Môi trường kinh tế có tính mở cao Mỹ là quốc gia đi tiên phong trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại, vì vậy các quy chế về xuất nhập khẩu mà quốc gia này đang áp dụng đều phù hợp với
Trang 1I.GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY VIỆT TIẾN
Được thành lập từ năm 1976, Công ty may Việt Tiến với tiền thân là một nhà
máy nhỏ mang tên “Thái Bình Dương Kỹ Nghệ Công Ty”, với thiết bị cũ kỹ lạc hậu, lúc đầu chỉ có hơn 100 lao động, chủ yếu là may gia công xuất khẩu Nhưng sau hơn
30 năm xây dựng và phát triển, dưới sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn thể CBCNV, Công ty may Việt Tiến đã mở rộng, phát triển lên thành Tổng công ty may Việt Tiến, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, bao gồm 12 xí nghiệp,
17 công ty con và công ty liên kết, với tổng số CBCNV là 21.600 người Và đến ngày 30/8/2007 Bộ trưởng Bộ Công Thương chính thức quyết định chuyển Tổng Công Ty May Việt Tiến thành Tổng Công Ty Cổ Phần May Việt Tiến hoạt động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty Con
Thương hiệu "Việt Tiến" được xây dựng ngay từ khi công ty được thành lập
với ý nghĩa Việt là Việt Nam, Tiến là Tiến lên - Công ty sẽ cùng đất nước Việt Nam tiến lên trong thế kỉ mới
II.PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH MỸ
1.Môi trường chính trị và pháp luật
1.1.Môi trường chính trị
Hoa Kỳ có một cấu trúc chính trị phức tạp, với quyền phán xét đối với một
hoạt động hay một bang được chia cho nhiều cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khác nhau, một số cơ quan được bầu ra, một số là do chỉ định Vì hệ thống chính trị với
bộ máy nhà nước có cấu trúc phức tạp nên việc giải quyết một vấn đề nào đó cũng rất phiền phức Nhưng có một điểm nổi bật chính là dân chủ, chính quyền chịu nghe ý kiến của dân Một cơ hội mà Việt Nam có được từ chính quyền Mỹ là một quan hệ tốt
cả về chính trị lẫn kinh tế Đây là cơ hội trong việc xúc tiến hoạt động thương mại với
Mỹ để nhận được những ưu đãi và gia nhập vào các hiệp hội kinh tế của Mỹ để có nhiều cơ hội phát triển hơn về sau
1.2.Môi trường pháp luật
1.2.1.Thuế quan
Thuế nhập khẩu tuỳ thuộc vào phân loại sản phẩm theo hệ thống thuế điều
hoà của Hoa Kỳ mà cơ quan thuế sẽ tính cho các sản phẩm Từ sau khi hiệp định
Trang 2thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết ( sau năm 2000) Việt Nam được hưởng quy chế tối huệ quốc MFN, thuế quan đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã giảm từ 40% xuống còn 20% Như vậy, giảm thuế quan làm cho giá hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam và Hoa Kỳ giảm rất nhiều và góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam.
Loại thuế mà bất kỳ doanh nghiệp nào ở quốc gia nào cần chú ý nhất là thuế
chống bán phá giá và thuế đối kháng Thuế chống bán phá giá (antidumping duties- Ads ) là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu để bán ở Hoa Kỳ với giá thấp hơn giá trị đúng của thị trường ( tức là thấp hơn giá bình thường ở nước sản xuất và nước sản xuất
là nước có nền kinh tế thị trường ) Còn thuế đối kháng ( countervailing duties- CVDs )
là thuế đánh vào hàng hoá được hưởng trợ cấp xuất khẩu mà chính phủ nước đó cấp cho người xuất khi xuất khẩu hàng hoá vào Hoa Kỳ, việc trợ cấp này làm cho giá hàng thấp một cách giả tạo và gây thiệt hại cho người tiêu dùng Hoa Kỳ
Theo quy định của luật pháp thì Bộ Thương Mại Hoa Kỳ chịu trách nhiệm
