1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề về lí luận và kiểm sát việc tạm giữ, phân loại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việc tạm giữ

45 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 480,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu của đề tài Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật về vấn đềtạm giữ, việc phân loại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ.Những mặt

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm

vụ trọng tâm trong thời gian tới đã chỉ rõ: “…Tăng cường công tác kiểm sát việcbắt, giam, giữ bảo đảm đúng pháp luật, những trường hợp chưa cần bắt tạm giữthì tuyệt đối không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ phát hiện và xử lí kịp thời cáctrường hợp oan, sai trong bắt, giữ Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm vềoan, sai trong việc bắt, tạm giữ thuộc phạm vi, thẩm quyền phê chuẩn của mình

Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quantiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và trình tự thủtục cần được học tập và nghiên cứu một cách có hệ thống để vận dụng đúng vàothực tế giải quyết tránh oan, sai đáng tiếc xảy ra trong việc bắt, tạm giữ, phânloại xử lý các đối tượng bắt, tạm giữ đảm bảo cho công tác đấu tranh phòngchống tội phạm đạt kết quả cao nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân, góp phần vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Biện pháp tạm giữ, phân loại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ đã đượcquy định rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự bảo đảm cho các giai đoạn tiến hành tốtụng tiếp theo diễn ra một cách thuận lợi, nhưng hiện nay việc hiểu và vận dụngcác căn cứ, trình tự thủ tục tạm giữ vẫn còn nhiều vấn đề, không ít trường hợpbắt, tạm giữ không đúng pháp luật sau đó chuyển sang xử lí hành chính, bắt tạmgiữ oan sai, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân, ngược lại có trườnghợp nên tạm giữ thì không tạm giữ nhưng cho bị can tại ngoại dẫn đến bị cantrốn không thể truy tố hay xét xử được, gây nên sự hoài nghi của dân chúng đốivới các cơ quan bảo vệ pháp luật Từ những sai sót và hạn chế nêu trên khôngthể không nhắc đến hạn chế về chất lượng kiểm sát việc tạm giữ, phân loại và xử

lý các đối tượng tạm giữ của các cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động tư pháp trong việc áp dụng các biện pháp bắt tạm giữ Thực hiệntốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ phản

Trang 2

ánh đích thực về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước vàtrong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam.

Tình hình trên cho thấy việc nghiên cứu vấn đề lý luận về tạm giữ, phânloại xử lí các đối tượng bắt tạm giữ cũng như vai trò của Viện kiểm sát trongvấn đề này có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc Chính vì lí do đó mà tôi đãchọn đề tài: “Những vấn đề về lí luận và kiểm sát việc tạm giữ, phân loại và xử

lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ và một số giải pháp nhằm nâng caochất lượng kiểm sát việc tạm giữ” cho khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống về vấn đề lýluận và kiểm sát việc tạm giữ, việc phân loại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữtại nhà tạm giữ để từ đó nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượngkiểm sát việc tạm giữ Trên cơ sở đó làm sáng tỏ vị trí, vai trò của Viện kiểm sáttrong hoạt động này

- Về nhiệm vụ: Khóa luận có nhiệm vụ phân tích cơ sở lí luận và thực tiễntrong công tác kiểm sát hoạt động tạm giữ, phân loại và xử lí các đối tượng bắt,tạm giữ trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam, phân tích vai trò nhiệm vụ vàtrách nhiệm của Viện kiểm sát trong quá trính áp dụng các biện pháp bắt, tạmgiữ qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việctạm giữ

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật về vấn đềtạm giữ, việc phân loại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ.Những mặt tích cực cũng như những hạn chế trong việc kiểm sát việc tạm giữtrong giai đoạn từ năm 2013 đến 6 tháng đầu năm 2015 tại Viện kiểm sát nhândân Thành phố Huế

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác –LeNin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của

Trang 3

Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân; nhất là quan điểm chỉ đạo củaĐảng về cải cách tư pháp.

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử kết hợp với một số phương pháp khác như phương phápphân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp nghiên cứu

và xử lí thông tin, phương pháp thống kê, phương pháp logic, phương phápkhảo sát thực tế, phương pháp dùng biểu đồ minh họa, phương pháp so sánh, đốichiếu, phân tích, dẫn giải các quy định của pháp luật

5 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu những vấn đề lí luận và kiểm sát việc tạm giữ, việc phânloại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc, về

lí luận đưa cho chúng ta một quan điểm pháp lí chặt chẽ về vấn đề tạm giữ vàkiểm sát việc tạm giữ , từ chỗ lí luận chặt chẽ đó được đưa vào ứng dụng thựctiễn đảm bảo đúng quy định của pháp luật

6 Kết cấu của đề tài khóa luận

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận gồm có 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về tạm giữ, kiểm sát việc tạm giữ, phânloại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ

Chương 2: Thực trạng kiểm sát việc tạm giữ, phân loại xử lí các đối tượngbắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ trên địa bàn và một số giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng kiểm sát việc tạm giữ tại nhà tạm giữ

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẠM GIỮ, KIỂM SÁT VIỆC TẠM GIỮ; PHÂN LOẠI XỬ LÝ CÁC ĐỐI TƯỢNG BẮT, TẠM GIỮ

1 Những vấn đề chung về tạm giữ và kiểm sát việc tạm giữ, phân loại

xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ

Mục đích tạm giữ đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tộiquả tang, phạm tội tự thú, đầu thú là để ngăn chặn hành vi pham tội, hành vi trốntránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra của người phạm tội, tạo điều kiện cho

Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ tài liệu, bước đầu xác định tính chất hành vicủa người tạm giữ Áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ đối với người bị bắttheo lệnh truy nã để có thời gian cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhậnngười bị bắt Như vậy từ khái niệm tạm giữ ta có thể thấy rằng trong quá trìnhgiải quyết một vụ án hình sự, việc tạm giữ người đã thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội là một yêu cầu cần thiết nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra,truy tố, xét xử được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật Tuy nhiênviệc tạm giữ người đã thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội phải tuân thủ

