1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế

62 418 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 15,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhất làhiện nay nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng đang gây lên áp lực lớn với vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây dược liệu.Thực tế hiện nay,việc t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Lâm Nghiệp

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con Ba

kích tím (Morinda offcinalis How) có xuất xứ Thừa Thiên Huế tại

vùng cát nội đồng tỉnh Thừa Thiên Huế

Sinh viên thực hiện : Trần Đăng Quý

Giáo viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Hợi

NĂM 2015

Trang 2

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc rấtphong phú và đa dạng Theo thống kê của Viện Dược liệu (2003), đã ghi nhậnđược 3.850 loài cây dùng làm dược liệu chữa bệnh, trong đó chữa được cảnhững bệnh nan y hiểm nghèo Tuy nhiên, nhiều năm trở lại đây nước ta đangphải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng nguồn dược liệu do hoạt độngkhai thác, buôn bán và sự quản lý kém hiệu quả tại nhiều địa phương Nhất làhiện nay nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng đang gây lên

áp lực lớn với vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây dược liệu.Thực tế hiện nay,việc tiến hành tuyển tập các giống, loài, xuất xứ khác nhau,khảo sát các đặc điểm phân biệt cũng như khả năng cung cấp sản phẩm và khảnăng gây trồng theo hướng cung cấp nguyên liệu và một việc làm rất cấp thiếtnhằm đáp ứng nhu cầu xã hội cũng như nâng cao hiệu quả bảo tồn được loài

ngoài tự nhiên Trước thực trạng trên việc thực hiện đề tài” Nghiên cứu đặc

điểm sinh thái nơi phân bố và kĩ thuật gây trồng cây Ba kích tím (Morinda offcinalis How.) tại Thừa Thiên Huế ” là rất cấp thiết và thiết thực.

Nội dung nghiên cứu: Xác định các đặc điểm sinh thái nơi phân bố của loàitại khu vực nghiên cứu: các chỉ tiêu về thổ nhưỡng, thực vật, địa hình, ánh sáng,đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây con ở giai đoạnvườn ươm

Phương pháp nghiên cứu : Thừa kế số liệu thứ , thu thập số liệu sơ cấp bằngviệc điều tra ngoài thực địa, thu thập các thông tin về đặc điểm sinh thái của loài nơi

có sự phân bố, phương pháp bố trí thí nghiệm về độ che bóng và giá thể ruột bầu.Kết quả: Đề tài đã tìm hiểu và xác định được đặc điểm hình thái, vùng phân

bố và đặc điểm sinh cảnh sống của loài Ba kích tím có xuất xứ ở Thừa ThiênHuế Thông qua nguồn vật liệu giống thu thập được, đề tài đã tiến hành thínghiệm giâm hom cành loài Ba kích tím xuất xứ Thừa Thiên Huế dưới ảnhhưởng của nồng độ chất kích thích ra rễ IBA ở các nồng độ khác nhau từ 0ppmđến 800ppm Kết quả cho thấy tỷ lệ ra rễ của hom giâm là khá cao từ 50 – 70%,mặc dù có sự sai khác về mặt quan sát, các công thức ở nồng độ 600ppm và800ppm cho kết quả tốt hơn các công thức có nồng độ thấp tuy nhiên chưa có sựkhác biệt đáng kể về mặt thống kê

Đề tài đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các giá thể khác nhau đếnsinh trưởng chiều cao của cây con Ba kích kết quả cho thấy sau 2 tháng đầu tiêncây con sinh trưởng chiều cao bình quân 2cm, sinh trưởng chậm ở tháng đầu tiên

Trang 3

và có dấu hiệu sinh trưởng nhanh vào tháng thứ 2 Mặc dù có sự khác nhau vềkhả năng sinh trưởng chiều cao của cây con được trồng trên các giá thể khácnhau tuy nhiên do hạn chế về thời gian nên sự khác biệt này là chưa đáng kể.Bên cạnh nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể, đề tài còn tiến hành nghiêncứu ảnh hưởng của chế độ che bóng đến khả năng sinh trưởng chiều cao của câycon Kết quả nghiên cứu cho thấy về mặt trực quan sự sinh trưởng chiều cao củacây con tốt ở các chế độ che bóng 50% và 75% và sinh trưởng có phần hạn chế

ở các chế độ che bóng 0% và 25% Tuy nhiên chưa đánh giá được sự ảnh hưởngcủa chế độ che bóng đến sinh trưởng của cây con về mặt thống kê

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Hiện trạng các loài đất theo nguồn gốc phát sinh trên địa bàn tỉnhThừa Thiên Huế 24Bảng 4.2 Tăng trưởng GDP của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 2010 27Bảng 4.3 Vốn thu hút đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 201028Bảng 4.4 Tỷ lệ ra rễ của hom Ba kích sau thời gian 1 tháng 40Bảng 4.5 Ảnh hưởng của giá thể ruột bầu đến sự sinh trưởng chiều cao của câycon Ba kích (cm) 42Bảng 4.6 Ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng chiều cao của câycon Ba kích 44

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Ba kích tím lá trơn 37Hình 4.2 Đặc điểm sinh cảnh nơi phân bố của loài Ba kích tím 38Hình 4.3 Đặc điểm phân bố cá thể 38Hình 4.4 Biểu đồ biểu diễn sự sinh trưởng chiều cao của cây con theo thời gian (cm) 41Hình 4.5 Biểu đồ sinh trưởng chiều cao theo thời gian dưới các chế độ che bóngkhác nhau (cm) 43

Trang 6

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

2.1 Tổng quan vê cây thuốc trên thế giới 2

2.1.1 Lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc trên thế giới 2

2.1.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc trên thế giới 2

2.1.3 Hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc 4

2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 5

2.2.1 Vài nét về y học cổ truyền Việt Nam 5

2.2.2 Lược sử các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam 6

2.2.3 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 11

2.2.4 Tiềm năng và tình hình khai thác sử dụng cây thuốc nam 12

2.2.5 Khả năng khai thác trong tự nhiên 13

2.2.6 Một số thông tin về cây Ba kích và tình hình gây trồng 14

2.2.6.1 Đặc điểm của cây Ba kích 14

2.2.6.2 Công dụng của cây Ba kích 15

2.2.6.4 Đặc điểm sinh thái học cây ba kích 15

2.2.6.5 Hoạt động gây trồng cây Ba kích tím 16

CHƯƠNG III: ĐỐI TƯỢNG, PHAM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 18

3.1.1 Mục tiêu chung 18

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 18

3.2 Nội dung nghiên cứu 18

3.3 Phạm vi nghiên cứu 18

3.4 Phương pháp nghiên cứu 19

3.4.1 Thừa kế số liệu thứ cấp 19

3.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp 19

Trang 7

3.4.3 Xử lí và phân tích số liệu 20

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế 21

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 21

4.1.1.1 Vị trí địa lý 21

4.1.1.2 Địa hình, địa thế 21

4.1.1.3 Khí hậu thủy văn 22

4.1.1.4 Đất đai, thổ nhưỡng – thảm thực vật 24

4.1.1.5 Đặc điểm nhóm cồn cát và đất cát biển ở T.T Huế 25

4.1.1.6 Thực trạng đất đồi núi và đất cát chưa sử dụng chưa quy hoạch cho lâm nghiệp 26

4.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế 27

4.1.2.1 Dân cư và nguồn lao động 27

4.1.2.2 GDP 27

4.1.2.3 Tổng vốn thu hút đầu tư 27

4.1.2.4 Kim ngạch xuất - nhập khẩu 28

4.1.2.5 Lượng khách du lịch 29

4.1.2.6 Khu kinh tế, khu công nghiệp 29

4.1.2.7 Các ngành kinh tế mũi nhọn 30

4.1.2.8 Công nghiệp 35

4.1.2.9 Nông, lâm, ngư nghiệp 35

4.2 Đặc điểm hình thái, sinh cảnh phân bố của loài Ba kích tím xuất xứ Thừa Thiên Huế 36

4.3 Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nhân giống bằng phương pháp giâm hom 39

4.4 Ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm 41

4.5 Ảnh hưởng của chế độ che bóng đến khả năng sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm 43

Trang 8

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Tồn tại 46

5.3 Kiến nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 9

CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc rấtphong phú và đa dạng Theo thống kê của Viện Dược liệu (2003), đã ghi nhậnđược 3.850 loài cây dùng làm dược liệu chữa bệnh, trong đó chữa được cảnhững bệnh nan y hiểm nghèo Tuy nhiên, nhiều năm trở lại đây nước ta đangphải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng nguồn dược liệu do hoạt độngkhai thác, buôn bán và sự quản lý kém hiệu quả tại nhiều địa phương Nhất làhiện nay nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng đang gây lên

