1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc

61 452 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 10,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cây lạcxuất hiện nhiều đối tượng dịch hại nhưng trong đó gây ảnh hưởng đáng kể đếnnăng suất và phẩm chất là yếu tố bệnh hại, trong đó có nhiều bệnh rất khó phòngtrừ như các bệnh thu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Nông học

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

Phân lập, tuyển chọn và nghiên cứu hoạt lực của một

số chủng vi khuẩn có khả năng phân giải cellulose.

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Lâm Tếu

Thời gian thực tập : Từ tháng 9/2014 đến 05/2015

Địa điểm thực tập : Khoa Nông học

Giáo viên hướng dẫn : ThS Lê Thị Hương Xuân

Bộ môn : Sinh lý – Sinh hóa Thực vật

NĂM 2015

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng nổ lực của bảnthân, tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các anh chị, bạn bè vàngười thân

Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo TS Lê Như Cương đã trựctiếp tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành báo cáonày

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô giáo trường Đại học Nông LâmHuế đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Trong quá trình thực hiện đề tài, do vốn kiến thức chuyên môn và năng lựccòn hạn chế nên trong khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậyrất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và các bạn để đềtài được hoàn chỉnh hơn

Huế, ngày 20 tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thương

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

BẢNG 2.1 DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƯỢNG LẠC TRÊN THẾ GIỚI TỪ 2010-2013 12

BẢNG 2.2 DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƯỢNG LẠC Ở VIỆT NAM TỪ 2010 ĐẾN 2013 13

BẢNG 4.1 HIỆU QUẢ ỨC CHẾ SINH TRƯỞNG SỢI NẤM SCLEROTIUM ROLFSII CỦA CÁC DÒNG VI KHUẨN TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO (%) 28

BẢNG 4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DÒNG VI KHUẨN ĐẾN TỶ LỆ MỌC 30

BẢNG 4.3 CHIỀU CAO THÂN CHÍNH Ở CÁC CÔNG THỨC XỬ LÝ VI KHUẨN 32

BẢNG 4.4 CHIỀU DÀI CÀNH CẤP 1 Ở CÁC CÔNG THỨC XỬ LÝ VI KHUẨN 34

BẢNG 4.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DÒNG VI KHUẨN ĐẾN SỐ LÁ TRÊN THÂN CHÍNH 35

BẢNG 4.6 KHỐI LƯỢNG TƯƠI VÀ KHỐI LƯỢNG KHÔ CỦA LẠC LÂY NHIỄM CÁC DÒNG VI KHUẨN KHÁC NHAU SAU 42 NGÀY GIEO (G/5CÂY) 37

BẢNG 4.7 KHẢ NĂNG HẠN CHẾ NẤM SCLEROTIUM ROLFSII TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CỦA CÁC DÒNG VI KHUẨN PHÂN LẬP TỪ RỄ LẠC (%) 38

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

HÌNH 4.1 CHỈ SỐ BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC TRẮNG TRÊN MỘT SỐ CÔNG THỨC LÂY NHIỄM CÁC DÒNG VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CÓ LÂY NHIỄM BỆNH 39 HÌNH 4.2 TỶ LỆ CÂY CHẾ DO BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC TRẮNG TRÊN MỘT SỐ CÔNG THỨC LÂY NHIỄM CÁC DÒNG VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CÓ LÂY NHIỄM BỆNH 39

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 3

DANH MỤC HÌNH 4

MỤC LỤC 5

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 T ÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1 1.2 M ỤC ĐÍCH , YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

2 1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

3 1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

1.4 Đ IỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI

3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 T ỔNG QUAN VỀ CÂY LẠC

4 2.1.1 Nguồn gốc, phân bố 4

2.1.2 Giá trị của cây lạc 5

2.1.3 Ảnh hưởng của bệnh hại đến sản xuất lạc 7

2.1.4 Giới thiệu chung về bệnh héo rũ gốc mốc trắng 9

2.1.5 Giới thiệu chung về nấm Sclerotium rolfsii 10

2.2 T ÌNH HÌNH SẢN XUẤT LẠC

11 2.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 11

2.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 13

2.3 N HỮNG NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

14 2.3.1 Những nghiên cứu trong nước 14

2.3.2 Những nghiên cứu trên thế giới 16

2.3.3 Phòng trừ 17

2.3.4 Tổng quan về vi khuẩn đối kháng 19

2.4 C Ơ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

20 2.4.1 Cơ sở khoa học của đề tài 20

2.4.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 21

PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 V Â ̣ T LIÊ ̣ U NGHIÊN CƯ ́ U

23 3.2 Đ ỊA ĐIỂM VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

23 3.3 N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU

23 3.4 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

23 3.4.1 Phân lập vi khuẩn đối kháng 23

3.4.2 Tuyển chọn các dòng vi khuẩn đối kháng trong điều kiện in vitro 24

3.4.3 Đánh giá khả năng kháng nấm trong điều kiện in vitro 24

3.4.4 Đánh giá hiệu lực đối kháng trong điều kiện nhà lưới 25

3.4.5 Đánh giá ảnh hưởng của các vi khuẩn lây nhiêm lên một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của lạc 27

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 K HẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA VI KHUẨN TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM

27

Trang 6

4.2 Ả NH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG GIAI ĐOA ̣ N CÂY CON VA ̀ KHA ̉ NĂNG HA ̣ N CHÊ ́ BÊ ̣ NH HE ́ O RU ̃ GÔ ́ C

40

PHẦN 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHẦN 7 PHỤ LỤC 44

Trang 7

Phần 1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây thân thảo, thuộc họ đậu (Fabaceae)

có nguồn gốc từ Nam Mỹ Lạc là loại cây được trồng phổ biến ở nước ta vànhiều quốc gia trên thế giới với hơn 100 quốc gia khác nhau (Ngô Thế Dân,2002) Bộ phận sử dụng quan trọng nhất của lạc là hạt Trong hạt lạc có hàmlượng dinh dưỡng cao bao gồm nhiều chất béo, nhiều dạng đạm dễ tiêu và một

số chất dinh dưỡng khác rất cần thiết cho con người Trong đó chất béo chiếm tỉ

lệ trung bình là 50%, nhiều chất đạm với tỉ lệ trung bình là 20% (có các đạm dễtiêu như axit amin), hạt lạc chứa tinh bột khoảng 15%

Bên cạnh giá trị to lớn về dinh dưỡng cho con người và là nguyên liệu chocác ngành khác, cây lạc còn là cây quan trọng nhất trong hệ thống luân canh câytrồng đạt hiệu quả cao vì nó còn có tác dụng cải tạo đất rất tốt Lạc có khốilượng sinh khối cao, thân lá lạc là nguồn phân xanh quan trọng, có thể cày vùingay tại ruộng hoặc ủ làm phân Điều đặc biệt quan trọng là ở rễ lạc có nốt sần

do vi khuẩn cố định đạm cộng sinh hình thành Vi khuẩn trong nốt sần có tácdụng cố định niơ trong không khí thành dạng đạm cây trồng sử dụng được cungcấp cho cây trồng và bổ sung chất dinh dưỡng cho đất, giúp cải tạo đất Chính vìvậy, cây lạc được dùng làm cây xen canh, luân canh với các loại cây trồng khác,nhất là các cây cần nhiều đạm

Hiện nay phát triển cây lạc đang được nhà nước ta quan tâm và có nhiều dự

án nhằm nâng cao giá trị và diện tích để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về tiêudùng trong nước cũng như xuất khẩu Song song với việc thâm canh tăng năngsuất thì sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh ngày càng nghiêm trọng, gây ảnhhưởng đến năng suất và phẩm chất của lạc, gây thiệt hại về kinh tế Trên cây lạcxuất hiện nhiều đối tượng dịch hại nhưng trong đó gây ảnh hưởng đáng kể đếnnăng suất và phẩm chất là yếu tố bệnh hại, trong đó có nhiều bệnh rất khó phòngtrừ như các bệnh thuộc nhóm bệnh héo rũ (héo rũ gốc mốc đen, héo rũ gốc mốctrắng, héo rũ tái xanh) Các bệnh này ngày càng trở nên nguy hiểm hơn, gây chếtcây trên đồng ruộng tỷ lệ cao

Trong các nguyên nhân gây bệnh héo chết cây lạc, nấm Sclerotium rolfsii

là loại gây hại phổ biến và có thể gây thiệt hại 10 – 25% năng suất, cá biệt có thể

lên đến 80% năng suất (Mehan et al 1994) Ở Mỹ, nấm S rolfsii là tác nhân gây

thiệt hại lớn nhất trên cây lạc ở Bắc Carolina, Georgia (Kemerait, 2008) Ở ThừaThiên Huế, bệnh gây chết khoảng 3-5% cây trên đồng ruộng (Lê Như Cương,2004) Một số vùng ở Miền trung Việt nam, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên đến

Trang 8

25% (Le et al., 2012).