Trang 5

các quy định của pháp luật, các chế độ về tạm giữ, tạm giam phải được đảm bảothực hiện, các quyền mà pháp luật tước bỏ của người bị tạm giữ phải đươc tôn

trọng “Kiểm sát việc tạm giữ và phân loại, xử lý các đối tượng bắt, tạm giữ là một hoạt động thực hiện chức năng của VKSND, có nội dung là Viện kiểm sát

sử dụng tổng hợp các quyền năng mà pháp luật quy định nhằm đảm bảo việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ đảm bảo chế độ tạm giữ được chấp hành nghiêm chỉnh, việc phân loại

và xử lý các đối tượng bắt tạm giữ được thực hiện theo quy định, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền, lợi ích hợp pháp khác không bị pháp luật tước bỏ của người bị tạm giữ được tôn trọng, quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật trong tạm giữ được thực hiện theo quy định của pháp luật” Hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, phân loại xử lý các đối

tượng bắt tạm giữ nhằm đảm bảo mọi trường hợp tạm giữ phải đúng đối tượngtheo quy định của pháp luật người bị tạm giữ phải đúng là người bị bắt trongtrường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy

nã, người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có lệnh, quyết định của cơquan và người có thẩm quyền Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải đượcViện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Trong thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ

để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ Khi nhận đượcquyết định trả tự do, quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giữ thì cơ quan, đơn vị vàngười có trách nhiệm trong việc tạm giữ phải chấp hành ngay Người bị tạm giữphải được quản lí chặt chẽ, không để trốn khỏi nhà tạm giữ, việc quyết định kỷluật của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tại giam phải theo đúng quy định củapháp luật Ngoài ra hoạt động này còn nhằm đảm bảo về tính mạng, tài sản,danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ và các quyền khác của họ không bịpháp luật tước bỏ, được tôn trọng, giữ nghiêm trật tự kỷ luật, nghiêm cấm nhụchình, xâm phạm sức khỏe người bị tạm giữ dưới bất kì hình thức nào, đồng thờicũng đảm bảo chế độ đối với người bị tạm giữ phải được thực hiện đầy đủ theoquy định của pháp luật

Trang 6

1.2 Phân loại và xử lý các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ

1.2.1 Phân loại các đối tượng bắt, tạm giữ

Việc phân loại các đối tượng bắt tạm giữ được thực hiện theo trình tự, thủtục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bịtạm giữ, chống thông cung, dùng nhục hình đối với người bị tạm giữ Hiện naytrên toàn quốc có 51 trại giam và 70 trại tạm giam (66 trại tạm giam do Công ancác tỉnh, thành phố, 04 trại tạm giam do Bộ Công an quản lý) thuộc Bộ Công an

và 697 nhà tạm giữ Các đối tượng bị bắt đưa vào nhà tạm giữ, trại tạm giam chủyếu là để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử do đó việc phân loại xử lícác đối tượng bắt tạm giữ trong giai đoạn này có ý nghĩa vô cùng quan trọngngăn ngừa bị can thông cung chống phá buồng giam giữ gây khó khăn trongcông tác đấu tranh làm sáng tỏ nội dung vụ án và mang lại hiệu quả cao trongcông tác xét xử Theo quy định tại Điều 15 Quy chế về tạm giữ, tạm giam banhành kèm theo quyết định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủthì việc phân loại, xử lý các đối tượng bắt, tạm giữ được phân loại như sau:

- Phụ nữ;

- Người chưa thành niên;

- Người nước ngoài;

- Người có bệnh truyền nhiễm nguy hiểm;

- Loại côn đồ hung hãn, giết người, cướp tài sản, tái phạm nguy hiểm;

- Người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia;

- Người bị Toà án tuyên phạt tử hình;

- Người có án phạt tù chờ chuyển đi Trại giam

Không được tạm giữ chung buồng những người trong cùng một vụ án đangđiều tra, truy tố, xét xử Việc tạm giữ riêng từng người do cơ quan đang thụ lý

vụ án quyết định Người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam có thể được tạm giữ ởbuồng riêng trong Nhà tạm giữ

Trang 7

1.2.2 Xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ

- Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghithực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêuhuỷ chứng cứ

Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Việnkiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩncấp để xét phê chuẩn.Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấpquy định tại Điều này Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếpgặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết địnhkhông phê chuẩn Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phêchuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyếtđịnh phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Nếu Viện kiểm sát quyết địnhkhông phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt”.Ngoài ra theo quy định tại Tiểu mục 3.1 và 3.2 Mục 3 Thông tư liên tịch05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra

và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003

quy định:“ Chỉ được bắt khẩn cấp khi có đủ tài liệu chứng minh việc bắt khẩn

cấp thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 củaBLTTHS Nếu bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì trong

hồ sơ phải có tài liệu chứng minh các căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn

bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trang 8

Nếu bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì trong hồ sơ phải

có biên bản ghi lời khai của người bị hại hoặc lời khai của người có mặt tại nơixảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tộiphạm và các tài liệu hoặc căn cứ khác chứng tỏ người đó sẽ bỏ trốn Nếu bắtkhẩn cấp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì phải thu thập hoặc ghinhận được dấu vết, tài liệu, đồ vật liên quan đến tội phạm ở người hoặc tại chỗ

ở, nơi làm việc của người bị nghi thực hiện tội phạm đó.Cần lưu ý, để nhận địnhđúng việc người đó có thể trốn theo quy định tại các điểm b, c khoản 1 Điều 81của BLTTHS, người có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp và Viện kiểm sát khixét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp phải căn cứ và đánh giá một cách toàn diện vềcác mặt như: nhân thân người đó (có tiền án, tiền sự, lang thang không có nơi cưtrú rõ ràng….), tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và loại phạm tộiđược thực hiện và thực tiễn cho thấy người phạm tội thường trốn như tội trộmcắp, lừa đảo, cướp, giết người, mua bán trái phép các chất ma tuý…Trường hợp

uỷ thác bắt khẩn cấp thì ngay sau khi kết thúc việc bắt khẩn cấp, Cơ quan điềutra được uỷ thác phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra đã uỷ thác đến nhậnngười bị bắt và các tài liệu liên quan Khi đã dẫn giải người bị bắt về đến trụ sởcủa mình, Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải chuyển ngay hồ sơ kèm theo quyết

định uỷ thác việc bắt khẩn cấp cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn”.