áp lực lớn với vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây dược liệu

Ba kích (Morinda spp.) là dạng cây thân thảo sống lâu năm, có rễ củ dùnglàm thuốc Rễ củ của Ba kích có tác dụng ôn thận, tráng dương, chống viêm,tăng cường sức đề kháng…(theo Thuốc Đông dược) Ngoài tự nhiên cung nhưthói quen của người dân đang khai thác và sử dụng khá nhiều giống loài khácnhau để làm thuốc với nhiều cái tên khác nhau như Ba kích tím, Ba kích lông,

Ba kích vàng, Ba kích trắng…để chỉ các giống loài khác nhau theo kinh nghiệmdân gian nhưng lại thiếu các thông tin về mặt khoa học Mặt dù vậy, đây cũng làloài dược liệu được người dân quen dùng nhiều như một loại sâm vì vậy nókhông chỉ có ý nghĩa về mặt y học mà còn có giá trị kinh tế, rễ Ba kích trên trênthị trường có giá từ 300 – 500 nghìn đồng/kg Hiện nay, Ba kích là loài đang bị

đe dọa nghiêm trọng ngoài tự nhiên do khai thác chưa chú trong đến việc nhângiống và gây trồng

Thực tế hiện nay,việc tiến hành tuyển tập các giống, loài, xuất xứ khácnhau, khảo sát các đặc điểm phân biệt cũng như khả năng cung cấp sản phẩm vàkhả năng gây trồng theo hướng cung cấp nguyên liệu và một việc làm rất cấpthiết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội cũng như nâng cao hiệu quả bảo tồn được

loài ngoài tự nhiên Trước thực trạng trên việc thực hiện đề tài” Nghiên cứu kĩ

thuật nhân giống và chăm sóc cây con Ba kích tím (Morinda offcinalis How) có xuất xứ Thừa Thiên Huế tại vùng cát nội đồng tỉnh Thừa Thiên Huế ” là rất cấp

thiết và thiết thực

Trang 10

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan vê cây thuốc trên thế giới

2.1.1 Lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc trên thế giới

Từ thời cổ xưa, loài người đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc vào côngtác chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu của cuộc sống

Theo Aristote (384 – 322 trước Công nguyên) đã tổng kết trên 4.000 nămtrước, các dân tộc ở vùng Trung Cận Đông đã biết đến cả ngàn cây thuốc, saunày người Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng (dẫn từ Võ Văn Chi

và Trần Hợp, 1999)

Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc rút lại cho biết người AiCập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để điều trị bệnh và ướp xáccác vua chúa hoặc làm nước thơm từ hơn 4.000 năm trước Công nguyên NgườiNhật Bản đã biết sử dụng cây Bạc hà làm thuốc trị bệnh từ 2.000 năm trướcđây… (dẫn từ Lã Đình Mỡi và các nnk., 2001)

Nền y học cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ đều được ghi nhận trong lịch sử

về việc sử dụng cây cỏ làm thuốc cách đây khoảng 3.000 – 5.000 năm (dẫn từTrần Văn Ơn) Từ thời xa xưa, thực vật làm thuốc đóng một vai trò quantrọngđối với người dân nhiều nước ở châu Á Tuy nhiên người dân chủ yếu khaithác cây thuốc từ thiên nhiên hoặc được trồng với mục đích phục vụ trong giađình, trừ các các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia và Nepal là trồngchúng với mục đích thương mại Tuy vậy các quốc gia này cũng chỉ trồng vớiquy mô nhỏ và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước

Qua các nghiên cứu về lịch sử sử dụng cây thuốc can các dân tộc trên thếgiới cho thấy, mỗi dân tộc trên thế giới đều có tri thức sử dụng cây thuốc đểchữa bệnh từ lâu đời và đặc sắc tuỳ thuộc vào từng nền văn hoá

2.1.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc trên thế giới

Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 1985, trên toànthế giới đã biết tới trên 20.000 loài thực vật bậc thấp và bậc cao (trong tổng số250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp làm thuốc hay có xuất xứcung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N.R Farnsworth và D.D.Soejarto, 1985).Theo Napralert, năm 1990 con số này được ước tính từ 30.000 – 70.000 loài cây

Trang 11

thuốc Trong đó ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được xem làloài cây thuốc, Ấn Độ có hơn 6.000 loài, vùng nhiệt đới Đông – Nam Á khoảng6.500 loài…( dẫn từ Nguyễn Tập, 2007).

Theo Lewington (1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35.000 loài thựcvật đang được sử dụng trong các nền văn hoá khác nhau vào mục đích chữabệnh Nhiều loài trong số chúng là đối tượng không thể kiểm soát được trongcác hoạt động buôn bán ở quy mô địa phương hoặc quốc tế (dẫn từ Phạm VănĐiển và Phạm Minh Toại, 2005)

Nguồn gen cây thuốc đang ở trong tình trạng bị đe doạ do mất môi trườngsống, nạn phá rừng, thiên tai, sự khai thác cạn kiệt,… Có rất nhiều bằng chứng chỉ

ra rằng sự đa dạng nguồn gen thực vật, bao gồm cả cây thuốc, đang bị suy giảmmột cách trầm trọng ở nhiều nước trên thế giới Tình trạng này càng trở nên trầmtrọng ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hoá nhanh, và nạn phá rừngthường xuyên xảy ra, đặc biệt là các nước Nam và Đông Nam châu Á Nhữngquốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nổ lực hơn nữa để sưu tập,giữ gìn và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sửdụng chúng một cách có hiệu quả ( Md Mamtazul Haque, 2004)

Trên thế giới có rất nhiều loài thực vật quý hiếm nhưng do các hoạt độngkhai thác bừa bãi của con người nên chúng đã dần cạn kiệt và có nhiều loài đã bịtuyệt chủng Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn 100năm trở lại đây có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn tại của chúng là rất mong manh vào giữa thế

kỷ tới, nếu chiều hướng này vẫn cứ tiếp tục thì các loài thực vật này càng cónguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng, trong số này có nhiều cây được dùng làm thuốc

Ví dụ ở Banglades có loài Tylopora cindica (Bunrm.F.) Mer dùng để chữa bệnh hen, loài Zanonia indica L dùng để tẩy xổ trước đây có rất nhiều nhưng do khai

thác quá mức nên hiện nay chúng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng

(Islam A.S, 1991) Loài Ba gạc (Rauvofia serpentine (L.) Bennth Ex Kurz)

hàng chục năm liền bị khai thác ở Ấn Độ, Srilanka, Banglades, Thái Lan,… vớikhối lượng 400 – 1.000 tấn vỏ, rể mỗi năm để xuất khẩu sang các thị trường Âu

- Mỹ, hiện nay đã trở nên cạn kiệt, thậm chí một số bang ở Ấn Độ, Chính phủ đãđình chỉ chính thức khai thác loài cây này Một số các loài cây thuốc khác có ở

vùng Đông Bắc Ấn Độ là Coptis teeta, trước kia cũng thường thu hái để bán

sang các nước Đông Á, song do khai thác quá mức nên loài cây này đang bị đedoạ Vì vậy song song với nghiên cứu về sử dụng cây thuốc thì một vấn đề cấpbách khác được đặt ra là phải bảo tồn các loài cây thuốc Tại Hội nghị Quốc tế

Trang 12

về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 đến 27 tháng 3 năm 1993 tạiChieng Mai, Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng vàviệc bảo tồn nguồn cây thuốc được đặt ra một cách cấp thiết.

Ngày nay, đã là thời điểm báo động về hậu quả mất đi nhanh chóng tính đadạng của nguồn tài nguyên sinh học, trong đó có nguồn cây thuốc của mỗi quốcgia Tư liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số43.000 loài thực vật mà tổ chức này thông tin, thì có gần 30.000 loài được coi là

bị đe doạ tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau Trong tài liệu “ Các loài thực vật

bị đe doạ ở Ấn Độ” xuất bản từ năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phầnlớn số loài là cây thuốc Trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư ” ( sách đỏ

về thực vật của Trung Quốc ), năm 1996 cũng giới thiệu gần 200 loài được sửdụng làm thuốc, cần được bảo vệ (dẫn từ Nguyễn Văn Tập, 2007)

Các nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm tài nguyên cây thuốc được xácđịnh là:

Tàn phá thảm thực vật

Hoạt động du canh du cư

Khai thác quá mức và sử dụng lãng phí tài nguyên cây thuốc

Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên

Khai thác không có kế hoạch và thay đổi cơ cấu cây trồng

Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hoá và bị thất truyền

2.1.3 Hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc

Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation): Chỉ có một số nước tham gia.Một trong những nước này là Sri Lanka, với 50 khu bảo tồn cây thuốc Tại Ấn

Độ có 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị Tại Trung Quốc các khu bảo tồn tàinguyên cây thuốc cũng được thành lập

Bảo tồn chuyển vị ( Ex-situ conservation): Năm 1989, tổ chức bảo tồn cácvườn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với UICN và WWF xây dựng “chiến lược bảo tồn ở các vườn thực vật” Trên thế giới có khoảng 1.500 vườnthực vật đã xây dựng, trong đó có khoảng 152 vườn can 33 quốc gia chuyêntrồng cây thuốc hay trồng kết hợp với các cây kinh tế khác Vườn thực vật ởTokyo có khoảng 1.600 loài, vườn thực vật Mêxico, vườn thực vật ở Bungari,Séc, Ba Lan cũng rất lớn và có nhiều loài được gây trồng

Trang 13

Đã có một số nước gây trồng cây thuốc với quy mô lớn phục vụ y tế vàcông tác bảo tồn như Trung Quốc, Ấn Độ (Trần Văn Ơn, 2003).

Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, bảo tồn cây thuốc nói riêngđang được nhiều quốc gia và các tổ chức quôc tế quan tâm

2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

2.2.1 Vài nét về y học cổ truyền Việt Nam

Y học cổ truyền (YHCT) Viêt Nam ra đời rất sớm và gắng liền với sự pháttriển của lịch sử và truyền thống văn hoá dân tộc (YHCT bao gồm YHCT chínhthống và YHCT bản địa của các dân tộc thiểu số) Trải qua hàng ngàn năm lịch

sử YHCT Việt Nam đã đúc kết dược nhiều kinh nghiệm phòng bệnh có hiệu quảtrong suốt những năm 1884 – 1945, y học hiện đại xâm nhập vào Việt Nam quangười Pháp Y học hiện đại được sự bảo trợ, ủng hộ của chính quyền thực dân,trong khi YHCT bị coi thường khinh rẻ nên YHCT hầu như không được quantâm thích đáng và bị gạt bỏ khỏi vị trí chính thống cho dù nó vẫn luôn đem lạigiá trị chữa bệnh cho nhân dân Sau Cách mạng tháng Tám, Đảng và nhà nướcrất quan tâm đến việt kế thừa, phát huy, phát triển YHCT với phương châm xâydựng một nền Y học hiện đại – dân tộc và đại chúng Hiện nay nhà nước ta đã cónhiều nỗ lực cho công tác điều tra nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa, phục vụcho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho toàn dân ngày một tốt hơn

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước lồng ghép Y dược cổ truyềnvào hệ thống Y tế quốc gia, phát huy được vai trò to lớn của Y dược cổ truyền.Đường lối phát triển Y dược học cổ truyền Việt Nam đã được khẳng định nhấtquán trong nhiều năm qua là: Kế thừa, phát huy, phát triển y dược học cổ truyền,kết hợp với y học hiện đại Y học cổ truyền Việt Nam với các phương phápphòng và chữa bệnh đã phục vụ hiệu quả cho việc giữ gìn và bảo vệ sức khoẻnhân dân từ xưa tới nay

Nhiều phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc như châm cứu, bấmhuyệt, khí công, dưỡng sinh không chỉ người dân Việt Nam ưa chuộng sửdụng chữa bệnh mà người dân nhiều nước trên thế giới cũng rất tin tưởng và ưathích, nó trở thành phương pháp chữa bệnh độc đáo trên thế giới Theo Tổ chức

Y tế thế giới đánh giá Việt Nam là một trong năm nước hàng đầu thế giới có hệthống y học cổ truyền phát triển lâu đời và đóng góp tích cực vào sự nghiệpchăm sóc sức khỏe nhân dân

Trang 14

Hiện đại hóa y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đạiđang là mục tiêu và yêu cầu phát triển của thời đại Việc tìm ra những phươnghướng thích hợp để hiện đại hóa y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với yhọc hiện đại mang đậm đà bản sắc dân tộc là vấn đề mang tính chiến lược hiện nay.Riêng lĩnh vực châm cứu, nước ta có lịch sử lâu đời nhất, có tổ chức, thầythuốc chuyên ngành, biên soạn tài liệu châm cứu sớm nhất trên thế giới Châmcứu Việt đã có hàng nghìn năm lịch sử, từ thực tiễn đúc rút thành lý luận Nhữngngười thầy thuốc châm cứu tiếp tục phát huy vốn quý đó của y học cổ truyền,kết hợp y học hiện đại xây dựng nền y học có đầy đủ tính chất khoa học, dântộc, đại chúng.

2.2.2 Lược sử các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam

Việt Nam là nước có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng Tổng số loàithực vật đã ghi nhận cho Việt Nam là 10.500 loài, ước đoán hệ thực vật Việt Nam

có khoảng 12.000 loài Trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếmkhoảng 30% Kết quả điều tranguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam giai đoạn2001-2005 của Viện Dược liệu (2006) cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thực vậtbậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc Trong đó nhóm thực vật bậccao có mạch có 3.870 loài Những cây thuốc cógiá trị sử dụng cao, có khả năngkhai thác trong tự nhiên là những cây thuốc nằm trong danh mục 185 cây thuốc

và vị thuốc thiết yếu của Bộ Ytế cũng như những cây thuốc đang được thị trườngdược liệu quan tâm gồm có 206 loài cây thuốc có khả năng khai thác

Cho đến nay, Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyênsinh vật đa dạng và phong phú, có khoảng 10% số loài đặc hữu, được xếp thứ 16trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh vật cao nhất thế giới.Đó là chưa kểđến những cây thuốc gia truyền của 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam mà cho đếnnay chúng ta mới chỉ biết được một phần Phần lớn cây thuốc dân tộc ở ViệtNam chưa được thống kê, không có trong các sách về cây thuốc đã xuất bản.Ngay cả các chuyên gia về cây thuốc cũng không biết có bao nhiêu loài, nhưngchắc chắn đó là một con số không nhỏ Ngoài thực vật hoang dã, các nhà khoahọc nông nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng, trong đó cũng có 179loài cây làm thuốc

Với một hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc cũng rất phongphú và đa dạng Chúng phân bố tập trung chủ yếu ở các trung tâm đa dạng sinhvật, trong đó có khu vực dãy Trường Sơn Cho đến nay, chúng ta chưa có danhsách đầy đủ về số loài, sự phân bố và trữ lượng của cây thuốc ở khu vực rộng

Trang 15

lớn này Các số liệu điều tra thực vật suốt thời gian qua còn nằm rải rác trong hồ

sơ của các cơ quan nghiên cứu, các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn tự nhiên.Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá toàn diện giá trị của cây thuốc trongkhu vực dãy Trường Sơn, để phục vụ cho việc bảo tồn, khai thác bền vững và sửdụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này

Theo kết quả điều tra của Viện dược liệu trong thời gian 2002-2005, số loàicây thuốc ở một số vùng núi trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơnnhư sau: Đắc Lắk (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (841 loài), Lâm Đồng(756 loài) Gần đây, Hội Đông y huyện M’Đrắc (tỉnh Đắc Lắk), đã phát hiện tạivùng rừng núi của các xã Ea M’Đoan, Ea Mlay, Krông Á và Ea Trang có khá

nhiều loại cây thuốc phân bố khá tập trung như Thạch xương bồ (Acorus

gramineus), Thổ phục linh (Smilax glabra), Kim ngân (Lonicera spp), Hoàng

đằng (Fibraurea recisa), Cốt toái bổ (Drynaria fortunei), Củ bình vôi

(Stephania spp), Cẩu tích (Cibotium barometz), Riềng rừng (Alpinia sp), Thiên

niên kiện (Homalomena occulta), vv Ở khu vực Chư Yang Sin (huyện Krông

Bông và Lắc), người ta cũng đã phát hiện một số loài cây thuốc như Kê huyết

đằng, Nhân trần (Adenosma caerulea), Ngũ gia bì chân chim (Schefflera spp),

Sa nhân (Amomum villosum), Đảng sâm (Codonopsis javanica), Ba gạc hoa đỏ

(Rauvolfia serpentina) và đặc biệt cây Ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera).