Thừa Thiên Huế có khí hậu giao thoa giữa hai miền Bắc và Nam của Việtnam nên tương đối phức tạp Với đặc điểm ở đây là nóng, ẩm nên thuận lợi chobệnh hại phát sinh, phát triển Bên cạnh đó công tác phòng trừ các loại bệnh nàycủa người dân ở đây cũng chưa được hợp lí, còn nhiều hạn chế, quá lạm dụngthuốc hóa học nên dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng cho môi trường, conngười và sự bùng phát dịch hại

Nấm gây bệnh S rolfsii có phạm vi ký chủ rất rộng với số lượng trên 500

loại khác nhau (APSnet, 2005), thêm vào đó nấm có thể tồn tại trong đất dướidạng hạch nấm với thời gian dài có thể lên đến 3 năm Trên cây lạc nấm có thểgây hại các bộ phận trên và dưới mặt đất, do đó công tác quản lý bệnh hại cànggặp nhiều khó khăn Thực tế cho thấy việc áp dụng một biện pháp riêng lẻ trongquản lý bệnh sẽ không mang lại hiệu quả cao và ổn định Một số nghiên cứu chothấy, để hạn chế bệnh hại có hiệu quả, phải áp dụng một hệ thổng quản lý tổnghợp gồm nhiều biện pháp khác nhau như biện pháp canh tác, vật lý, hoá học, vàsinh học Trong các biện pháp này biện pháp sinh học là một trong những hướngmới và mang lại hiệu quả lâu dài

Một trong những hướng của biện pháp sinh học là sử dụng các vi sinh vậtđối kháng bao gồm nấm và vi khuẩn Những tác nhân này có thể trực tiếp tiêu

diệt sợi nấm, hạch nấm S rolfsii hoặc hạn chế sự pháp triển, gây bệnh của nấm

S rolfsii thông qua các chất trao đổi, hoặc tác động kích thích sinh trưởng và

hình thành tính kháng bệnh cho cây Trong những năm qua Le và cs đã có

những nghiên cứu bước đầu về vi khuẩn đối kháng với nấm S rolfsii và đã có

một số kết quả bước đầu có ý nghĩa Nhằm bổ sung nguồn vi khuẩn cho nghiêncứu về cơ chế đối kháng, kích thích sinh trưởng và hạn chế bệnh hại lạc do nấm

S rolfsii bởi các chế phẩm vi khuẩn đối kháng, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở Thừa Thiên Huế đối kháng với

nấm Sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc”.

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Tìm kiếm được chủng vi khuẩn bản địa có khả năng đối kháng nấm S.

rolfsii, hạn chế bệnh thối trắng và kích thích sinh trưởng lạc để cung cấp cho các

nghiên cứu về bản chất tính đối kháng, kích thích sinh trưởng cây lạc và pháttriển chế phẩm sinh học dùng trong sản xuất lạc mang lại hiệu quả cao

1.2.2 Yêu cầu

- Có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết về thực tập vi sinh vật trong

Trang 9

điều kiện phòng thí nghiệm và trong vườn lưới.

- Lấy được các mẫu cây lạc cần thiết đễ phân lập vi khuẩn đối kháng,

- Phân lập và giữ được nguồn nấm S rolfsii và nguồn vi sinh vật đối kháng

từ các vùng trồng lạc trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế để phục vụ quá trìnhthực hiện đề tài nghiên cứu

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Cung cấp các dẫn liệu khoa học giúp cho nghiên cứu và ứng dụng vikhuẩn đối kháng hạn chế bệnh thối trắng thân lạc

- Cung cấp nguồn vi khuẩn đối kháng bản địa vùng rễ lạc cho các nghiên

cứu về cơ chế đối kháng với nấm S rolfsii và nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn đối

kháng trong hạn chế bệnh thối trắng hại lạc

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả đề tài sẽ cung cấp nguồn vi khuẩn có ích để phát triển các chếphẩm sinh học trong sản xuất lạc nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường

1.4 Điểm mới của đề tài

Phân lập được các dòng vi khuẩn bản địa ở vùng rễ lạc để ứng dụng tronghạn chế bệnh hại lạc

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về cây lạc

2.1.1 Nguồn gốc, phân bố

Loài lạc trồng (Arachis hypogaea) thuộc họ đậu: Fabacaea, chi: Arachis là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao [12], [14] Lạc được mô tả như

một loài thực vật là do Linnaeus công bố năm 1753 và trong một thời gian dài

người ta chỉ biết 1 loài trong chi Arachis, tức là loại lạc trồng (Arachis

hypogaea) Năm 1841 (gần 90 năm sau), BenTham mô tả 5 loài dại phát hiện ở

Bzaxin và đã xếp chúng thành 3 chi là: chi Arachis, chi Stylosanthes và chi

Chapmannia hợp thành tộc Hedysareae thuộc họ đậu Leuguminosaea (nay là họ Fabacae) [14].

Qua nhiều thập kỷ, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như khảo cổ học,thực vật học, văn học dân gian đã ghi nhận cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mĩ

[11] Theo Krapovikat (1986) qua chuyến đi thu thập giống lạc khắp Nam Mỹ

đã viết rằng: "Có thể chắc chắn là Arachis hypogaea có nguồn gốc từ Bolivia tại

các vùng đồi thấp và chân núi của dãy Anđơ" Tại đây ông còn thấy sự đa dạng,

phong phú của các loại sản phẩm phụ của hypogaea cùng với các cách sử dụng

lạc khác nhau (làm bơ, nước giải khát) Giả thiết của Krapovikat cho tới nay vẫn

là giả thiết có cơ sở khoa học hơn cả [5]

Hiện nay, lạc được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới, nhất là ở châu Áchiếm 63,17% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc của thế giới [12] Ở ViệtNam nhiều tỉnh đồng bằng và trung du đều có trồng lạc nhưng sản lượng chưanhiều (hàng năm khoảng vài chục đến 100.000 tấn) chủ yếu làm thực phẩm, một

số ít làm thuốc, dùng trong công nghiệp và xuất khẩu [11]

Ở Việt Nam cây lạc được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau: Vùngtrung du Bắc bộ, cây lạc được trồng chủ yếu trên đất bạc màu như ở Bắc Giang,Phú Thọ, Vĩnh Phúc; vùng đồng bằng Bắc bộ thì trồng trên chân bãi ven sông,chân đất màu hay chân đất màu - lúa; vùng Trung bộ như Thanh Hóa, Nghệ An,

Hà Tĩnh lạc được trồng trên đất cát ven biển là chính; vùng Nam bộ và vùng TâyNguyên lạc được trồng trên đất cát, đất đỏ và đất đen; vùng Đông Nam bộ lạcđược trồng chủ yếu trên các chân đất cát, đất đỏ và đất đen [17]

Trang 11

2.1.2 Giá trị của cây lạc

- Giá trị sử dụng trong đời sống con người

Sản phẩm chính của lạc là hạt được sử dụng rộng rãi để làm thực phẩm vànguyên liệu cho công nghiệp Hạt lạc cung cấp tỉ lệ đáng kể thành phần chất béo

và protein của khẩu phần ăn hằng ngày cho con người Protein của hạt lạc có tới

13 axit amin quan trọng và cần thiết cho hoạt động sống của con người [2625].Đặc biệt trong hạt còn có đủ 8 axit amin không thể thay thế

Lạc chứa proten, chất béo và các amono axit cần thiết cho cơ thể nhưlecinthin, purin, alkaloid Hàm lượng abumin trong hạt lạc chiếm gần 30% giátrị dinh dưỡng của lạc tương đương với sữa bò, trứng và thịt lợn nạc Ngoài racác yếu tố vi lượng như canxi, sắt, lưu huỳnh, các vitamin A, B, E, K và các chấtnhư xenlulose, tinh bột cũng đều có trong hạt lạc Chính vì vậy hạt lạc cung cấpchất béo và bổ sung protein cho con người [9] Các nhà dinh dưỡng cho rằng lạc

là một trong những thức ăn lý tưởng vì nó có tác dụng bồi bổ sức khỏe, có lợiích cho tuổi thọ và phòng chống lão hóa

Ngoài ra, các bộ phận của lạc có vai trò hết sức quan trọng trong y học,dùng để làm thuốc đông và tây y

Theo Đông y, các bộ phận của cây lạc như thân, cành, lá, quả, nhân, màngbọc ngoài của nhân, và dầu lạc đều là những vị thuốc đã được sử dụng từ lâu đờitrong đông y và trong dân gian Hạt lạc có vị ngọt, bùi, béo có tác dụng bổ tỳ,dưỡng vị, nhuận phế, lợi tràng, tiêu đờm, điều hòa khí huyết, tiêu sưng, cầmmáu, lợi tiểu, tăng tiết sữa, mát họng, giảm cholesterol, chống lão hóa NgườiTrung Quốc còn đặt cho loại hạt này như hạt trường sinh, đường nhân đậu Hạtlạc được dùng để chữa bệnh suy nhược, lao lực, làm dịu các cơn đau bụng vàphối hợp với quế, gừng làm giảm các cơn đau bụng kinh Thân và lá dùng đểchữa bệnh trương khí ruột kết

Trong tây y, các nhà nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy nhân lạc có tácdụng tăng lực, bồi bổ cơ thể, hạ huyết áp, giảm mỡ máu và cầm máu Vỏ lụa cótác dụng cầm máu, chữa xuất huyết và kích thích tủy sống tạo ra tiểu cầu cành

lá cây lạc ngoài tác dụng hạ huyết áp và giảm mỡ máu còn có tác dụng an thần,chống mất ngủ

- Giá trị kinh tế

Giá trị xuất khẩu

Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu

Trang 12

đem lại kim ngạch cao của nhiều nước Ở Xenegan, giá trị từ lạc chiếm 1/2 thunhập, chiếm 80% giá trị xuất khẩu Ở Nigieria chiếm 60% giá trị xuất khẩu.Thị trường chính của Việt Nam hiện nay là Singapo, Pháp, Cộng hoà liênbang Đức, Nhật, Indonexia, Malayxia, Philippin, Hồng Kông Đến năm 1999 dochất lượng lạc nhân của chúng ta không cao nên một số nước như Phillipin,Hồng Kông đã chuyển sang mua lạc của Trung Quốc Sản xuất lạc đạt hiệu quảkinh tế rất cao, đạt tỷ suất lợi nhuận tới 31,86%, cao hơn một số nông sản khác.Xuất khẩu lạc đóng góp 15,11% cho nguồn hàng nông sản xuất khẩu.