theo dõi các luật chống bán phá giá và luật thuế đối kháng Khi xác định có tình trạng này thì Bộ Thương Mại sẽ áp dụng mức thuế chống phá giá và thuế đối kháng cho hàng nhập khẩu đó
Uỷ Ban Thương Mại Quốc Tế Hoa Kỳ ( ITC) chịu trách nhiệm xác định
những thiệt hại do việc bán phá giá và trợ cấp giá gây ra, do một ngành công nghiệp của Hoa Kỳ có liên quan đến mặt hàng bị tố cáo Các cơ quan Hải Quan Hoa Kỳ có trách nhiệm đánh thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng với mức do Bộ Thương Mại xác định và sau khi nhận được xác nhận của Uỷ Ban Thương Mại Quốc Tế Hoa
Kỳ về vấn đề này là đúng
Trên thực tế, Mỹ rất hay áp dụng hai luật thuế này nhằm ngăn chặn hàng
nhập khẩu ồ ạt vào Mỹ với giá rẻ, tổn hại đến các ngành sản xuất trong nước và hầu như là các doanh nghiệp Mỹ đều thắng kiện Một ví dụ điển hình cho các doanh nghiệp Việt Nam là vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa Các doanh nghiệp sản xuất thuỷ sản
Mỹ đã thắng kiện trong vụ này và hàng Việt Nam phải chịu thuế chống bán phá giá Chính vì thế mà trước khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam cần nghiên cứu kỹ về vấn đề này và học hỏi kinh nghiệm của các doanh nghiệp đi trước
Về ưu đãi thuế quan, Mỹ có hai ưu đãi lớn nhất về thuế quan cho các nước
thông qua Quy chế Tối Huệ Quốc ( MFN) và hệ thống Ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Quy chế Tối Huệ Quốc ( hay còn gọi là quan hệ thương mại bình thường NTR )
Trang 3là Hoa Kỳ sẽ dành đối xử bình đẳng về thương mại ( đặc biệt là thuế quan ) giữa các nước được hưởng quy chế MFN.
Hiện nay, Hoa Kỳ đã dành quy chế MFN cho tất cả các nước đã ký Hiệp
định GATT 1947, tất cả các thành viên WTO và hầu hết các quốc gia mà tuân thủ điều khoản Jackson-Vanik đã ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ Việt Nam
đã được hưởng quy chế này từ khi hiệp định song phương có hiệu lực 10/12/2001 Các nước chưa được hưởng quy chế này phải chịu mức thuế suất phi tối huệ quốc ( Non- MFN ) nằm trong khoảng 20-110% cao hơn nhiều so với thuế suất MFN Còn hệ thống
Ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) là hệ thống ưu đãi đơn phương không kèm các điều kiện có đi có lại mà Luật Thương Mại Hoa Kỳ cho phép Tổng Thống Mỹ toàn quyền dành cho các nước phát triển ưu đãi thuế quan bằng không đối với một số sản phẩm từ nước đó vào Mỹ và có toàn quyền rút bỏ Hiện nay, Mỹ đã áp dụng chế độ ưu đãi này cho trên 4450 sản phẩm từ trên 150 nước và lãnh thổ đang phát triển trong đó có các nước Thái Lan, Malaysia, ấn Độ, Pakistan, Philipines là những nước xuất khẩu hàng dệt may rất mạnh vào Mỹ
Sau hiệp định thương mại Việt – Mỹ và sự kiện Việt Nam gia nhập WTO,
Việt Nam đã được hưởng cả hai loại ưu đãi này
1.2.2.Hạn nghạch
Hạn ngạch nhập khẩu ( import quota ) bán hàng theo luật, chỉ thị hoặc công
bố bởi cơ quan có thẩm quyền do luật pháp quy định với mục đích kiểm soát số lượng nhập khẩu mặt hàng nào đó trong một thời gian nhất định
Hầu hết các hạn ngạch nhập khẩu do Cục Hải Quan Hoa Kỳ ( US Custom Service ) quản lý Cục Trưởng Cục Hải Quan kiểm soát việc nhập khẩu hàng theo hạn ngạch nhưng không có quyền cấp hay tăng, giảm hạn ngạch
Hạn ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ được chia làm hai loại:
• Hạn ngạch thuế quan( Tariff- Rate Quota ):
Quy định số lượng mặt hàng đó được nhập khẩu vào Hoa Kỳ với mức thuế
giảm trong một thời gian nhất định Hạn ngạch này không hạn chế về số lượng nhập khẩu mặt hàng này nhưng nếu số lượng vượt quá quota cho thời gian đó sẽ bị đánh thuế nhập khẩu cao hơn Thông thường, hạn ngạch này do Tổng Thống Mỹ công bố theo các thoả thuận thương mại phù hợp với luật thương mại