1.2.2.2 Đối với bắt quả tang hoặc đang bị truy nã

Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tộiphạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳngười nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sáthoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và giảingay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền Khi bắt người phạm tộiquả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí,

hung khí của người bị bắt”.

1.2.2.3 Đối với người đầu thú, tự thú

Việc người phạm tội tự thú, đầu thú được coi là đối tượng có thể áp dụng

Trang 9

biện pháp ngăn chặn tạm giữ Trong thực tế những trường hợp người phạm tội

tự thú, đầu thú cũng có những mức độ nặng nhẹ khác nhau do đó cần có nhữngquy định rõ trường hợp nào nên tạm giữ, trường hợp nào không cần nhằm đảmbảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án

1.3 Đối tượng, phạm vi công tác kiểm sát

1.3.1 Đối tượng của công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam là

+ Cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam

+ Người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam là Trưởng nhà tạmgiữ, Giám thị trại tạm giam và những người khác có trách nhiệm trong việc tạmgiữ, tạm giam theo quy định của pháp luật

1.3.2 Phạm vi, vị trí của công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam:

Công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam thực hiện từ khi có việc tạm giữ, tạmgiam và kết thúc khi chấm dứt việc tạm giữ, tạm giam Công tác kiểm sát việctạm giữ, tạm giam là một trong các công tác kiểm sát thực hiện chức năng củaVKSND nhằm đảm bảo:

+ Việc tạm giữ, tạm giam theo đúng quy định của pháp luật;

+ Chế độ tạm giữ, tạm giam được chấp hành nghiêm chỉnh;

+ Tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của người bịtạm giữ, tạm giam và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ không bị phápluật tước bỏ được tôn trọng

1.4 Một số vấn đề bất cập về tạm giữ, phân loại và xử lý các đối tượng bắt, tạm giữ

1.4.1 Đối tượng tạm giữ

Điều 86 BLTTHS 2003 quy định về đối tượng, căn cứ và thẩm quyền ápdụng Biện pháp ngặn chặn tạm giữ Theo quy định của điều luật này thì tạm giữ

là việc cơ quan và người có thẩm quyền ra quyết định tạm thời hạn chế tự dotrong trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp Mục đích củaBPNC tạm giữ là nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trở việcđiều tra khám phá tội phạm của người bi nghi là thực hiện hành vi phạm tội, tạo

Trang 10

điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền đủ thời gian để xác định tính chất, mức độcủa hành vi, nhân thân của người thực hiện hảnh vi nguy hiểm cho xã hội để từ

đó có thể quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc không khởi tố vụ

án hình sự, khởi tố bị can hoặc các quyết định quản lý cần thiết khác như, tạmgiữ áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hay trả tự do cho người bị bắt Nhìnchung đối tượng bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặcphạm tội quả tang, tuy nhiên điều luật cũng không quy định bắt buộc trong tất cảmọi trường hợp bắt đó đều phải tạm giữ, mà trong một số trường hợp bắt ngườiphạm tội quả tạng, nếy xét thấy hành vi phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọnglại có nơi cư trú rõ ràng không có cơ sở để cho rằng người đó có thể trốn hoặccản trở việc điều tra trong các trường hợp đó không cần thiết phải tạm giữ họ.Điều 86 BLTTHS 2003 cũng không quy định cụ thể các căn cứ áp dụng BPNCtạm giữ, mà căn cứ để tạm giữ được hiểu là nếu việc bắt khẩn cấp hoặc bắt quảtang khi có đủ căn cứ quy định tại Điều 81 và 82 BLTTHS năm 2003 thì đócũng chính là căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ Điều luật cũng quy địnhnhững người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ là những người có quyền ralệnh bắt khẩn cấp theo quy định tại Điều 81 BLTTHS 2003 Khoản 1 Điều 86BLTTHS 2003 quy định “ tạm giữ có thể áp dụng đối với những người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu

tú hoắc đối với người bị bắt theo quyết đinh truy nã” Như vậy, việc tạm giữ cóthể áp dụng với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tộiquả tang quy định tại các Điều 81 và 82 của BLTTHS, tức là các điều luật quyđịnh về bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang và bắtngười đang bị truy nã cũng như đối với phạm tội tự thú hoặc đầu thú Nhận thức

về quy định này cho thấy biện pháp tạm giữ có thể được áp dụng với các đốitượng bị bắt khẩn cấp, bắt quả tang, bắt truy nã, người đầu thú, tự thú chứ khôngbắt buộc, nói cách khác, sau khi bị bắt trong các trường hợp nêu trên, người bịbắt có thể bị tạm giữ hoặc không bị tạm giữ Tinh thần này đã được quy định tạiĐiều 83 của BLTTHS Khoản 1 Điều 83 quy định “ Sau khi bắt hoặc nhận người

Trang 11

bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang, cơ quan điều tra phảilấy lời khai ngay trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự docho người bị bắt” Như vậy, biện pháp tạm giữ là một BPNC độc lập, việc quy