Hiện nay Việt Nam đứng vào hàng thứ 5 trong 10 nước xuất khẩu lạc lớnnhất thế giới Nếu như chất lượng lạc tốt hơn thì kim ngạch sẽ thu về lớn hơn vàthị trường không bị thu hẹp Nguyên nhân dẫn tới chất lượng xấu là do kíchthước hạt lạc nhỏ, phần lớn sản lượng xuất khẩu chỉ đạt chất lượng thấp nhấttrong tiêu chuẩn xuất khẩu thế giới (220 hạt/100gr), tương đương khối lượng

100 hạt = 45,5g Đồng thời việc áp dụng công nghệ bóc vỏ quả đã thay dần bóclạc bằng tay làm cho hạt lạc bị dập dầu và phát sinh nấm mốc mang độc tốaflatoxin gây độc

Giá trị trong công nghiệp

Hạt lạc được dùng trong công nghiệp ép dầu Dầu lạc là một nguyên liệucho công nghiệp thực phẩm như làm bánh kẹo, làm bơ, nước chấm, mì ăn liền,sữa hộp đặc và làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến xà phòng, chất tẩyrửa Dầu lạc tinh khiết dùng trong y học và một số nghề tiểu thủ công nghiệp

Giá trị trong nông nghiệp

Sản phẩm phụ của lạc được sử dụng nhiều trong nông nghiệp nên đã nângcao giá trị nhiều mặt khi sản xuất lạc Sau khi ép 100 kg lạc sẽ thu được từ 30-35kg dầu các loại và 65 - 70kg khô dầu Hàm lượng các chất dinh dưỡng trongkhô dầu còn khá cao nên dùng làm thức ăn trong chăn nuôi rất tốt Các nghiêncứu bổ sung khô dầu trong khẩu phần của gia súc, gia cầm đều làm tăng trọngnhanh đối với lợn và tăng sản lượng trứng gà, vịt

Hàm lượng các chất trong khô dầu như sau: Lipit từ 7-11%, chất có bột từ12-15%, xenlulose từ 5-8%, chất hữu cơ có đạm từ 41,3-50,4%, muối khoáng từ3-4%, nước từ 10,2-13%

Khô dầu khó bảo quản vì sự xâm nhập của nấm Aspergillus sẽ tạo ra độc tố

aflatoxin gây độc cho gia súc gia cầm Nếu khô dầu mất phẩm chất nên ngâm chohoai mục pha loãng để tưới bón cho cây trồng rất tốt (ngâm ít nhất là 30 ngày)

Trang 13

Vỏ hạt có một số dinh dưỡng đáng kể như N: 1,781%, lân: 0,194%, Kali:0,514%,chất đường bột: 47%, lipit : 1,8% Trong thân lá lạc cũng có một lượngcác chất khoáng N,P,K không thua kém gì phân chuồng Tuy nhiên khi sử dụngcần chú ý chế biến để ít hao hụt các chất dinh dưỡng [5].

- Giá trị trồng trọt

Ngoài giá trị kinh tế của lạc, đối với ép dầu, trong công nghiệp thực phẩm,trong chăn nuôi, lạc còn có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạo đất do khả năng cốđịnh đạm của nó Cũng như các loại họ cây đậu khác, rễ lạc có thể tạo ra các nốtsần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm hình thành đó là vi khuẩn

Bradyrhizobium, Rhizobium Rhizobium có thể tạo nốt sần ở rễ một số cây họ

đậu nhưng với lạc thì tạo được nốt sần lớn và khả năng cố định đạm cao hơn.Theo nhiều tác giả, lượng đạm cố định của lạc có thể đạt 70-110kgN/ha/vụ.Chính nhờ có khả năng này mà hàm lượng của prôtêin ở hạt và các bộ phận kháccủa cây cao hơn nhiều loại cây trồng khác Cũng nhờ khả năng cố định đạm, saukhi thu hoạch thành phần hóa tính của đất trồng được cải thiện rõ rệt, lượng đạmtrong đất tăng và khu hệ vi sinh vật háo khí trong đất được tăng cường có lợi đốivới cây trồng sau

2.1.3 Ảnh hưởng của bệnh hại đến sản xuất lạc

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, nhiều loại cây trồng có năng suất caođược trồng ngày càng nhiều, diện tích càng được mở rộng Cùng với xu thế pháttriển đó Việt Nam cũng là nước có diện tích trồng lạc khá lớn Ở nước ta nhữngnăm gần đây, cây lạc được đầu tư thâm canh nên năng suất và sản lượng lạcngày càng tăng Tuy nhiên so với một số nước trồng lạc trong khu vực và cácnước trên thế giới thì năng suất lạc ở nước ta còn thấp Năng suất lạc bình quâncủa thế giới là 1,87 tấn/ha, trong đó năng suất lạc của Trung Quốc là 3,61 tấn/ha,năng suất bình quân tại Mỹ là 4,50 tạ/ha Trong lúc đó năng suất bình quân củanước ta chỉ đạt 2,13 tạ/ha [16]

Bệnh hại cây trồng luôn là vấn đề nan giải đối với sản xuất nông nghiệp nóichung và sản xuất lạc nói riêng Mỗi loại cây trồng có rất nhều loại bệnh hạikhác nhau, tác nhân gây bệnh vô cùng đa dạng và phong phú (bệnh do nấm, vikhuẩn, virut) Mỗi nhóm gây bệnh có rất nhiều loài, chỉ riêng nấm có khoảng100.000 loài, trong đó có khoảng 20.000 loài gây bệnh cho cây trồng và độngvật, mỗi loài có những đặc điểm sinh học, sinh thái học khác nhau Mức độ gâyhại của các loài gây bệnh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như môi trường, đặcđiểm của ký chủ và khả năng gây bệnh của chính loài sinh vật đó

Trang 14

Ở nước ta hằng năm thiệt hại do bệnh cây gây ra đã một phần ảnh hưởngđến năng suất cây trồng Theo thống kê của Bộ nông nghiệp, ở miền Bắc nước tathiệt hại do sâu bệnh gây ra hằng năm chiếm đến 15-20% tổng sản lượng lươngthực Trong đó bệnh cây công nghiệp hằng năm cũng như lâu năm đã gây nhiềuthiệt hại đáng kể.

Thành phần sâu hại chính hại lạc: trên cây lạc có tới trên 100 loài sâu hạikhác nhau Các đối tượng hại hạt giống gồm dế, kiến, mối, mọt Đối tượng gâyhại nguy hiểm nhất thời kì cây con là sâu xám Đối tượng hại lá có các loài như:rầy xanh, rệp

Về bệnh hại có nhiều đối tượng hại lạc, một số bệnh chính thường xuấthiện và gây hại ở lạc là:

+ Bệnh hại phần gốc thân và rễ có bệnh lở cổ rễ do nấm Rhizoctonia

solani, thường hại ở thời kỳ nảy mầm và cây con; bệnh héo rũ gốc mốc đen do

nấm Aspergillus niger, bệnh héo rũ gốc mốc trắng Sclerotium rolfsii gây hại

trong suốt các thời kỳ sinh trưởng của cây

+ Bệnh hại lá có bệnh đốm nâu do nấm Cercospara arachidis, bệnh đốm đen do nấm và Cercospara personatum, bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia arachidis + Bệnh thối quả do nấm Pythium sp thường hại nặng trên ruộng có độ ẩm

quá cao

+ Bệnh héo xanh vi khuẩn do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây hại ở

tất cả các thời kỳ sinh trưởng

Bệnh hại lạc có nhiều đối tượng gây ra, tuỳ theo vùng sinh thái và giai đoạnphát triển của cây trồng mà thiệt hại của từng bệnh khác nhau Theo nhiều kếtquả nghiên cứu cho thấy ở vùng nhiệt đới nhóm bệnh chết héo lạc thường gây rathiệt hại lớn Việt Nam cũng là nước có diện tích trồng lạc khá lớn và vấn đềbệnh héo rũ hại lạc cũng đang là một vấn đề nóng bỏng, trong đó có những thiệthại do nhóm bệnh này gây ra

Tại tỉnh Thừa Thiên Huế bệnh héo rũ cũng là một trong những bệnh hạigây thiệt hại đáng kể về kinh tế Trong một vài năm trở lại đây nhóm bệnh héo

rũ đang là đối tượng trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất lạc ở vùng này Trong đó

có bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii gây thiệt hại đáng kể.

Chính vì vậy, việc điều tra, đánh giá và nghiên cứu về bệnh hại là rất cần thiết

để góp phần vào việc đưa ra các biện pháp phòng trừ hợp lý nhằm tăng cao năngsuất và phẩm chất lạc

Trang 15

2.1.4 Giới thiệu chung về bệnh héo rũ gốc mốc trắng

Bệnh hại lạc có nhiều đối tượng gây ra, tuỳ theo vùng sinh thái và giai đoạnphát triển của cây trồng mà thiệt hại của từng bệnh khác nhau Theo nhiều kếtquả nghiên cứu cho thấy ở vùng nhiệt đới thì nhóm bệnh chết héo lạc thườnggây ra thiệt hại lớn Việt Nam cũng là nước có diện tích trồng lạc khá lớn và vấn

đề bệnh héo rũ hại lạc cũng đang là một vấn đề nóng bỏng, trong đó có nhữngthiệt hại do nhóm bệnh này gây ra Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế bệnh héo

rũ cũng là một trong những bệnh hại gây thiệt hại đáng kể về kinh tế Trong mộtvài năm trở lại đây nhóm bệnh héo rũ đang là đối tượng trực tiếp ảnh hưởng đếnnăng suất lạc ở vùng này Việc nghiên cứu giải quyết bệnh héo rũ hại lạc nóichung và bệnh héo rũ gốc mốc trắng nói riêng sẽ có một ý nghĩa thực tế hết sức

to lớn cho người dân trồng lạc trong tỉnh

Bệnh do nấm Sclerotium rolfsii gây ra, nấm thường xâm nhập trên cổ rễ và

phần thân cành sát mặt đất, bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây hại phổ biến ở cácvùng trồng lạc trên thế giới Thiệt hại về năng suất do bệnh gây ra ước tínhkhoảng 25 – 80% ( Jackson, C.R, 1962)