• Hạn ngạch tuyệt đối ( Absulute Quota):
Là hạn ngạch giới hạn về số lượng hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ, nếu số
lượng vượt quá hạn ngạch cho phép sẽ không được nhập vào Hoa Kỳ trong thời hạn
Trang 4nhất định Nhìn chung, Hoa Kỳ không giới hạn về hạn ngạch trừ khi trong Hiệp định hàng dệt may ký giữa Hoa Kỳ và các nước có quy định điều này Tuy nhiên, nếu không
có hiệp định dệt may thì theo Luật thương mại Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ vẫn có quyền đơn phương áp đặt các hạn ngạch mang tính hạn chế đối với các loại hàng dệt may
Hạn ngạch hàng dệt may cũng có hai loại như trên nhưng ngoài ra hàng dệt
may muốn xuất khẩu vào Hoa Kỳ phải có Visa dệt may Visa dệt may là một ký hậu dưới dạng một tem, dấu do một chính phủ nước ngoài đóng trên hoá đơn hoặc trên giấy phép xuất khẩu Visa được dùng để kiểm soát nhập khẩu các sản phẩm dệt may, ngăn cấm nhập khẩu hàng hoá trái phép ( chống chuyển tải bất hợp pháp và giao hàng sai hạn ngạch ) vào Hoa Kỳ Hiện nay, Hoa Kỳ đang áp dụng hệ thống thông tin Visa điện
tử “ELVIS”, quy định về việc chuyển các thông tin Visa bằng điện tử liên quan đến hàng dệt từ một quốc gia nào đó cho Hải quan Hoa Kỳ và Việt Nam là một trong những nước áp dụng hình thức này
1.2.3.Các quy định khác
1.2.3.1.Quy định về xuất xứ hàng Dệt May.
Hàng Dệt May nhập khẩu vào Mỹ phải tuân thủ theo những quy định nghiêm
ngặt về tờ khai xuất xứ hàng hoá Tờ khai xuất xứ hàng hoá phải được đính kèm với lô hàng xuất vào Mỹ Quốc gia cuối cùng nơi mà lô hàng Dệt May được xuất khẩu vào Hoa Kỳ không nhất thiết là nơi xuất xứ hàng hoá Một sản phẩm hàng Dệt May nhập vào Mỹ được xem là một sản phẩm của một lãnh thổ hay quốc gia nhất định là nơi duy nhất mà sản phẩm đó được trồng, chế biến hay chế biến toàn bộ
1.2.3.2.Quy định về nhãn mác
Ở Mỹ, luật áp dụng chủ yếu về nhãn mác hàng dệt may là luật xác định sản
phẩm sợi dệt và luật nhãn hiệu sản phẩm bằng len năm 1939 Hầu hết các sản phẩm sợi, dệt khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải được đóng dấu, niêm phong kín và ghi nhãn Nhãn mác phải được ghi rõ ràng, không tẩy xoá và ghi những thông tin: Tên riêng các loại sợi và tỷ lệ phần trăm trọng lượng, tên của nhà sản xuất, tên quốc gia sản xuất,
1.2.3.3.Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội.
Trang 52.Môi trường kinh tế
Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới với nền công nghiệp hùng
mạnh, nền nông nghiệp hiện đại và là trung tâm thương mại- tài chính của thế giới
2.1 Môi trường kinh tế có tính mở cao
Mỹ là quốc gia đi tiên phong trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại, vì vậy
các quy chế về xuất nhập khẩu mà quốc gia này đang áp dụng đều phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của WTO, đây là quốc gia nhập khẩu với khối lượng lớn các mặt hàng may mặc, giày dép…trong đó có nhiều mặt hàng tiêu dùng thông thường mà Mỹ hầu như không sản xuất Một thực tế là sự phát triển của nền kinh tế Mỹ đã liên tục đóng góp cho sự phát triển toàn cầu nhờ duy trì chính sách mở cửa thị trường Thông qua chính sách mở cửa của mình, các nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng Mỹ có thể tiếp cận hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài với những điều kiện ưu đãi nhất Trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế, Mỹ luôn chủ trương đặt hệ thống thương mại
