Vì vậy, lượng bia sản xuất hàng năm không ngừng tăng lên.Được sản xuất từ các loại nguyên liệu chính là malt đại mạch, hoa houblon, nước và men đã tạo ra cho bia một hương vị đặc trưng m
Trang 1Bia là loại nước giải khát có từ lâu đời được rất nhiều người ưa chuộng Đây là sản phẩm khởi nguồn từ những năm trước công nguyên Người ta cho rằng Osiris (vị thần nông nghiệp của Ai Cập) là người hướng dẫn con người làm bia từ lúa mạch Bia là một sản phẩm điển hình của công nghệ lên men Ban đầu, cách đây hơn 5000 năm (TCN), người ta làm bia bằng cách lên men những loại ngũ cốc Quá trình làm bia phát triển dần dần theo thời gian Đến thế kỉ thứ VIII, hoa houblon đã được sử dụng trong làm bia Ngành sản xuất bia thực sự được phát triển với sự ra đời của công trình “Nghiên cứu về Bia” của Louis Pasteur, ông đã đưa ra những nền tảng đầu tiên của một qui trình sản xuất hợp lí, và phương pháp thanh trùng Pasteur của ông vẫn được sử dụng cho đến ngày nay trong sản xuất bia Đến ngày nay, công nghệ sản xuất bia đã phát triển đến đỉnh cao, nhiều thương hiệu bia nổi tiếng cả thế giới như Heniken, Tiger, Halida… được cả thế giới ưa dùng Vì vậy, lượng bia sản xuất hàng năm không ngừng tăng lên.
Được sản xuất từ các loại nguyên liệu chính là malt đại mạch, hoa houblon, nước và men đã tạo ra cho bia một hương vị đặc trưng mà các loại đồ uống khác không có được Bia có một hương thơm đặc trưng, vị đắng dịu, lớp bọt trắng mịn, với hàm lượng CO2 khá cao giúp cơ thể giải khát một cách triệt để Uống bia với một lượng thích hợp không những có lợi cho sức khỏe, ăn cơm ngon, dễ tiêu hóa
mà còn giảm được sự mệt mỏi sau ngày làm việc mệt nhọc
Đối với Việt Nam nói riêng, ngành công nghiệp bia hiện nay đang trên đà phát triển không ngừng và đang tạo cho mình một vị thế mới Nhiều loại bia ra đời
và đang chiếm lĩnh thị trường trong nước như bia Sài Gòn, bia Lager, bia HuDa, bia
Hà Nội, Mục tiêu nhắm đến của ngành công nghiệp bia hiện nay là sản xuất các loại bia có chất lượng cao, ổn định, đáp ứng thị hiếu cũng như nhu cầu của người tiêu dùng, tăng sức cạnh tranh với các sản phẩm khác
Để có thể tìm hiểu sâu và nắm bắt chi tiết hơn về dây chuyền công nghệ sản xuất bia, em đã chọn đề tài luận văn tốt nghiệp: “Thiết kế nhà máy sản xuất bia vàng với năng suất 5 triệu lít/năm”.
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Định nghĩa bia vàng
Bia là loại đồ uống có độ cồn thấp, giàu dinh dưỡng Ngoài việc cung cấp một
lượng calori khá lớn, trong bia còn chứa một hệ enzyme khá phong phú, đặc biệt là nhóm enzyme kích thích tiêu hoá amylaza Nguyên liệu chính dùng để sản xuất bia
là malt đại mạch, hoa houblon, nước và sử dụng nguyên liệu thay thế là gạo, ngô, đường saccaraza với một quy trình khá đặc biệt, cho nên bia có tính chất cảm quan khá hấp dẫn đối với con người: hương thơm đặc trưng, vị đắng dịu, lớp bọt trắng mịn, với hàm lượng CO2 khá cao giúp con người giải khát một cách triệt để khi ta uống Lượng bia sản xuất ngày càng tăng và sản phẩm ngày càng được đa dạng hoá mẫu mã nhằm đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng và cảm quan của người tiêu dùng Hiện nay trên thị trường có nhiều loại bia, tùy theo từng loại nguyên liệu sản xuất mà ta có bia vàng và bia đen Trong đó, bia vàng là loại phổ biến và được sản xuất nhiều hơn cả Bia vàng có vị đắng dịu và mùi thơm đặc trưng được quyết định bởi nguyên liệu là malt vàng và hoa houblon
Hình 1.1 Một số sản phẩm của bia
1.1.1 Thành phần hóa học của bia
Thành phần hóa học của bia phụ thuộc vào thành phần của nguyên liệu, nồng
độ dịch lên men ban đầu và mức độ lên men
1.1.1.1 Các chất bay hơi [1, trang 74]
Ngoài rượu Etylic và CO2, trong bia còn chứa một lượng không nhiều các chất
Trang 3bay hơi khác như rượu bậc cao, andehyt, các axit hữu cơ, este và một số chất khác Hàm lượng rượu etylic quyết định đến chất lượng của bia Hàm lượng rượu etylic từ 1,8–7,0% so với thể tích và hàm lượng CO2 khoảng 0,3 – 0,5% khí CO2 tính theo trọng lượng Khí CO2 là thành phần quan trọng của bia, nó đảm bảo chất lượng cũng như vị tươi mát cho bia Rượu bậc cao là các chất có mùi, vị và tham gia tạo este ảnh hưởng đến mùi vị của bia Hàm lượng của nó khoảng 40–80mg/lit Axetaldehyt
và andehyt chủ yếu có trong bia và nó chứa khoảng 5mg/lit đề thi thử đại học Trong bia còn có chứa diaxetyl và một số hợp chất chứa lưu huỳnh như SO2 khoảng 2-16 mg/lit, H2S khoảng 0,04 mg/lit, các mecaptan bay hơi khoảng 0,07 mg/lit
1.1.1.2 Các chất không bay hơi [1, trang 74]
Phụ thuộc vào nồng độ dịch lên men ban đầu và mức độ lên men, bia thành phẩm chứa 2,5-5% các chất không bay hơi Trong đó saccarit chiếm 80-85%, các chất Nito 6-9%, Glyxerin 5-7%, các chất khoáng 3-4%, các chất đắng tanin và các chất màu 2-3%, các axit hữu cơ không bay hơi 0,7-1% và một lượng nhỏ vitamin
1.2 Nguyên liệu sản xuất bia
1.2.1 Malt đại mạch
Malt là hạt hòa thảo nảy mầm trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm nhân tạo xác định Nó là sản phẩm rất giàu chất dinh dưỡng: đường đơn, các axit amin, các chất khoáng, các nhóm vitamin và có hệ enzyme phong phú – chủ yếu là proteaza và amylaza
Trang 4Hình 1.2 Malt Hình 1.3 Đại mạch
1.2.1.1 Vai trò
Malt đại mạch vừa là tác nhân đường hóa, vừa là nguyên liệu đặc trưng dùng
để sản xuất bia Bia sản xuất từ malt đại mạch có mùi vị và các tính chất công nghệ hơn hẳn so với bia được sản xuất từ malt của các hạt hòa thảo khác
Phôi: Là cơ quan sống, hô hấp của hạt Phôi thường
chiếm từ 2,5 ÷ 5% trọng lượng hạt Trong phôi có từ 37 ÷ 50% chất khô là thành phần nitơ, khoảng 7% chất béo, 5 ÷ 6% đường saccharose, 7 ÷ 7,5% pentose, 6 ÷ 6,5% chất tro và một số ít thành phần khác Riêng tinh bột hầu như rất ít
Nội nhũ (Endosperm): Chiếm từ 45 ÷ 68% trọng lượng
hạt Phần này của hạt đại mạch giữ vai trò quyết định chất lượng của đại mạch trong sản xuất bia Thành phần chính trong nội nhũ là hạt tinh bột hình tròn, có kích thước rất lớn (từ 20 ÷ 30μ) hoặc rất bé (từ 2
÷ 10μ) Rất ít những hạt có kích thước trung bình Nếu hàm lượng protein trong đại mạch càng cao thì càng nhiều hạt tinh bột kích thước nhỏ
Trang 5Hình 1.4 Cấu tạo hạt đại mạch.