Bệnh này thường làm cho cây bệnh héo rũ, xanh hoặc hơi vàng, cổ rễ và đọanthân ngầm bị bệnh có vết màu nâu thối mục khô xác, khi nhổ cây dễ bị đứt do nấm

ăn sâu vào lớp bó sợi phá hoại mạch dẫn ở đốt thân, cổ thân Ở gốc mọc một lớpnấm trắng đâm tia lan rộng cả mặt đất, hình thành nhiều hạch nấm hình tròn nhưhạt cải màu trắng về sau có màu nâu hạt chè Sự xâm nhập và phá hủy của nấm làmcho biểu bì vỏ của thân và các bó mạch dẫn mất khả năng vận chuyển nước và dinhdưỡng Sợi nấm phát triển và xâm nhập trực tiếp vào tia, quả trong đất Nấm làmcho rễ không lấy được dinh dưỡng để nuôi cây, nếu bị nặng sẽ làm chết cây và tồn

dư nguồn bệnh trong đất, trong quả ảnh hưởng đến vụ sau

Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện 25 – 30% và ẩm độ cao Bệnh lantruyền qua đất, qua hạt giống Sự phát sinh, phát riển của bệnh phụ thuộc vàonhiều yếu tố Sự tác động qua lại của các chất khoáng, độ pH đất và kĩ thuậttrồng trọt đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh Trên đất trồng độc canh,đất cát thô bệnh nặng hơn Trên đất có nhiều chất hữu cơ, tàn dư cây chưa hoaimục bệnh hại nặng hơn, vụ Xuân bệnh hại nặng hơn vụ Thu

Tên bệnh nhìn chung được đặt theo triệu chứng mà nấm gây ra cho câytrồng Theo tác giả Lê Lương Tề thì bệnh được đặt tên là bệnh héo rũ gốc mốctrắng Còn theo danh mục bệnh hại lạc thì nó được đặt tên là bệnh thối trắngthân lạc Nấm này ngoài gây triệu chứng thối trắng thân lạc còn gây bệnh thốiquả lạc [4]

Trang 16

2.1.5 Giới thiệu chung về nấm Sclerotium rolfsii

Nấm Sclerotium rolfsii đã được Peter Henry Rolfsii phát hiện và nghiên cứu đầu tiên vào năm 1892 trên cà chua S rolfsii có phổ kí chủ rộng (hơn 500 loài

trong 100 họ cây trồng) đặc biệt trên các cây họ đậu, họ hoa thập tự, họ cà Tuynhiên theo một vài nghiên cứu thì ngô, bông vải không phải là kí chủ của nấm.Nấm gây bệnh có tính chuyên hoá rộng vì vậy có thể tồn tại ở nhiều nguồnkhác nhau Nó có thể tồn tại dưới dạng hạch nấm hoặc tản nấm trên các tàn dư câybệnh hay trong đất và trên các ký chủ phụ, trên cỏ dại Trong đất và các tàn dư rơi

rớt lại trong đất thì chủ yếu nằm ở độ sâu khoảng 6cm của tầng đất mặt S rolfsii

yêu cầu lượng ôxy cao và thoáng để tồn tại Vì vậy, trên những tầng đất nhẹ thấy số

lượng của hạch nấm S rolfsii nhiều hơn trên những vùng đất nặng Ngoài ra, có một số ý kiến cho rằng hạt giống cũng mang nguồn bệnh của nấm S rolfsii.

Nấm thuộc lớp nấm đảm, nhưng giai đoạn hữu tính rất hiếm gặp ngoài tự

nhiên Giống như các nấm khác trong lớp nấm đảm nấm S Solfsii có một cấu

trúc gọi là đảm và trên đó các bào tử đảm được hình thành Bốn bào tử đơn bộiđược hình thành và nằm phía trên đỉnh của trụ đảm Trong điều kiện ẩm độ caotại phần tiếp giáp với mô bệnh các bào tử đảm được hình thành Tầng sinh đảmkhông màu hoặc màu vàng, đảm tử có hình quả trứng ngược, chiều dài kíchthước 7 – 9 micromet Khi chin bào tử đảm có thể bị bắn ra khỏi trụ đảm do trụđảm xoắn vặn, tạo điều kiện cho nấm bệnh lây lan [21]

Sợi nấm màu trắng, xốp, không có vách ngăn bao quanh gốc cây bệnh hoặclan rộng trên mặt đất Là nấm hoại sinh có nguồn gốc trong đất, nguồn bệnh tồntại chủ yếu trên tàn dư cây trồng, trong đất, trên cây kí chủ phụ dưới dạng hạchnấm một thời gian khá dài (1-3 năm)

Nấm thuộc loại nấm đất, dễ xâm nhập vào cây khi có điều kiện thích hợp

Vì vậy rất khó để nhận biết bệnh, khi chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường triệuchứng biểu hiện trên cây là lúc cây đã bị xâm hại nghiêm trọng Nhìn kĩ trênnhững cây nghi ngờ bị bệnh ta để ý thấy lá cây đổi màu vàng khác lạ, mất sắcbóng Nấm tấn công chủ yếu ở phần gốc thân Tại đó xuất hiện vết thâm, hơilõm (dài 2-4cm), biểu bì thân cây bị xé rách Một thời gian sau lá héo vàng và rũxuống trên ruộng Bao quanh vết bệnh xuất hiện lớp trắng xốp lan dần lên mặtđất là hệ sợi nấm Vài ngày sau hạch nấm xuất hiện màu trắng, tròn, khi cònnon Trưởng thành có màu nâu như hạt cải (1-2mm) Nếu cầm nhổ sẽ đứt phầnthân để lại phần gốc thối rữa [31]

Trang 17

Nấm hoạt động ở trên bề mặt đất, nấm có thể sinh trưởng tốt trong môitrường có pH rộng, trong đó tốt nhất là môi trường acidic, pH thích hợp cho sợinấm sinh trưởng là từ 3.0 - 5.0, hạch nấm có thể nảy mầm ở điều kiện pH từ 2.0

- 5.0 Hạch nấm nảy mầm trước hết trên các mô cây chết rơi rụng trên lớp đấtmặt trước khi xâm nhập vào cây ký chủ [22] Hạch nấm là cơ chế giúp cho nấm

dễ dàng sống trong điều kiện khắc nghiệt gọi là qua đông, qua hè, chuyển vụ.Các bộ phận của cây rơi rụng trên mặt đất là nguồn năng lượng góp phần choquá trình xâm nhập và gây hại của nấm trên cây ký chủ, đây cũng là cầu nối củanấm với cây ký chủ (Kolte, 1997) Hạch nấm nảy mầm thuận lợi khi có ẩm độkhông khí không quá cao, có những thời gian xen kẽ khô hạn và ẩm ướt thuận lợi

cho nấm phát triển (Porter et al, 1984).

Sinh trưởng của sợi nấm ở giới hạn điều kiện nhiệt độ 25 - 350C, thuận lợinhất ở 25- 300C, đất có độ thoáng khí tốt, trên tầng đất mặt vài centimet rấtthuận lợi cho nấm phát triển Ẩm độ đất từ 40-50% thuận lợi cho bệnh pháttriển Nấm hoạt động tốt trên bề mặt đất và vì vậy các tản nấm được hình thànhlan rộng trên bề mặt đất và tiếp giáp với phần cổ rễ của cây lạc để xâm nhập gâyhại Sợi nấm leo bám vào lớp biểu bì tuy nhiên nó xâm nhập vào trong tế bào kíchủ và giết chết tế bào cây kí chủ bằng các sản phẩm trao đổi chất mà nó tiết ranhư acid oxalic, pectolynic, hoặc cellulytic và các men giúp cho nấm phát triểnthuận lợi bên trong mô cây [31], [30: 257-263]

Nấm phát triển tốt trên môi trường PDA, PGA, PCA ở nhiệt độ 25-30OC;

Ẩm độ đất 50-70%, Ẩm độ không khí 60-70%; pH: 5-7

Nấm không những gây hại trên cây lạc mà còn gây hại trên nhiều đối tượng

quan trọng khác như cà chua, ớt,… Trên ớt bệnh thối thân do nấm S rolfsii gây

ra là một bệnh nghiêm trọng nhất có nguồn gốc từ đất và gây thiệt hại lớn vì gâychết hàng loạt cây con trong vườn ươm và chết cây trên vườn trồng [29]

2.2 Tình hình sản xuất lạc

2.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới

Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ vìgieo trồng trên diện tích lớn mà còn vì cây lạc được sử dụng rộng rãi để làmthực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ ngàycàng tăng đã và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc vớiquy mô ngày càng mở rộng

Trang 18

Mặc dù lạc đã có từ lâu đời, nhưng tầm quan trọng kinh tế của lạc chỉ mớiđược xác định trong khoảng 125 năm trở lại đây Khi công nghiệp ép dầu lạcđược phát triển ở Pháp (xưởng ép dầu ở Maxxây) bắt đầu nhập cảng lạc từ TâyPhi để ép dầu, mở đầu thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy mô lớn Công nghiệp

ép dầu được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thếgiới [14]

Trong những năm gần đây, người ta chú ý nhiều đến protein trong hạt lạc,nhân loại đặt nhiều hy vọng vào các loại cây bộ đậu để giải quyết nạn đóiprotein trước mắt và trong tương lai [14]

Theo số liệu của FAO, diện tích trồng lạc tập trung ở các nước Châu Áchiếm 63,17% tổng diện tích, Châu Phi 31,81%, Châu Mỹ 5,8%, Châu Âu0,22% [5]