đa phương vào trung tâm các quan hệ thương mại quốc tế của mình, luôn có xu hướng
mở cửa thị trường một cách cao độ thông qua các cuộc đàm phán từ song phương cho tới khu vực để đạt tới một chiến lược tự do hóa thương mại mang lại nhiều lợi ích quốc gia nhất
Tính mở cửa thị trường còn được thể hiện ở thị hiếu cũng như những yêu cầu
trong tiêu dùng của người Mỹ không quá khắt khe, nhu cầu tiêu dùng nhiều nhưng họ không qua kỹ tính như người tiêu dùng EU hay Nhận Bản Mặt khác là đất nước đa sắc
tộc, các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng có sự phân hóa nhất định, vì vậy nhu cầu
tiêu dùng của các tầng lớp khác nhau cũng khác nhau, hàng hóa bán trên thị trường Mỹ cũng đa dạng phong phú cả về chủng loại lẫn chất lượng Sức tiêu thụ hàng hóa trên thị trường Mỹ là vô cùng hấp dẫn với bất kỳ nhà xuất khẩu nước ngoài nào Có thể thấy, những mặt hàng mà Mỹ có kim ngạch nhập khẩu lớn như may mặc đều là những hàng hóa Việt Nam có khả năng cung ứng tốt, điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp may mặc Việt Nam như Việt Tiến sẽ có thêm nhiều cơ hội kinh doanh tại thị trường này
2.2 Tính quy chuẩn và thống nhất cao độ đối với các sản phẩm
Là thị trường rộng, sức mua lớn và nhu cầu đa dạng nhưng đồng thời cũng là
thị trường có những quy định tương đối chặt chẽ đối với hàng hóa nhập khẩu Thông thường hàng hóa được các doanh nghiệp Mỹ nhập về phải có khối lượng lớn, phải đảm bảo đúng quy chuẩn, đúng thời hạn và đặc biệt là không phương hại đến lợi ích quốc
Trang 6gia cũng như lợi ích của các công ty nhập khẩu Hàng hóa trước khi đưa vào phân phối đến tay người tiêu dùng phải được kiểm định chặt chẽ, chỉ khi đáp ứng được những chuẩn mực nhất định mới được phép đưa vào lưu thông đến tay người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra, trong quá trình nhập khẩu hàng hóa vào thị trường nội địa, Mỹ cũng đưa ra những quy định chung về cách tính giá trị hải quan, về nội dung hình thức của một hóa đơn thương mại, đặc biệt vấn đề xuất xứ sản phẩm rất được coi trọng Mức thuế nhập khẩu được áp dụng khác nhau cho các hàng hóa đến từ các nhóm nước khác nhau và một số mặt hàng còn chịu sự quản lý bằng hạn ngạch phân bổ theo quốc gia,
do đó việc xác định được xuất xứ hàng hóa là hết sức quan trọng
2.3 Hệ thống phân phối thống nhất và ổn định
Do đặc tính là thị trường lớn, thị hiếu tiêu dùng đa dạng nên việc cung ứng
các loại hàng hóa đến tay người tiêu dùng phải có quy mô tương ứng.Thực tế đã cho thấy, hệ thống phân phối hàng hóa ở Mỹ phát triển ở trình độ cao và có một tổ chức hoàn chỉnh Tại Mỹ hiện nay có nhiều công ty lớn, vừa và nhỏ sử dụng các kênh phân phối sản phẩm khác nhau Các công ty lớn thường có hệ thống phân phối riêng và tự mình thực hiện các khâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối và tự động nhập khẩu Còn các công ty vừa và nhỏ thì vận động xung quanh hệ thống thị trường và được hỗ trợ từ phía chính phủ Các công ty vừa và nhỏ ở Mỹ tiến hành nhập khẩu hàng hóa về và bán tại thị trường trong nước thông qua nhiều cách khác nhau: bán cho các của hàng bán lẻ, bán cho các nhà phân phối, tiến hành bán lẻ trực tiếp….Khi nhắc tới các kênh phân phối trên thị trường Mỹ không thể không nhắc tới vai trò của hệ thống bán lẻ Hiện nay Mỹ có trên 1,3 triệu doanh nghiệp bán lẻ chiếm khoảng 14,2% tổng số việc làm ở Mỹ, riêng trong ngành may mặc đã có hàng nghìn cửa hàng bán lẻ quần áo
2.4 Cường độ cạnh tranh cao