áp dụng biện pháp này phải có những căn cứ nhất định chứ không phụ thuộc vàobiện pháp bắt, nói cách khác, biện pháp tạm giữ không phải là biện pháp ngănchặn bắt buộc phải áp dụng sau khi bắt người Vấn đề đặt ra là khi nào cơ quan

có thẩm quyền có thể ra quyết định tạm giữ? Còn khi nào không cần thiết tạmgiữ? Do vậy nên chăng cần quán triệt mục đích của tạm giữ trong TTHS Mặc

dù trong BLTTHS không quy định rõ mục đích của việc tạm giữ nhưng qua cácđiều luật về tạm giữ cho thấy việc tạm giữ người bị bắt trong trường hợp khẩncấp hoặc phạm tội quả tang, người tự thú, đầu thú là nhằm có điều kiện để tiếptục xác minh thêm về hành vi phạm tội của người bị bắt, người ra tự thú, đầu thú

để làm rõ thêm căn cứ của việc khởi tố vụ án cũng như khởi tố bị can đối vớingười họ Tinh thần này cũng đã được thể hiện qua các quy phạm tại các Điềunhư Điều 83 Điều 87 của BLTTHS Khoản 3 Điều 87 quy định: “ Trong khi tạmgiữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ”.Như vậy sau khi bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang hoặckhi người phạm tội ra đầu thú, tự thú thì họ không thể không bị tạm giữ trongcác trường hợp sau đây:

- Các cơ quan có thẩm quyền xác đinh được ngay việc bắt khẩn cấp hoặcbắt quả tang đối với họ là không có căn cứ

- Ngay sau khi bắt người khẩn cấp hoặc bắt người phạm tội quả tang, ngaysau khi có người ra tự thú, đầu thú các cơ quan có thẩm quyền đã xác định đượcđầy đủ căn cứ để có thể khởi tố đối với người bị bắt, người tự thú, đầu thú nên

đã ra các quyết định khởi tố cần thiết và cũng đã xác định được ngay căn cứ để

có thể tạm giam đối với họ nên đã ra lệnh tạm giam với bị can mà không cầntạm giữ Hoặc ngay sau khi bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, ngay sau khi

có người ra tự thú, đầu thú đã xác định đầy đủ căn cứ để khởi tố vụ án và khởi tố

bị can nên cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định tạm giữ, rồi sau khi đã ra

Trang 12

quyết định khởi tố cần thiết nhưng xét thấy không cần thiết phải tạm giam bị cannên cơ quan điều tra có thẩm quyền để cho bị can được tại ngoại mà không cầnthiết phải tạm giữ bị can Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu sau khi bắt khẩncấp hoặc bắt quả tang, cơ quan có thẩm quyền đã gửi lệnh bắt cho Viện kiểm sát

để Viện kiểm sát kiểm sát việc bắt và Viện kiểm sát đã không phê chuẩn việc đóthì cũng không được đưa ra quyết định tạm giữ đối với người bị bắt Một vấn đềđặt ra về đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ, đó là những trường hợpmột người đang bị truy nã, bị bắt lại nhưng địa điểm bắt ở xa nơi cơ quan tiếnhành tố tụng có thẩm quyền giải quyết vụ này Trong thời gian thông báo cho cơquan có thẩm quyền đến để nhận lại bi can, bị cáo mà họ truy nã thì cơ quan đãbắt được bị can, bị cáo có quyền ra quyết định tạm giữ hay tạm giam hay không?

Về nguyên tắc thì không một ai có thể bị bắt, giữ mà không có quyết định các cơquan có thẩm quyền Theo quy định tại Điều 13 TTLT số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TATC hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật TTHS

và Luật THAHS về truy nã thì sau khi bắt hoặc tiếp nhận người bị bắt theo quyếtđịnh truy nã (kể cả trường hợp người bị truy nã ra đầu thú), Cơ quan điều tra đã

bắt hoặc tiếp nhận người bị truy nã phải lấy lời khai người bị bắt (lập danh bản, chỉ bản, chụp ảnh người bị bắt) và gửi ngay thông báo (kèm danh bản, chỉ bản, ảnh người bị bắt) cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết để đến nhận người bị

bắt.Trường hợp xét thấy cơ quan ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngayngười bị bắt thì Cơ quan điều tra đã bắt hoặc tiếp nhận người bị bắt ra quyếtđịnh tạm giữ và gửi ngay quyết định tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp Nếu

cơ quan đã ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận người bị bắt thì chậm nhấttrước khi hết thời hạn tạm giữ 12 giờ, Cơ quan điều tra đã bắt hoặc tiếp nhậnngười bị bắt phải chuyển hồ sơ kèm theo Công văn đề nghị Viện kiểm sát cùngcấp gia hạn tạm giữ đối với người bị bắt Thời hạn gia hạn tạm giữ và việc xétphê chuẩn việc gia hạn tạm giữ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều

87 của Bộ luật tố tụng hình sự Sau khi nhận được thông báo kèm theo danh bản,chỉ bản, ảnh người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải kiểm tra ngay để

Trang 13

xác định đúng là người đang bị truy nã hay không; nếu xác định đúng thì phảiđến nhận ngay người bị bắt; nếu không đúng phải thông báo lại ngay để Cơ quanđiều tra đang giữ người bị bắt biết và giải quyết theo quy định của pháp luật.Trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết địnhtruy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnhtạm giam kèm theo quyết định truy nã cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phêchuẩn.Trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn,Viện kiểm sát có trách nhiệm xét phê chuẩn lệnh tạm giam đối với các trườnghợp bắt theo quyết định truy nã để cơ quan ra quyết định truy nã kịp thời gửilệnh tạm giam kèm theo quyết định phê chuẩn cho Cơ quan điều tra đã bắt hoặctiếp nhận người bị bắt Khi nhận được lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát phêchuẩn, Cơ quan điều tra đã bắt hoặc tiếp nhận người bị bắt theo quyết định truy

nã phải gửi ngay lệnh tạm giam kèm theo quyết định phê chuẩn của Viện kiểmsát cho trại tạm giam, nhà tạm giữ nơi đang tạm giữ người bị bắt