Từ trước đến nay, nhiều địa phương trong nước ta đã có truyền thống trồngcây thuốc, như Quế (ở Yên Bái, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi(ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu), Hoè (ở Thái Bình), vv Cónhững làng chuyên trồng cây thuốc như Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (VănLâm, Hưng Yên) Gần đây, nhiều loài cây thuốc ngắn ngày cũng được trồngthành công trên quy mô lớn như Ác ti sô, Bạc hà, Cúc hoa, Địa liền, Gấc, Hươngnhu, Ích mẫu, Kim tiền thảo, Mã đề, Sả, Thanh cao hoa vàng, Ý dĩ, vv

Một trong những cây thuốc đang được trồng ở miền núi phía Bắc là Thảoquả (ở Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang) Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm

2002, tổng diện tích rừng có trồng Thảo quả ở Việt Nam là 1.626 ha Trong đó,riêng tỉnh Lào Cai có 1.500 ha Trung bình, mỗi hecta trồng Thảo quả cho 250Kg/năm; giá bán như hiện nay khoảng 60.000 đến 70.000 đ/Kg, thì thu đượckhoảng 15 - 17,5 triệu đồng/ha/năm Thu nhập từ Thảo quả của một hộ gia đình

ở Bản Khoang vào khoảng 5.170.000 đồng/năm, tương đương 345 USD (2001).Nguồn thu nhập này chiếm khoảng 50% tổng thu nhập của hộ Đó cũng là mộtkhoản thu nhập đáng kể của người dân ở miền núi

Trang 16

Theo kinh nghiệm ở Sa Pa, thu nhập từ trồng cây thuốc đạt 14-24 triệuđồng/ha/năm, trong khi thu nhập từ cây lương thực chỉ đạt 2,4-4,8 triệu đồng/ha/năm

Việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc được tiến hành dưới hình thức bảo tồn

đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn,

Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu đã tạo nên mức độ đadạng sinh học về khu phân bố, chủng loại tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Từ 1997, Bộ Y tế hàng năm cấp kinh phí cho “Dự án Bảo tồn cây thuốc cổtruyền” trong khuôn khổ “Chương trình hỗ trợ hoạt động của ngành” Kết quảcủa chương trình này đã ghi nhận tại một số địa phương nhiều loài cây thuốcmới cùng với tri thức y học cổ truyền của đồng bào dân tộc

Cùng với sự phát triển của lịch sử, kinh nghiệm dân gian về sử dụng thuốc

ở Việt Nam ngày càng trở nên phong phú, hiệu nghiệm, gắn liền với tên tuổi củanhiều vị danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông Tuệ Tĩnh đã viếtnhiều sách thuốc và phương pháp chữa bệnh Rất tiếc, nhiều công trình quý giá

của ông đã bị mai một, hiện chỉ còn sót lại hai bộ Nam dược thần hiệu đề cập đến 496 vị thuốc nam và bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư gồm 600 vị thuốc ở Việt

Nam và cách sử dụng

Kế thừa Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh vào thế kỷ XVII Lê Hữu Trác

(Hải Thượng Lãn Ông) đã bổ sung thêm 329 vị thuốc nam nữa làm thành bộ

sách "Lĩnh nam bản thảo" Với sự nghiệp y học vĩ đại, Tuệ Tĩnh và Hải Thượng

Lãn Ông đã được người đời nay tôn vinh và những "ông tổ" của nền y dược họcViệt Nam

Sau Hải Thượng Lãn Ông, từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, dưới triều vuaQuang Trung và triều Nguyễn cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về

cây thuốc Việt Nam, trong đó, hiện còn lưu lại được những cuốn như Nam dược

và Nam dược chỉ danh truyền của Nguyễn Quang Tuân đã ghi chép tỷ mỉ về 500

vị thuốc nam theo kinh nghiệm dân gian, hoặc cuốn Nam dược tập nghiệm quốc

âm của Nguyễn Quang Lượng, hay Nam thiên đức bảo toàn thư của Lưu Ðức

Huệ, v.v

Với chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa y học hiện đại và y học cổ truyền củadân tộc, đặc biệt là tri thức bản địa của các cộng đồng người dân tộc trong sửdụng cây cỏ làm thuốc bồi bổ cơ thể và thuốc chữa bệnh, ngay sau hòa bình lậplại ở miền Bắc (1954) và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975),chúng ta đã có nhiều nỗ lực, đầu tư điều tra, nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc

Trang 17

nhằm khai thác, sử dụng phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.Hiện nay, xu hướng sử dụng cây thuốc chữa bệnh theo y học dân tộc cổtruyền ở Việt Nam đang ngày càng được nhiều tầng lớp nhân dân tin dùng.Ðảng, Nhà nước, Chính phủ cũng rất quan tâm Mặc dù vậy, việc sưu tầm nhữngkinh nghiệm dân gian trong sử dụng cây thuốc phục vụ cuộc sống con ngườichưa được tiến hành có hệ thống, nhiều bài thuốc hay, nhiều cây thuốc quý cóthể đã bị thất truyền Sự thất truyền cũng dễ xảy ra khi những người biết câythuốc không chịu truyền cho người khác, ngay cả cho con cháu trong dòng họ.Hiện đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân gian gia truyềncủa 12.531 lương y Nhiều dược phẩm được phát triển gần đây dựa trên tri thức

sử dụng của cộng đồng như Ampelop, dựa trên tri thức sử dụng cây Chè dây

(Ampelopsis cantoniensis Hook Et Arn.) để chữa bệnh của người Tày ở Cao Bằng; cây Tật lê (Tribulus terrestris L.), dựa trên tri thức sử dụng của người

Chăm, vv Trong các nền y học nhân dân, mỗi cộng đồng miền núi (cấp xã)thường biết sử dụng từ 300 - 500 loài cây cỏ sẵn có trong khu vực để làm thuốc.Mỗi gia đình biết sử dụng từ vài đến vài chục cây để chữa các chứng bệnh thôngthường ở cộng đồng đó Mỗi cộng đồng thường có 2 - 5 thầy Lang có kinhnghiệm sử dụng và sử dụng số loài nhiều hơn

Năm 1962, GS Đỗ Tất Lợi đã cho công bố bộ sách Những cây thuốc và vị

thuốc Việt Nam (hay Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam) Đây là một bộ

sách lớn, lần xuất bản đầu tiên (1962-1965) được in 10.000 cuốn, chia làm 6 tập,tổng cộng dày 1.494 trang và được tái bản nhiều lần Bộ sách đã giới thiệu hơn

750 vị thuốc, gồm 164 cây thuốc, 77 vị thuốc động vật, 20 vị thuốc khoáng vật.Mỗi loại đều có tên khoa học, tên tiếng Việt và tên chữ Hán, những đặc tínhchung, mô tả quá trình phân phối, thu hoạch, chế biến, thành phần hoá học vàcông dụng, liều dùng Cuốn sách bao gồm cả những loại thuốc mà các nhà khoahọc đã xác minh cơ chế, lẫn cả những loại được kiểm chứng hiệu nghiệm trongthực tế nhưng vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng

GS.TS Võ Văn Chi là tác giả và đồng tác giả của hàng loạt tác phẩm như:

Từ điển Cây thuốc Việt Nam (NXB Y học - 1997) giới thiệu hơn 3.000 cây

thuốc, Từ điển Thực vật và khoáng vật làm thuốc Việt Nam (NXB Y học 1998), Từ điển Thực vật thông dụng (2 tập, NXB Khoa học - 2003, 2004), Cây

-cỏ có ích ở Việt Nam (NXB Giáo dục, 1999 - 2001), Sách tra cứu tên cây -cỏ Việt Nam (NXB Giáo dục, 2007), Cây rừng chữa bệnh, Hệ cây thuốc Tây Nguyên, Cây thuốc Đồng Tháp Mười và cách dùng để trị bệnh thông thường,

Trang 18

Cây rau làm thuốc, Rắn làm thuốc và điều trị rắn cắn, 200 cây thuốc thông dụng, Từ điển động vật và khoáng vật làm thuốc Việt Nam

Tác giả cũng đã xây dựng và xuất bản cuốn Dược liệu Việt Nam (1969

-1972) gồm 341 dược liệu trong nước, 74 dược liệu nhập ngoại, 3 chuyên luậnchung về trồng cây thuốc, chế biến, bào chế, bảo quản thuốc cổ truyền dân tộc.Trong bước này đã thống nhất chọn tên chính, tên khoa học, tên khác của câythuốc hoặc bộ phận dùng làm thuốc, mô tả, hình vẽ bộ phận dùng của dược liệu,

tính vị, công dụng, liều dùng, cách dùng Cuốn Dược liệu Việt Nam đã được

xuất bản 2 lần, lần thứ nhất là 5.000 cuốn và lần thứ hai là 12.000 cuốn

Trần Công Khánh với công trình "150 loài cây thuốc độc ở Việt Nam" đã mô

tả đặc điểm nhận biết để phân biệt các loài cây độc này cũng như đặc điểm phân

bố và khả năng sử dụng chúng trong vấn đề chữa bệnh hay làm thuốc trừ sâubệnh hại cho cây trồng