Như đã biết, nhu cầu nhập khẩu của Mỹ hàng năm là lớn nhất thế giới, đây là
cái đích hướng tới của nhiều nhà xuất khẩu Do đó trên thị trường này luôn có mặt của rất nhiều nhà cung cấp lớn nhỏ từ khắp nơi trên thế giới, đó chính là nguyên nhân cơ bản của sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà xuất khẩu với nhau, giữa nhà xuất khẩu với nhà sản xuất nội địa, và trong những chiến lược cạnh tranh đó, giác cả và chất lượng là hai yếu tố cơ bản nhất giữ vai trò quan trọng cần được các nhà xuất khẩu hàng may mặc quan tâm Trong hai yếu tố đó, giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn so với chất lượng sản phẩm bởi người tiêu dùng Mỹ thường không muốn trả tiền theo giá niêm yết, hàng hóa bán tại thị trường Mỹ phải kèm theo dịch vụ sau bán hàng, số lượng và chất
Trang 7lượng của những dịch vụ này có ý nghĩa quan trọng trong sự lựa chọn mua hàng của
họ Do đó các nhà kinh doanh tại Mỹ phải chấp nhận cạnh tranh gay gắt
2.5 Các hiệp hội kinh doanh và hệ thống tư vấn rất được đề cao
Mặc dù là thị trường có tính mở khá cao nhưng trên thực tế các chính sách thương mại của quốc gia này vẫn mang xu hướng bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nước tương đối chặt chẽ và nghiêm ngặt Điều này được thể hiện ở một số lượng lớn các hiệp hội, các tổ chức của các nhà kinh doanh giữ vai trò hướng dẫn, phối hợp hoạt động và bảo vệ lợi ích các doanh nghiệp trong nước trước sự thâm nhập mạnh mẽ của các doanh nghiệp nước ngoài Điều này vừa tạo ra những thách thức đồng thời cũng tạo ra những cơ hội mà nếu một doanh nghiệp nước ngoài khai thác được thì sẽ có được một sự đảm bảo vững chắc cho xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ là: thông qua thiết lập mối quan hệ tốt đẹp bình đẳng với các tổ chức Hiệp hội ngành hàng ở Mỹ, nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ có thể dễ dàng tìm kiếm cho mình những đối tác làm ăn là các doanh nghiệp nội địa phù hợp nhất từ đó thiết lập quan hệ thương mại, cơ sở cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đây là cách tiếp cân thị trường đạt hiệu quả cao và đảm bảo được sự tin cậy
Hệ thống pháp luật Mỹ vốn rất phức tạp nên để có thể hiểu được những vấn
đề liên quan đến pháp luật cũng như có một sự đảm bảo vững chắc cho hoạt động kinh doanh của mình, Việt Tiến nên lựa chọn cho mình những cố vấn pháp luật riêng, các nhà nhập khẩu Mỹ luôn đề cao vai trò của các dịch vụ tư vấn đặc biệt là dịch vụ tư vấn luật, họ muốn đối tác làm ăn của mình nắm vững cơ sở pháp lý cho các điểu khoản hợp đồng Do vậy, nhà xuất khẩu may mặc như Việt Tiến cần phải có sự hỗ trợ của các loại hình dịch vụ này cho quá trình hoạt động của mình trong quan hệ làm ăn với đối tác Hoa Kỳ, tuy nhiên cần phải tính toán cụ thể vì giá của những dịch vụ này ở Mỹ là tương đối cao
3.Môi trường văn hóa
Hoa Kỳ là một quốc gia đa văn hóa, là nơi sinh sống của nhiều nhóm đa dạng
chủng tộc, truyền thống, và giá trị.Nói đến văn hóa chung của đa số người Mỹ là có ý nói đến "văn hóa đại chúng Mỹ" Sự di dân gần đây hơn từ châu Á và đặc biệt là từ châu Mỹ Latinh có nhiều ảnh hưởng rộng lớn Kết quả sự trộn lẫn các nền văn hóa lại với nhau có thể có đặc tính như là một cái nồi súp nấu chảy mọi thứ văn hóa thành một thứ văn hóa chung mà người Mỹ thường gọi từ xưa đến nay là “melting pot”, hay là một khái niệm mới “salad bowl” là một tô xà-lách trộn có đủ thứ rau, gia vị mà trong
Trang 8đó những người di dân và con cháu của họ vẫn giữ các đặc tính văn hóa riêng biệt của mình.