Theo FAO, trên thế giới có hơn 100 nước trồng lạc với tổng diện tích năm

2013 là 25.445.613 ha, năng suất bình quân 17,77 tạ/ha, sản lượng đạt 45.225.332tấn; tập trung chủ yếu ở 3 châu lục là châu Á, châu Phi và châu Mỹ Trong đó,châu Phi chiếm 12.405.277 ha, năng suất bình quân đạt 9,32 tạ/ha, sản lượng đạt11.547.431 tấn Châu Á với diện tích 11.870.766ha, năng suất bình quân đạt32,25 tạ/ha với tổng sản lượng đạt 29.950.735 tấn Châu Mỹ với diện tích1.144.587ha, năng suất đạt 25,23tạ/ha, tổng sản lượng đạt 3.690.854 tấn [24].Ngày nay các nước trên thế giới ngày càng sử dụng nhiều các tiến bộ khoahọc kỹ thuật, sử dụng các giống lạc mới nên năng suất ngày một cao hơn Tuynhiên, việc áp dụng này chưa đồng bộ dẫn tới sự chênh lệch năng suất giữa cácnước phát triển và các nước đang phát triển

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới từ 2010-2013

Năm Diện tích(ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

(Nguồn: FAOSTATS.FAO.ORG/FAOTAT - GATEWAY, 2014)

Số liệu ở bảng trên cho thấy: Diện tích và năng suất sản lượng lạc của thếgiới trong các năm trở lại đây (2010 – 2013) có xu hướng ngày càng tăng

Diện tích (ha): Diện tích lạc của thế giới trong những năm qua có biến động

Trang 19

nhưng ổn định Năm 2010 diện tích lạc của thế giới đạt cao nhất là 25.477.523

ha, năng suất bình quân 1,6,77 tạ/ha và sản lượng đạt 42.728.784 tấn

Năng suất (tạ/ha): Năng suất lạc của thế giới trong 5 năm trở lại đây daođộng từ 1,640 - 1,777 tấ/ha Trong đó năng suất đạt cao nhất vào năm 2013 đạt1,777 tấn/ha

Ngày nay, nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật như: Sử dụng cácgiống có năng suất cao, giống kháng sâu bệnh hại, khả năng chăm sóc, phòngtrừ sâu bệnh hại tốt, áp dụng các quy trình khoa học kỹ thuật phù hợp do đónăng suất lạc trong những năm qua ngày càng một tăng lên một cách rõ rệt.Sản lượng (tấn): Trong những năm qua sản lượng lạc của thế giới có tănglên đặc biệt từ năm 2010 - 2013 sản lượng lạc của thế giới đạt trên 40 triệu tấn,sản lượng lạc đạt cao nhất vào năm 2013 trên 45 triệu tấn

2.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam

Từ năm 2001, lạc là một trong những cây trồng được chính phủ ưu tiênphát triển để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một số địa phương

để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ dầu thực vật, thức ăn gia súc trong cả nước và xuấtkhẩu Chính nhờ có những chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp củanhà nước, sự đầu tư từ nhiều cơ quan nghiên cứu ứng dụng thành tựu về giốngmới, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất, năng suất lạc đã có những bướcchuyển biến đáng kể

Diễn biến về diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam trong nhữngnăm gần đây được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam từ 2010 đến 2013

Năm Diện tích (Nghìn ha) Năng suất (tần/ha) Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: FAOSTATS.FAO.ORG/FAOTAT - GATEWAY, 2014)

Qua bảng số liệu chúng tôi thấy rằng diện tích và sản lượng lạc ở Việt Nam

từ 2010 – 2013 giảm Diện tích lạc giảm qua các năm, năm 2008 diện tích lạccủa cả nước là 231,4 nghìn ha đến năm 2013 giảm còn 216,2 nghìn ha Sản

Trang 20

lượng lạc của cả nước biến động hàng năm Năm 2013 sản lượng lạc đạt 492,0nghìn tấn Trong khi đó năng suất lạc từ năm 2010 – 2013 tăng, 2013 năng suấtđạt 2,276 tấn/ha.

2.3 Những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài

2.3.1 Những nghiên cứu trong nước

Bệnh hại lạc nói chung và bệnh thối gốc mốc trắng nói riêng là một trongnhững bệnh hại nguy hiểm làm giảm năng suất lạc ở nước ta và nhiều nước trênthế giới Từ những năm 1960 người ta đã tìm thấy bệnh héo rũ lạc trên đồngruộng, đặc biệt là những vùng trồng lạc tập trung và trồng liên tục nhiều nămtrên một chân đất, nhưng người nông dân chưa có một biện pháp cụ thể để hạnchế sự gây hại của bệnh

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về nhóm bệnh héo rũ hại lạc đãđược tiến hành nghiên cứu rất nhiều trong nhiều năm qua và các năm gần đây,đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc và Bắc miền Trung nhưng ở Thừa Thiên Huế vẫncòn ít được chú ý

Kết quả điều tra từ năm 1990 – 1996 của Viện Khoa học kỹ thuật Nôngnghiệp và Viện Bảo vệ thực vật đã xác định thành phần bệnh hại lạc gồm có 30

bệnh, trong đó có 10 loài vi sinh vật gây triệu chứng héo rũ, chết cây đó là: R.

solani, A niger, Sclerotium roflsii, F oxysporum, Pythium spp., Ralstonia solanacearum, Aspergillus flavus, Diplodia natalensis, Verticillium dahlia Macrophomina phaseolina.

Trong vụ Thu – Đông tại vùng Đồng bằng sông Hồng đã xác định được 20loại bệnh hại lạc, trong đó có 17 bệnh do nấm gây ra, 1 bệnh do vi khuẩn, 1 bệnh

do virus và 1 bệnh do mycoplasma Trong 20 bệnh đó thì có 10 bệnh nguy hiểmgây hại ở thân, rễ, cũ, tia gây nên triệu chứng héo rũ như bệnh héo rũ gốc mốc

trắng (Sclerotium rolfsii), bệnh khô thân (Diplodia natalensis), bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani), bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger), bệnh thối đen rễ ( Pythium sp.), bệnh thối nâu đen (Fusarium sp.), bệnh héo Verticillium (Verticillium dahlia), bệnh héo rũ gốc mốc vàng (Aspergillus flavus), bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) [1].

Theo tác giả Đỗ Tấn Dũng bệnh héo rũ do các tác nhân nấm và vi khuẩn gây

ra phổ biến như: Aspergilus niger (héo rũ gốc mốc đen); Sclerotium rolfsii (héo rũ gốc mốc trắng); Rhizoctonia solani (lở cổ rễ); Ralstonia solanacearum (héo rũ tái

xanh) Một trong những bệnh nghiêm trọng là héo rũ gốc mốc trắng gây bởi

Sclerotium rolfsii Cục bộ những nơi tỉ lệ cây chết lên đến 50% làm giảm năng

suất đáng kể Đợt dịch năm 2001 làm chết cây hàng loạt ở vùng sản xuất trọng

Trang 21

điểm Nghi Lộc Nghệ An gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho người dân nơi đây.Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự năm 2002 thành phầnbệnh héo rũ hại lạc ở Quảng Bình gồm: bệnh héo rũ tái xanh do vi khuẩn

Ralstonia solanacearum, bệnh héo rũ gốc mốc đen do nấm Aspergillus niger,

héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii, héo vàng do nấm Fusarium

oysporum, héo rũ gốc mốc vàng do nấm A flavus, lở cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani và héo rũ do tuyến trùng Meloidogyne arenaria [13].

Theo Lê Như Cương (2003) thành phần bệnh héo rũ hại lạc ở Thừa Thiên

Huế có 6 đối tượng Trong đó Rhizoctoia solani, Aspegillus niger gây hại suốt từ thời kỳ cây con đến chín; bệnh héo rũ gốc mốc trắng Sclerotium rolfsii gây hại

phổ biến giai đoạn ra hoa đâm tia và làm quả đến chín; bệnh héo rũ tái xanh

Ralstonia solanacearum gây hại rất phổ biến từ ra hoa đâm tia đến chín Cũng

theo Lê Như Cương, mức độ gây héo trên các vùng sinh thái trồng lạc khác nhau

có khác nhau, với vùng đồi, vùng đất cát ven biển và vùng đất nội đồng thì đấtđồi bệnh gây hại nặng hơn

Theo Nguyễn Thị Mai Chi và CTV 2002-2004, thiệt hại do nấm S rolfsii

gây ra ở Việt Nam trung bình ước tính mức giảm năng suất lên đến 60%, riênghai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh chiếm 20-25%

Theo Lê Lương Tề (1967) hàng năm trong các vụ lạc xuân và thu thườngxuất hiện bệnh héo rũ gây tổn hại lớn, cục bộ có một số vùng lạc héo chết làmmất đến 75% sản lượng

Xác định nguyên nhân gây héo chết ở lạc của Nguyễn Thị Ly, Phan ThịBích Thu (1993) và kết quả điều tra thành phần bệnh hại lạc của Nguyễn XuânHồng, Nguyễn Thị Yến (1991) đều xác định héo rũ gốc mốc trắng gây bởi

Sclerotium rolfsii là một trong những bệnh hại phổ biến và là một trong những

nguyên nhân gây giảm mạnh năng suất lạc Ở vùng Đông Nam Bộ trước thuhoạch tỷ lệ bệnh có nơi lên đến 8- 10%; Ở miền Bắc Việt Nam đã phát hiệnnhững ruộng cục bộ tỷ lệ bệnh lên đến 20- 25%

Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả, với cùng một loài vi sinh vật gâybệnh trên cây lạc, chúng có thể gây nhiều triệu chứng khác nhau như gây triệu

chứng héo, thối thân, thối quả (nấm S rolfsii, Pythium spp., Fusarium spp.,) Có

những loài vừa được xếp vào nhóm nguyên nhân gây hại lạc, gây chết héo trênđồng ruộng, đồng thời lại được xác định là một tác nhân phòng chống đối với

bệnh thối trắng thân do nấm S rolfsii như A flavus [20] Các tác giả cũng có

nhận xét mức độ phổ biến và tác hại của mỗi loại bệnh phụ thuộc vào điều kiện

Trang 22

canh tác, đất đai của từng vùng.