1.2.1.3 Thành phần hóa học [1, trang 32]
Thành phần hóa học trung bình của malt bia tính theo phần trăm chất khô là: tinh bột 58 %, đường khử 4 %, saccaroza 5 %, pentozan hòa tan 1 %, pentozan không hòa tan và hexozan 9 %, xenluloza 6 %, chất chứa Nito 10 %, chất béo 2 %, chất khoáng 2,5 % Ngoài ra còn một số chất như inozit, các chất màu, các tanin và chất đắng Trong malt còn chứa các enzym thủy phân cần thiết cho sản xuất bia như: α-amylaza, β-amylaza, proteinaza, peptidaza, fitaza, xitaza, amylofotfataza…
1.2.1.4 Yêu cầu đối với malt dùng trong sản xuất bia [1, trang 32]
Malt dùng để sản xuất bia phải sạch, có mùi thơm đặc trưng của malt, có vị ngọt, có màu vàng sáng đều Không được có mùi vị lạ, không được mốc và không hôi khói Yêu cầu kích thước của các hạt malt phải đều Kích thước hạt malt đạt yêu cầu nếu như hạt malt trên sàn 2,8 mm và 2,5 mm chiếm 94 %, hạt dưới sàn 2,2 mm không quá 0,5% Khối lượng riêng của malt trong khoảng 520-600g/l Độ ẩm của malt không quá 6% Độ chiết của malt: 75-82% Thời gian đường hoá: 20-35 phút, hoạt lực amylaza đạt 100-300 đơn vị, hàm lượng tinh bột càng cao càng tốt nhưng hàm lượng protein phải nằm trong khoảng 9-12%, nếu cao hơn bia sẽ đục, rất khó bảo quản, còn nếu thấp hơn thì bia kém bọt, vị kém đậm đà
Trang 61.2.2 Hoa Houblon
1.2.2.1 Vai trò
Hoa houblon là nguyên liệu không thể thiếu
trong sản xuất bia và hiện nay chưa một loại
nguyên liệu nào có thể thay thế được Hoa
houblon làm cho bia có vị đắng dịu, hương thơm
rất đặc trưng, làm tăng khả năng tạo và giữ bọt,
làm tăng độ bền keo và ổn định thành phần sinh
học của sản phẩm Thành phần hóa học của hoa
gồm nhiều chất khác nhau, những chất có giá trị
cho bia là nhựa houblon, các chất tanin và tinh dầu
1.2.2.2 Thành phần hoá học [1, trang 33]
Thành phần hoá học của hoa houblon gồm nhiều chất khác nhau nhưng các chất có giá trị trong công nghệ sản xuất bia là nhựa houblon, các tanin và tinh dầu Ngoài ra trong hoa còn chứa một số chất khác như: protein, mỡ, sáp, các hợp chất phiprotein, xenluloza,…
• Nhựa hoa houblon là thành phần chính và quan trọng của hoa houblon, bao gồm nhựa cứng và nhựa mềm: nhựa mềm gồm có α-nhựa mềm
và β-nhựa mềm, trong nhựa mềm gồm các dạng axít đắng là α, β, γ, δ-axít đắng Vị đắng của bia chủ yếu là do α-axít đắng tạo nên, còn các dẫn xuất của β-axít đắng tạo nên vị đắng hài hoà, dễ chịu
• Các chất tanin của hoa houblon là các polyphenol, dễ hoà tan trong nước, dễ bị oxy hoá nên nó bảo vệ nhựa houblon Trong quá trình nấu bia, hầu hết tanin của hoa houblon liên kết với protein của malt, do đó hàm lượng polyphenol ở trong bia chủ yếu là của malt và chỉ khoảng 10÷20% là polyphenol của hoa houblon
• Tinh dầu hoa houblon là một hỗn hợp phức tạp của các hydrat cacbon và nhiều hợp chất chứa oxy dạng tecpen Tinh dầu houblon không hoà tan trong nước nhưng dễ bay theo hơi nước Trong quá trình sản xuất khoảng 98% lượng tinh dầu bị bay hơi chỉ còn khoảng 2% tồn tại trong bia
Hình 1.5 Hoa Houblon
Trang 7tạo hương thơm cho bia Trong quá trình bảo quản, tinh dầu sẽ mất dần do bay hơi và bị ôxy hoá Do đó không dùng hoa cũ để sản xuất bia vì các sản phẩm chuyển hoá của tinh dầu nếu đưa vào bia sẽ làm giảm chất lượng của bia
1.1.2.3 Phương pháp bảo quản và nâng cao hiệu quả sử dụng hoa[1,trang35]
Để giữ chất lượng cho hoa thì nên bảo quản hoa trong các điều kiện sau:
• Ngăn chăn sự xâm nhập của không khí vào hoa bằng cách bảo quản trong thùng kín, môi trường chân không hoặc môi trường khí trơ
• Xông SO2 để hạn chế sự oxy hoá và phát triển của vi sinh vật
• Bảo quản ở nhiệt độ thấp, gần 0oC vì ở nhiệt độ thấp có tác dụng kìm hãm các quá trình hoá học, hạn chế sự phát triển của vi sinh vật
• Cách ẩm tốt
Nếu bảo quản được trong các điều kiện trên thì hoa có thể bảo quản trong 2 năm mà chất lượng không thay đổi Hiệu quả sử dụng các chất đắng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khi đun sôi hoa với dịch đường, quan trọng nhất là thời gian và cường độ đun sôi, lượng và chất của hoa sử dụng và pH của dịch đường Nếu tiến hành houblon hoá trong điều kiện tối ưu thì lượng chất đắng sử dụng được trong giai đoạn này khoảng 80÷85%, còn 15÷20% ở lại trong bã hoa
1.2.3 Nước
1.2.3.1 Vai trò
Hàm lượng nước trong bia thành phẩm chiếm trung bình khoảng 90% Trong nhà máy bia, nước được dùng với nhiều mục đích khác nhau: xử lý nguyên liệu, nấu nguyên liệu, làm nguội bán thành phẩm, thanh trùng, vệ sinh sát trùng thiết bị, vệ sinh xí nghiệp,… Do đó lượng nước dùng trong nhà máy rất lớn Nước có ảnh hưởng lớn đến tiến trình công nghệ và chất lượng sản phẩm Vì vậy, nước dùng để nấu bia không những đòi hỏi phải có đầy đủ tiêu chuẩn của nước uống mà còn có những yêu cầu riêng đáp ứng cho công nghệ sản xuất bia
1.2.3.2 Thành phần hoá học [1, trang 37]
Trang 8Nước thực chất là một dung dịch loãng của các loại muối ở dạng ion.