Không kể đến kiểu quần áo chỉnh tề nghiệp vụ, thời trang Hoa Kỳ có tính
trung hòa và thường là không nghi thức Trong khi nguồn gốc văn hóa đa dạng của người Mỹ phản ánh trong cách ăn mặc, đặc biệt là các di dân vừa mới đến gần đây: mũ, giày cao bồi và áo khoác ngoài kiểu đi xe mô tô là hình tượng kiểu Mỹ đặc biệt, quần
áo Jeans rất phổ biến như quần áo lao động trong thập niên 1850 của thương nhân Levi Strauss, một di dân Đức tại San Francisco, đã được giới trẻ Mỹ tiếp nhận một thế kỷ sau đó Hiện nay quần áo Jeans được mặc khắp nơi trên mọi lục địa bởi mọi giới và mọi giai cấp xã hội Song song với việc sử dụng làm quần áo thông dụng được bày bán đầy ở các chợ, quần áo jeans có thể nói rằng là đóng góp chính yếu của văn hóa Mỹ vào thời trang thế giới Hoa Kỳ cũng là nơi đóng tổng hành dinh của nhiều nhãn hiệu thiết kế hàng đầu như Ralph Lauren và Calvin Klein
Những đặc điểm riêng về địa lý và lịch sử đã hình thành nên một thị trường
người tiêu dùng khổng lồ và đa dạng nhất thế giới.Tài nguyên phong phú, không bị ảnh hưởng nặng nề của hai cuộc chiến tranh thế giới cộng với chiến lược phát triển kinh tế lâu dài đã tạo cho Mỹ một sức mạnh kinh tế khổng lồ và thu nhập cao cho người dân
Với thu nhập đó, mua sắm đã trở thành nét không thể thiếu trong văn hoá hiện đại
của nước này Cửa hàng là nơi họ đến mua hàng, dạo chơi, gặp nhau trò chuyện và mở rộng giao tiếp xã hội Qua thời gian người tiêu dùng Mỹ có một niềm tin gần như tuyệt
đối vào hệ thống các cửa hàng đại lý bán lẻ của mình, họ có sự đảm bảo về chất
lượng, bảo hành và các điều kiện vệ sinh an toàn khác Điều này cũng làm cho họ có ấn tượng rất mạnh với lần tiếp xúc đầu tiên với các mặt hàng mới Nếu ấn tượng này là xấu, hàng hoá đó sẽ khó có cơ hội quay lại Vì vậy, sự xâm nhập của các nhà xuất khẩu đơn lẻ thường không mấy khi đe doạ được sự hiện thương mại của những người đến trước Con đường mà các doanh nghiệp Nhật Bản đã đi thường tốn từ 10-20 năm để có lòng tin giờ đây phần nào không còn tỏ ra thích hợp tại thị trường Mỹ
Đối với đồ dùng cá nhân như quần áo, may mặc và giày dép, nói chung
người Mỹ thích sự giản tiện, nhưng hiện đại, hợp mốt và với yếu tố khác biệt, độc đáo thì càng được ưa thích và được mua nhiều Mọi người có thể mặc đồ gì họ thích ở những thành phố lớn, nam giới thường mặc comple, nữ giới mặc váy hoặc juyp khi đi làm; trong khi đó ở nông thôn thì thường ăn mặc khá xuyềnh xoàng; quần jean và quần
Trang 9vải thô rất phổ biến Tuy vậy, hầu hết người Mỹ kể cả lớn tuổi, ngoài giờ làm việc thường ăn mặc thoải mái theo ý họ
Ở bang California cũng như ở Mỹ không có các lề ước và tiêu chuẩn thẩm
mỹ xã hội mạnh và bắt buộc như ở các nước khác Các nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hoá, tôn giáo của mình và theo thời gian hoà trộn, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo sự khác biệt trong thói quen tiêu dùng ở Mỹ so với người tiêu dùng ở các nước châu Âu Cùng một số đồ vật nhưng thời gian sử dụng của họ có thể chỉ bằng một nửa thời gian sử dụng của người tiêu dùng các nước phát triển khác Với sự thay đổi luôn như vậy, giá cả lại trở nên có vai trò rất quan trọng Điều này giải thích tại sao hàng hóa tiêu dùng từ một số nước đang phát triển chất lượng kém hơn nhưng vẫn có chỗ đứng trên thị trường Mỹ vì giá bán thực sự cạnh tranh ( trong khi điều này lại khó xảy
ra tại châu Âu) Do vậy, nếu Việt Tiến xuất khẩu may mặc tại California với giá cả cạnh tranh thì hoàn toàn có thể cạnh tranh tại thị trường này