Tất nhiên trong trường hợp này thì mục đích của biện pháp tạm giữ lànhằm tạo điều kiện về thời gian để cơ quan nơi đã ra lệnh truy nã đến nhận lạingười bị bắt theo lệnh hoặc theo yêu cầu truy nã của họ Rõ ràng việc tạm giữngười trong trường hợp này là cần thiết và vấn đề này đã được bổ sung vàotrong quy định của BLTTHS 2003

1.4.2 Về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ

Khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định “ Những người có quyền ra lệnh bắtkhẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùngcảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ” Theo khoản 2 Điều 86 quy định

về thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì có bốn nhómngười có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp, gồm nhóm người sau đây: - Thủ trưởng,phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp ( cơ quan điều tra trong công an nhândân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tra của Viện kiểmsát nhân dân tối cao… ) - Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn

và tương đương ; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới - Người

Trang 14

chỉ huy tàu bay, sân bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng.

- Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển Như vậy theo quy định BLTTHS

2003 thì cơ quan điều tra cấp huyện trở lên có quyền ra quyết định tạm giữ.Thực hiện quyết định này, khi nhận người bị bắt trong từng trường hợp phạm tộiquả tang hoặc đang bị truy nã thì UBND phường, xã, thị trấn phải tiến hành lậpbiên bản phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã và giải quyếtngay tới cơ quan thẩm quyền Như vậy, những người có quyền ra quyết địnhtạm giữ không hoàn toàn là những người đại diện của các cơ quan tiến hành tốtụng mà bao gồm cả những người của các cơ quan Nhà nước khác hoặc trong lựclượng vũ trang

1.4.3 Về thời hạn tạm giữ

Theo Điều 87 BLTTHS, thời hạn tạm giữ không được qúa ba ngày, kể từkhi cơ quan điều tra nhận người bị bắt Trong trường hợp cần thiết, người raquyết định tạm giữ có thể ra hạn tạm giữ nhưng không được quá ba ngày Trongtrường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứhai nhưng cũng không được quá ba ngày Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ phảiđược Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn

cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ Thời hạn tạmgiữ được tính vào thời hạn tạm giam Việc tạm giữ đối với người chưa thànhniên phạm tội không có quy định khác về thời hạn tạm giữ Theo các quy địnhnêu trên, cách tính thời hạn trong TTHS đã quy định khi tính thời hạn theo ngàytháng thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ, do vậy trong cách tính thời han tạm giữ,thời điểm ra lệnh tạm giữ chỉ có ý nghĩa để tính ngày bị tạm giữ chứ không có ýnghĩa tính giờ bị tạm giữ, nói cách khác mặc dù các cơ quan có thẩm quyền raquyết định tạm giữ vào lúc mấy giờ nhưng thời hạn tạm giữ chỉ hết vào lúc 24giờ của ngày hết hạn Việc BLTTHS quy định hai lần có thể gia hạn tạm giữnhằm bảo đảm tính có căn cứ và cần thiết của việc tạm giữ, hạn chế hiện tượngtạm giữ tràn làn, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạmgiữ, do vậy đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải nhận thức rõ vấn đề này để bảo

Trang 15

đảm áp dụng pháp luật được tốt Trong quy định cũng như nhận thức về thời hạntạm giữ cũng phát sinh một số vấn đề đòi hỏi cần có nhận thức thống nhất Một

số vấn đề cần giải thích kịp thời

Nghiên cứu những bất cập trong vấn đề bắt, tạm giữ giúp Kiểm sát viên cóthể dễ dàng nhận thấy những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật cũng nhưtrong các văn bản tố tụng hình sự để từ đó có những đề xuất, phương hướng xử

lý tốt hơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình

1.5 Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc tạm giữ, phân loại xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ

Căn cứ Điều 22 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 thì khi kiểm sát việc tạmgiữ Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

+ Trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam; hỏi người bị tạm giữ,tạm giam về việc tạm giữ;

+ Kiểm tra hồ sơ tạm giữ;

+ Yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam tự kiểm tra việc tạmgiữ và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu cóliên quan đến việc tạm giữ; thông báo tình hình tạm giữ; trả lời về quyết định,biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ;

+ Quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ không có căn cứ và tráipháp luật;

+ Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền trong việctạm giữ đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm phápluật trong việc tạm giữ, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lýngười vi phạm pháp luật;

+ Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi pháthiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong tạm giữ theo quy định của pháp luật;+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trongviệc kiểm sát việc tạm giữ theo quy định của pháp luật

Trang 16

1.6 Phương pháp kiểm sát việc tạm giữ, phân loại xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ

1.6.1 Thường kỳ kiểm sát nhà tạm giữ

- Khi tiến hành kiểm sát thường kỳ có thể đi sâu kiểm sát toàn bộ việc chấphành pháp luật trong việc tạm giữ hoặc cũng có thể kiểm sát những vấn đề nàothấy cần thiết hoặc phúc tra lại những vi phạm đã được phát hiện của lần kiểmsát trước mà Viện kiểm sát đã kháng nghị yêu cầu sửa chữa, xem kết quả sửachữa vi phạm của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam

- Đối với nhà tạm giữ: Hàng ngày Kiểm sát viên phải kiểm sát việc bắt, tạmgiữ, tạm giam; 3 tháng 1 lần kiểm sát từng mặt, 6 tháng 1 lần kiểm sát trực tiếptoàn diện về việc bắt, tạm giữ, tạm giam, có kết luận bằng văn bản