•Nhóm cation chiếm nhiều nhất là: Ca2+, Mg2+, H+, Na+, K+, Fe2+, Mn2+,
Al3+
•Nhóm anion chủ yếu là: OH-, HCO3-, Cl-, SO42-, NO3-, NO2-, SiO32-, PO43-
Các muối của canxi và magie là nguyên nhân gây độ cứng của nước
1.2.3.3 Yêu cầu đối với nước dùng trong sản xuất bia [1, trang 36]
Nước dùng để nấu bia trước hết phải trong suốt, không màu, có mùi dễ chịu hoặc không mùi và không chứa các vi sinh vật gây bệnh
• Độ cứng trung bình của nước: 5÷6 miligam đương lượng/lit
- Chuẩn độ coli không nhỏ hơn 300ml
- Chỉ số coli không lớn hơn 3
1.2.4 Nấm men
Để thực hiện quá trình lên men dịch đường houblon hoá, điều kiện tiên quyết
là phải có một lượng nhất định sinh khối nấm men bia thuần khiết
Nấm men được sử dụng trong sản xuất bia gồm 2 loại:
•Saccharomyces cerevisiae (giống nấm men nổi).
•Saccharomyces carlsbergensis (giống nấm men chìm).
Yêu cầu kỹ thuật đối với giống nấm men để sản xuất bia: [2, trang 405]
•Nấm men bia phải được nhân giống từ chủng thuần khiết và một
Hình 1.6 S.cerevisiae
Trang 9chủng nấm men phù hợp có chất lượng tốt có thể tái sử dụng đến đời thứ 7 thứ 8.
•Giống nấm men phải thích ứng được với những điều kiện như: nhiệt
độ, pH, thành phần môi trường
•Mật độ gieo cấy nấm men ban đầu càng nhiều thì hàm lượng diaxetyl càng thấp, chất lượng bia càng tốt, nhưng mật độ gieo cấy ban đầu vượt qua ngưỡng 70.106 tế bào/cm3 thì hiệu quả mang lại không được rõ nét
1.2.5 Nguyên liệu thay thế (Gạo)
Người ta sử dụng nguyên liệu thay thế trong sản xuất bia nhằm mục đích giảm giá thành sản phẩm Nguyên liệu thay thế có thể sử dụng là nguyên liệu giàu tinh bột hoặc giàu đường Đối với nhà máy, nguyên liệu thay thế được sử dụng là gạo Về khả năng thay thế malt đại mạch thì gạo là loại cốc được dùng nhiều hơn cả, mà chất lượng bia không thua kém so với sử dụng toàn bộ malt đại mạch
Trong thành phần chất khô của gạo thì tinh bột chiếm 75 %, protein 8%, chất béo 1 – 1,5%, xenluloza 0,5 – 0,8%, chất khoáng 1 – 1,2% Trong quá trình nấu ta thu được nhiều chất hoà tan Gạo có chứa rất nhiều tinh bột, protein vừa phải, chất béo và xenlulo ở giới hạn thấp Do đó gạo là nguyên liệu thay thế khá lý tưởng [2, trang 25]
Yêu cầu về gạo sử dụng trong sản xuất bia phải sạch, không tạp chất, không mối mọt và lượng amylopectin thấp
Nước ta là một nước nông nghiệp nên gạo có thể thu mua ở trong nước Gạo được bảo quản trong các xilo chứa, thời gian bảo quản là một tháng
1.2.6 Các loại nguyên liệu phụ khác
Dùng như các phụ gia trong quá trình sản xuất bia, các hóa chất sử dụng trong các công đoạn tẩy rửa, các loại bột trợ lọc, các chất ổn định và đặc biệt là các enzym
sử dụng trong công đoạn sản xuất dịch đường lên men và lên men
1.3 Các phương pháp lên men trong sản xuất bia
•Lên men truyền thống
Đây là phương pháp lên men có từ lâu đời, quá trình lên men chính và lên
Trang 10men phụ được thực hiện trong hai thiết bị riêng biệt, đặt trong phòng lạnh Thời gian lên men phụ thuộc vào nồng độ chất hòa tan ban đầu của dịch đường và chế độ nhiệt trong thời gian lên men đó Quá trình lên men chính được thực hiện ở áp suất thường, còn quá trình lên men phụ được thực hiện dưới áp suất dư 0,3-0,7 atm Tỷ
lệ nấm men giống được sử dụng khoảng 0,4-0,6 l/100l dịch đường
Thiết bị lên men được chế tạo từ nhiều loại vật liệu khác nhau và thường có dạng thân trụ, đáy côn hoặc chỏm cầu
•Lên men hiện đại
Đặc trưng của phương pháp này là cả quá trình lên men chính và lên men phụ được thực hiện trong cùng một thiết bị Thiết bị lên men không đặt trong phòng lạnh Gồm có phương pháp lên men một pha, lên men liên tục và lên men bán liên tục
•Phương pháp lên men truyền thống có nhiều ưu điểm nổi bật đó là sử dụng thiết bị đơn giản, dây chuyền không khép kín, dễ kiểm soát khi gặp sự
cố, không lên men liên tục nên thiết bị được rửa sạch thường xuyên Do vậy, trong bài này em chọn phương pháp lên men truyền thống nhằm tạo ra sản phẩm bia có chất lượng cao
Trang 11CHƯƠNG II QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ 2.1 Quy trình công nghệ
NghiềnNấu
Hội cháo
NấuNghiền
Dán nhãn
Đóng nắpChiết chai
Thanh trùng
Nuôi cấy
Lên men phụ
và tàng trữLọc
Ổn định bia
Lên men chínhLàm lạnhLắng trongHoublon hóa
Lọc dịch đườngĐường hóa
Malt lótHơiNướcEnzyme
CO2
Xử lýNạp bình
Dịch Hoa houblon
Bia thành phẩm
Trang 12Hình 2.1 Minh họa quy trình công nghệ[11]
Trang 132.2 Thuyết minh quy trình
2.2.1 Làm sạch nguyên liệu
2.2.1.1 Mục đích
Malt và gạo trước khi đem vào sản xuất bia cần phải có quá trình làm sạch để loại bỏ tạp chất Quá trình này đảm bảo cho nguyên liệu được sạch, kích thước hạt đồng đều, không ảnh hưởng đến chất lượng bia, thuận lợi cho quá trình nghiền
2.2.1.2 Tiến hành làm sạch
Nguyên liệu sau khi được định lượng thì qua máy làm sạch để loại bỏ bụi bẩn, các hạt bị gãy dập, chất lượng kém hoặc mầm rễ còn sót, các tạp chất lớn như lông chim, lá khô,…để đảm bảo không ảnh hưởng đến chất lượng của bia Sau đó, nguyên liệu được đưa qua bộ phận tách từ để loại bỏ các tạp chất có từ tính nhằm tránh gây ảnh hưởng đến quá trình nghiền phía sau
2.2.2 Nghiền nguyên liệu
2.2.2.1 Mục đích
