1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của việt nam

15 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 90 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, xuất khẩu lao động không những góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động mà còn mang lại nhiều lợi ích khác như: giúp tăng thu ngoại tệ c

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, xuất khẩu lao động đang là lĩnh vực được các quốc gia quan tâm Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, xuất khẩu lao động không những góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động mà còn mang lại nhiều lợi ích khác như: giúp tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo thêm nguồn lực để phát triển kinh tế trong nước Ngoài ra, với trình

độ phát triển khoa học kỹ thuật còn kém, xuất khẩu lao động là một phương thức giúp cho người lao động Việt Nam được tiếp xúc với khoa học kỹ thuật hiện đại trên thế giới, tiếp cận với phương pháp làm việc chuyên nghiệp ở nước ngoài qua

đó nâng cao tay nghề trình độ và nâng cao ý thức kỷ luật, cũng nhằm nâng cao thu nhập của người lao động Hơn nữa, xuất khẩu lao động còn là biện pháp mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác, giúp tăng cường quan hệ hợp tác, ngoại giao với các nước khác

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước cũng đã có những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và tham gia hoạt động trong lĩnh vực này Có nhiều chính sách ưu đãi giành cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động và người lao động đi xuất khẩu lao động

Nhận thấy thực trạng trên, nhóm 7 xin chọn đề tài nghiên cứu: “Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những lý luận về xuất khẩu lao động chỉ ra vai trò và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam kết hợp với phân tích thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 2005- 2009, từ đó

Trang 2

bài nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi của nghiên cứu

Đối tượng : hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong giai đoạn 2005- 2009

4 Kết cầu của bài nghiên cứu

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì chuyên

đề chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động

Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 2005-2009

Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam

Trang 3

CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.1 Các khái niệm

- Lao động: là hoạt động có mục đích, có ích của con người tác động lên giới

tự nhiên và xã hội nhằm mang lại của cải và vật chất cho bản thân con người, xã hội

- Thị trường lao động : là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi và thuê

mướn sức lao động

- Xuất khẩu lao động : là hoạt động trao đổi, mua bán hay thuê mướn hàng hóa

sức lao động giữa Chính Phủ một quốc gia hay tổ chức, cá nhân cung ứng lao động của nước đó với chính phủ, tổ chức, cá nhân sử dụng lao động nước ngoài trên cơ

sở Hiệp định hay hợp đồng cung ứng lao động

1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Xuất khẩu lao động là một lĩnh vực của hoạt động kinh tế trong tổng thể nền kinh tế của một quốc gia với hiệu quả thường được biểu hiện thông qua hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp mà xuất khẩu lao động đã đem lại cho nên kinh tế, tuy nhiên để đạt được kết quả đó cần có sự điều hòa cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội mà chúng ta sẽ xem xét sau đây:

1.2.1 Về mặt kinh tế.

Xuất khẩu lao động đóng vai trò nhất định trong sự phát triển của một đất nước ở chỗ cung cấp kiều hối, giảm sức ép việc làm, mang lại thêm thu nhập cho gia đình Trong khi nền kinh tế nước ta còn đang gặp rất nhiều khó khăn thì việc hàng năm chúng ta đưa hàng vạn lao động sang nước ngoài làm việc, đã đem lại cho đất nước hàng tỷ USD/năm Đây là một khoản thu nhập không nhỏ đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam

Trang 4

Hơn nữa, việc chúng ta xuất khẩu một lượng lớn lao động sang nước ngoài làm việc sẽ tạo ra cơ hội kinh tế đối với các quốc gia phát triển và tạo điều kiện ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu khác có giá trị hơn

1.2.2 Về mặt xã hội.

Bên cạnh những thành tựu đạt được về mục tiêu kinh tế theo nghị quyết của Đảng về hoạt động xuất khẩu lao động thì chúng ta cũng phải quan tâm đến các mục tiêu về mặt xã hội như cải thiện đời sống nhân dân, tình trạng việc làm và thu nhập…

Về mặt xã hội, xuất khẩu lao động sẽ tạo việc làm cho người lao động với mức thu nhập cao hơn trong nước rất nhiều Với một lực lượng lao động trẻ và dồi dào như chúng ta cùng với việc nhu cầu việc làm trong nước còn ít thì việc xuất khẩu lao động là một việc làm cần thiết và hữu ích Tạo việc làm và tay nghề cho người lao động, khi ra nước ngoài họ sẽ có thu nhập gửi về nước tạo ra một lượng kiều hối, điều đó vừa có lợi cho đất nước và chính gia đình họ sẽ tăng thêm thu nhập

Khi xuất khẩu lao động ra nước ngoài, những người lao động ngoài thu nhập

họ sẽ học hỏi được nhiều điều từ những đất nước mà họ làm việc, đó chính là tác phong làm việc chuyên nghiệp hơn, họ sẽ có thêm được nhiều kinh nghiệm đề sau này trở về nước họ có thể tiếp tục làm tốt công việc đó

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu lao động

1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

Thứ nhất, điều kiện kinh tế chính trị, tình hình dân số_ nguồn lao động của nước tiếp nhận lao động

Các nước tiếp nhận lao động thường là các nước có nền kinh tế phát triển hoặc tương đối phát triển nhưng trong quá trình phát triển kinh tế của mình họ lại thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động cho một hoặc một vài lĩnh vực

Trang 5

nào đó Vì thế họ có nhu cầu tiếp nhận thêm lao động từ nước khác Sự thiếu hụt lao động càng lớn trong khi máy móc chưa thể thay thế hết được con người thì nhu cầu thuê thêm lao động nước ngoài là điều tất yếu

Ngoài ra, xuất khẩu lao động còn chịu nhiều tác động từ sự phát triển kinh tế có ổn định hay không của nước tiếp nhận Nếu nền kinh tế có những biến động xấu bất ngờ xảy ra thì hoạt động xuất khẩu lao động cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn

Chính trị cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động Nếu nước tiếp nhận có tình hình chính trị không ổn định thì họ có thể cũng không có nhu cầu tiếp nhận thêm lao động và nước xuất khẩu lao động cũng không muốn đưa người lao động của mình tới đó

Thứ hai, sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu lao động khác Sự cạnh

tranh này mang tác động hai chiều Chiều tích cực: thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của nước mình không ngừng tự nâng cao chất lượng hàng hoá sức lao động để tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sự phát triển mới cho hoạt động xuất khẩu lao động Chiều tiêu cực: cạnh tranh không lành mạnh hoặc tính cạnh tranh yếu sẽ bị đào thải

Thứ ba, điều kiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc giữa quốc gia xuất khẩu lao động và quốc gia tiếp nhận Nếu những điều kiện này tốt sẽ góp

phần làm giảm chi phí trong hoạt động xuất khẩu lao động cũng như thuận lợi trong quá trình đưa lao động đi và nhận lao động về Vì thế hoạt động xuất khẩu lao động sẽ diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn

1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan

Bao gồm hệ thống các quan điểm, chính sách và chủ trương của nhà nước về hoạt đông xuất khẩu lao động Nếu coi trọng xuất khẩu lao động, xác định đúng vị trí của nó trong phát triển kinh tế_ xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi

Trang 6

cho hoạt động xuất khẩu lao động và ngược lại Đồng thời với quá trình này thì công tác tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động

Trang 7

CHƯƠNG II- THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA

VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2005- 2009 2.1 Khái quát thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn

2005-2009

Trong thời đại toàn cầu hoá, lao động di chuyển từ nước này sang nước khác

đã trở thành hiện tượng khá phổ biến Tuy không nhộn nhịp như tư bản và công nghệ, nhưng lao động cũng là một yếu tố sản xuất ngày càng vượt biên giới tìm nơi

có mức thù lao cao hơn Xuất khẩu lao động được đánh giá là một trong những ngành dịch vụ đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế cho xã hội nói chung và đất nước nói riêng

Từ năm 2005 đến nay, ngành xuất khẩu lao động của Việt Nam đã có những bước phát triển tốt Tính đến cuối năm 2009, theo số liệu tổng hợp của Cục Quản lý lao động ngoài nước, tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam tại tất cả các thị trường là 97431 người Số lượng lao động xuất khẩu lao động qua các năm tăng một cách đều đặn

Năm 2008 tăng so với năm 2006 là 14848 người (tương đương với 119%),

và so với 2007 tăng 10363 người (tương đương với 113%) Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, nên tốc độ tăng của năm 2008 chậm hơn 5,6% so với tốc độ tăng của năm 2007 Năm

2009, tốc độ tăng cũng chậm lại, chỉ có 2,6% so với năm 2008

Trang 8

Bảng 1: Lượng xuất khẩu lao động tại các thị trường

Đơn vị: người

Nhật

Bản

Hàn Quốc

Đài Loan

Malay xia

Nga UAE Ả

Rập

xê út

CH Séc

Ma Cao

Khác Tổng

2005 4682 9240 12341 33145 2812 1537 85 369 682 9240 64211

2006 5360 10577 14127 37941 3219 1760 98 423 869 5766 80140

2007

5517 1218

7

23640 26704 4685 2310 1620 143

2

548 5982 84625

2008

6142 1814

1

31631 7810 10789 2845 2987 187

1

141 7

1135 5

94988

2009

7586

1909 8

33202 7499 2968 4576 3788 2698 2256 1376

0

97431

Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước

Năm 2010, chỉ tiêu của Việt Nam trong năm nay là có 85000 lao động xuất khẩu, tăng 13% so năm 2009 Tính đến nửa đầu năm nay, Việt Nam có 37.068 lao động xuất khẩu ra nước ngoài làm việc, tăng 12,32% so năm ngoái, báo cáo từ Cục Quản lý lao động ở nước ngoài ngày hôm qua cho biết

Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Macao và một số quốc gia Trung Đông… (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu Âu và Châu Mỹ

Ngành nghề mà chúng ta có sử dụng nhiều lao động xuất khẩu cũng chỉ hạn chế như ngành xây dựng, vận tải biển, khán hộ công và giúp việc gia đình, thuyền viên tàu cá, dệt may…; trong khi đó các ngành nghề đòi hỏi tay nghề và trình độ như các ngành công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng…thì số lượng lao động của Việt Nam còn khiêm tốn (xem thêm số liệu phần Phụ lục) Bởi Việt Nam xuất

Trang 9

phát điểm từ một đất nước thuần nông, mọi lối sống, tác phong của người Việt Nam đều bị ảnh hưởng mãnh mẽ bởi nền nông nghiệp canh tác lúa nước Đây là một trong những khó khăn mà chúng ta không thể khắc phục trong một sớm một chiều; cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhân dân và chính phủ

Hiện nay đã có 164 doanh nghiệp xuất khẩu lao động (XKLĐ) được cấp phép hoạt động dịch vụ XKLĐ tuy nhiên có nhiều đơn vị còn thiếu kinh nghiệm và năng lực hoạt động Trong ba năm gần đây, có tới 29 doanh nghiệp không xuất khẩu được lao động nào; 16 doanh nghiệp xuất khẩu dưới 100 lao động và chỉ có

81 doanh nghiệp xuất khẩu được trên 500 lao động Theo thống kê từ Cục Quản lý lao động ngoài nước, từ năm 2001 đến nay, có 53 doanh nghiệp XKLĐ bị đình chỉ

và thu hồi giấy phép hoạt động

Khoảng 9000 lao động về nước trước hạn do không có việc làm.Số liệu từ tháng 1/2003 đến ngày 30/4/2008, có 34.401 lao động bỏ trốn chiếm 8,54 tổng số lao động đã đưa đi Trong đó Đài Loan là 28.330 lao động, Nhật bản là 2.644 lao động, Hàn Quốc là 6.564 lao động, Malaysia là 576 lao động, những nước khác là

43 lao động Có tới 664 lao động tử vong, trong đó nhiều nhất là thị trường Malaysia 525 người, Đài Loan 67 người, Hàn Quốc 64 người… trong đó 159 người chết vì tai nạn, 419 người chết vì bệnh tật…

2.2 Đánh giá tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam

2.2.1 Thành tựu

Thứ nhất, đã giải quyết được việc làm trước mắt cho hàng chục vạn lao động Xuất khẩu lao động tạo việc làm ở ngoài nước có tác động tích cực đem lại

công ăn việc làm cho số lao động ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, vùng đông dân cư, dư thừa lao động và đặc biệt là sự gắn kết giữa chương trình XKLĐ với giải quyết chính sách cho bộ đội xuất ngũ và hoàn thành nghĩa vụ quân

sự hàng năm Nhiều địa phương tổ chức tốt hoạt động XKLĐ nên có tác động tích

Trang 10

cực đến việc xoá đói giảm nghèo Tỉnh Nghệ An có khoảng 3 vạn người đi XKLĐ, hàng năm họ gửi về nước khoảng 40 triệu USD

Thứ hai, XKLĐ đã hình thành một lực lượng lao động có kỹ năng, tay nghề

và lối sống công nghiệp Chúng ta có thể hy vọng ở mức thấp là 60 - 70% số người

đã qua thời gian làm việc ở nước ngoài tiếp thu và nâng cao trình độ tay nghề, thì

số lao động có trình độ này lên tới 35 - 40 vạn người đã hoàn thành hợp đồng về nước và hàng năm con số đó là 4 - 5 vạn người tiếp tục trở về Đây là số lượng lao động có nghề, có kỹ năng rất quý giá Nếu ta đào tạo ở trong nước thì ngân sách phải chi một khoản khá lớn

Thứ ba, thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam ngày một mở rộng, phong phú và

đa dạng Nếu trước đây chỉ đưa lao động đi làm việc ở 10 - 15 nước và vùng lãnh

thổ thì ngày nay lao động Việt Nam đã có mặt ở gần 40 nước và vùng lãnh thổ Việt Nam đã tìm hiểu cặn kẽ mỗi thị trường khi đưa lao động đến làm việc, từ nhu cầu, chất lượng, tiêu chuẩn lao động, loaị hình việc làm, thu nhập, điều kiện sống của người lao động, phong tục tập quán

2.2.2 Nhược điểm

Bên cạnh những thành quả của quá trình nỗ lực không ngừng phát triển thì ngành xuất khẩu lao động của Việt Nam cũng xuất hiện nhiều nhược điểm

Thứ nhất, thị trường lao động của chúng ta chủ yếu tập trung vào một số thị trường cũ như Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc…; trong đó một loạt các thị trường

tiềm năng có thu nhập cao khác như Mỹ, Anh, Pháp thì chúng ta vẫn chưa chạm tới được Nếu có thì cũng chỉ là một vài doanh nghiệp ký kết hợp đồng trực tiếp, còn thực tế thì Việt Nam chưa có một cung chính thức nào

Trang 11

Thứ hai, về chất lượng lao động (trình độ tay nghề và kinh nghiệm làm việc,

sức khoẻ, ngoại ngữ và ý thức tuân thủ kỷ luật lao động và kỷ luật sinh hoạt) Lao động của chúng ta xuất khẩu chủ yếu là lao động thủ công, tay nghề chưa cao Theo báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo xuất khẩu đi các nước của nước ta chỉ đạt 15% Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng lao động, nguồn thu cho ngân sách và cho chính bản thân người lao động

Thứ ba, năng lực và trình độ của các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam hiện nay còn kém Trong tổng số trên 140 doanh nghiệp được cấp lại và cấp mới Giấy

phép XKLĐ theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thì có khoảng 1/3 là doanh nghiệp mạnh, bảo đảm được một số tiêu chí chính như: tìm kiếm được các đơn hàng hấp dẫn, tạo nguồn nhanh và phù hợp với yêu cầu của đối tác, có cơ sở đào tạo nghề hoặc chủ động hợp tác với cơ sở đào tạo nghề để tạo nguồn; quản lý tốt và sử lý mọi phát sinh nhanh gọn phù hợp với pháp luật

Thứ tư, chưa có chiến lược phát triển lâu dài cho ngành dịch vụ xuất khẩu lao động Các quy định pháp luật cũng như quản lý nhà nước còn nhiều lỏng lẻo,

chưa đồng bộ dẫn đến việc thực hiện gặp nhiều khó khăn, tình trạng lách luật xảy

ra, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người lao động

2.2.3 Nguyên nhân

Thứ nhất, chúng ta chưa tạo được một cơ chế thuận lợi để người lao động

tiếp cận được với các nguồn thông tin về các vấn đề liên quan tới hoạt động XKLĐ.

Vì thế, người lao động thường chỉ tìm hiểu thông tin thông qua những người quen biết, những người đã đi làm ở người ngoài trở về và không ít những trường hợp phải nhờ “cò” mồi với nhiều thông tin không chính xác Sự thiếu thông tin khiến

Ngày đăng: 10/04/2016, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w