2.3.2 Những nghiên cứu trên thế giới

Bệnh hại lạc là vấn đề đã và đang được quan tâm ở tất cả các nước sản xuấtlạc trên thế giới Bệnh hại lạc do một số lượng lớn các loài nấm, vi khuẩn,phytoplasma, virus và tuyến trùng gây ra Trong đó nhóm bệnh nấm hại lạcchiếm đa số và gây ra thiệt hại nguy hiển nhất Thành phần nấm hại lạc rấtphong phú và đa dạng, có khoảng 50 loài nấm gây hại trên lạc [3]

Những bệnh gây héo rũ lạc phổ biến nhất hiện nay đã được mô tả từ nhữngngày đầu của sản xuất lạc thương phẩm Khi cây lạc trở nên có tầm quan trọngkinh tế trong nền nông nghiệp thế giới, từ việc đầu tư tối thiểu đến thâm canhtăng năng suất và chất lượng hạt Từ một cây có giá trị thấp được đưa lên thànhcây có giá trị cao thì sản xuất lạc cũng được nâng cao Vì vậy bệnh héo rũ lạcchiếm ưu thế trong các bệnh hại gây ảnh hưởng đến năng suất lạc [28]

Bệnh héo rũ lạc phát sinh ở hầu hết các vùng trồng lạc trên thế giới và baogồm nhiều tác nhân gây hại khác nhau và có ý nghĩa kinh tế đối với năng suấtlạc chính vì vậy mà sản xuất lạc vẫn bị hạn chế ở nhiều nước trên thế giới.Suhramanyan, P., Swong kaew-dorredly, JW.Densky, DH Smish cho biết câylạc có khoảng 77 loại bệnh phân bố trên toàn thế giới, trong đó có khoảng 31loài nấm, 2 loài vi khuẩn, loài virus, một sinh thể tương tự Mycoplasma, 4 loàituyến trùng và một loài thực vật có hoa kí sinh

Đối với bệnh héo rũ gốc mốc trắng, ở vùng Geogia của Mỹ, tổn thất do

bệnh gây ra ước tính 43 triệu USD/năm (N-Kokalis et al., 1984) Nấm gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng S rolfsii có phổ kí chủ rộng, khả năng lây nhiễm trên 500

loài cây trồng, đặc biệt là những cây thuộc họ đậu đỗ, bầu bí và một số loài rautrồng luân canh với cây họ đậu (APSnet, 2005)

Bệnh héo rũ gốc mốc trắng là một trong những bệnh hại phổ biến ở hầu hấtcác vùng trồng lạc thuộc vùng nhiệt đới và những vùng có khí hậu ấm áp (Kolte,

1984; Zayed et al., 1986; Subrahamanyam et al., 1991) Nấm bệnh có thể gây

hại trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau, nhưng quan trọng và phổ biếnnhất là gây hại trên lạc (Kolte, 1985); bệnh gây hại phổ biến ở các nước Ấn Độ,Israel và Nam Mỹ, nơi mà bệnh héo rũ gốc mốc trắng là bệnh nguy hiểm bậcnhất [2]

Hằng năm thiệt hại do bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây ra trên cây lạc ở Ấn

Độ ước tính khoảng 27% về năng suất hoặc hơn nữa (Kolte, 1984), ở Australiakhoảng 25% (Middleton, 1980), ở Mỹ khoảng 25%, có trường hợp 80% năngsuất Ở Trung Quốc ước tính khoảng 30% Tỷ lệ giảm năng suất lạc liên quan

Trang 23

đến tỷ lệ cây chết trên đồng ruộng và đồ thị tương quan giữa năng suất lạc và tỷ

lệ bệnh gần như một đường thẳng [27] Bowen, K.L và cs 1992 cho rằng năngsuất lạc bị giảm phụ thuộc vào nguồn bệnh tồn tại trong đất, năng suất giảm thấpnhất 12kg/ha, trung bình 49kg/ha và cao nhất 91kg/ha [21] Gorbet D và F.Shokes cho rằng bệnh héo rũ gốc mốc trắng là bệnh có ý nghĩa kinh tế lớn nhấtđối với các vùng nhiệt độ ấm áp, ẩm độ không khí cao

Kamal Hasan A K M., M U Ahmad, M Rahaman, K M Islam khi

nghiên cứu về mối liên hệ giữa bệnh do tuyến trùng Meloidogyne javanica cho

thấy nấm gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng có tác dụng làm cho tỷ lệ nhiễm bệnhtuyến trùng tăng lên và làm cho con non và con trưởng thành tăng lên [21]

Năm 2001 Olabe Iketo ở Nhật Bản đã xác định Sclerotium roflsii có 5

nhóm 1, 2, 3, 4, 5 trong đó nhóm 1 phổ biến gây hại ở các vùng địa lý có nhiệt

độ cao (28- 300C) (Lê Lương Tề trích dẫn ) [21]

2.3.3 Phòng trừ

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt, Lê Như Cương về nhóm bệnhhéo rũ cần thiết lập hệ thống phòng trừ thích hợp, đặc biệt cần chú trọng nghiêncứu trong phòng thí nghiệm, phân lập xác định bệnh, tìm hiểu đặc điểm sinhthái, sinh vật học của tác nhân gây bệnh để có cơ sở đề xuất các biện phápphòng trừ thích hợp Hiện nay một hướng mới mở ra cho công tác bảo vệ thựcvật là sử dụng vi sinh vật đối kháng để phòng trừ sâu bệnh hại dưới nhiều hìnhthức đã được áp dụng rất thành công như chế phẩm vi sinh, phân bón vi sinh;Chúng vừa có hiệu quả cao lại giảm được nguồn sâu bệnh hại, tăng năng suấtđáng kể, không gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng Từnhững đặc tính ưu việt đó của biện pháp sinh học, để đạt được hiệu quả phòngtrừ cao thì việc nghiên cứu, thử nghiệm và tìm kiếm tác nhân phòng trừ sinh họcđược coi là vấn đề cấp bách, chiến lược trong xây dựng hệ thống phòng trừ tổnghợp sâu bệnh hại

Khi nghiên cứu về biện pháp phòng trừ cho thấy: Nấm S rofsii là nấm hoại

sinh có nguồn gốc trong đất với phổ kí chủ rộng (hơn 500 loài cây khác nhau)

Vì thế việc quản lí bệnh hại liên quan đến luân canh cây trồng, sử dụng giốngkháng nhưng quan trọng là phải kết hợp các biện pháp thành một hệ thống

Biện pháp canh tác như nhổ bỏ cây bệnh là biện pháp được áp dụng từ lâu

và mang lại hiệu quả nhất định, tuy nhiên rất khó áp dụng trên diện rộng Việcluân canh cây trồng ngô, bông vải với lạc có thể giảm nguồn bệnh hại đáng kể.[19: 124-126]

Trang 24

Biện pháp như cày sâu lấp hạch (15cm) rất hiệu quả vì khi bị vùi sâu thì

hạch nấm S rolfsii không thể tồn tại quá 45 ngày

Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo, Vũ Duy Nam, nấm đối kháng

Trichoderma spp có khả năng ức chế sinh trưởng của nấm S.rolfsii Trong đó

nấm Trichoderma viride có khả năng ức chế tốt hơn nấm Trichoderma

hazianum Hiệu lực ức chế đạt cao nhất khi Trichoderma viride được xử lí trước

khi nấm S.rolfsii phát triển xâm nhập vào cây trồng [6].

Việc sử dụng kết hợp bón vôi và phun thuốc trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng,tác giả Nguyễn Văn Tùng cho rằng khi bón vôi với liều lượng 300 – 600 kg/ha vàsử dụng thuốc Anvil 1 lít/ha, Tilt 1 lít/ha phun, ngoài tác dụng hạn chế bệnh hại lácòn có tác dụng hạn chế bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc, tỷ lệ bệnh giảm so vớiđối chứng khoảng 6 – 12 lần và năng suất tăng 20 – 50% Việc sử dụng bón vôicho lạc là biện phấp đơn giản, an toàn và mang lại hiệu quả cao [4]

Trồng giống kháng như Southern Runner (giống kháng chuẩn),

F84x47-10-1 đã được thử nghiệm tại Marianna, bang Florida Mỹ cho năng suất khoảng353% so với giống nhiễm chuẩn Florunner [32]

Các yếu tố vi lượng làm tăng khả năng sinh trưởng của cây, tăng độ nhớtcủa nguyên sinh chất, tăng sức đề kháng của cây, đặc biệt các nguyên tố Mn, Cu

có thể làm cho nấm kí sinh không thể phát triển được và bị tiêu diệt [15]

Nghiên cứu về thuốc hóa học trừ bệnh cho thấy: Khi xử lý Benomyl chocây lạc (phun vào đất) thì nhận thấy tỷ lệ bệnh héo rũ gốc mốc trắng khôngnhững không giảm mà còn có xu hướng tăng lên Nguyên nhân là do khi sử

dụng Benomyl đã làm giảm số lượng quần thể nấm đối kháng Trichoderma

xuống, từ đó làm cho bệnh tăng lên [19]