Nhằm để làm giảm kích thước hạt, phá vỡ cấu trúc tinh bột, làm cho nước xâm nhập vào nội nhũ nhanh hơn, thúc đẩy quá trình đường hoá, thuỷ phân tinh bột diễn
ra nhanh và triệt để hơn
2.2.2.2 Yêu cầu khi nghiền
Malt
Vỏ malt giữ được càng nguyên càng tốt Nếu giữ nguyên được
vỏ malt thì sẽ ngăn chặn được việc chuyển các chất không có lợi từ vỏ vào dịch đường và bia Mặt khác, vỏ malt càng nguyên càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lọc, nâng cao vận tốc và hiệu suất lọc
Nội nhũ phải được nghiền nhỏ Tuy nhiên, nếu tỷ lệ bột và tấm mịn, nhất là bột quá cao thì lọc dịch đường sẽ khó khăn và giảm hiệu suất thu hồi Vì vậy, khi nghiền cần tạo tỷ lệ thích hợp giữa tấm thô, tấm mịn và bột phù hợp với từng loại thiết bị lọc
Trang 14nhiên, lựa chọn phương pháp nghiền khô cho cả hai loại nguyên liệu vì phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện Malt được nghiền bằng thiết bị nghiền hai cặp trục
và gạo được nghiền bằng thiết bị nghiền búa
Máy nghiền trục (nghiền malt)
Cấu tạo
Nguyên tắc hoạt động
Malt được đổ vào phễu và được nghiền sơ bộ ở cặp rulô thứ nhất Khoảng cách giữa 2 trục nghiền của cặp rulô thứ nhất lớn hơn so với khoảng cách giữa 2 trục nghiền của cặp rulô thứ 2 Sau khi nghiền sơ bộ, bột malt được đưa vào rulô thứ 2 để nghiền tiếp
Máy nghiền búa (nghiền gạo)
Hình 2.2 Máy nghiền trục (nghiền malt)
Hình 2.3 Máy nghiền búa (nghiền gạo)
Trang 15nghiền nát nhờ vào lực va đập của búa nghiền (2) vào thành trong của máy nghiền búa Búa được lắp trên đĩa treo số (4), các búa được treo cách đều nhau Gạo sau khi được nghiền mịn sẽ đi qua lưới số (3) ra ngoài và được đưa vào bunke chứa.
2.2.3 Nấu nguyên liệu
2.2.3.1 Mục đích
Chuyển các chất có trong nguyên liệu từ trạng
thái không hoà tan sang trạng thái hoà tan nhờ tác
động của các hệ enzyme thuỷ phân
1 Ống tháo hơi
2 Cửa nạp liệu
3 Cửa nạp hơi
4 Áo hơi
5 Cửa thoát nước ngưng
6 Cửa tháo liệu
7 Cánh khuấy
8.Cửa quan sát
2.2.3.2 Tiến hành nấu
Sau khi nghiền xong, nguyên liệu nên đem đi nấu ngay vì nếu để lâu bột sẽ
bị chua, làm ảnh hưởng đến chất lượng của bán thành phẩm và thành phẩm sau này
Tiến hành nấu theo phương pháp kết hợp với nguyên liệu thay thế chiếm 45% Tỷ lệ phối trộn nguyên liệu và nước nấu là:
Malt : nước = 1 kg : 3 lítGạo : nước = 1 kg : 4 lít
Nồi gạo: Gạo đã nghiền mịn với 10% bột malt lót (so với tổng lượng gạo)
được đem vào phối trộn với nước ấm 370C theo đúng tỷ lệ trên Bổ sung lượng chế phẩm enzyme Termamyl cần dùng vào Khuấy trộn đều dịch bột trong vòng 10 phút Sau khi khuấy trộn xong nhiệt độ của nồi nấu hạ xuống còn khoảng 350C, bổ sung axit lactic để pH hạ xuống còn 5,6 và giảm độ nhớt của dịch Nâng nhiệt độ của khối nấu lên 660C với tốc độ khoảng 10C/phút và giữ ở nhiệt độ này 30 phút để
hồ hóa tinh bột Sau đó nâng nhiệt độ khối nấu đến nhiệt độ sôi (khoảng 1050C) trong 30 phút và giữ sôi 20 phút Trong suốt quá trình nấu gạo phải khuấy trộn liên
Hình 2.4 Nồi nấu nguyên liệu
Trang 16tục để tránh cháy ở đáy nồi, vận tốc cánh khuấy khoảng 30÷40 vòng/phút.
Nồi malt: Khi nồi gạo đã tiến hành nâng nhiệt đun sôi thì nồi malt cũng bắt
đầu cho nước 370C vào Thời gian hòa bột malt và nước trong 10 phút Bổ sung CaCl2, lượng enzim Ultraflo và axit lactic vào Nhiệt độ của khối dịch khoảng 350C
và pH là 5,6 Nâng nhiệt khối nấu lên 520C trong vòng 20 phút và giữ ở nhiệt độ này 30 phút để thực hiện quá trình đạm hóa
Hội cháo: Khi nồi gạo đun sôi xong thì quá trình đạm hóa ở nồi malt cũng vừa
kết thúc Tiến hành bơm cháo gạo sang nồi malt để hội cháo, thời gian bơm là 10 phút Nhiệt độ toàn khối nấu lúc này đạt 630C, giữ ở nhiệt độ 630C trong 30 phút để tạo điều kiện cho enzim β-amylaza thuỷ phân tinh bột Sau đó, nâng nhiệt độ khối nấu lên 730C trong vòng 10 phút và giữ ở nhiệt độ này 30 phút để enzim α-amylaza tiếp tục thuỷ phân tinh bột Nâng nhiệt độ toàn khối dịch lên 780C trong vòng 5 phút rồi sau đó bơm dịch đi lọc
Hình 2.5 Sơ đồ nâng nhiệt quá trình nấu
Trang 17Để lọc dịch đường ta sử dụng thiết bị lọc khung bản Quá trình lọc dịch đường gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn lọc
Giai đoạn rửa bã
Trước khi lọc cần thiết phải bơm nước nóng vào khoảng không gian giữa khung, bản để làm nóng thiết bị Sau đó, tháo nước nóng và bơm dịch vào Trong khoảng thời gian đầu dịch đường chảy ra còn đục nên cần bơm hồi lưu về nồi đường hoá để lọc lại Khi dịch đường đã đạt được độ trong cần thiết thì cho chảy vào thiết bị houblon hoá Sau khi đã lọc hết dịch thì tiến hành rửa bã để thu hồi các chất hoà tan còn sót trong bã Để tăng cường quá trình khuyếch tán các chất hoà tan vào dung dịch rửa bã thì cần dùng nước nóng 75÷ 78oC để rửa Nước rửa bã cũng được chảy vào nồi houblon hoá Không nên dùng nước có nhiệt độ quá cao để rửa
bã và cũng không nên rửa bã quá kĩ Bởi vì, nếu rửa kĩ quá thì một số các chất đắng
và tanin sẽ trích ly vào làm cho dịch có mùi và vị không bình thường, đôi lúc còn làm loãng dịch đường nên phải mất thời gian và tốn kém năng lượng cho việc cô đặc đến nồng độ cần thiết
Dịch đường sau khi lọc xong phải đảm bảo về độ trong Khi đã rửa bã xong thì tiến hành tháo bã và vệ sinh sát trùng thiết bị
Trang 18+ Làm keo tụ các protit.