California là một tiểu bang ven biển phía tây của Hoa Kỳ Với dân số là 36
triệu người và diện tích 410.000 kilômét vuông (158.402 dặm vuông), California là tiểu bang Mỹ đông dân nhất và lớn thứ ba theo diện tích Năm 2006, California có khoảng 36.132.147 người, tăng 290.109 người hay 0,8% so với năm 2005 và tăng 2.260.494 người hay 6,7% so với năm 2000 Với tỷ lệ tăng này, California đứng hàng thứ 13 trong số các tiểu bang tăng dân số nhanh nhất Số người tăng lên gồm 1.557.112 tăng trưởng tự nhiên (2.781.539 người sinh trừ 1.224.427 người chết) và 751.419 người nhập cư California là tiểu bang đông dân nhất với trên 12% người Mỹ sống tại đây Nếu là một quốc gia riêng, California sẽ là nước đông dân thứ 34 trên thế giới
Đặc biệt, California là nơi có khoảng 4,5 triệu người Mỹ gốc châu Á, đây là
nơi có tỉ lệ lớn nhất người Mỹ gốc châu Á so với bất cứ tiểu bang nào, tỷ lệ người Việt sinh sống ở đây là một tỷ lệ không hề nhỏ.Đây là một môi trường thuận lợi để doanh nghiệp dệt may Việt Tiến có thể khai thác và tận dụng lợi thế trong việc am hiểu văn hóa tiêu dùng cũng như trong việc tham dự các hội chợ thương mại trong nước hoặc vùng lân cận để có cơ hội gặp gỡ các nhà nhập khẩu tiềm năng
4.Phân tích đối thủ cạnh tranh
Trung Quốc:
Là nhà xuất khẩu hàng Dệt may lớn nhất của Mỹ.Đối với mặt hàng không
nhãn hiệu thì Trung Quốc đã là "thống soái" vì thế Việt nam không thể cạnh tranh nổi trong phân khúc này Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam nên kết hợp với một số công
Trang 10ty Mỹ trong việc quảng bá, đóng gói bao bì sản phẩm Đây là một đối thủ cạnh tranh quá lớn của các DN dệt may Việt Tiến cũng như các DN Việt Nam nói chung, khi mà Trung Quốc là nguồn cung cấp chính nguyên liệu đầu vào cho dệt may Việt Nam (70% nguyên liệu đầu vào của dệt may VN là nhập khẩu), họ có kĩ thuật và công nghệ hơn hẳn mình.
Tuy vậy, hàng dệt may Việt Nam vẫn có những lợi thế cạnh tranh nhất định
nhờ hàng dệt may của Trung Quốc đang gặp nhiều bất lợi khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ do tác động bởi đồng NDT có thể tăng giá Bên cạnh đó, thị phần hàng dệt may Trung Quốc tại Mỹ đã ở ngưỡng rất cao và chi phí sản xuất tại Trung Quốc đang
gia tăng nhanh Một yếu tố khác mà chúng tôi gọi là yếu tố chính trị để giải thích cho
lý do tại sao thị trường Mỹ lại sẵn lòng chọn nhà cung cấp từ Việt Nam, rõ ràng là do ảnh hưởng từ Washington Do đó Việt Nam hiện đang trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng kể Và Trung Quốc sẽ thận trọng hơn với Việt Nam nhất là trong việc cung cấp nguyên liệu, và chuyển giao công nghệ v.v vì thế điều cần thiết của các DN VN bây giờ là cần tìm thêm các đối tác cung cấp nguyên liệu và chuyên giao công nghệ khác ngoài trung quốc để tránh sự ảnh hưởng quá lớn từ Trung Quốc Doanh nghiệp Việt Tiến cũng như các DN VN nói cung cần thực hiện một số biện pháp như: thay vì sản xuất các mặt hàng giá thành cao, tập trung vào những đối tượng khách hàng có nhu cầu với những sản phẩm chất lượng trung bình trở lên, giảm sự cạnh tranh với những mặt hàng thấp giá rẻ của Trung Quốc Việc tham dự các hội chợ triển lãm sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội quảng bá sản phẩm của mình một cách tốt nhất, thường niên hàng năm hội chợ về may mặc và dày dép được tổ chức vào tháng 2 và tháng 8 tại Mỹ
Ngoài ra, thị trường này còn có rất nhiều đối thủ đến từ Ấn Độ, Philipin,