- Đối với trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quânkhu, hàng tuần kiểm sát về thủ tục trong việc tạm giữ theo quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự, ba tháng một lần trực tiếp kiểm sát theo từng nội dung, sáutháng một lần kiểm sát toàn diện về tạm giữ

- Đối với trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốcphòng, hàng tháng kiểm sát về thủ tục trong việc tạm giữ theo quy định của Bộluật tố tụng hình sự; một năm trực tiếp kiểm sát toàn diện hai lần về việc tạm giữ

- Để thực hiện được yêu cầu của công tác kiểm sát việc tạm giữ theo đúngquy định của pháp luật, khi tiến hành công tác kiểm sát thường kỳ và trực tiếpđối nhà tạm giữ cần chú ý kiểm sát các nội dung sau:

Thứ nhất, kiểm sát đối tượng, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn tạm giữ phải

đảm bảo các yêu cầu:

+ Khi tiếp nhận một người bị tạm giữ vào nơi giam, giữ, hoặc ra khỏi nơitạm giữ phải kiểm tra các lệnh, quyết định (phải có các lệnh, quyết định đangcòn hiệu lực pháp luật của các cơ quan và người có thẩm quyền theo quy địnhcủa pháp luật); có biên bản giao, nhận hồ sơ, giao nhận người; xác nhận tìnhtrạng sức khỏe của họ; biên bản tạm giữ tư trang, tài sản (nếu có)

Trang 17

+ Biên bản bắt, tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ thời hạn tạm giữ từ ngày,tháng năm đến ngày, tháng năm (đối với lệnh tạm giữ phải ghi rõ tạm giữ từ giờ

… đến giờ, ngày… Ví dụ: Tạm giữ từ 10h ngày 01/01/2005 đến 10h ngày04/01/2005)

+ Đối tượng chuyển từ nhà tạm giữ khác đến phải có quyết định điềuchuyển; lệnh tạm giữ đang còn hiệu lực pháp luật; có danh chỉ bản; có các quyếtđịnh xử lý: các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, quyết định hủy bỏbiện pháp tạm giữ, quyết định trả tự do vì không đủ căn cứ; có các tài liệu khácnhư: Biên bản vi phạm và quyết định xử lý kỷ luật người bị tạm giữ

+ Nếu người tạm giữ chết phải có biên bản xác định nguyên nhân chết có

sự chứng kiến của đại diện Viện kiểm sát; biên bản trả tư trang, tài sản khi người

bị tạm giữ được trả tự do, chuyển nơi giam, giữ khác (phải có xác nhận củangười nộp, người nhận) Các biên bản này phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm,dấu, chữ ký của những người có trách nhiệm

+ Các lệnh, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền phải ghi rõ:

Cơ quan, họ tên, chức vụ, cấp bậc người ra lệnh; Họ tên, ngày, tháng, năm sinh,nơi đăng ký thường trú, ngày bị bắt, tội danh, ngày bị tạm giữ Các loại lệnh,quyết định, biên bản trong hồ sơ tạm giữ đều phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm,

ký tên và đóng dấu Thời hạn tạm giữ căn cứ vào những quy định của pháp luật.+ Khi kiểm sát nhà tạm giữ nếu phát hiện các trường hợp hết thời hạn tạmgiữ mà người đó vẫn đang bị tạm giữ thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo viện,yêu cầu cơ quan và người có thẩm quyền trả tự do cho họ Việc tính thời gian tạmgiữ vào thời hạn tạm giam và cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam của Cơ quanđiều tra có đúng mục 6 Thông tư liên tịch số 05/2005/BCA-BQP-VKSTC ngày7/9/2005; Qua kiểm sát tạm giữ phát hiện thấy việc tạm giữ không có căn cứ,không đảm bảo các thủ tục, không đúng thẩm quyền, quá thời hạn thì phối hợpvới kiểm sát điều tra xem xét và báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát để giải quyết.Thứ hai, kiểm sát việc phân loại, quản lý người bị tạm giữ theo quy địnhcủa pháp luật

Trang 18

+ Khi tiến hành kiểm sát phải xem xét việc tuần tra canh gác 24/24 giờ nhàtạm giữ để giải quyết kịp thời các việc đột xuất có thể xảy ra.

+ Phải kiểm tra, xem xét các buồng tạm giữ Chú ý các buồng chấp hành ánphạt tù tại nhà tạm giữ, buồng tạm giữ, tạm giam, buồng giam, giữ người phạmtội thuộc các trường hợp phải giam, giữ riêng theo quy định của pháp luật Nhàtạm giữ có buồng tạm giam, buồng chấp hành án phạt tù phải có biển ghi buồngtạm giam, buồng chấp hành án phạt tù

+ Kiểm sát việc xử lý kỷ luật đối với người bị tạm giữ (Qua nghiên cứu hồ

sơ, quan sát, hỏi người bị kỷ luật, thăm buồng kỷ luật), bảo đảm việc xử lý kỷluật đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 32 NĐ số 89-CP ngày 7/1/1998 vàkhoản 6 Điều 1 Nghị định 98-CP của Chính Phủ ngày 27/11/2002

Thứ ba, kiểm sát việc thực hiện chế độ đối với người bị tạm giữ

+ Kiểm tra chế độ ăn uống, ở, sinh hoạt, quần áo, chăn màn theo quy địnhcủa pháp luật về tạm giữ Người bị tạm giữ được gặp người thân (nếu có thể);được nhận quà tiếp tế của gia đình (theo quy định của pháp luật), được khámchữa bệnh khi đau ốm, được học tập

+ Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ về việctạm giữ trái pháp luật hoặc các hành vi trái với Quy chế tạm giữ