+ Truyền cho bia mùi và vị của hoa houblon
+ Vô hoạt enzyme và thanh trùng dịch đường
2.2.5.2 Tiến hành Houblon hóa
Kỹ thuật đun sôi: Dịch đường ban đầu và nước rửa bã được trộn lẫn vào
nhau trong thiết bị houblon hoá Yêu cầu phải giữ nhiệt độ của hỗn hợp này không nhỏ hơn 70oC Để giữ được dịch đường ở nhiệt độ cần phải cung cấp nhiệt cho nó Trong quá trình cung cấp nhiệt phải tính toán như thế nào để khi quá trình rửa bã vừa kết thúc thì dịch đường cũng vừa sôi Không nên để dịch đường chưa sôi trong thời gian quá dài Vì như vậy sẽ tạo điều kiện cho oxi không khí tiếp xúc với dịch đường và dẫn tới các phản ứng oxi hoá làm giảm chất lượng của dịch đường
Thời gian houblon hoá trung bình là 2h và không nên ít hơn 1,5h và không quá 2,5h
Thiết bị houblon hóa cũng giống như thiết bị nấu
Tiến hành: Dịch đường và nước rửa bã từ thiết bị lọc chuyển thẳng vào nồi
houblon hóa Khi dịch đường lấp đầy đáy nồi thì bắt đầu cung cấp nhiệt để nhiệt độ dịch đường luôn giữ ở 75oC Khi nước rửa bã chảy vào nồi gần kết thúc thì bắt đầu nâng nhiệt đến sôi và cho 1/3 lượng hoa vào nhằm lấy chất đắng Giữ sôi 30 phút rồi tiếp tục cho 1/3 lượng hoa vào Trước khi kết thúc quá trình houblon hóa khoảng
30 phút thì cho tiếp 1/3 lượng hoa còn lại nhằm tạo hương và kết lắng protein Trong quá trình đun sôi thì chỉ số đầu tiên để kết thúc quá trình đun sôi là nồng độ dịch đường, những chỉ số khác là sự có mặt kết tủa của protein và độ trong của dịch đường, tổng thời gian đun sôi là 120 phút
2.2.6 Lắng trong và làm lạnh
2.2.6.1 Mục đích
- Lắng và tách cặn để làm trong dịch đường
- Hạ nhiệt độ của dịch đường đến nhiệt độ lên men
- Bão hòa oxy cho dịch lên men
2.2.6.2 Tiến hành
Tiến hành lắng trong trong thiết bị whirlpool và làm lạnh bằng thiết bị làm
Trang 19lạnh bản mỏng Thiết bị lắng whirlpool là một thùng được làm bằng thép không rỉ, có dung tích rất khác nhau và thích hợp đối với công suất từng nhà máy, đáy thùng có độ nghiêng 8-10% so với phương ngang Ở độ cao 1/4 thân thùng kể từ dưới lên là đường ống để bơm dịch vào thùng, hướng đi của dịch là theo phương tiếp tuyến với thân thùng, vận tốc dịch đường vào thùng phải đạt 10-14 m/s, tạo một sức đẩy mạnh, lực này tạo ra một xung lực theo phương tiếp tuyến với cột chất lỏng bên trong thùng và làm cho cả cột chất lỏng đó xoay tròn Nhờ có lực hướng tâm lớn, cặn lắng bị hút vào tâm thùng và lắng xuống đáy
Thiết bị whirlpool có ưu điểm là đảm bảo vô trùng vì dịch đường khi đưa vào thiết bị cũng như ra khỏi thiết bị ở nhiệt độ rất cao (khoảng 90˚C) và thời gian lắng chỉ khoảng 20 phút Để yên 20 phút rồi dịch đường trong được bơm sang thiết bị là lạnh nhanh, ở đây dịch được làm lạnh đến nhiệt độ lên men là 10˚C, thời gian làm lạnh không vượt quá 1 giờ Sau khi làm lạnh xong dịch đường được chuyển vào thiết bị lên men, còn cặn ở đáy thùng được dội nước và cho xả ra ngoài
2.2.7 Lên men chính
2.2.7.1 Mục đích
Quá trình lên men chính là quá trình chuyển hoá các chất đường và dextrin thấp phân tử trong dịch lên men thành C2H5OH, CO2 và một số chất hữu cơ khác dưới tác dụng của nấm men:
C6H12O6 2C2H5OH + 2CO2 + QĐồng thời, còn tạo các sản phẩm phụ như: este, axit hữu cơ, rượu bậc cao, aldehit, glyxerin,… hoà tan vào dịch lên men tạo thành bia non
2.2.7.2 Tiến hành
Chuẩn bị giống
Phương pháp nuôi cấy men giống:
Nuôi cấy men giống thuần khiết
Nấm men giống thuần khiết được nuôi cấy qua hai giai đoạn: giai đoạn nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và giai đoạn nuôi cấy sản xuất Để bảo quản men giống, người ta nuôi cấy nó trong môi trường dịch đường 10% và giữ ở nhiệt độ 2÷40C Sau thời gian 1÷2 tháng phải cấy chuyền một lần Trước khi đưa vào sản xuất, men
Trang 20giống được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm cho đến 10 lít Sau đó tiếp tục nhân giống trong các thiết bị chuyên dùng đặt trong phòng bên cạnh phân xưởng lên men Mỗi lần nhân, thể tích men giống tăng từ 5÷7 lần
Thiết bị nuôi cấy men giống gồm các thùng hình trụ bằng thép không gỉ Trước khi tiến hành nuôi cấy yêu cầu thiết bị và môi trường phải vô trùng tuyệt đối Men thuần khiết thường phải tuyển chọn và bắt đầu nuôi cấy ở 250C Trong phòng thí nghiệm nó sinh sản ở nhiệt độ 18÷200C Khi đưa vào nuôi cấy sản xuất thì cho nó phát triển ở 12÷150C và tiếp tục giảm đến 8÷100C rồi đưa vào thiết bị lên men Để nấm men giống sinh sản nhanh, dịch men chuyển từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau phải đang ở thời kỳ lên men mạnh
Xử lý sữa men
Sữa men được thu vào các chậu chuyên dùng, sau đó trộn với nước vô trùng có cùng thể tích và cho qua rây có đường kính 0,4÷0,6 mm rồi ngâm trong nước lạnh Hàng ngày phải thay nước cho men và giữ nhiệt độ nước trong thiết bị bảo quản gần
00C Trong nước lạnh, nấm men có thể bảo quản tốt từ 4÷6 ngày Để lên men trở lại