Một số thuốc hóa học mang lại hiệu quả phòng trừ bệnh cao khi xử lý đấttuy nhiên ít áp dụng trên đại trà vì lượng thuốc yêu cầu làm ô nhiễm môi trường

như methyl bromide, chloropicrin có tác dụng đầu độc nấm S rolfsii Đến năm

2002 thì methyl bromide đã đưa vào cấm sử dụng trong xử lý đất ở các nướcphát triển trên thế giới Việc áp dụng các thuốc hóa học còn được áp dụng để xử

lý hạt giống Dhamnikar, S.V và Peshney, N.K, (1982) cho biết các loại thuốcRovral, Captan, Brassicol, Granosan, Carboxin có thể trừ được bệnh bằng việcxử lý khô hạt giống với liều lượng 1kg thuốc/1 tấn hạt giống Brassicol vàRovral có tác dụng trừ bệnh khi tưới lên đất với dung dịch 0,1% [18]

Trang 25

Việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ nhóm bệnh héo rũ hại lạc, đặcbiệt là biện pháp sinh học đang được nhiều tác giả quan tâm và đây là vấn đề rất

có ý nghĩa đối với việc sản xuất lạc

2.3.4 Tổng quan về vi khuẩn đối kháng

- Hoạt tính kháng bệnh

Trong sản xuất hiện nay, việc tăng cường nhiều vụ cây trồng trên một đơn

vị diện tích và việc luân canh cây trồng ít được chú trọng bởi diện tích đất nôngnghiệp hạn hẹp Đó là những nguyên nhân dẫn đến vấn đề lớn về nguồn bệnhtồn tại lâu dài trên đất trong đó có nhiều loại cây trồng rất khó phòng trừ Trongkhi đó sử dụng biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu bệnh hiệu quả thường rấtthấp, bấp bênh, giá thành đắt, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, đến hệ visinh vật đối kháng và côn trùng có ích

Trên thế giới những kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã tích lũy vớimột khối lượng khá lớn những kết quả thí nghiệm và thực nghiệm về việc sửdụng các vi sinh vật đối kháng trong phòng trừ bệnh hại cây trồng Việc ứngdụng biện pháp sinh học trong phòng chống bệnh hại cây trồng là hướng chiếnlược, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phòng trừ tổng hợp bệnhhại cây trồng hiện tại và tương lai

Vi khuẩn đối kháng là vi sinh vật tự nhiên có khả năng đối kháng với bệnhcao, không độc hại và được ứng dụng đa dạng trong nông nghiệp, trong đó vấn

đề được quan tâm nhất là khả năng kiểm soát các bệnh gây ra bởi nấm ở câytrồng, đây là một vấn đề được chú trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp

Đa số các vi khuẩn đối kháng đều thuộc hệ vi sinh vật sống ở vùng rễ cây

và sống hoại sinh trong đất Nó có khả năng phòng chống nhiều loài vi sinh vậtgây bệnh cây chủ yếu, ngoài ra còn có tầm quan trọng chống lại vi sinh vật gâybệnh thứ yếu (những loài cản trở sự sinh trưởng phát triển của cây trồng) [8]

- Vai trò của vi khuẩn đối kháng:

Các loài vi khuẩn đối kháng đều thuộc hệ vi sinh vật sống ở vùng rễ câytrồng và sống hoại sinh trong đất (Schlegel, 1981) Trên thế giới đã có nhiều tácgiả nghiên cứu về hiệu lực của vi khuẩn đối kháng với các tác nhân gây bệnhcây (do vi khuẩn và nấm) Kết quả nghiên cứu cho thấy các loài vi khuẩn đốikháng có thể bảo vệ cây trồng, chống lại các vi sinh vật gây bệnh, đồng thời tạođiều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt [26]

Cơ chế tác động của vi khuẩn đối kháng thể hiện:

- Vi khuẩn đối kháng có cạnh tranh với nguyên tố dinh dưỡng sắt (Fe)(Scher, 1986)

Trang 26

- Vi khuẩn đối kháng có thể sản sinh ra cyanide, làm tăng tính chống chịucủa cây, sản sinh ra chất kích thích sinh trưởng và có khả năng phân giải độc tố

do vi sinh vật gây bệnh tiết ra ( Utsumi et al., 1988; Toyoda et al., 1988).

- Vi khuẩn đối kháng có khả năng cạnh tranh, chiếm chỗ rất thuận lợi ở

vùng rễ của cây trồng ( Bull et al., 1991; Lugtenberg et al., 1991; Parke, 1990; Schroth et Hancock, 1982; Weller, 1988).

Vi khuẩn đối kháng có khả năng phòng chống lại nhiều loại vi sinh vật gâybệnh cây chủ yếu, ngoài ra nó còn có tầm quan trọng chống lại những vi sinh vậtthứ yếu hại cây, nghĩa là bản thân nó có khả năng chống lại những vi sinh vậtgây bệnh mà những vi sinh vật đó thường làm giảm sự sinh trưởng và phát triểncủa cây trồng [7]

2.4 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài

2.4.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Khoa học bệnh cây là môn khoa học chuyên nghiên cứu bản chất các loạibệnh hại cây trồng và các biện pháp phòng trừ tổng hợp cá hiệu quả kinh tế nhấtnhằm bảo vệ và nâng cao năng suất, phảm chất cây trồng Nội dung nghiên cứuchủ yếu là nghiên cứu mối quan hệ giữa ký sinh, ký chủ và điều kiện ngoại cảnh.Nguồn gốc của khoa học bênh cây được bắt nguồn từ thực tiễn sản xuất nônglâm nghiệp nhằm phục vụ cho mục đích, yêu cầu của con người

Trong tự nhiên, các loài vi sinh vật gây bệnh cũng như các loài động vật,thực vật khác đều sống trong mối quan hệ phức tạp Mối quan hệ đó bao gồm cảcạnh tranh, đối kháng, cộng sinh và có cả vô tính với các loài sinh vật khác trongsinh quần trong điều kiện khí hậu và đất đai nhất định đã tạo nên hệ sinh thái.Trong các hệ sinh thái đó con người có thể lợi dụng các mối quan hệ đối kháng

để hạn chế các loài sinh vật gây hại Trong khoa học nghiên cứu bệnh cây cácnhà nghiên cứu đã tiến hành nuôi cấy các loài vi sinh vật trên môi trường thức

ăn nhân tạo trong phòng thí nghiệm Khi quan sát các khuẩn lạc của các loài visinh vật cùng sống chung trên cùng một môi trường, người ta nhận thấy có cáchiện tượng khác nhau trong đó có trường hợp: giữa các khuẩn lạc có sự cạnhtranh ức chế lẫn nhau, một khuẩn lạc phát triển tốt bên cạnh khuẩn lạc kháckhông phát triển được và ngày càng bị teo dần đi rồi bị huỷ hoại hoàn toàn Từnhững nghiên cứu như vậy họ đã ứng dụng vào thực tế sản xuất thông qua việcsử dụng các vi sinh vi sinh vật đối kháng trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp

Và cũng chính nhờ sự phát hiện ra hiện tượng đối kháng giữa các loài sinh vậttrong thiên nhiên đã mở ra phương hướng dùng sinh vật để trừ bệnh cây

Nấm Sclerotium rofsii Sacc gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng cây lạc có

Trang 27

nguồn gốc trong đất Theo các nghiên cứu cho rằng nấm xâm nhập tấn công câytrồng bằng cách bài tiết ra a xít oxalic, một loại axít mạnh có thể đầu độc, giếtchết tế bào cây trồng Bởi thế ứng dụng được cơ chế đối kháng trong mối quan

hệ quần xã sinh vật để tìm kiếm tác nhân phòng trừ ức chế sự phát triển của nấmbệnh hoặc phân giải độc tố do vi sinh vật tiết ra ứng dụng vào thực tế sản xuất làmột hướng nghiên cứu mang tính chiến lược cho sản xuất nông nghiệp hiện nay

2.4.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Trong thực tiễn sản xuất hiện nay, cây lạc đã khẳng định được vai trò, vị trícủa nó trên thị trường trong nước và trên thế giới Lạc là mặt hàng nông sản xuấtkhẩu có giá trị kinh tế cao, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nền kinh tế quốcdân Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã và đang hết sức quan tâm đến việc đầu tưtăng năng suất lạc nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Muốn đạtđược điều đó thì phải không ngừng mở rộng diện tích, tăng đầu tư thâm canh,phải làm tốt công tác bảo vệ thực vật, đặc biệt là phòng trừ bệnh hại nói chung

và bệnh héo rũ gốc mốc trắng nói riêng, công tác bảo quản sau thu hoạch cũngcần được chú ý

Hiện nay vấn đề mở rộng diện tích đất trồng lạc bị hạn chế, vì vậy việc đầu

tư thâm canh, tăng năng suất là biện pháp quan trọng, hữu dụng để tăng sảnlượng lạc Tuy nhiên song song với việc đầu tư tăng năng suất , sản lượng lạc thìyếu tố sâu bệnh hại cũng ngày một tăng lên và phá hoại nghiêm trọng

Ở Thừa Thiên Huế, cây lạc đã trở thành cây trồng chính của địa phương,nhưng năng suất lạc ở Thừa Thiên Huế vẫn còn thấp do nhiều nguyên nhân nhưthời tiết khắc nghiệt, sâu bệnh thường xuyên phá hoại nghiêm trọng Theonghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt, Trần Thị Thu Hà, Lê Như Cương năm

2001 – 2003 đã kết luận rằng, hiện nay ở Thừa Thiên Huế bệnh héo rũ phá hoạinặng như héo rũ gốc mốc đen, héo rũ gốc mốc trắng, héo rũ tái xanh vi khuẩn, tỷ

lệ cây chết có lúc lên tới 40%

Trong những năm qua cũng đã có một số nghiên cứu về bệnh héo rũ gốcmốc trắng hại lạc trên địa bàn Thừa Thiên Huế, nhưng đó chỉ là những kết quảbước đầu, chưa thể sử dụng làm cơ sở vững chắc cho việc đề ra một hệ thốngtổng hợp phòng trừ nhóm bệnh héo rũ hại lạc nói chung và bệnh thối gốc mốctrắng nói riêng tại tỉnh Thừa Thiên Huế Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng,hiện nay các vùng trồng lạc trong tỉnh, người dân trồng lạc chưa áp dụng mộtbiện pháp hữu hiệu nào để phòng trừ bệnh hại Thêm vào đó việc sử dụng phânchuồng chưa hoai mục, trồng lạc độc canh không xen canh với cây trồng khôngphải là kí chủ càng làm cho bệnh nặng thêm Bên cạnh đó, yếu tố sâu bệnh hạiđang là vấn đề khó khăn đáng lo ngại của bà con nông dân ở đây, nó làm giảm

Trang 28

năng suất phẩm chất của nông sản phẩm.

