chăn nuôi của các loại hộ này theo hướng chuyên môn hóa cao, Có đầu tư phát tiển chăn nuôi theo hướng hiệu quả và bền vững an toàn dịch bệnh,
4.2.5 Phương thức chăn nuôi của các hộ khảo sát
Bảng 4.5: phương thức chăn nuôi của các hộ điều tra
Phương thức Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ (n=15) Gia trại(n=15) Trang trại(n=15)