Thứ tư, kiểm sát việc đảm bảo an toàn về tính mạng, tài sản, nhân phẩm,

danh dự của người bị tạm giữ và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước

bỏ được tôn trọng

1.6.2 Bất thường tiến hành kiểm sát nhà tạm giữ.

- Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 25 Quy chế kiểm sát việc tạm giữ, tạmgiam và thi hành án hình sự được ban hành kèm theo Quyết định số35/2013/QĐ-VKSTC –V4 ngày 29/1/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao thì khi xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát tại nhà tạmgiữ Việc tiến hành kiểm sát có thể được áp dụng khi phát hiện có dấu hiệu viphạm pháp luật nghiêm trọng xảy ra ở nhà tạm giữ (như: vi phạm về căn cứ, vềthời hạn, về thủ tục tạm giữ; vi phạm về việc thực hiện các chế độ quản lý, các

Trang 19

chế độ ăn, ở, sinh hoạt, chữa bệnh… của người bị tạm giữ) hoặc trong trườnghợp người bị tạm giữ trốn, phạm tội mới, chết do tai nạn lao động hoặc dịchbệnh, chết bất thường không rõ nguyên nhân, tự tử…Việc tiến hành kiểm sátngay bất kỳ thời gian nào, không kể là ngày hay đêm Tiến hành đột xuất kiểmsát phải có quyết định trực tiếp kiểm sát, khi kết thúc có kết luận bằng văn bản;trong đó xác định nguyên nhân và hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra

và yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ có biện pháp chấm dứt việc làm vi phạm phápluật và xử lý người vi phạm Căn cứ khoản 4 Điều 25 Quy chế kiểm sát việc tạmgiữ, tạm giam và thi hành án hình sự thì kiểm sát bất thường tại nhà tạm giữthuộc cấp mình và cấp dưới phải do Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểmsát viên được uỷ quyền tiến hành Kiểm tra hồ sơ và tài liệu của cơ quan đơn vịcùng cấp và cấp dưới có trách nhiệm trong việc tạm giữ Căn cứ Điều 16 Quychế tạm giữ, tạm giam và Thông tư số 01/2012/TT-BCA ngày 3/1/2012 của BộCông an quy định và ban hành các loại biểu mẫu, sổ theo dõi sử dụng trong côngtác quản lý giam, giữ thì hồ sơ người bị tạm giữ do Trưởng nhà tạm giữ xâydựng và quản lý để theo dõi việc chấp hành thủ tục, chế độ tạm giữ Ngoài racòn có các loại sổ về tạm giữ của cơ quan, đơn vị quản lý nhà tạm giữ để theodõi, quản lý việc tạm giữ Do vậy, hoạt động của Kiểm sát viên là:

- Kiểm tra hồ sơ của người bị tạm giữ để nắm được tình hình chấp hànhpháp luật từ việc tiếp nhận cho đến khi trả tự do người bị tạm giữ; nắm được quátrình thực hiện thủ tục, các chế độ đối với người bị tạm giữ, qua đó thu thập các

vi phạm từ việc nghiên cứu hồ sơ để có cơ sở chắc chắn chứng minh vi phạm là

có thật

- Trong mỗi vi phạm đã phát hiện và xác minh có thể lập thành biên bản.Phân loại thành từng dạng để phục vụ cho việc tổng hợp kết quả kiểm sát

- Kiểm tra hình thức, nội dung giữa lệnh, quyết định và sổ sách , các loại

đó chỉ giới hạn bao gồm: Hồ sơ, tài liệu, của cơ quan, đơn vị cùng cấp và cấpdưới có trách nhiệm trong việc tạm giữ; những tài liệu, hồ sơ, sổ sách có liênquan đến việc quản lý, giam, giữ mà Trưởng nhà tạm giữ đang quản lý như sổngười bị tạm giữ chết, trốn, vi phạm kỷ luật…

Trang 20

1.6.3 Gặp, hỏi người tạm giữ về việc tạm giữ

- Căn cứ Điều 27 Quy chế kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành ánhình sự thì khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn

vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ trong trường hợp cần thiết Kiểmsát viên gặp và hỏi người bị tạm giữ về việc thực hiện các quy định của phápluật trong tạm giữ đảm bảo cho việc thực hiện khách quan, toàn diện, đúng quyđịnh pháp luật Do vậy, Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ kiểm sát việc tạm giữchỉ được gặp, hỏi những gì có liên quan đến việc tạm giữ

- Nội dung hỏi của Kiểm sát viên:

+ Hỏi về việc tạm giữ có theo đúng quy định của pháp luật không?

+ Mọi chế độ đối với người bị tạm giữ có được đảm bảo không?

+ Tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ

và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ có được tôn trọng không?+ Quyền lợi của họ có được trưởng nhà tạm giữ thực hiện theo đúng quyđịnh của pháp luật không?

1.6.4 Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại về tạm giữ

Tiếp nhận và giải quyết những khiếu nại, đề nghị có liên quan đến việc tạmgiữ như họ khiếu nại về thời hạn tạm giữ, về chế độ tạm giữ, chế độ thăm gặp,lưu ký, việc thực hiện các chế độ bảo đảm quyền lợi về vật chất cũng như tinhthần đối với họ mà Trưởng nhà tạm giữ có trách nhiệm thực hiện

- Nghiên cứu, phân loại, nếu thấy cần thiết có thể trực tiếp gặp gỡ, đối thoạivới người khiếu nại, người bị khiếu nại; người tố cáo, người bị tố cáo và nhữngngười có liên quan để xác minh nội dung khiếu nại, tố cáo;

- Trực tiếp giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc chấp hành cácquy định của pháp luật về tạm giữ

- Đề xuất với Lãnh đạo Viện ra kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu xử lý nhữnghành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và chế

độ đối với người bị tạm giữ; chuyển đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giảiquyết những khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và theo dõi kết quả giải quyếtcủa cơ quan, đơn vị đó