ta tiến hành như sau: men cái sau khi đã rửa và sát trùng thì cho trộn với dịch lên men theo tỷ lệ 2÷6 lít men/100 lít dịch đường, khuấy đều rồi để yên 1÷3 giờ Cho lên men ở nhiệt độ không vượt quá nhiệt độ lên men chính Khi nào nấm men nẩy chồi mạnh và rượu tạo thành khoảng 0,3% coi như được Men cái có thể tái sử dụng nhiều lần Tuy nhiên số lần tái sinh còn phụ thuộc vào hoạt lực và sự nhiễm tạp của
nó
Tiến hành lên men
Với phương pháp lên men cổ điển, dịch đường sau khi làm lạnh được bổ sung không khí sạch (khoảng 8 mg O2/lít dịch đường) đã qua bình lọc bông gòn giữ bụi
cơ học và thiết bị khử trùng bằng tia cực tím Sau đó, cấy nấm men vào với lượng men khoảng 20×106 tế bào/1ml dịch lên men Việc cấy nấm men vào thẳng ống dẫn dịch lên men có ưu điểm làm cho nấm men phân bố đều toàn khối dịch lên men ban đầu và tạo điều kiện cho chúng sinh trưởng nhanh hơn
Dịch lên men được bơm vào thùng lên men chính trong nhiều lần nhưng chỉ có lần đầu dịch lên men có hoà nấm men, còn những lần sau chỉ châm đầy nước, tạo
Trang 21thời gian cho nấm men hoạt động thích nghi với môi trường.
Khi dịch lên men vào đầy thùng thì bắt đầu điều khiển quá trình lên men, theo dõi nhiệt độ, độ đường hằng ngày Lên men chính được tiến hành trong thiết bị hình trụ bằng thép không gỉ, đáy và nắp hình chỏm cầu, hệ số chứa đầy là 0,8÷0,85 Nhiệt độ lên men chính là 10oC, áp suất dư trong thiết bị lên men chính là 0,2÷0,4
at CO2 sinh ra trong quá trình lên men sẽ hoà tan vào bia non một phần Độ hoà tan của CO2 vào bia sẽ tăng khi nhiệt độ giảm, do đó để đảm bảo lượng CO2 hoà tan trong bia nhiều thì nhiệt độ thời kỳ cuối của quá trình lên men khoảng 5oC, hàm lượng CO2 trong bia non phải đạt 0,2 % Lên men chính được xem là kết thúc khi chất chiết trong dịch lên men giảm đi từ 0,15-0,2%/ ngày đêm
Thời gian lên men chính là 9 ngày
Quá trình lên men phụ được tiến hành trong các thùng kín đặt trong phòng lạnh
từ 1-20C Nhiệt độ lên men phụ khoảng 10C áp suất dư 0,3-0,7at Trong quá trình lên men phụ cần theo dõi áp suất trong thiết bị lên men, mức độ trong của bia, nhiệt độ trong phân xưởng
Bia non được chuyển vào từ đáy thiết bị nhằm giảm sự tạo bọt và giảm mất mát CO2 Đầu tiên có thể cho bia chảy nhanh nhưng về sau do có sự tạo bọt nên cho bia chảy gián đoạn Khi bia non đã đầy thùng bắt đầu thải không khí trên bề mặt bia non Để đảm bảo bia thành phẩm có chất lượng như nhau về màu sắc, mùi vị cũng như thành phần hóa học thì bia non từ một thùng lên men chính có thể chuyển vào nhiều thùng lên men phụ Quá trình chuyển bia non vào thiết bị lên men phụ có thể tiến hành từ từ và kéo dài 1-2 ngày đêm Tuy nhiên sau 2 ngày đêm thì thùng lên men phụ cần phải chứa đầy bia non nếu không thì dễ bị nhiễm vi sinh vật và sự bão hòa CO2 khó do sự bốc hơi của nó Hệ số chứa đầy thùng lên men phụ vào khoảng 0,96-0,98 Khi bia chứa đầy thùng thì đóng van điều chỉnh áp suất, tiến hành thải
Trang 22không khí trên bề mặt bia và nâng áp suất đạt theo yêu cầu
Quá trình nâng cao áp suất kéo dài 1-3 ngày kể từ lúc chuyển xong bia non vào Nếu nâng áp suất quá nhanh thì không khí trên bề mặt bia non sẽ hòa tan vào bia và oxy trong không khí sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng bia thành phẩm
Thời gian lên men phụ là 30 ngày Sau khi lên men phụ bia được chuyển vào thùng chứa và đem đi lọc
2.2.9 Lọc trong bia
2.2.9.1 Mục đích
Tách các hạt nhỏ bé như tế bào nấm men, protein, các chất huyền phù…làm cho bia đạt được độ trong sáng đúng yêu cầu chất lượng, ổn định và tăng độ bền sinh học, hoá lý cho bia
2.2.9.2 Tiến hành
Bia được lọc bằng thiết bị lọc khung bản với chất trợ lọc là bột diatomit
Ðầu tiên, bột diatomit được trộn cùng với nước vô trùng theo một tỷ lệ nhất định và tạo thành một dung dịch huyền phù, sau đó dung dịch huyền phù được bơm vào máy lọc ép để tạo thành một lớp lọc diatomit trên vải lọc Nếu bia đi ra còn đục thì phải bơm trở lại thùng phối liệu, bia trong được đưa vào thùng chứa Áp suất lọc của thiết bị là 1,2÷1,3 at Nếu vượt quá 3 at thì lớp vải lọc có thể bị rách
2.2.10 Ổn định bia
Sau khi lọc thì hàm lượng CO2 bị giảm Do đó để khôi phục lại sự bão hoà CO2 trong bia thì sau khi lọc, bia được giữ trong thùng chứa ở nhiệt độ 0,5÷1oC dưới áp suất của CO2 là 0,5 at và thời gian tối thiểu là 4 giờ Hàm lượng CO2 trong bia thành phẩm phải đạt ít nhất là 0,3% khối lượng Nếu chưa đạt được hàm lượng CO2 này phải bổ sung CO2 cho bia
Trang 23Hình 2.7 Máy chiết chai
Trước khi rót, chai được rửa và sát trùng
kỹ bằng nước nóng 75oC và dung dịch
NaOH 2% có bổ sung stabilon để làm chai
bóng hơn, sau đó chai được làm nguội rồi rót
bia vào Bia rót trong điều kiện đẳng áp để
tránh tổn thất CO2 và tránh trào bọt gây tổn
thất sản phẩm
Dây chuyền chiết bia được cơ giới hoá
hoàn toàn và bao gồm các công đoạn: rửa chai,
chiết bia vào chai, đóng nắp chai, kiểm tra độ
kín của chai thành phẩm, thanh trùng bia, hoàn thiện sản phẩm
2.2.12 Thanh trùng bia
2.2.12.1 Mục đích
Thanh trùng bia để tăng độ bền cho bia Trong điều kiện thanh trùng, phần lớn