Nấm gây bệnh héo gốc mốc trắng có nguồn bệnh có thể tồn tại lâu trongđất, tàn dư cây trồng, kí chủ phụ dưới dạng hạch nấm nên rất khó để tiêu diệt[22] Trong khi đó việc sử dụng biện pháp hoá học phòng trừ bệnh hại hiệu quảthường thấp, bấp bênh, giá thành đắt, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinhthái, đến hệ vi sinh vật đối kháng và côn trùng có ích Quá trình tăng cường sửdụng thuốc hoá học đã và sẽ tạo ra các chủng, nòi vi sinh vật kháng thuốc Mặtkhác có nhiều tác nhân gây bệnh có nhiều nòi, chủng sinh lí gây bệnh khác nhau

có thể làm giảm khả năng chống chịu bệnh của các giống cây trồng Trên thếgiới những kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã tích luỹ với một khối lượngkhá lớn những kết quả thí nghiệm và thực nghiệm về việc sử dụng các vi sinhvật đối kháng (nấm, vi khuẩn) trong phòng chống bệnh hại cây trồng, nhất lànhóm bệnh hại có nguồn gốc trong đất (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng) Việc ứngdụng biện pháp sinh học phòng chống bệnh hại cây trồng đang là vấn đề đượcquan tâm hàng đầu, giữ vai trò đặc biệt trong chiến lược phòng trừ tổng hợpbệnh hại cây trồng hiện tại và trong tương lai

Những thực tiễn trên là cơ sở cho chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đưa

ra một phương pháp phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc hiệu quả nhấtcho vùng nghiên cứu

Trang 29

Phần 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu

- Giống lạc L14

- Các chủng nấm S rolfsii phân lập được trên ruộng sản xuất trên địa bàn

tỉnh Thừa Thiên Huế

- Các chủng vi khuẩn đối kháng phân lập được dựa vào kết quả invitro

3.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Bệnh cây và vườn lưới khoaNông học - Trường đại học Nông Lâm Huế

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2014 đến tháng 05/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Phân lập các dòng vi khuẩn đối kháng dựa vào kết quả in vitro

- Đánh giá khả năng đối kháng trong điều kiện in vitro

- Đánh giá khả năng hạn chế bệnh hại trong điều kiện nhà lưới

- Đánh giá tác động của các vi khuẩn phân lập đến sinh trưởng và phát triển lạc

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phân lập vi khuẩn đối kháng

* Thu mẫu cây để phân lập vi khuẩn

- Vùng lấy mẫu: Trên đồng ruộng sản xuất lạc trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế

- Số lượng mẫu: 288 mẫu

- Mẫu là phần thân sát mặt đất và rễ cây được thu từ các cây lạc khỏe ở giaiđoạn ra hoa, quả non

- Mẫu được phân lập ngay khi thu hái hoặc được bảo quản trong điều kiệnlạnh nếu chưa phân lập ngay

* Chuẩn bị dụng cụ, vật liệu

- Dụng cụ cắt rễ lạc, kéo, đĩa cân, cân kỹ thuật, giá đựng ống nghiệm, ốngnghiệm, micro pipet (20-200µl, 100-1.000µl), tip, môi trường PSA, thuốc diệtnấm (delvocid), máy votex, hạt thủy tinh, tủ ấm, nồi hấp, tủ cấy, bình tam giác,đĩa Peptri, que cấy vô trùng, dụng cụ bảo hộ

* Phân lập vi khuẩn từ rễ lạc.

- Cân 1g rễ lạc bao gồm đất dính xung quanh, cắt từng khúc nhỏ rồi chovào ống nghiệm chứa 5ml dung dịch MgSO4 0,01M; Votex trong 1 phút rồichuyển qua rửa siêu âm 1 phút, votex 15 giây Lấy 50µl từ 5ml dung dịch huyền

Trang 30

phù vi khuẩn pha vào 450µl (pha loãng 10 lần), tiếp theo pha loãng 100 lần,1.000 lần, 10.000 lần Hút 50µl dung dịch hoà loãng 1.000 lần, 10.000 lần cấyvào môi trường PSA chứa chất diệt nấm delvocid 100mg/l.

- Bỏ vào tủ ấm 25°C ủ 48 giờ, sau đó theo dõi đếm khuẩn lạc của vi khuẩntrên đĩa để kiểm tra số lượng tế bào vi khuẩn trên rễ và cổ rễ lạc

- Sau 48 giờ, chọn 16 khuẩn lạc đơn theo ngẫu nhiên cấy vào môi trườngPSA có chứa chất diệt nấm delvocid mg/l sẽ được các dòng vi khuẩn phục vụcho các nghiên cứu về sau (thử nghiệm tính đối kháng trong điều kiện in vitro vàtrong điều kiện nhà lưới)

3.4.2 Tuyển chọn các dòng vi khuẩn đối kháng trong điều kiện in vitro

* Chuẩn bị:

- Đĩa Peptri, tăm tre vô trùng, môi trường 1/5 PDA, nấm S rolfsii, tủ cấy

vô trùng, dụng cụ bảo hộ cần thiết

*Tiến hành

- Dùng tăm tre đã được tiệt trùng cấy một điểm vi khuẩn đối kháng từ đĩa

16 điểm lên môi trường 1/5 PDA (điểm đối kháng)

- Mỗi đĩa sẽ tiến hành cấy 3 điểm, trong đó có 2 điểm vi khuẩn, một điểmkhông cấy vi khuẩn mà chỉ sử dụng que cấy chấm nhẹ trên đĩa Petri để làm điểmđối chứng

- Sau 2 ngày cấy vi khuẩn, nấm S.rolfsii được cấy vào giữa đĩa môi trường

1/5 PDA đã được cấy vi khuẩn từ trước đó Yêu cầu điểm cấy nấm tạo mộtkhoảng cách bằng nhau giữa điểm cấy chủng nấm đến hai điểm cấy vi khuẩn đốikháng và điểm đối chứng

- Theo dõi sự phát triển của nấm và vi khuẩn sau 24h, 48h, 72h cấy nấm

- Sau khi theo dõi và đánh giá tính kháng nấm của các dòng vi khuẩn phânlập được, các dòng thể hiện tính kháng sẽ được nhân trên môi trường PSA cóchứa delvocid mg/l Sau 48 giờ thu vi khuẩn hòa trong môi trường King’B chứa40% glycerol, để đông đá và cất giữ

3.4.3 Đánh giá khả năng kháng nấm trong điều kiện in vitro

- Những dòng vi khuẩn thể hiện khả năng đối kháng trong điều kiện in

vitro sẽ được tiếp tục đánh giá hiệu lực kháng nấm Phương pháp nghiên cứu

tương tự khi lựa chọn các dòng kháng nấm, nhưng thí nghiệm được lặp lại 2 lần

- Hiệu quả tính kháng (H) của vi khuẩn được xác định bằng công thức:

H (%) = B - A x 100

B

Ngày đăng: 11/04/2016, 13:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1.  Hiệu quả ức chế sinh trưởng sợi nấm Sclerotium rolfsii của các dòng - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Bảng 4.1. Hiệu quả ức chế sinh trưởng sợi nấm Sclerotium rolfsii của các dòng (Trang 34)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của các dòng vi khuẩn đến tỷ lệ mọc - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của các dòng vi khuẩn đến tỷ lệ mọc (Trang 36)
Bảng 4.3. Chiều cao thân chính ở các công thức xử lý vi khuẩn - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Bảng 4.3. Chiều cao thân chính ở các công thức xử lý vi khuẩn (Trang 38)
Bảng 4.4. Chiều dài cành cấp 1 ở các công thức xử lý vi khuẩn - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Bảng 4.4. Chiều dài cành cấp 1 ở các công thức xử lý vi khuẩn (Trang 40)
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của các dòng vi khuẩn đến số lá trên thân chính - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của các dòng vi khuẩn đến số lá trên thân chính (Trang 41)
Bảng 4.6.  Khối lượng tươi và khối lượng khô của lạc lây nhiễm các dòng vi - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Bảng 4.6. Khối lượng tươi và khối lượng khô của lạc lây nhiễm các dòng vi (Trang 43)
Bảng 4.7. Khả năng hạn chế nấm Sclerotium rolfsii trong điều kiện nhà lưới - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Bảng 4.7. Khả năng hạn chế nấm Sclerotium rolfsii trong điều kiện nhà lưới (Trang 44)
Hình 4.2. Tỷ lệ cây chế do bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên một số công thức lây nhiễm các dòng vi khuẩn đối kháng trong điều kiện nhà lưới có lây nhiễm bệnh - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Hình 4.2. Tỷ lệ cây chế do bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên một số công thức lây nhiễm các dòng vi khuẩn đối kháng trong điều kiện nhà lưới có lây nhiễm bệnh (Trang 45)
Hình 4.1. Chỉ số bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên một số công thức lây nhiễm các dòng vi khuẩn đối kháng trong điều kiện nhà lưới có lây nhiễm bệnh - Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc
Hình 4.1. Chỉ số bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên một số công thức lây nhiễm các dòng vi khuẩn đối kháng trong điều kiện nhà lưới có lây nhiễm bệnh (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w