Trang 21

1.7 Nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, phân loại xử lý các đối tượng bắt, tạm giữ

1.7.1 Kiểm sát hồ sơ khi tiếp nhận người vào để tạm giữ gồm có

+ Quyết định tạm giữ đối với người bị truy nã phải có thêm Quyết định truynã;

+ Biên bản bắt hoặc báo cáo bắt giữ;

+ Biên bản giao nhận hồ sơ và giao nhận người bị tạm giữ, xác định tìnhtrạng sức khoẻ của họ;

+ Biên bản giao nhận tư trang, tài sản của người bị bắt (nếu có);

+ Lệnh trích xuất, quyết định điều chuyển và toàn bộ hồ sơ liên quan đếnngười bị tạm giữ ở nơi tạm giữ trước đó chuyển đến…

1.7.2 Kiểm sát hồ sơ phát sinh trong quá trình tạm giữ

+ Quyết định gia hạn tạm giữ có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát;

+ Danh chỉ bản

+ Thông báo hết hạn tạm giữ;

+ Hồ sơ kỷ luật người bị tạm giữ

+ Đơn xin thăm gặp của thân nhân, của người bị tạm giữ có xác nhận củachính quyền địa phương, cơ quan, nơi cư trú hoặc làm việc và ý kiến đồng ý chothăm gặp của cơ quan đang thụ lý vụ án…

+ Ngoài những nội dung nêu trên, theo quy định về công tác hồ sơ thìnhững tài liệu, hồ sơ có liên quan đến quá trình tạm giữ của người bị tạm giữđều phải được lưu trong hồ sơ cá nhân của người bị tạm giữ

1.7.3 Kiểm sát hồ sơ cho người bị tạm giữ ra khỏi nơi tạm giữ:

+ Quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giữ và trả tự do cho người bị tạm giữcủa cơ quan có thẩm quyền;

+ Các tài liệu liên quan đến việc đưa người bị tạm giữ ra khỏi nơi tạmgiữ (không nằm trong các trường hợp trả tự do nêu trên) khi: Có lệnh tríchxuất; có quyết định điều chuyển; Quyết định thi hành án; Quyết định đưa đikhám chữa bệnh

Trang 22

- Căn cứ Điều 20 Quy chế tạm giữ, tạm giam thì việc đưa người bị tạm giữkhỏi nơi tạm giữ chỉ được thực hiện khi có Lệnh trích xuất bằng văn bản của cơquan có thẩm quyền được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Trường hợpcần cấp cứu, khám và chữa bệnh ngay cho người bị tạm giữ tại cơ sở y tế ởngoài Nhà tạm giữ thì Trưởng Nhà tạm giữ có quyền ra lệnh trích xuất, sau đóphải thông báo ngay cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết Trưởng Nhà tạm giữphải có sổ theo dõi hàng ngày việc đưa người bị tạm giữ khỏi nơi tạm giữ.

- Căn cứ Điều 21 Quy chế tạm giữ, tạm giam thì việc trích xuất người bịtạm giữ để tiến hành các hoạt động ở bên ngoài khu vực nhà tạm giữ trong cáctrường hợp sau:

+ Đưa đi khám, chữa bệnh, giám định pháp y; giám định pháp y tâm thần;+ Chuyển người bị tạm giữ đến nơi tạm giữ khác;

+ Để thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử;

+ Cho gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác;

+ Cho người nước ngoài bị tạm giữ tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với các

tổ chức nhân đạo theo quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kếthoặc tham gia, hoặc theo sự thoả thuận trực tiếp của Nhà nước Việt Nam vớinước có người bị tạm giữ hoặc vì lý do đối ngoại đối với từng trường hợp cụ thể

- Ngoài những trường hợp trích xuất trên, Trưởng Nhà tạm giữ có tráchnhiệm bàn giao người bị tạm giữ trong các trường hợp dưới đây:

+ Khi có quyết định của cơ quan thụ lý vụ án chuyển người bị tạm giữ khác;+ Để tiến hành các hoạt động đưa đi khám, chữa bệnh, giám định pháp y;giám định pháp ý tâm thần;

+ Để thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử;

+ Cho gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác;

+ Cho người nước ngoài bị tạm giữ tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với các

tổ chức nhân đạo theo quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kếthoặc tham gia, hoặc theo sự thoả thuận trực tiếp của Nhà nước Việt Nam vớinước có người bị tạm giữ hoặc vì lý do đối ngoại đối với từng trường hợp cụ thể

Ngày đăng: 11/04/2016, 12:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ luật hình sự năm 1999( sửa đổi, bổ sung năm 2009) Khác
5. Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ ban hành quy chế tạm giữ, tạm giam Khác
6. Nghị định số 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/ NĐ-CP ngày 07/11/1998 Khác
7. Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp Khác
8. Thông tư 08/2001 TT-BCA ngày 12/11/2001 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của quy chế về tạm giữ, tạm giam Khác
1. Giáo trình Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát của Trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát năm 2014 Khác
2. Báo cáo công tác năm 2013, 2014, đầu năm 2015 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế Khác
4. Nguyễn Văn Điệp, các biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam thực trạng nguyên nhân và giải pháp…;Luận án tiến sĩ Luật học (Hà Nội, 2005) Khác
5. Trang wed: /HTTP:Tholaw.Wordpress.com/2009/08/09 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Tình hình chấp hành pháp luật trong việc tạm giữ, phân loại xử lí - Những vấn đề về lí luận và kiểm sát việc tạm giữ, phân loại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việc tạm giữ
Bảng 2.1 Tình hình chấp hành pháp luật trong việc tạm giữ, phân loại xử lí (Trang 30)
BẢNG SỐ LIỆU - Những vấn đề về lí luận và kiểm sát việc tạm giữ, phân loại và xử lí các đối tượng bắt, tạm giữ tại nhà tạm giữ và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việc tạm giữ
BẢNG SỐ LIỆU (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w