Indonesia,…
5 Phân tích hành vi người tiêu dùng ở khu vực xuất khẩu
Dân số Mỹ theo thống kê giữa năm 2009 là khoảng 301,461,533 người,
trong đó cơ cấu độ tuổi lao động, từ 18 đến 55 chiếm 58% Trong nhóm tuổi này thì nhu cầu về các sản phẩm may mặc công sở cao Tuy nhiên, nhóm tuổi từ 40 đến 55 cũng chiếm đến 21%, trong nhóm tuổi này thì nhu cầu về nhà của và dành các khoản chi phí khi về hưu là cao Vì thế các khoản chi phí cho May Mặc là hạn chế hơn các nhóm tuổi khác Nên họ thường chọn các sản phẩm không quá đắt tiền và chất lượng quá cao để phù hợp khả năng tri trả của họ
Trang 11Nhóm tuổi từ 18 đến 40 là nhóm tiêu dùng quan trọng Vì nhóm tuổi này
quan tấm đến thời trang, phong cách…hơn nữa họ có thu nhập cao và dành nhiều tiền
và thời gian cho tiêu dùng May Mặc
Với người Mỹ, mua sắm là thói quen phổ biến nhất Những lúc rảnh rỗi hay
muốn thư giãn sau những giờ làm việc, người Mỹ thường đến các cửa hàng, siêu thị để mua những vật dụng cần thiết và những thứ mà họ thích, đặc biệt là các sản phẩm may mặc Năm 2000, người tiêu dùng Mỹ dành khoảng 251 tỷ USD cho tiêu dùng May Mặc và mỗi năm tốc độ tăng chi tiêu cho May Mặc là 5.9% và con số này đến năm
2005 là khoảng 334,3 tỷ USD đây là thị trường tiêu thụ hàng May Mặc lớn nhất thế giới với nhu cầu đa dạng và phong phú Các cửa hàng cũng là nơi mà người dân có thể trò chuyện và mở rộng quan hệ xã hội của mình Tuy nhiên, với sự phổ biến của internet và công nghệ thông tin cũng như sự phát triển của các hệ thống tương tác qua tivi, điện thoại, người Mỹ đang dần hướng tới các phương thức mua bán khác Mức sống của người dân Mỹ cũng rất đa dạng nên tiêu dùng hàng dệt may cũng có nhiều loại khác nhau từ hàng chất lượng cao với những hãng nổi tiếng đến hàng bình dân Sức tiêu dùng hàng dệt may của dân Mỹ cũng dẫn đầu thế giới và gấp 1,5 lần EU – thị trường tiêu dùng hàng dệt may lớn thứ hai thế giới Theo điều tra cho thấy, một người phụ nữ Mỹ hàng năm mua trung bình 54 bộ quần áo Do đó, thị trường Mỹ mở ra cơ hội cho tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt may
III.PHÂN TÍCH NỘI BỘ VIỆT TIẾN
1.Khả năng hoạt động của Công Ty:
Trang 124 DUONGLONG 510 512 2.133 Dress pants 1.800.000
5 VIỆT LONG 900 1.083 2.532 Khaki,dresspants, 3.000.000
1.2.Nguồn lực vốn.
Vốn điều lệ : 230 tỷ đồng
Nhà xưởng: 55.709.32 m2
Thiết bị: 5.668 bộ
Lao động: trên 20.000 lao động
1.3.Quản lý doanh nghiệp
Tăng cường công tác quản lý, tiến hành tái cơ cấu lại tổ chức, sắp xếp lại các
phòng ban chức năng, sáp nhập các xí nghiệp sản xuất theo phương châm “ Tinh gọn, hiệu quả, chuyên môn hóa”
Áp dụng triệt để các biện pháp tiết kiệm toàn diện, đặc biệt là tiết kiệm chi
phí sản xuất, chi phí tiêu thụ Thực hiện tốt công tác quản trị chi phí.Việc áp dụng công nghệ sản xuất mới theo phương pháp công nghệ Lean từ năm 2008 đến nay đã phát huy tác dụng làm cho năng suất lao động nâng cao rõ rệt ( tăng bình quân 20% so với trước đây)
Thực hiện đầu tư chiều sâu bằng các máy móc thiết bị chuyên dùng nhằm
thay thế cho việc sử dụng nhiều lao động đồng thời đáp ứng yêu cầu chất lượng ngày càng cao của khách hàng
1.4 Xây dựng Thương hiệu
Việt Tiến đang khép kín dãy hàng may mặc cung cấp cho người tiêu dùng
nội địa với những thương hiệu Sanciaro, Manhattan, TT-up dành cho người có thu nhập cao Việt Tiến, Viettien Smartcasual dành người có thu nhập từ trung bình đến khá và Việt Long nhắm đến người tiêu dùng có thu nhập trung bình thấp đang chiếm số đông