vi sinh vật, nấm men bia sót lại bị tiêu diệt, các vi sinh vật chịu nhiệt bị yếu đi và mất khả năng sinh sản
Tổng thời gian thanh trùng là 90 phút
2.2.13 Dán nhãn
2.2.13.1 Mục đích
Nhãn mác của sản phẩm là một thành phần không thể thiếu khi sản phẩm lưu thông trên thị trường Không chỉ có thông tin về sản phẩm, nhãn mác có tác động rất lớn tới người tiêu dùng thông qua cách bố trí, màu sắc, số lượng của các nhãn mác…
Chai bia hoàn thiện được đem đi dán nhãn chai và phun hạn sử dụng lên bề mặt chai, gồm có nhãn thân chai và nhãn cổ chai
Trang 242.2.13.2 Tiến hành
Chai bia được thao tác qua các bộ phận của máy xì khô để thổi sạch nước bám trên thành và nút chai Tiếp đó tiến hành dán nhãn và dán bịt giấy bạc ở đầu chai Chai được xếp vào két bia rồi được chuyển vào kho hoặc đi tiêu thụ
CHƯƠNG III CÂN BẰNG VẬT CHẤT
Trang 253.1 Chọn các số liệu ban đầu
- Độ bia của sản phẩm: 13,5˚
- Tỉ lệ nguyên liệu dùng: malt đại mạch/gạo = 55/45
- Năng suất nhà máy: 5×106 lít bia /năm
- Các thông số trạng thái ban đầu của nguyên liệu:
+ Độ ẩm của malt: 3,5% + Độ chiết của malt: 80%
+ Độ ẩm của gạo: 11% + Độ chiết của gạo: 80,5%
- Lượng hoa sử dụng: 3g/lít dịch đường đem đun sôi
- Mức tiêu hao nguyên liệu qua từng công đoạn:
Bảng 3.1: Bảng tiêu hao nguyên liệu qua các công đoạn
Công
đoạn Làm sạch Nghiền Nấu, lọc Houblon hoá
Lắng trong Làm
lạnh
Lên men chính
Lên men phụ
Lọc bia
Chiết rót
và thanh trùng
3.2 Kế hoạch sản xuất
Theo sơ đồ nấu ở mục 2.2.3.2, thời gian thực hiện một mẻ nấu là 205 phút
Do nồi malt và nồi gạo nấu song song nên thời gian nấu thực tế là 150 phút Vậy chọn số mẻ nấu trong ngày là 9 mẻ
Phân xưởng nấu và chiết rót làm việc 3 ca trong một ngày Riêng đối với phân xưởng lên men, do đặc thù của công nghệ nên làm việc liên tục Nhà máy làm việc 11 tháng trong một năm Công nhân được nghỉ ngày chủ nhật, các dịp lễ tết và nghỉ tháng 11 do ảnh hưởng không tốt của thời tiết và đầu vào nguyên liệu
Bảng 3.2: Biểu đồ sản xuất của nhà máy
Trang 263.3 Tính cân bằng sản phẩm cho 100 kg nguyên liệu ban đầu
3.3.1 Lượng chất khô trong nguyên liệu (M 1 )
Malt: M1malt = 53 , 08
100
) 5 , 3 100 (
55× − = (kg)
Gạo: M1gạo = 40 , 05
100
) 11 100 (
45× − = (kg)
3.3.2 Lượng nguyên liệu và chất khô còn lại sau khi làm sạch
+ Chất khô: - Malt: M2malt = × − =
100
)1100(
1malt
M
55 , 52 100
) 1 100 ( 08 ,
- Gạo: M2gạo = × − =
100
)1100(
1gao
M
65 , 39 100
) 1 100 ( 05 ,
+ Nguyên liệu: - Malt: m2malt = =
−
×5,3100
100
2malt
M
46,545,3100
10055,52
100
2gao
M
55 , 44 11 100
100 65 ,
−
×
(kg)
3.3.3 Lượng nguyên liệu hạt còn lại sau khi nghiền
+ Chất khô: - Malt: M3malt = × − =
100
5 , 0 100
2malt
100
5 , 0 100 55 ,
- Gạo: M3gạo = × − =
100
5 , 0 100
39 × − = (kg)
+ Nguyên liệu: - Malt: m3malt = =
−
×5,3100
100
3malt
M
19,545,3100
10029,
1003gao
M
33 , 44 11 100
100 45 ,
+ Gạo: M4gạo = × =
100
5 , 80
3gao
100
5 , 80 45 ,
Trang 27Tổng lượng chất khô chuyển vào dịch đường sau khi nấu:
4
100
3 100 59 ,
73 × − = (kg)
3.3.6 Thể tích của dịch đường khi đun sôi (V 6 )
Nồng độ chất khô của dịch đường sau khi lắng trong và làm lạnh là 13,5% Trong quá trình houblon hoá có một lượng nước bay hơi làm nồng độ của dịch đường tăng khoảng 1÷1,5%, ta chọn 1,2 % Còn quá trình lắng trong và làm lạnh, nồng độ của dịch đường tăng khoảng 0,4÷1,2%, chọn 0,5%.[1, trang 52]
Do đó cần phải khống chế nồng độ dịch đường trước khi houblon hoá là:
C% = 13,5% - 1,2% - 0,5% = 11,8 %Khối lượng riêng của dịch đường 11,8% ở 20ºC là:
10038,71
92,
6
10 77 , 000 1
10 43 , 043 1
V
13 , 602 10
77 , 000 1
10 43 , 043 1 51 , 577
5
100
1 100 38 ,
Trang 283.3.8 Thể tích dịch đường còn lại sau khi houblon hóa (M 8 )
+ Tính theo khối lượng: M8 = × =
%
1007
C
2,18,11
10067,
62,543
51 , 538 10
10 77 , 000 1
10 43 , 043
7
100
5 , 1 100 67 ,
3.3.10 Thể tích dịch đường sau quá trình lắng trong
Chọn nồng độ dịch đường sau quá trình lắng trong là 13,4 %
Khối lượng dịch đường sau làm lạnh :
M’9 = × =
4,13
1009
M
55,5194
,13
10062,69
22,054.1
55,
77 , 000 1
10 90 , 035 1 83 , 492
9
100
5 , 0 100 61 ,
3.3.12 Khối lượng dịch lên men từ 100kg nguyên liệu ban đầu (M 11 )
M11 = × =
5,13
10010
M
04,5135
,13
10026,69
=
×
(kg)
Trang 293.3.13 Thể tích của dịch lên men (V 12 )
Khối lượng riêng của dịch đường 13,5% ở 20oC là:
64,054.1
04,
Khi làm lạnh dịch đường đến nhiệt độ lên men (10oC) thì có sự giảm thể tích của dịch lên men và ta coi sự giảm này cũng là sự giảm thể tích riêng của nước theo nhiệt độ
Ta có: Thể tích riêng của nước ở 20oC là: 1000,77×10-6 (m³/kg),
và ở 10oC là: 1000,27×10-6 (m³/kg) [4, trang 12]
Như vậy, thể tích của dịch lên men là :
10 77 , 000 1
10 27 , 000 1 46 , 486
100
5 , 1 100 22 ,
13
100
5 , 0 100 93 ,
14
100
1 100 54 ,
100
3 100 77 ,
3.3.18 Tính lượng hoa houblon cần dùng
Thể tích của dịch đường trước đun sôi đã tính ở trên là : 602,13 (lít)
Lượng hoa sử dụng là 3 g/ lít dịch đường
Vậy lượng hoa cần dùng: mhoa = 602,13×3 = 1.806,39 (g).