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp (1998) với công trình “Góp phần điều tra

cây thuốc của người Dao ở Vườn quốc gia Ba Vì” đã đưa ra được danh lục một

số loài cây thuốc chủ yếu mà người Dao thu hái, nhưng chủ yếu là tên địaphương và tác giả đã đi sâu phân tích quy trình chế biến thuốc từ vật liệu là câyrừng đã thu được

Trần Văn Ơn (1999) đã đưa ra kết quả tổ chức chọn lọc một số hộ tham giasưu tầm hom giống cây thuốc từ rừng về ươm tại nhà với sự hỗ trợ của dự án

cây thuốc (Báo cáo về “Thử nghiệm nhân giống cây thuốc bằng hom tại Ba Vì”) Trần Khắc Bảo (1994) trong “Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà

Giang” đã đề cập đến các vấn đề về chế biến, bảo quản và phát triển cây thuốc ở

địa bàn nghiên cứu

Mai Văn Phô, Lê thị Hồng Nguyệt (2001) và Trần Thiện Ân, Huỳnh VănKéo (2005) đã tiến hành nghiên cứu về kiến thức bản địa trong việc sử dụng tàinguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Cơtu và dân tộc Mường tại vùng đệmVQG Bạch Mã thuộc hai huyện Nam Đông và Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.Mới đây tại Thừa Thiên Huế đã phát hiện 130 loài thuốc nam có giá trị.Đây là kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm Huế trong quá trìnhtriển khai mô hình phát triển cây thuốc nam trên đất rừng được giao tại huyệnNam Đông, thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Bạch Mã Tuy nhiên, người dân địaphương hiện mới chỉ biết sử dụng 62 loài làm dược liệu Nhằm bảo tồn và pháthuy nguồn dược liệu có giá trị phục vụ chữa bệnh tại chỗ, sử dụng làm hàng hóa

và nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Nông - Lâm Huế bước đầu chọn 28 hộ

Trang 19

gia đình có vườn, rừng thuộc xã Hương Phú (Nam Đông) để phát triển mô hình,gắn với mục đích nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân vùng núi.Năm 2006, nhóm tác giả Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Đỗ Xuân Cẩm,Dương Viết Tình, Nguyễn Viết Tuân ở Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học

Nông Lâm Huế biên soạn cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng và bảo tồn một số loài

cây thuốc nam” nhằm bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu, cung cấp cho người

dân những thông tin về đặc điểm nhận biết, kỹ thuật gây trồng cũng như sơ chếmột số loài cây thuốc Nam có giá trị kinh tế, giúp người dân nâng cao thu nhập

từ rừng

2.2.3 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc rất phong phú

và đa dạng nhưng Việt Nam lại đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầmtrọng nguồn dược liệu do hoạt động khai thác và buôn bán tự phát tại nhiều địaphương Điều đáng ngại hơn cả là tình trạng nhiều thương lái trong và ngoàinước lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bà con ở vùng sâu, vùng xa để thu gom vàbán số lượng lớn cây thuốc qua biên giới với giá rẻ mạt Hoạt động này khôngchỉ đơn thuần làm cạn kiệt nguồn tài nguyên vốn dồi dào mà còn làm mất đinhiều giá trị tri thức bản địa quý giá, gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với quốc gia

và địa phương

Theo tài liệu từ Viện Dược liệu Trung ương, Bộ Y tế, hiện chúng ta đã pháthiện được hơn 3.900 loài cây thuốc, trong đó có 144 loài cây thuốc quý hiếmđược đưa vào Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, nhiều loài đồng thời còn đượcghi trong Sách Đỏ Việt Nam Đặc biệt có một số loài được ghi trong Nghị định

số 32/2006/CP của Chính phủ như: Bắc xanh, Pơmu, Du sam núi đá, Thông đỏBắc, Sa mộc dầu, các loài Tế tân, Tam thát hoang, Vù hương, Hoàng đằng, ThổHoàng Liên…

Tuy nhiên, “nguồn “vàng xanh” của chúng ta ngày càng bị thất thoát và cónguy cơ cạn kiệt Chỉ tính riêng tại một số điểm giáp biên thuộc tỉnh Cao Bằng,mỗi năm có ít nhất từ 300.000 đến 500.000 tấn dược liệu bị khai thác và bán quabiên giới, chủ yếu là bán sang Trung Quốc Và trong hơn 20 năm qua, số dượcliệu tươi và khô chảy qua biên giới đã lên tới trên dưới 10 triệu tấn” – Bác sĩHoàng Văn Bé, Chủ tịch Hội Đông y Cao Bằng cho biết

Trang 20

Từ năm 1960 đến nay, hàng năm có tới hơn 200 loài cây thuốc đượcthương mại hóa Chúng được khai thác từ nguồn tự nhiên hay trồng trọt với khốilượng lên tới 100.000 tấn/năm Một số địa phương như Phú Thọ, Vĩnh Phúcnhững năm trước đây thường xuyên thu mua 10 loại dược liệu là Ba kích, Sanhân, Thiên niên kiện, Ngũ gia bì, Chân chim, Lạc tiên, Thổ phục linh, Dạ cẩm,Thảo quyết minh, Ích mẫu, Nhân trần, Bồ bồ Nhiều trong số các loài cây thuốcvừa nêu, không chỉ phục vụ nhu cầu địa phương, trung ương mà còn xuất khẩuqua Trung Quốc.

Không chỉ đáp ứng nhu cầu dược liệu từ nguồn cây thuốc trong nước, hằngnăm nhiều loại dược liệu và tinh dầu quý như Sa nhân, Thảo quả, Quế, Hồi, Bakích, Sả, Hương nhu, Bạc hà, Màng tang, v.v thường xuyên được xuất khẩuvới giá trị từ 30-50 triệu USD/năm

Cho dù con số thống kê về số loài cây thuốc, số lượng dược liệu được khaithác hàng năm cũng như giá trị kinh tế do nguồn cây thuốc mang lại chưa thậtchính xác, nhưng rõ ràng ở nước ta cây thuốc đã có một vị trí hết sức quan trọngtrong việc cung cấp thuốc chữa bệnh cho nhân dân (nhất là đồng bào các dân tộcthiểu số ở vùng sâu, vùng xa), đặc biệt là trong những năm chiến tranh chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

Từ nhiều năm nay, nhất là những năm gần đây, trong cơ chế thị trường, rấtnhiều loài cây thuốc quý của nước ta đã bị khai thác quá mức, bán bừa bãi ranước ngoài Người dân miền núi, những chủ nhân của các nguồn tài nguyên đóchẳng những không được hưởng lợi một cách xứng đáng, mà ngay cả nhữnghiểu biết có tính gia truyền - những tri thức bản địa của họ cũng bị xâm phạm.Nếu so với toàn bộ nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam thì cây thuốc lànhóm bị đe dọa gay gắt nhất Ðối chiếu với "Sách Ðỏ Việt Nam" tập II - Phầnthực vật, 1996, số loài cây thuốc đang có nguy cơ tuyệt chủng hoặc sắp bị đedọa tuyệt chủng cũng chiếm tỷ lệ khá cao

2.2.4 Tiềm năng và tình hình khai thác sử dụng cây thuốc nam

Lãnh thổ đất liền Việt Nam hẹp chiều ngang và dài chiều dọc với toạ độ

8o30’ đến 23O22’ vĩ Bắc và 102o10’ đến 109o24’ kinh Đông, diện tích gần 1/3triệu km2 ( 331.688 km2) Có bờ biển dài hơn 3000km với lãnh hải và vùng đặcquyền kinh tế trên 1 triệu km2 Địa hình 3/4 là đồi núi, đỉnh núi cao nhất làFansipan: 3.143 m, là đỉnh núi cao nhất Đông Dương Diện tích đồi núi chủ yếu

là đồi núi thấp, độ cao từ 500m trở xuống chiếm tới 70%, độ cao 1000m trởxuống chiếm tới 85% và chỉ có 15% diện tích lãnh thổ cao trên 1.000m và 1%

Trang 21

cao trên 2000m Về khí hậu, Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nắng lắmmưa nhiều, lượng mưa trung bình năm trên 1.500mm, thuận lợi cho cây cỏ pháttriển quanh năm.

Theo báo cáo của Viện Dược liệu (2007) cho thấy:

Nhu cầu sử dụng dược liệu cần 59.548 tấn , trong đó: Phục vụ cho côngnghiệp Dược : 20.986 tấn (chiếm 35,0 %); phục vụ Y học cổ truyền : 18.452 tấn( chiếm 31,0 %); phục vụ xuất khẩu (kể cả chiết xuất và tinh dầu): 20.110 tấn(chiếm 34.0%)

Và khả năng cung cấp dược liệu hiện nay là : Khai thác trong tự nhiên(10% trữ lượng): 12.100 tấn (chiếm 20%); từ nuôi trồng (136 loài): 15.606 tấn(chiếm 26%); từ nhập khẩu: 31.842 tấn ( chiếm 54%)

Từ đây cho thấy việc khai thác, nuôi trồng nguồn nguyên liệu trong nướcđang có xu hướng suy giảm, thiếu một chính sách chiến lược Nhu cầu sử dụngchủ yếu là nhập khẩu, trong đó nhập lậu rất phổ biến

2.2.5 Khả năng khai thác trong tự nhiên

Nguyên liệu cây thuốc tự nhiên ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, baogồm các loài cây cỏ, động vật khoáng chất, côn trùng và thuỷ sản Các cây cỏ tựnhiên có thể làm nguyên liệu sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng có ở rảirác khắp các vùng, từ đồng bằng đến miền núi Song trữ lượng và chủng loại rấtphân tán và ít ỏi, ví dụ như: cỏ xước, rau sam, rau má, bông mã đề, nhân trần,thảo quyết minh…

Một số vùng có nguyên liệu tự nhiên phong phú hơn tập trung ở HoàngLiên Sơn, Ba Vì, Tam Đảo, Lào Cai, Quảng Nam, Đà Lạt, Hoà Bình, Sapa, BắcKạn, Thái Nguyên… Trong số cây thuốc hoang dại, xác định còn 206 loài cònkhả năng khai thác với sản lượng ước tính 121.000 tấn/năm, và đánh giá thấyrằng có 136 loài cây thuốc hiếm gặp có nguy cơ tuyệt chủng, cần có kế hoạchbảo vệ và khôi phục phát triển

Riêng vùng biển Việt Nam rất phong phú về các loài động vật, thực vật (rong,tảo) để sản xuất thực phẩm chức năng (TPCN) Rong biển Việt nam có khoảng 794loài, biển miền Bắc khoảng 310 loài, biển miền Nam có khoảng 484 loài

Có thể chia ra 5 vùng còn khả năng khai thác dược liệu tự nhiên sau đây:

Vùng núi phía Bắc: Trên diện tích rừng tự nhiên, rừng đang phục hồi, rừng

phòng hộ của các huyện : Quản Bạ, Vị Xuyên, Bắc Quang (Hà Giang), Bát Sát,Bảo Tháng,Văn Bàn, Sa pa (Lào Cai); Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Cạn), Sìn Hồ,

Trang 22

Mường Tè, Phong Thổ (Lai Châu), Sông Mã, Mường La ( Sơn La), Lạc Sơn,Lạc Thuỷ (Hoà Bình), Quảng Bạ, Bảo Lộc (Cao Bằng), Ba chẽ, Vân Đồn(Quảng Ninh).

Vùng Bắc Trung Bộ: Các huyện miền tây Thanh Hoá, Quỳ Sơn, Tương

Dương, Quỳ Hợp (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng Bình),

A Lưới, Phú Lộc, Nam Đông (Thừa Thiên Huế)

Vùng Nam Trung Bộ: Phước Sơn, Tây Giang, Nam và Bắc Trà My (Quảng

Nam), Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng (Quảng Ngãi), Sông Hinh (Phú Yên)

Tây Nguyên: Kômplông, Tumơroong, Đăclây (Kon Tum); K.Bang,

Kongchro, Chu Prông ( Gia Lai), M.Drak, Krông Bông, Eakar (Đắc Lắc), ĐakNông (Đắc Nông); Di Linh, Lâm Hà, Lạc Dương (Lâm Đồng)

Vùng biển và đảo: Có thể khai thác rong biển và một số cây con thuốc ở

biển và đảo từ Quảng Ninh đến Kiên Giang

Trong số 62 loài cây thuốc còn khả năng khai thác trong tự nhiên thì hai

loài có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài là Bồ bồ (Adenosma

indiana Merr.) được khai thác tại các địa phương như Quảng Ninh, Bắc Giang,

Phú Thọ, Tuyên Quang, Hoà Bình, Thanh Hoá, còn Nhân trần (Adenosma

cearulea R.Br.) được khai thác tại Cao Bằng, Lạng Sơn,Thái Nguyên, Bắc Cạn,

Hoà Bình, Sơn La, Hà Giang

(Nguồn: dẫn từ tài liệu Thực phẩm chức năng của Hội Thực phẩm chức

năng Việt Nam).

2.2.6 Một số thông tin về cây Ba kích và tình hình gây trồng

2.2.6.1 Đặc điểm của cây Ba kích

Cây ba kích thuộc loại cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn giống nhưsắn dây Ngọn non có màu tím có nhiều lông tơ nhỏ phía trên lá, mặt phía sau lánhẵn Cành ba kích non có cạnh, lá mọc đối nhau hình mác hoặc hình bầu dụcthuôn nhọn, lá cứng dài từ 6cm đến 14cm và có chiều rộng từ 2,5cm đến 6cm.Khi non mầm ba kích có màu xanh lục, khi già thì có màu trắng giống như mốc.Hoa ba kích nhỏ lúc đầu màu trắng sau đó chuyển sang màu vàng nhạt, thườngtập trung ở tán đầu cành dài từ 0,3cm đến 1,5cm có hình chén hoặc hình ống

Quả ba kích hình cầu, khi chín có màu cam đỏ.Mùa hoa ba kích từ tháng 5đến tháng 6 còn mùa quả từ thánh 7 đến tháng 10 [1]

2.2.6.2 Công dụng của cây Ba kích

Trang 23

Ba kích có vị ngọt, hơi cay, tính ấm vào kinh thận Có tác dụng ôn thậndương, mạnh gân cốt, trừ phong thấp [2]

Ba kích có tác dụng tăng khả năng hoạt động sinh dục, tăng cường khảnăng giao hợp, sức dẻo dai Nhưng không có tác dụng kiểu androgen, không làmthay đổi tinh dịch đồ, tuy vậy vẫn có tác dụng hỗ trợ điều trị vô sinh ở nam giới

Ba kích có tác dụng tăng lực rõ rệt với bệnh nhân tuổi già, suy nhược cơthể, mệt mỏi, ăn ngủ kém không có biểu hiện của các yếu tố bệnh lí Ngoài racòn có tác dụng giảm các triệu chứng đau khớp của bệnh nhân đau khớp dùng bakích dài ngày.[3]

- Theo các tài liệu cổ, Ba kích còn chữa dương uỷ, di tinh, phong thấp cướckhí, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau Còn được dùng như vị thuốc bổ não,tinh khí, chữa liệt dương, xuất tinh sớm, di mộng tinh, phụ nữ kinh nguyệtkhông đều, có thể dùng riêng hay dùng phối hợp

- Ở Trung Quốc, còn dùng Ba kích trong Nhị tiên thang chữa cao huyết áp

Theo Y học hiện đại (Tác dụng dược lí, lâm sàng)

- Ba kích có tác dụng tăng cường sự dẻo dai cho súc vật thí nghiệm quaphương pháp chuột bơi

- Có tác dụng chống viêm rõ rệt qua thí nghiệm gây viêm bằng kaolin ởchuột cống trắng

- Tăng cường sức đề kháng của cơ thể với các yếu tố độc hại

- Có tác dụng hạ huyết áp, LD50 = 193 g/kg thể trọng trên chuột nhắt trắng

2.2.6.3 Phân bố cây ba kích

Cây thường mọc hoang ở vùng đồi, núi thấp các tỉnh trung du, miền núiphía Bắc nước ta như: Lạng Sơn, Hà Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình.Trước đây ngành lâm nghiệp đã thử trồng ba kích dưới tán rừng ở Hoành

Bồ, Cẩm Phả, Quảng Ninh

2.2.6.4 Đặc điểm sinh thái học cây ba kích

Cây Ba kích mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Namnhư: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang,Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Sơn La, HoàBình, Ninh Bình, Thanh Hoá và Nghệ An Ngoài ra còn có ở Trung Quốc, Ấn

Độ, Lào và Triều Tiên

Cây thích ứng rộng với điều kiện sinh thái Cây ưa sáng, chịu bóng Khi

Trang 24

cây non là cây ưa bóng, khi trưởng thành là cây ưa sáng Cây tồn tại và pháttriển tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 22,5°- 23,1°C, chịu được nhiệt độ tối thấp tuyệtđối - 2,8°C và tối cao tuyệt đối 41,4°C Độ ẩm không khí trung bình từ 82- 89%.Lượng mưa bình quân năm từ 1420,7 - 2574,5 mm Ba kích ưa đất feralit đỏvàng và đất feralit giầu mùn trên núi, đất thịt ẩm mát Cây sinh trưởng sau 5 đến

7 năm mới thu dược liệu, năng suất bình quân 12kg củ tươi/gốc, càng để lâunăm sản lượng càng cao chất lượng dược liệu càng tốt

2.2.6.5 Hoạt động gây trồng cây Ba kích tím

Trong những năm qua, nhiều tỉnh, thành phố đã triển khai xây dựng môhình trồng thử nghiệm giống cây Ba Kích như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, BắcGiang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Nam… Các tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh Phúctriển khai thực hiện chương trình phát triển cây Ba Kích theo hướng sản xuấthàng hóa đồng thời xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chất lượng cao Năm

2011 Bắc Giang đã xác định trong phát triển trồng rừng cần chú trọng đến trồng

và khai thác các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao, trong đó có cây BaKích Năm 2012, Hội Nông dân tỉnh đã triển khai mô hình trồng, nhân giống Bakích tím dược liệu với quy mô trên 2ha với 10.500 cây, năm 2013 xây dựngvườn ươm quy mô hộ gia đình với số lượng trên 10.000 cây Đến nay, sau 3 nămtiến hành trồng, Ba Kích sinh trưởng phát triển tốt, đã cho củ có kích thướcđường kính trung bình là 5mm

Theo các hộ nông dân ở thôn Đồng Chu (xã Yên Định) từ khi tham gia môhình trồng, nhân giống Ba Kích đã làm thay đổi về nhận thức cho nông dân ởđây về kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại cây trồng vật nuôi nói chung và cây lâmsản ngoài gỗ nói riêng Với sự giúp đỡ hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ có kiếnthức, năng lực và kinh nghiệm về lĩnh vực lâm sản ngoài gỗ thuộc Hội Nông dântỉnh Bắc Giang, các hộ nông dân đã xây dựng được mô hình trồng và vườn ươmgiống Ba Kích Ông Lã Văn Quang ở thôn Đồng Chu (xã Yên Định) là mộttrong 15 hộ tham gia mô hình cho biết: gia đình anh trồng gần 3.000 cây đến naysinh trưởng, phát triển tốt đã cho củ; năm 2014 gia đình anh đã khai thác thửnghiệm khoảng 10 gốc được hơn 15 kg củ tươi, giá bán trung bình 200 nghìnđồng/kg ngay tại vườn cho thu về trên 3 triệu đồng; cũng trong năm gia đìnhươm được khoảng trên 6.000 cây giống để tiếp tục trồng trên diện tích vườnrừng của gia đình Qua tìm hiểu được biết, từ khi anh Quang tham gia thực hiện

mô hình đã có khoảng 50 đoàn đến trao đổi, học tập kinh nghiệm về trồng vànhân giống cây Ba Kích, Anh cho biết thêm, trong thời gian tới gia đình sẽ tiếptục mở rộng diện tích vườn để tăng số lượng ươm cây giống cung cấp cho người

Trang 25

dân các địa phương Đặc biệt mô hình đã được đồng chí Bùi Văn Hạnh – PhóChủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, đồng chí Nguyễn Duy Lượng – Phó Chủ tịchThường trực Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp đến thăm và đánhgiá cao hiệu quả của mô hình Các đồng chí cũng nhấn mạnh đây là một hướng

đi mới trong phát triển kinh tế vườn rừng của người dân các xã vùng cao huyệnSơn Động đồng thời cũng đề nghị Hội Nông dân tỉnh tiếp tục quan tâm, tìm cácgiải pháp nhằm nhân rộng mô hình trên địa bàn huyện cũng như các vùng lâncận để giúp bà con nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định đời sống vàvươn lên làm giàu Năm 2013 UBND huyện Sơn Động đã xác định đưa giống

Ba Kích vào cơ cấu giống cây trồng hàng năm ở địa phương và đã tiến hànhtrồng thử nghiệm thành công tại xã Bồng Am, Thanh Sơn, Tuấn Đạo, Yên Định

và thị trấn Thanh Sơn Năm 2014, UBND tỉnh đã đưa Dự án trồng cây dượcliệu, cây bản địa trên địa bàn huyện Sơn Động vào kế hoạch xây dựng cácchương trình, dự án phát triển sản xuất nhằm thực hiện có hiệu quả Kết luận số97-KL/TW ngày 15/5/2014 của Ban Chấp hành Trung ương về một số chủtrương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn

Có thể nói, việc thực hiện mô hình trồng và nhân giống cây Ba Kích tạihuyện Sơn Động đã mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầunguyện vọng của bà con nông dân Mô hình không chỉ góp phần bảo tồn mộtloài lâm sản ngoài ngỗ quý mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu câytrồng vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tiễn ở địa phương; từng bước thay đổitập quán canh tác, đưa người nông dân vùng cao chuyển từ sản xuất tự phát sangtập trung theo vùng sản xuất hàng hóa, phát triển lực lực sản xuất, từng bướclàm thay đổi quan hệ sản xuất, để nông dân thực sự là chủ thể trong xây dựngnông thôn mới và hội nhập quốc tế Đồng thời khẳng định rõ vị thế và vai tròcủa tổ chức Hội Nông dân các cấp trong việc trực tiếp thực hiện và phối hợpthực hiện một số chương trình đề án phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và xâydựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2020, góp phần thực hiện

thắng lợi Kết luận số 61-KL/TW ngày 03/12/2009 về “Nâng cao vai trò, trách

nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát nông nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”,

Quyết định số 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việcHội nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chươngtrình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011 – 2020

CHƯƠNG III

Trang 26

ĐỐI TƯỢNG, PHAM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu chung

Cung cấp cơ sở khoa học cho việc gây trồng cây Ba kích

3.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được đặc điểm sinh thái nơi có loài Ba kích tím phân bố

- Xác định được khả năng nhân giống loài Ba kích tím bằng phương phápgiâm hom

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây con ởgiai đoạn vườm ươm

3.2 Nội dung nghiên cứu

Xác định các đặc điểm sinh thái nơi phân bố của loài tại khu vực nghiêncứu: các chỉ tiêu về thổ nhưỡng, thực vật, địa hình, ánh sáng…

Xác định ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng đến khả năngnhân giống bằng phương pháp giâm hom

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây con ởgiai đoạn vườn ươm

- Xác định ảnh hưởng của độ che bóng đến khả năng sinh trưởng của câycon ở giai đoạn vườn ươm Đối với chế độ che bóng tiến hành thí nghiệm ở cácmức che bóng là 0%, 25%, 50%, 75%

- Xác định ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng của cây con ởgiai đoạn vườn ươm Đối với giá thể tiến hành đánh giá sinh trưởng của cây conkhi được ươm trên các giá thể là 75% Đất phù sa + 25% đất cát, 50% đất cát50% đất phù sa, 100% đất phù sa

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu:

Nghiên cứu về phân bố và đặc điểm sinh thái cây Ba kích được thực hiệntại Tỉnh Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu về nhân giống được thực hiện tại vườn ươm của Cơ sở liên kết

Trang 27

nghiên cứu tài nguyên vùng cát thuộc Thôn Cổ Tháp, xã Quảng Lợi, huyệnQuảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2015 - 5/2015

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Thừa kế số liệu thứ cấp

- Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu

- Các nghiên cứu, tài liệu liên quan đến cây Ba kích

- Các thông tin bản biểu có liên quan

3.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp

- Phương pháp điều tra thực địa, thu thập các thông tin về đặc điểm sinhthái của loài nơi có sự phân bố (Theo phiếu điều tra các chỉ tiêu sinh thái)

- Phương pháp bố trí thí nghiệm

+ Bố trí thí nghiệm về độ che bóng

Công thức Lần lặp

Đối chứng

Lần lặp 1 40 cây 40 cây 40 cây 40 cây

Lần lặp 2 40 cây 40 cây 40 cây 40 cây

Lần lặp 3 40 cây 40 cây 40 cây 40 cây

Ghi chú:

GT1: 90% đất phù sa + 8% phân chuồng hoai + 1% lân + 1% vôi

GT2: 70% đất phù sa + 20% đất cát + 8% phân chuồng hoai + 1% lân +1% vôi

GT3: 50% đất phù sa + 40% đất cát + 8% phân chuồng hoai + 1% lân + 1% vôi

Trang 28

- Chỉ tiêu đánh giá: Tỷ lệ sống, Sinh trưởng chiều cao theo tháng; sinh khốicủa các công thức.

Trang 29

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm trên dải đất hẹp miền Trung là một tỉnh thuộckhu vực Bắc miền Trung Việt Nam, được quy vùng sinh thái khu 4 cũ, là mộttrong 7 vùng sinh thái của cả nước, là tỉnh cuối cùng của vùng địa lý TrườngSơn Bắc

- Phía Bắc giáp xã tỉnh Quảng Trị

- Phía Tây giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

- Phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

- Phía Đông giáp với biển Đông

Phần đất liền có toạ độ địa lý như sau:

- Điểm cực Bắc: 16044’30’’độ vĩ Bắc và 107023’48’’độ kinh Đông tại thônGiáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền

- Điểm cực Nam: 15059’30’’ độ vĩ Bắc và 107041’52’’ độ kinh Đông ở đỉnhnúi cực nam xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông

- Điểm cực Tây: 16022’45’’ độ vĩ Bắc và 107000’56’’ độ kinh Đông tại bảnParé, xã Hồng Thuỷ, huyện ALưới

- Điểm cực Đông: 16013’18’’ độ vĩ Bắc và 108012’57’’ độ kinh Đông tạibán đảo Sơn Chà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 506.259,8ha

4.1.1.2 Địa hình, địa thế

Thừa Thiên Huế nằm trên một dãi đất hẹp với chiều dài 127km, chiều rộngtrung bình 60km, địa hình rất phức tạp, thay đổi từ Tây sang Đông, trong khiphía Tây năm trong khối nâng tạo lục địa thì phía Đông nằm trong khối sụt củađại dương Do vậy địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và rất đa dạng với đầy

đủ các dạng địa hình, rừng núi, gò đồi, đồng bằng, đầm phá và biển hẹp (trong

đó đồi núi chiếm 70% diện tích tự nhiên)

Trang 30

Nhìn chung địa hình của Thừa Thiên Huế có thể chia thành 5 vùng như sau:Vùng núi: Là dải đất phía Tây của tỉnh từ A Lưới đến Hải Vân, gồm nhữngdãy núi cao liên tiếp, độ cao trung bình khoảng 1.000m, có đỉnh cao lên 1.500m(đỉnh Hải Vân), độ dốc bình quân 350, nhiều nơi địa hình hiểm trở Trong đóvùng núi có 2 thung lũng là Nam Đông và A Lưới địa hình tương đối bằngphẳng.

Vùng gò đồi: Là vùng tiếp giáp giữa vùng miền núi và đồng bằng, địa hìnhđồi núi trảng cỏ, độ cao từ 300m trở xuống, độ dốc bình quân từ 150-250, vùngnày đa số là đồi trọc, phần diện tích còn lại là thảm thực vật, nhưng trữ lượngrừng ở đây rất thấp

Vùng đồng bằng: Là vùng dải đất hẹp chạy dài theo quốc lộ 1A, càng vềphía Nam diện tích càng hẹp đến đeo Hải Vân Đất phần lớn ở đây là đất phù sađược bồi do sông, suối

Vùng đầm phá từ Phong Điền đến Phú Lộc gồm những đầm phá lớn như:Tam Giang, Cầu Hai, An Cư, có cửa thông ra biển

Vùng cát ven biển: là những bãi cát bằng phẳng cố định ven biển chạy từPhong Điền đến Lăng Cô, tùy theo mức độ xâm thực của cát mà có chiều rộngkhác nhau tạo nên những vùng cát đồng nội

4.1.1.3 Khí hậu thủy văn

Nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ nên khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế thuộcvùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt, có mùa đông lạnh Thừa Thiên Huế chịuảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng vào mùa hè nên nhiệt độ tăng cao

*Chế độ nhiệt và lượng mưa

Mùa khô kéo dài từ tháng III đến tháng VIII, nhiệt độ tăng cao, kèm theonắng nóng kéo dài, thời tiết nóng một phần do chịu ảnh hưởng của gió mùa TâyNam Nhiệt độ trung bình của các tháng nắng là 27-290C trong đó nhiệt độ caonhất có khi lên đến 39-400C

Mùa mưa bắt đầu từ tháng IX, tháng X cho đến tháng II, III năm sau mùanày có lượng mưa lớn và kéo dài nhiều ngày, nhiệt độ xuống thấp Sở dĩ nhưvậy là do trong thời gian này chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và thời tiếttrở nên lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh từ 20-220C ở đồng bằng và 17-190

ở miền núi Tháng có nhiệt độ thấp nhất dưới 100C

Trang 31

Lượng mưa bình quân hằng năm vào khoảng 2.400-2.800 mm/năm, có nămđạt đến 5.178mm (Nam Đông năm 1974) Mưa tập trung chủ yếu vào các tháng

IX, X, XI và XII chiếm 70% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa trungbình thấp nhất là tháng III (34,1mm), cá biệt có tháng IV năm 1992, lượng mưachỉ có 5,8mm Mùa ít mưa là mùa trùng với thời kỳ khô nóng, bốc hơi mạnh nêngây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất Vào mùa mưa lại thường xảy lũ lụt, gâynhiều thiệt hại cho các hoạt động kinh tế, sản xuất và tính mạng của nhân dân.Trong khi đó mùa khô kéo dài từ tháng III đến tháng VIII, do ảnh hưởng của giómùa Tây Nam nên lượng mưa rất ít gây nên hiện tượng hạn và nhiễm mặn ở cáccon sông

*Chế độ ẩm:

Thừa Thiên Huế là khu vực có độ ẩm không khí tương đối khá cao, độ ẩmkhông khí trung bình hàng năm là 85% Trong đó tháng có độ ẩm không khíthấp nhất là tháng VII (55,1%) Ẩm độ trung bình vào mùa khô là 62,9%

*Chế độ gió, bão

Khí hậu khu vực bị chi phối bởi hai chế độ gió chính:

- Gió mùa Tây Nam (gió mùa mùa Hạ) thịnh hành từ tháng IV đến thángVIII, tốc độ gió trung bình từ 2 − 3 m/s, tốc độ lớn nhất 7-8m/s có kèm theokhông khí nóng Vào những ngày có gió mùa Tây Nam thịnh hành nhiệt độ tănglên rất cao, có ngày nhiệt độ lên tới 400C kèm theo không khí khô nên ảnhhưởng đến tình hình sinh trưởng của thực vật và động vật, dễ gây ra cháy rừng

- Gió mùa Đông Bắc (gió mùa mùa Đông) thịnh hành từ tháng IX đến thángIII năm sau, tốc độ gió trung bình 4-6 m/s Vào những ngày có gió mùa Đông Bắcthịnh hành nhiệt độ hạ xuống rất thấp, có ngày nhiệt độ hạ xuống 100C

*Thủy văn: Thừa Thiên Huế có các con sông chính là sông Hương, sông

Bồ, sông Ô Lâu, Sông Truồi, sông Nông, hệ thống các con sông này được phân

bố đếu khắp trong tỉnh Hệ thống sông Hương là lưu vực quan trọng nhất, gồm

28 con sông lớn nhỏ với 3 nhánh chính là Tả Trạch, Hữu Trạch và sông Bồ.Sông thường ngắn, dốc, nhiều thác gềnh, cửa sông hẹp, mùa mưa lưu lượngnước lên cao gây ra hiện tượng lũ lụt, mùa khô lòng sông khô cạn, hạ lưu củasông nước mặn xâm nhập vào sâu trong đất liền gây ảnh hưởng đến sản xuất vàđời sống

Ngày đăng: 11/04/2016, 12:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Hiện trạng các loài đất theo nguồn gốc phát sinh trên địa bàn tỉnh - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.1. Hiện trạng các loài đất theo nguồn gốc phát sinh trên địa bàn tỉnh (Trang 32)
Bảng 4.2.  Tăng trưởng GDP của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 2010 - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.2. Tăng trưởng GDP của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 35)
Bảng 4.3.  Vốn thu hút đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 2010 - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.3. Vốn thu hút đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 36)
Hình 4.1. Ba kích tím lá trơn - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.1. Ba kích tím lá trơn (Trang 45)
Hình 4.2: Đặc điểm sinh cảnh nơi phân bố của loài Ba kích tím - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.2 Đặc điểm sinh cảnh nơi phân bố của loài Ba kích tím (Trang 46)
Hình 4.3. Đặc điểm phân bố cá thể - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.3. Đặc điểm phân bố cá thể (Trang 46)
Hình 4.4: Biểu đồ biểu diễn sự sinh trưởng chiều cao của cây con theo thời gian (cm) - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.4 Biểu đồ biểu diễn sự sinh trưởng chiều cao của cây con theo thời gian (cm) (Trang 49)
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của giá thể ruột bầu đến sự sinh trưởng chiều cao của cây - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của giá thể ruột bầu đến sự sinh trưởng chiều cao của cây (Trang 50)
Hình 4.5: Biểu đồ sinh trưởng chiều cao theo thời gian dưới các chế độ che bóng - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.5 Biểu đồ sinh trưởng chiều cao theo thời gian dưới các chế độ che bóng (Trang 51)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng chiều cao của cây - Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng chiều cao của cây (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w