Trong đó 63% lượng hoa là dùng dưới dạng cao hoa Mà 1 gam cao hoa có thể thay thế cho 5 gam hoa nguyên cánh Như vậy lượng cao hoa cần dùng là:
Trang 30227 , 61 ( ) 0 , 2276
100 5
63 39 ,
37 39 ,
44 × = (kg).
3.3.20 Lượng bã nguyên liệu
Lượng nguyên liệu sau khi nghiền:
3.3.21 Lượng cặn lắng sau lắng trong và làm lạnh
Thường cứ 100 kg nguyên liệu người ta thu được khoảng 2,5 kg cặn lắng với
độ ẩm 80% [1, trang 76]
mcặn = 2 , 46
100
5 , 2 52 ,
98 × = (kg).
mcặn ướt = 3 , 08
80
100 46 ,
2 × = (kg).
3.3.21 Lượng men giống đặc cần dùng
Cứ 100 lít dịch lên men thì cần 0,6 lít men giống đặc có độ ẩm 85÷88% [1, trang 59]
Vậy lượng men giống cần dùng là:
mmen = × =
100
6,012
V
92 , 2 100
6 , 0 22 ,
486 × = (lít)
Trang 313.3.22 Lượng CO 2 thu được
Chọn độ lên men thực là 58%
Vậy lượng chất khô hoà tan đã lên men là: 40 , 17
100
58 26 ,
69 × = (kg)Phần lớn các chất lên men được trong dịch lên men là disacarit Nên quá trình lên men được biểu diễn bởi phương trình:
C12H22O11 + H2O → 2 C6H12O6 342
2C6H12O6 → 4C2H5OH + 4CO2 + Q
176
Lượng CO2 sinh ra: 20 , 67
342
176 17 ,
40 × = (kg)
Hàm lượng CO2 trong bia chiếm 0,4%, do đó hàm lượng CO2 trong bia là:
83 , 1 100
4 , 0 74 ,
457 × = (kg)Vậy lượng CO2 tự do thu hồi được: 20,67 – 1,83 = 18,84 (kg)
3.3.23 Lượng men thu hồi
Thường cứ 100 lít dịch lên men thì thu được 2 lít sữa men có độ ẩm 85%, trong đó chỉ có 0,8 lít dùng làm men giống, còn lại sử dụng mục đích khác [1, trang 59]
Lượng sữa men thu hồi được: 9 , 72
100
2 22 ,
486 × = (lít)
Lượng sữa men dùng làm giống: 3 , 89
100
8 , 0 22 ,
486 × = (lít)
Lượng sữa men dùng làm việc khác: 9,72 – 3,89 = 5,83 (lít)
3.4 Tính cân bằng sản phẩm cho một ngày
Theo mục (3.3.17), cứ 100 kg nguyên liệu ban đầu sản xuất được 457,62 lít bia thành phẩm Như vậy, với năng suất 5 triệu lít/năm thì lượng nguyên liệu dùng cho một năm là:
6 , 1092609 62
, 457
100 10
Trang 323.4.1 Lượng nguyên liệu ban đầu
Malt: 2161 , 64
100
55 25 ,
3930 × = (kg)
Gạo: 1768 , 61
100
45 25 ,
100
55 , 44 25 ,
100
33 44 25 ,
3.4.4 Lượng dịch đường đun sôi
21 , 23665 100
13 , 602 25 ,
3.4.5 Lượng dịch đường sau khi houblon hoá ở 100 0 C
79 , 21164 100
51 , 538 25
,
3.4.6 Thể tích dịch đường sau lắng trong
38 , 20049 100
13 , 510 25
,
3.4.7 Lượng dịch lên men
66 , 19109 100
22 , 486 25
,
3.4.8 Lượng bia non sau khi lên men chính
15 , 18823 100
93 , 478 25
,
3.4.9 Lượng bia sau lên men phụ
21 , 18729 100
54 , 476 25
,
Trang 333.4.10 Lượng bia sau lọc
100
77 , 471 25
,
3.4.11 Lượng bia thành phẩm
61 , 17985 100
62 , 457 25 ,
,
3.4.13 Lượng chế phẩm enzym cần dùng
57 , 1 100
04 , 0 25
,
3930 × = (kg)
3.4.14 Lượng bã nguyên liệu
86 , 5033 100
08 , 128 25
,
3.4.15 Lượng men giống
76 , 114 100
92 , 2 25 ,
3930 × = (lít)
3.4.16 Lượng CO 2 thu hồi
46 , 740 100
84 , 18 25
,
3.4.17 Lượng men thu hồi
02 , 382 100
72 , 9 25
,
3930 × = (lít).
3.5 Chi phí bao bì
3.5.1 Lượng vỏ chai
Lựa chọn loại chai có dung tích 450 ml để chứa bia
Lượng vỏ chai cần dùng trong một ngày là:
89,873345
,0
25,3930
=
=8734 (chai)Trong quá trình chiết rót có nhiều nguyên nhân làm cho chai bị hư hỏng
Do đó thực tế phải tính thêm phần hao hụt Chu kỳ quay vòng chai là 30 ngày và
lượng chai hao hụt là 5%/chu kỳ
Lượng chai cần sử dụng trong một chu kỳ là: