Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng là rất cần thiết, sự tíchhợp nhiều nguyên tố vi lượng trong một sản phẩm sẽ nâng cao khả năng ứng dụngcủa phân bón.. nghiên
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảtrong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào khác trước đây
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp, đánh giá hiệu quả và xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm phân bón qua lá cho cây hoa lily tại Hà Nội” đã được hoàn thành.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS LÊ HẢI ĐĂNG đãdành thời gian hướng dẫn nhiệt tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài tạiphòng thí nghiệm Hóa Vô cơ – Khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội;đồng thời đã bổ sung, đóng góp nhiều ý kiến quí báu giúp tôi hoàn thành luận văn.Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Hóa học, các thầy giáo, cô giáo trong Bộmôn Hóa học Vô cơ - khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cảm ơn SởGiáo dục và Đào tạo Lạng Sơn, trường THPT Vân Nham huyện Hữu Lũng tỉnhLạng Sơn đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình họctập và hoàn thành luận văn
Sau cùng tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên,giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 10 năm 2015.
Tác giá luận văn
Ngô Bằng Ngà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 4
1.1 VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TỐ ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG NÓI CHUNG VÀ HOA LILY NÓI RIÊNG 4
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN LÁ TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 7
1.2.1 Tình hình sản xuất phân bón qua lá 7
1.2.2 Tình hình sử dụng phân bón qua lá 10
1.3 TỔNG QUAN VỀ HOA LILY 18
1.3.1 Nguồn gốc, phân loại hoa lily 18
1.3.1.1 Nguồn gốc 18
1.3.1.2 Phân loại 18
1.3.2 Đặc điểm sinh học và yêu cầu sinh thái 19
1.3.2.1 Đặc điểm thực vật học 19
1.3.2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục 20
1.3.2.3 Yêu cầu sinh thái 23
1.3.3 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam và trên thế giới 25
1.3.3.1 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới 25
1.3.3.2 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam 26
1.3.4 Quy trình sản xuất hoa lily tại Việt Nam 28
1.3.4.1 Thời vụ trồng 28
1.3.4.2 Chuẩn bị nhà che 28
1.3.4.3 Chuẩn bị đất/giá thể trồng lily 28
1.3.4.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 29
Trang 41.3.4.5 Phòng trừ sâu bệnh 32
1.3.4.6 Thu hoạch và tiêu thụ hoa 35
CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM 37
2.1 KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN TỔNG HỢP CHẾ PHẨM BÓN LÁ DLH1 37
2.2 XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU CỦA CHẾ PHẨM DLH1 38
2.3 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CHẾ PHẨM DLH1 TRÊN CÂY HOA LILY TRỒNG ĐẤT NỀN 38
2.3.1 Nghiên cứu xác định hiệu quả của chế phẩm DLH1 38
2.3.2 Xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm DLH1 cho cây hoa lily 39
2.3.3 Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm DLH1 41
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN TỔNG HỢP CHẾ PHẨM BÓN LÁ DLH1 42
3.1.1 Tổng hợp chế phẩm DLH1 42
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện tổng hợp đến chất lượng của chế phẩm DLH1 45
3.1.2.1 Khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ số mol giữa chất tạo phức và cation kim loại trung lượng và vi lượng 45
3.1.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của pH 45
3.1.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ 45
3.1.3 Đánh giá chất lượng của chế phẩm DLH1: 46
3.2 XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG MỘT SỐ NGUYÊN TỐ TRONG CHẾ PHẨM DLH1 50
3.3 PHÂN BỐ CỠ HẠT CỦA CHẾ PHẨM DLH1: 51
3.4 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CHẾ PHẨM DLH1 TRÊN CÂY HOA LILY TRỒNG ĐẤT NỀN 53
3.4.1 Tỉ lệ nảy mầm 53
3.4.2 Chiều cao cây 53
3.4.3 Đường kính thân 55
Trang 53.4.4 Số lá TB/cây 56
3.4.5 Chỉ số diệp lục 58
3.4.6 Số nụ, thời gian hình thành nụ, kích thước nụ 59
3.4.7 Số hoa nở/CT 61
3.4.8 Đánh giá chất lượng cảm quan của hoa lily 61
3.5 XÂY DỰNG MÔ HÌNH ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM DLH1 CHO CÂY HOA LILY TẠI HÀ NỘI 64
3.5.1 Kết quả triển khai mô hình 64
3.5.1.1 Đặc điểm sinh thái và sinh trưởng của hoa lily tại mô hình 64
3.5.1.2 Đặc điểm hình thái và chất lượng của hoa lily tại mô hình 64
3.5.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá phức hữu cơ Pomior đến một số chỉ tiêu
phẩm chất của dứa Cayen 15
Bảng 3.1 Giá trị pH theo thời gian của DLH1 pha loãng ở các tỷ lệ khác nhau 47
Bảng 3.2 Kết quả phân tích hàm lượng các nguyên tố trong chế phẩm DLH1 50
Bảng 3.3 Theo dõi số củ nảy mầm theo thời gian 53
Bảng 3.4 Theo dõi chiều cao cây (cm) theo thời gian 54
Bảng 3.5 Theo dõi đường kính thân (mm) theo thời gian 55
Bảng 3.6 Theo dõi số lá trung bình theo thời gian 57
Bảng 3.7 Theo dõi chỉ số diệp lục tổng số theo thời gian 58
Bảng 3.8 Theo dõi số nụ trung bình/cây 59
Bảng 3.9 Theo dõi kích thước nụ hoa (mm) theo thời gian 60
Bảng 3.10 Theo dõi số hoa nở/công thức theo thời gian 61
Bảng 3.11 Đánh giá chất lượng cảm quan của hoa lily ở từng CT TN 63
Bảng 3.12 Đặc điểm sinh thái và sinh trưởng của hoa lily trong mô hình 64
Bảng 3.13 Đặc điểm hình thái và chất lượng của hoa lily tại mô hình 65
Bảng 3.14 Đánh giá hiệu quả của chế phẩm DLH1 với cây hoa lily tại mô hình 65
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tổng hợp dung dịch dinh dưỡng A 37
Hình 2.2 Sơ đồ tổng hợp dung dịch dinh dưỡng B 37
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình kỹ thuật trồng hoa lily ở các tỉnh phía bắc Việt Nam 41
Hình 3.1 Quy trình tổng hợp chế phẩm phân bón lá DLH1 44
Hình 3.2 Theo dõi pH theo thời gian (ngày) của chế phẩm DLH1 pha loãng 400 lần 48
Hình 3.3 Theo dõi pH theo thời gian (ngày) của chế phẩm DLH1 pha loãng 600 lần 48
Hình 3.4 Theo dõi pH theo thời gian (ngày) của chế phẩm DLH1 pha loãng 800 lần 49
Hình 3.5 Theo dõi pH theo thời gian (ngày) của chế phẩm DLH1 pha loãng 1000 lần 49
Hình 3.6 Phân bố cỡ hạt trong dung dịch DLH1 pha loãng 400 lần 51
Hình 3.7 Phân bố cỡ hạt trong dung dịch DLH1 pha loãng 800 lần 52
Hình 3.8 Phân bố cỡ hạt trong dung dịch DLH1 pha loãng 1200 lần 52
Hình 3.9 Đồ thị kết quả theo dõi chiều cao cây theo thời gian 55
Hình 3 10 Đồ thị kết quả theo dõi đường kính thân theo thời gian 56
Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn kết quả theo dõi số lá (trung bình/cây) theo thời gian 57 Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn kết quả theo dõi chỉ số diệp lục theo thời gian 58
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn kết quả theo dõi số nụ trung bình/cây theo thời gian 59
Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn kết quả theo dõi kích thước nụ hoa theo thời gian 60
Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn kết quả theo số hoa nở/CT sau 90 ngày 61
Hình 3.16 Đồ thị biểu diễn chất lượng cảm quan của hoa 63
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cuộc khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởngđến mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Nền sản xuất nông nghiệptheo đó cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực, đòi hỏi phải có những biện pháp tiếtkiệm chỉ phí trong sản xuất nông nghiệp, nhất là việc sử dụng phân bón vì theo điềutra việc sử dụng phân bón như hiện nay là nhiều lãng phí
An ninh lương thực là vấn đề luôn được thế giới quan tâm do sự gia tăng dân sốhàng năm trong khi diện tích đất canh tác ngày càng giảm Đề đảm bảo nhu cầu lươngthực thế giới, cần tăng sản lượng cây nông nghiệp Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năngsuất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, trong đó việc sử dụng hiệu quả phân bón là mộttrong những yếu tố quan trọng nhất trong canh tác nông nghiệp hiện đại
Môi trường sống ngày càng ô nhiễm trần trọng do các hoạt động sinh hoạt vàsản xuất của con người, hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng ảnh hưởng một phần đến sự
ô nhiễm đó Việc phân bón bị rửa trôi hoặc bị dư thừa do cây trồng không hấp thụ hết dẫnđến ô nhiễm đất trồng và môi trường sống
Từ những yêu cầu trên đòi hỏi các nhà khoa học, các nhà sản xuất phải có kếhoạch nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các loại phân bón thông minh nhằm mang lại sựphát triển bền vững cho ngành nông nghiệp Một trong số các loại đang được các nhàkhoa học quan tâm hiện nay đó là phân bón qua lá
Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng là rất cần thiết, sự tíchhợp nhiều nguyên tố vi lượng trong một sản phẩm sẽ nâng cao khả năng ứng dụngcủa phân bón Một số công trình nghiên cứu cũng đã cho thấy sự có mặt của cácnguyên tố đất hiếm, như lantan, xeri, sẽ làm tăng năng suất đáng kể của cây trồng.Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã sơ bộ có được các điều kiện thíchhợp để tổng hợp nên chế phẩm DLH1 chứa các nguyên tố đa lượng, trung lượng và
vi lượng
Hoa lily là loại mới được nhập nội và trồng ở nước ta chưa lâu, nên quy trìnhkỹ thuật sử dụng phân bón và các chế phẩm điều hòa sinh trưởng cũng chưa được
Trang 10nghiên cứu ứng dụng một cách hiệu quả, gây khó khăn cho người sản xuất hoa.Việc nghiên cứu ứng dụng chế phẩm phân bón cho cây hoa lily là cần thiết nhằmtăng lợi ích cho nghề trồng hoa.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp, đánh giá hiệu quả và xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm phân bón qua lá cho cây hoa lily tại Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình, mong rằng nội dung luận văn sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả trong nghề trồng hoa lily tại Hà Nội và các địa phương khác
2 Mục đích nghiên cứu
- Hoàn thiện quy trình tổng hợp chế phẩm phân bón lá DLH1
- Đánh giá được hiệu quả của chế phẩm DLH1 đối với cây hoa lily trồng tại
Hà Nội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ 1: + Tổng quan vai trò của nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng
đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng nói chung và cây hoa lily nói riêng
+ Tổng quan về đặc điểm sinh trưởng và quy trình sản xuất hoa lily ở Việt Nam
+ Tổng quan tình hình nghiên cứu, ứng dụng của một số loại phân bón lá
trên thế giới và ở Việt Nam
- Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu và hoàn thiện quy trình tổng hợp chế phẩm phân
bón lá trong phòng thí nghiệm và xác định các thông số đặc trưng
- Nhiệm vụ 3: Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chế phẩm phân bón lá cho
cây hoa lily trong điều kiện trồng trên đất nền
- Nhiệm vụ 4: Xây dựng mô hình ứng dụng với quy mô 360m2 tại Hợp tác xãNông nghiệp và dịch vụ Tây Tựu - Bắc Từ Liêm - Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
- Tổng quan tài liệu liên quan
- Tổng hợp vô cơ
- Sử dụng các thiết bị phân tích vật lý và hóa lý, như: AAS, tán xạ Laser động…
- Sử dụng quy trình trồng hoa thực nghiệm lily của Trung tâm hoa và cây cảnh –Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội
Trang 115 Đóng góp của đề tài
- Hoàn thiện quy trình tổng hợp DLH1
- Xác định được các đặc trưng quan trọng của sản phẩm tổng hợp
- Đánh giá hiệu quả sử dụng trên hoa lily thực nghiệm trồng đất nền
- Xây dựng được mô hình ứng dụng DLH1 trên hoa lily
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm các phần:
- Mở đầu
- Nội dung chính với 3 chương:
+ Chương 1: Tổng quan
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TỐ ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG NÓI CHUNG VÀ HOA LILY NÓI RIÊNG.
Chức năng chính của mỗi nguyên tố thể hiện dưới đây: [7, 10]
Cacbon:
+ Là phần tử cơ bản cấu tạo carbohydrat, protein, lipit và axit nucleic
+ Tham gia trong thành phần cấu tạo của các chất hữu cơ khác
+ Tăng sinh trưởng và phát triển của các mô sống
+ Cải thiện chất lượng của rau ăn lá, cỏ khô làm thức ăn gia súc và protein củahạt ngũ cốc
Phốt pho:
+ Có vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và protein
+ Là thành phần của phosphatides, axit nucleic, protein, phospho-lipid,coenzim NAP, NATP
+ Là thành phần tất yếu của aminoaxit, ATP
+ Cần thiết cho sự phân chia tế bào, là thành phần của nhiễm sắc thể, kíchthích rễ phát triển
+ Cần thiết cho sự phát triển của mô phân sinh, hạt và phát triển của quả, kíchthích ra hoa
Trang 13+ Giúp vận chuyển cacbonhydrat, tổng hợp protein, duy trì sự ổn định của nó.+ Cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi thời tiết lạnh và mây mù, do vậynâng cao khả năng chống rét và các điều kiện bất lợi khác của cây.
+ Làm tăng độ lớn của hạt và cải thiện chất lượng Quả và rau
Canxi:
+ Là thành phần của màng tế bào dưới dạng canxi pectate cần thiết cho sựphân chia tế bào được bình thường
+ Giúp cho màng tế bào vững chắc, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thể
+ Hoạt hóa nhiều enzim (như phospholipase, arginine, triphosphata)
+ Đóng vai trò là một chất giải độc bằng cách trung hòa axit hữu cơ trong cây
Magiê:
+ Là thành phần cấu tạo của diệp lục tố
+ Là hoạt chất của hệ enzim gắn liến với sự chuyển hóa hydratcacbon và tổnghợp axit nucleic
+ Là hoạt chất của hệ enzim gắn liến với sự chuyển hóa hydratcacbon và tổnghợp axit nucleic
+ Thúc đẩy hấp thụ và vận chuyển lân của cây
+ Giúp đường vận chuyển dễ dàng trong cây
Lưu huỳnh:
+ Là thành phần của các axit min chứa lưu huỳnh cũng như aminoaxit
+ Liên quan đến hoạt động trao đổi chất của vitamin, biotin, thiamin vàcoenzim A
+ Giúp cho cấu trúc protein được vững chắc
Trang 14+ Là thành phần thiết yếu của một số men metallo - enzimes-carbonic,anhydrase, anxohol dehydrogenase.
+ Đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit nucleic và protein.+ Tăng cường khả năng sử dụng lân và đạm
Sắt:
+ Cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì chất diệp lục tố trong cây
+ Là thành phần chủ yếu của nhiều enzim
+ Đóng vai trò chủ yếu trong sự chuyển hóa axit nucleic, ảnh hưởng đến sựchuyển hóa RNA hoặc diệp lục tố
Mangan:
+ Xúc tác trong một số phản ứng enzim và sinh lý trong cây, là một thànhphần của pyruvate carboxylase
+ Liên quan đến quá trình hô hấp của cây
+ Hoạt hóa các enzim hên quan đến sự chuyển hóa đạm và sự tổng hợp diệplục tố
+ Kiểm soát thế oxyhóa- khử trong tế bào ở các pha sáng và tối
Bo:
+ Ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim
+ Có khả năng tạo thức với các hợp chất polyhydroxy khác nhau
+ Tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm cho việc vận chuyển hydrat carbonđược dễ dàng
+ Liên quan đến quá trình tổng hợp liqnin
+ Thiết yêu đối với sự phân chia tế bào
+ Ảnh hưởng với sự lấy đi và sử dụng Ca của cây trồng, giúp điều chỉnh tỷ lệK/Ca trong cây
+ Thiết yếu với sự tổng hợp protein trồng cây
Molypden:
+ Xúc tiến quá trình cố định đạm và sử dụng đạm của cây
+ Là thành phần của men khử nitrat và men nitrogenase
Trang 15+ Cần cho vi khuẩn Rhizobium cố định đạm cộng sinh ở nốt sần cây họ đậu.
Clo:
+ Là thành phần của axit auxin chloindole-3 acetic mà ở các hạt chưa chín nóchiếm vị trí của axit indole acetic
+ Thành phần của nhiều hợp chất tìm thấy trong vi khuẩn và nấm
+ Kích thích sự hoạt động của một số Enzim và ảnh hưởng đến sự chuyển hóahydrat cacbon và khả năng giữ nước của mô thực vật
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN LÁ TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
1.2.1 Tình hình sản xuất phân bón qua lá.
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cácloại phân bón qua lá trên các nền phụ gia khác nhau như: phân bón qua lá từ nềndầu hữu cơ, dầu lanh và các loại phân: NPK, urea hay các loại phân Ca, Mg; phânbón qua lá được bao bọc bằng polyme đường hay dẫn xuất của nó; phân nhả chậm
từ những hạt phân được bao bọc bởi nhựa nhiệt rắn và một hợp chất kỵ nước; phânbón qua lá từ hỗn hợp dung dịch urea và fomanđêhit, với các chất nền khô từ nguồnphotpho và kali để tạo nên hỗn hợp những hạt phân đồng nhất NPK; phân urea nhảchậm bọc lưu huỳnh; phân bón qua lá từ đicyanđiamit, 1,4-benzenđiol, axit humic,zeolit, bột kích thích rễ và nguyên tố vi lượng; phân NPK, phân bón qua lá sử dụngchất kết dính là Na2SiO3; phân bón qua lá từ hỗn hợp zeolit và ammoni nitrat hayurea vv [1, 2, 3]
Tại Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về phân bón bón qua lánhư: phân bón qua lá urea-zeolit từ urea và zeolit NaX; phân bón urea với polymenền gelatin từ gelatin, urea và ammoni bicromat; phân NPK, phân bón hấp phụ trênnền than bùn; phân bón urea bao bọc bằng tinh bột biến tính và fomanđehit, vv [6].Theo thông tin báo cáo của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, tháng 11/2008, khiđiều tra 9 doanh nghiệp sản xuất phân bón lá trên 11 tỉnh phía Bắc cho thấy cácdoanh nghiệp sản xuất 27 loại phân bón lá, trong đó dạng lỏng 44,4% (12 loại),dạng rắn 55,6% (15 loại) Tất cả các loại phân bón lá sản xuất ra đều được tiêu thụtrên thị trường
Trang 16Thông tin điều tra 38 doanh nghiệp sản xuất phân bón lá trên 15 tỉnh phía Namcho thấy số loại phân bón lá do các doanh nghiệp sản xuất ra là 275, trong đó dạnglỏng 57,5% (158 loại), dạng rắn 42,5% (117 loại) Các loại phân bón lá sản xuất rađược tiêu thụ trên thị trường 227 loại, trong đó dạng lỏng 58,1% (132 loại), dạngrắn 41,9% (95 loại).
Tổng số loại phân bón lá sản xuất của 47 doanh nghiệp trên 26 tỉnh là 302 loại,trong đó dạng lỏng 56,3% (170 loại), dạng rắn 43,7% (132 loại) Các loại phân bón
lá sản xuất ra tiêu thụ được 84,1% (dạng lỏng 47,7%, dạng rắn 36,4%) Trong sốcác loại phân bón lá tiêu thụ được, dạng lỏng chiếm 56,7% (144 loại), dạng rắnchiếm 43,3% (110 loại)
Tất cả các loại phân bón lá được điều tra và lấy mẫu đều có trong Danh mụcphân bón của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tính đến tháng 12 năm 2012 trong danh mục phân bón được phép sử dụng ởViệt Nam có: tổng số: 7.711 loại phân bón, trong đó có 4.683 loại phân bón lá,chiếm 60,1% tổng số các loại phân bón
Phân bón lá do các cơ sở sản xuất thường được chia làm 2 dạng chính: [9]
- Sử dụng các chất sinh trưởng giúp cây tăng cường sinh trưởng, từ đó tăngkhả năng hấp thu các chất dinh dưỡng đa lượng
- Không chứa các chất sinh trưởng mà chỉ dựa vào nguyên tố khoáng vilượng, đa lượng được phối hợp trộn theo một tỉ lệ hợp lí giúp cây trồng sinh trưởngổn định một cách tự nhiên
Nguyên tắc chung trong công nghệ sản xuất phân bón lá hiện nay là: [5]
Quy trình công nghệ sản xuất từ nguyên liệu khoáng
Bước 1: Tổng hợp các thành phần đa lượng:
- Tổng hợp K3PO4: 3KOH + H3PO4 → K3PO4 + 3H2O
- Tổng hợp (NH4)NO3: NH3 + HNO3 → (NH4)NO3 + H2O
- Phối trộn dung dịch K3PO4 và (NH4)NO3 trong bể trung hoà, pH đạt 6,5
Bước 2: Tổng hợp các thành phần vi lượng, bao gồm: Tổng hợp phức EDTA
của các muối: MgSO4.7H2O, MnSO4.5H2O, CuSO4.5H2O, ZnSO4 và FeSO4.7H2O
Bước 3: Phối trộn phần đa lượng và vi lượng.
Bước 4: Kiểm tra tiêu chuẩn chất lượng và đóng gói.
Trang 17Các bước này được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Quy trình sản xuất phân bón lá của các cơ sở liên doanh với nước ngoài cũngtương tự, chỉ khác ở phương thức điều chỉnh các thông số kỹ thuật Các loại phânbón lá được sản xuất bằng quy trình công nghệ trong nước hoặc liên doanh có thểbổ sung thêm hoặc không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng
Quy trình công nghệ sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ
Trang 181.2.2 Tình hình sử dụng phân bón qua lá
Theo Bùi Quang Lanh [3] từ những năm 60 của thế kỉ trước, nông dân miềnBắc đã sử dụng phân bón hoá học Ban đầu mới có phân đạm sử dụng phối hợp vớiphân chuồng đã đưa năng suất lúa từ 1 tấn/ha/vụ lên 2 tấn/ ha/ vụ Khi nông dân biếtsử dụng thêm phân lân thì năng suất thì năng suất lúa được tăng lên 3 -3,5 tấn/ha/vụ
và khi biết sử dụng thêm phân Kali thì năng suất lúa tăng lên 5-7 tấn/ha/vụ Nhưvậy: Đạm, lân và kali là những yếu tố chính hạn chế năng suất cây trồng, nếu câytrồng được bón đủ, bón cân đối với đạm, lân, kali và bón đúng kĩ thuật thì năng suấttăng đột biến Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cây trồng không chỉ cần đạm, lân,kali mà còn rất nhiều chất dinh dưỡng khác như vôi, magiê, lưu huỳnh, silíc, sắt, bo,kẽm, đồng, chất hữu cơ, vv sẵn có trong đất và được bổ xung hàng năm bằngnguồn phân chuồng Quá trình canh tác hàng ngàn đời nay làm chất dinh dưỡng cầnthiết ngày càng cạn kiệt mặt khác cuộc cách mạng về giống hiện nay cho ra đờinhiều loại giống cây trồng năng suất cao, đòi hỏi sử dụng nhiều chất dinh dưỡng,nếu chỉ bón đạm, lân, kali hay NPK thông thường thì cây trồng không phát huynăng suất và ảnh hưởng đến chất lượng nông sản Tuy nhiên trong thực tế khôngphải người nông dân nào cũng sử dụng phân bón đúng kĩ thuật, nên có nhiều ngườiđầu tư thâm canh cao nhưng năng suất, chất lượng nông sản lại giảm do bón khôngcân đối, không đúng thời điểm Việc sử dụng phân bón qua lá sẽ khắc phục đượccác nhược điểm trên Theo Chu Thị Thơm và cộng sự [6] thì phân bón qua lá là mộttiến bộ kĩ thuật được dùng nhiều trong thời gian gần đây Tuy vậy, bón phân qua lákhông thể hoàn toàn thay thế được 100% bón phân qua đất Các loại phân bón qua
lá là những hợp chất dinh dưỡng, có thể là các nguyên tố đa lượng, trung lượnghoặc vi lượng, được hoà tan trong nước và phun lên cây để cây hấp thu Đây là cáchbón phân mới được phổ biến trong những năm gần đây, bởi vì thông thường phânđược bón vào đất và được cây trồng hấp thu qua rễ
Bón phân qua lá phát huy được hiệu lực nhanh Tỷ lệ cây sử dụng chất dinhdưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng đến 90% chất dinh dưỡng bón qua lá,trong khi đó bón qua đất cây chỉ sử dụng 45-50%
Trang 19Bón qua lá tốt nhất là các đợt bón bổ xung, bón thúc để đáp ứng nhanh cácnhu cầu dinh dưỡng của cây Đặc biệt là giúp cây chóng phục hồi sau khi bị sâubệnh, bão lụt gây hại, hoặc là khi trong đất vì những lí do khác nhau bị thiếu chấtdinh dưỡng một cách đột ngột.
Các công trình nghiên cứu khoa học cũng như thực tế sản xuất cho thấy là bónphân qua lá có tác dụng rõ rệt trong việc làm tăng năng suất và phẩm chất nông sản,tăng giá trị thương phẩm của nông sản hàng hoá Như người ta phun urê lên lá vớinồng độ 0,5-1,5 % Tuy nhiên phần lớn các loại phân bón qua lá là những hỗn hợpcác chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng ở dạng hoà tan trong nước Để nâng caohiệu quả của phân bón qua lá, người ta thường bổ xung các chất kích thích sinhtrưởng cây, các phi tohocmon, các ezim vào
Hiện nay trên thị trường nước ta có rất nhiều loại phân bón qua lá Trong đócó những loại do các xí nghiệp trong nước sản xuất như HVP301 N, Comix;HB101, Biofact, BK104, CSF002, HUMID Các loại phân bón qua lá nhập từ nướcngoài có Atomix, Đặc đa thu, Lục thuỷ thần, Open all
Phân bón lá thường được bán dưới dạng lỏng, tuy vậy vẫn có một dạng bộtnhư Thần nông, Thiên nông, nhập từ Thái Lan Khi sử dụng phân bón qua lá cầnchú ý: Hoà loãng phân theo đúng tỉ lệ được ghi trên bao bì Khi độ ẩm không khíthấp, đất bị hạn nặng thì không nên dùng phân bón lá vì dễ làm rụng lá
Không nên nhầm lẫn giữa phân bón lá với chất kích thích sinh trưởng Bởi vìchất chất kích thích sinh trưởng chỉ phát huy được tốt khi cây có đầy đủ chất dinhdưỡng, nếu không cây có thể bị thiếu chất dinh dưỡng dẫn đến những hậu quả xấuvề sinh trưởng và phát triển của cây Vì vậy, khi trong phân bón lá có chất kíchthích sinh trưởng thì các chất dinh dưỡng đã có sẵn trong phân, cho nên 2 loại chấtsẽ phát huy tác dụng của nhau Nếu chỉ dùng riêng chất kích thích sinh trưởng thìphải bổ xung thêm phân bón cây mới đủ dinh dưỡng để tăng trưởng Phân bón qua
lá có thể là các loại phân đơn như N, P, K, Cu, Zn
Theo tác giả Nguyễn Hạc Thuý [10], không nên sử dụng phân bón lá khi câyđang ra hoa, lúc trời đang nắng Vì vậy sẽ làm rụng hoa, quả và làm giảm hiệu lựccủa phân bón
Trang 20Lá là cơ quan duy nhất thực hiện được quang hợp, tạo ra năng suất, đồng thờicũng là cơ quan có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng cho cây Phân bón qua lá cóthể có nguồn gốc hoá học hoặc hữu cơ Phân bón qua lá có nguồn gốc hoá họcthường là các chất vi lượng.
Ngoài đạm, lân, kali và vi lượng, cây trồng còn cần những chất dinh dưỡnghữu cơ khác như vitamin, đạm hữu cơ (protein), các chất kích thích sinh trưởng vv
để sinh trưởng và phát triển Các chất này có cấu tạo phân tử lớn và phức tạp hơnđạm, lân và kali, do vậy, rễ không hấp thu được mà chỉ có lá mới hấp thu được
Để bổ sung kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng ngoài phương pháp bónphân hữu cơ, phân chuồng hoai mục kết hợp với các loại phân khoáng, người tacòn áp dụng phương thức bón phân qua lá để tạo điều kiện cho cây trồng hấp thudinh dưỡng, dễ dàng tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt Theo
Vũ Cao Thái [5], đã nhận định, bón phân qua lá là một giải pháp chiến lược an toàndinh dưỡng cho cây trồng Khả năng hấp thu dinh dưỡng qua lá được phát hiện vàođầu thế kỉ XIX bằng phương pháp đồng vị phóng xạ cho thấy cây trồng ngoài bộphận lá, các bộ phận khác như thân, cành, hoa, trái đều có thể hấp thu được chấtdinh dưỡng Mặt khác, theo tác giả trên cho rằng diện tích lá của cây bằng 15-20 lầndiện tích đất do tán che phủ, do đó nhận được dinh dưỡng bằng phun qua lá đượcnhiều hơn
Trong những năm 90 của thế kỷ trước, châu Âu đã chế tạo và sử dụng rộng rãicác loại phân phức hữu cơ Ưu điểm của loại phân bón lá phức hữu cơ là: Nhờ khảnăng tạo phức giữa các axit anim với các kim loại như Cu2+, Zn2+, Mo2+, Ni2+, Mn2+,
Mg2+,Ca2+ mà ta có thể đưa cùng một lúc hầu hết các nguyên tố vi lượng, đa lượng
và trung lượng trong các cấu tạo của phức chất Cấu trúc dạng phức tạo khả năngbền vững cho các phân tử do đó khả năng bảo quản cất giữ được lâu bền, cũng nhờcó cấu trúc dạng phức hữu cơ nên độ pH ổn định tuyệt đối Các axit amin trong cấutrúc của phân bón lá có tác dụng cung cấp trực tiếp dinh dưỡng trực tiếp cho cây vàtham gia ngay vào việc tổng hợp và kích thích khả năng sinh tổng hợp Protein trongcây, kích thích sự hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác [27] Cũng nhờ có các ưu điểm
Trang 21trên, hiệu suất đồng hoá của cây đối với các loại phân bón lá này cao hơn so với cácloại phân bón lá khác, phân bón được chế tạo ở dạng dễ bảo quản [9].
Ở Việt Nam, phân bón lá phức hữu cơ Pomior đã được thử nghiệm trên diệnrộng từ năm 1995 ở Yên Hưng (Quảng Ninh), Phúc Yên (Sơn La), Yên Dũng, HiệpHoà (Bắc Giang), Tiên Sơn (Bắc Ninh), Ngọc Lặc (Thanh Hoá), Mỹ Hào (HưngYên), Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm (Hà Nội), Nghệ An, Nha Trang, Thừa ThiênHuế Trên tất cả các loại cây trồng lúa màu, cây ăn quả, hoa và cây cảnh Ở tất cảcác địa phương trên đều cho những nhận xét tốt: năng suất tăng nhanh, cây sinhtrưởng tốt, ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón và nhân lực, phẩm chất rau và quả đạtchất lượng cao [8]
Qua thực tế phân bón lá phức hữu cơ Pomior có tác dụng cung cấp đầy đủ vàkịp thời các nguyên tố dinh dưỡng cho các loại cây trồng ở mọi giai đoạn sinhtrưởng Đặc biệt là ở những giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng của cây trồng nhưsau khi kết thúc nảy mầm (khi cây có một lá thật), thời kì cây tăng trưởng mạnh,thời kì phân hoá mầm hoa, thời kì nở hoa và thời gian thụ tinh, thụ phấn hình thànhquả Phân bón lá phát huy được hiệu quả mạnh đối với cây trồng trên đất mặn, đấthạn (thời kì hạn cây không thể hấp thu đầy đủ chất dinh dưỡng trong đất có khiđược ngừng trệ hoàn toàn) [9]
Phân vi sinh qua lá BioGro là chế phẩm được chiết rút từ vi sinh vật nên và vìvậy, nó mang nguồn gốc hữu cơ Cũng chính do đây là chế phẩm được chiết rút từ
vi sinh vật nên tác dụng của nó có thể thấy nhanh hơn (5- 7 ngày) so với vi sinh vậtbón qua rễ Phân vi sinh BioGro bón qua lá giúp cây trồng phát triển nhanh hơn,năng suất cao hơn, rút ngắn thời gian thu hoạch [6] Từ trước đến nay, người ta vẫnphun cho lá các loại phân vi lượng, đa lượng có nguồn gốc hoá học
Phân vi sinh bón qua lá là chế phẩm được chiết rút ra từ vi sinh vật, cung cấpcác chất dinh dưỡng hữu cơ, chất kích thích sinh trưởng và các loại vitamin Câytrồng dễ hấp thu phân vi sinh bón qua lá Phân vi sinh bón qua lá BioGro có thểphun cho các loại cây trồng Tuỳ từng loại cây, trong một vụ có thể phun cho nhiềuloại cây trồng, Tuỳ từng loại, trong một vụ có thể phun nhiều lần, mỗi lần có thểphun cách nhau 2 tuần
Trang 22Với cây lúa, có thể phun 2-3 lần, phun cho luống mạ trước khi cấy 5-7 ngày,trước khi trỗ 5-7 ngày.
Với cây rau và ngô, từ khi có 3-4 lá, 2 tuần phun 1 lần trong 1,5 tháng đầu
Với cây chè, phun sau mỗi lần hái 10-15 ngày, khi xuất hiện lá non
Cây trong vườn ươm và cỏ vận động rất thích hợp với phân vi sinh bón qua lá
Lá non hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn lá già, mặt dưới hấp thu chất dinh dưỡng tốthơn mặt trên của lá [6]
Tại Lâm Đồng, Trung tâm khuyến nông Lâm Đồng đã thử nghiệm và cho kếtquả rất khả quan trên các giống cây trồng Với cây cà chua khi phun 26 ml ĐH1 chonăng suất 614 tạ/ha tăng 13,74% so với đối chứng, phun 36 ml ĐH1 cho năng suất717,9 tạ/ha tăng 32,99% so với đối chứng Đối với cây dâu tây, khi phun 26ml ĐH1sản lượng đạt 1.210 kg/1000m2, tăng 7,07% so với đối chứng, trong đó tỉ lệ quả loại
1 đạt 52,15% Khi phun 36ml ĐH1 sản lượng 1.530 kg/1000m2, tăng 35,49% so vớiđối chứng, trong đó tỷ lệ quả loại 1 đạt 52,15%
Đối với lúa Bắc ưu 64 sau cấy 7 ngày (15/8/1995) toàn bộ diện tích bị ngậpnặng chỉ còn 1-1,5 % số lá còn lại trên mặt nước Toàn bộ diện tích 5 ha được làmcỏ sục bùn sau khi rút nước, bón 1 sào 10 kg Superlân và phun bổ xung 3 lần phânbón lá Pomior Kết quả sau 5 ngày lá non bắt đầu mọc trở lại, sau 8-10 ngày đẻnhánh rộ và sinh truởng bình thường Số đẻ nhánh bình quân 20-22 dảnh /khóm, sốdảnh hữu hiệu 8-10 rảnh So với diện tích chung toàn huyện, diện tích lúa Bắc ưu bịngập nặng được phun Pomior đã tăng năng suất 18,1 ta/ha [8]
Kết quả khảo nghiệm của Bùi Thị Hồng Vân [14] của phân bón lá Komic BFC
201 vụ lúa mùa 1996 tại HTX Mỹ Hưng - Thanh Oai - Hà Tây cho thấy:
Ở thời kỳ phát triển dinh dưỡng, có phun, chiều cao tăng 5%, cây cứng, bộ lá
to dài, màu xanh sáng Khi thu hoạch bộ lá vẫn giữ được màu vàng sáng
Ở thời kỳ đẻ nhánh, lúa đẻ nhanh, gọn tập trung thể hiện rất rõ, số dãnh tăng8%, tốc độ phát triển dảnh trên ngày tăng 60%
Ở thời kì sinh trưởng sinh thực, thể hiện qua các yếu tố cấu thành năng suấtlúa Do phun phân qua lá chiều dài bông lúa tăng 7%, số bông trên khóm tăng 7%,
Trang 23tỉ lệ hạt lép giảm 15% so với không phun, năng suất thực thu tăng 13%, vỏ hạt lúamàu vàng tươi.
Trên cây dứa theo Vũ Quang Vịnh [17], khi phun Pomior nồng độ 0,65 đã chonăg suất tăng cao hơn đối chứng phun nước lã 8,37 tấn/ha bằng 100%, vượt năngsuất so với phun Komic KF 13,13 tấn/ha bằng 54,48% Năng suất tăng mạnh do 2yếu tố được tác động bởi Pomior: Cây dứa rất thích hợp với hình thức bón phân qua
lá và Pomior có hàm lượng dinh dưỡng tương đối phù hợp với yêu cầu của cây dứa;yếu tố thứ 2 là khả năng kích thích làm tăng tỷ lệ ra hoa của dứa Cayen tới 32% sovới công thức đối chứng Tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón láphức hữu cơ Pomior đến thành phần sinh hoá quả dứa Cayen kết quả:
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá phức hữu cơ Pomior đến một số chỉ tiêu
phẩm chất của dứa Cayen
Chỉ tiêu
Hàmlượng chấtkhô (%)
Tỷ lệnước(%)
Tỷ lệbã
(%)
Đườngtổng số(%)
VitaminC(mg/100)
Axit(%)
Khi phun Pomior ở nồng độ 0.6% đã làm tăng hàm lượng chất khô trong quảdứa Cayen, tăng đáng kể và hàm lượng đường tổng số cũng tăng lên tương ứng Cácchỉ tiêu khác như vitamin C, axit gần như không có sự thay đổi đáng kể nào
Kết quả thực hiện mô hình sử dụng phân bón sinh học (NAB) của Trương NgọcLong [4] trong thâm canh lúa mùa tại Ba Vì, Hà Tây đã đưa ra đề nghị sử dụng phânsinh học (NAB) cho hiệu quả cao với lúa mùa, có thể thay thế một phần đến thay thếtoàn bộ phân hoá học, giảm được chi phí về phân bón, giảm được chi phí và côngphun thuốc phòng trừ sâu bệnh, lãi thuần có thể tăng thêm 1.080.000đ/ha so với bónđơn thuần bằng phân hoá học hoặc phân sinh học Nguyễn Tiến Huy [2] sử dụngphân bón lá chế phẩm EM, nồng độ 1/200, chế phẩm Sài Gòn HQ, chế phẩm MADU,nồng độ 1/400 cho dưa chuột, đậu trạch vụ đông năm 1996-1997 cho thấy do bónnhiều phân hoá học, nhất là đạm, dưa chuột, đậu trạch đều có lá mỏng, dễ nhiễmbệnh, quả thương phẩm không đẹp, màu xỉn Sau trồng 30 ngày, dưa chuột và đậu
Trang 24trạch đã có thể bước vào thu hoạch, thời gian thu hoạch 35-40 ngày Khi bắt đầu cóquả đậu, bắt đầu sử dụng phân bón lá phun 1 lần rải đều trên mặt lá dưa chuột, đậutrạch có tác dụng màu xanh của lá bền đến cuối vụ, ít sâu bệnh Thân lá phát triểnnhanh, ngọn mập, tỷ lệ đậu quả cao, quả màu tươi, mỡ màng, bán được giá và thờigian quả kéo dài thêm 5-7 ngày Đã tạo ra sự cân bằng dinh dưỡng trong thân, lá câytrồng, nâng cao hiệu quả các loại phân cơ bản.
Chất Kích thích hoạt hoá gen thực vật kỳ nhân (hoạt hoá gen); sản phẩm củacông ty hữu hạn phát triển khoa học Ưu Thắng Trùng Khánh
Hoạt hoá gen là dạng phân bón có tính hoà tan; hoạt hoá gen lấy việc cung cấpchất dinh dưỡng đạm, lân, kali cho thực vật làm chính, đồng thời có phụ thêm axitthực vật mục vàng hoạt tính, nâng cao tính hiệu quả của chất dinh dưỡng
Khi phun vi lượng cho cây đậu tương và lạc trên đất Mai Sơn- Hà Sơn Bình ởgiai đoạn 3 lá, 5 lá và 7 lá đã ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh trưởng, phát triển củacây (tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng chiều cao cây, diện tích lá, tăng chiềucao cây, diện tích lá và năng suất cũng như chất lượng (năng suất tăng từ 13,8-20,2%, protein và lipit tăng so với đối chứng) Bùi Hồng Vân [15] đã sử dụng chếphẩm qua lá trong nước là phân Sài Gòn Safer (HQ và VA) được chiết xuất từ cáchợp chất hữu cơ, vi lượng và Khuyến nông 301 trên vụ lạc xuân giống Trạm Xuyêntại HTX Xa La, thị xã Hà Đông thì phân qua lá đã tác dụng rõ cây phát triển nhanhthân cây to, lá dày màu xanh sáng, ít sâu bệnh so với không phun Số qủa chắc/câychênh lệch không đáng kể Số quả 2 nhân trên cây tăng rõ Phân qua lá trong nướcsản xuất bội thu từ 15,8% đến 18,9%
Có những bằng chứng rằng cây trồng hấp thu 20% dinh dưỡng từ đất và 80%qua lá Tuy nhiên ở đây cần phối hợp bón phân qua lá và qua rễ để đạt năng suất caonhất Khi phun phân qua lá chất dinh dưỡng được hấp thu qua khí khổng (chủ yếunằm ở mặt dưới lá) Các cơ quan khác, như: Thân, cành chồi hoa, quả cũng đều cókhả năng hấp thu chất dinh dưỡng, có nghĩa là có thể cung cấp chất dinh dưỡng chocây trong quá trình và phát triển của cây Để bổ sung kịp thời nguồn dinh dưỡngcho cây trồng ngoài phương thức bón phân khoáng kết hợp phân hữu cơ, xác lá
Trang 25mục, phân xanh , còn áp dụng các phương thức bón phân ngoài rễ (phun phân qualá) tạo điều kiện cho cây đậu tương hấp thu dinh dưỡng dễ dàng hơn, bổ xungnguồn dinh dưỡng kịp khi cây trồng bị trở ngại trong việc sử dụng nguồn dinhdưỡng từ đất hoặc kết hợp với nguồn dinh dưỡng từ đất tạo điều kiện thuận lợi chocây đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt nhất
Bón phân qua lá tránh được sự cạnh tranh về thức ăn với các sinh vật kháctrong đất, sự rửa trôi do mưa bão và hạn hán
Những kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng phân bón lá trên các loạicây trồng khá tốt Theo Vũ Cao Thái [5], sản lượng tăng trung bình từ 20 - 20% đốivới cây lấy lá, 10 - 20% đối với cây lấy quả và 5 -10% đối với lúa, điều này khá rõ
vì lá là cơ quan tổng hợp trực tiếp chất hữu cơ và cung cấp chất dinh dưỡng cho câytrồng thông qua các quá trình sinh lí, sinh hoá và quang hợp Khi bón phân qua látốc độ hấp thu dinh dưỡng nhanh và hiệu quả sử dụng cao, khắc phục được nhữnghạn chế từ việc bón phân vào đất do sự rửa trôi, bốc hơi hay giữ chặt trong đất Hiệusuất sử dụng phân bón vào đất chỉ đạt 40 - 45% trong khi đó với phương thức bónqua lá có thể nâng hiệu suất sử dụng của cây tới 90 - 95 %, đây là cơ sở hợp lí đểđưa những nguyên tố vi lượng quý hiếm vào những dạng phân bón lá để tăng hiệuquả và tiết kiệm Mặt khác bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những điềukiện hạn hán hoặc ngập lụt, thời kì khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt Bằngcách này sẽ là con đường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng phục hồi
Chitosan là một hoạt chất hữu cơ tự nhiên giầu cacbon, về nitơ được phối trộnvới các nguyên tố khoáng khác dạng chế phẩm dinh dưỡng qua lá Chitosan có vaitrò như một chất kích thích sinh trưởng của cây, khả năng tăng ra chồi, mầm hoa,tăng khả năng chống lại một số nấm và vi sinh vật lý hại Chitosan có mặt ở các bộphận rễ, lá, hoa và quả của cây mà ở nồng độ thấp, nó có tác dụng kích thích hoạtđộng của các bộ phận trong cây [19]
Khi sử dụng chitosan cho cây lúa ở Thái Lan ở nồng độ 20 ppm đã làm tăngsinh trưởng, tích luỹ chất khô; đặc biệt tăng số bông và tăng năng suất của cây lúa.Chitosan còn tốt cho cây đậu đỗ; kích thích phân cành và tăng chiều cao cây, tăng
Trang 26chỉ số SPAD (tăng mầu sắc lá) ở nồng độ 0,1- 0,5 %.
Nghiên cứu [19] cho thấy: Chitosan xử lý cho cây làm tăng quá trình lignin hoáthành tế bào cây và làm tăng sự tích luỹ axit jasmonic có tác dụng điều hoà gen tự vệcủa cây, do đó Chitosan làm tăng tính đề kháng của thực vật, nhất là đối với các bệnhnấm (mốc sương, phấn trắng ) trên cây cà chua, dưa chuột, chitosan nồng độ thấptưới cho cây lan làm tăng phân hoá mầm hoa và tăng khả năng kháng virus gây bệnh.Cũng trong nghiên cứu này cho thấy chitosan ở nồng độ 0,1% - 0,5% phuncho cây lúa có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu với môi trường bất thuận(Stress) làm tăng sự tích luỹ protein tự vệ
1.3 TỔNG QUAN VỀ HOA LILY
1.3.1 Nguồn gốc, phân loại hoa lily [16]
1.3.1.1 Nguồn gốc
Lily là tên gọi chung của tất cả các cây loài lilium, họ liliaceae, bộ phụ củathực vật một lá mầm Đặc trưng của loài này là thân ngầm dưới đất có rất nhiều vảybao bọc lại nên người ta gọi là loài hoa bách hợp
Trung Quốc là nước có nhiều chủng loại lily nhất và cũng là trung tâm, nguồngốc lily trên thế giới Theo kết quả điều tra, ở Trung Quốc có khoảng 460 giống,
280 biến chủng (chiếm trên 1
2 tổng giống hoa lily trên thế giới), trong đó có 136giống, 52 biến chủng do Trung Quốc tạo ra Nhật Bản, Hàn Quốc có 110 giốngtrong đó có 30 giống mang đặc trưng của nước này Hà Lan có khoảng 320 giống,trong đó 80% là các giống do chính Hà Lan tạo ra
1.3.1.2 Phân loại
Hoa lily (Lilium regale) là loài thực vật bậc cao có hệ thống phân loại như sau:
Ngành Thực vật hạt kín (Angiospermatophyta)
Lớp Loa kèn (Liliopsida) hay lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae)
Phân lớp Loa kèn (Liliidae)
Liên bộ Loa kèn (Lilianae)
Bộ Loa kèn (Liliales)
Họ Loa kèn (Liliaceae)
Trang 271.3.2 Đặc điểm sinh học và yêu cầu sinh thái [16].
ra hoa, sang năm thứ hai củ có chu vi 9 cm trở lên mới ra hoa
Rễ
Rễ lily gồm hai phần rễ thân và rễ gốc Rễ thân còn gọi là rễ trên, do phầnthân mọc dưới đất sinh ra, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh dưỡng, tuổithọ của rễ này là một năm Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh ra từ gốc thân vảy, có nhiềunhánh, sinh trưởng khỏe, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng của lily, tuổithọ của rễ này là 2 năm
Lá
Lá lily mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xòe hoặc hình thuôn, hình dải,đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn Lá to hay nhỏ tùy thuộc vàogiống, điều kiện trồng trọt và thời gian xử lí Trên lá có từ 1 - 7 gân, gân giữa rõràng hơn, lá mềm có màu xanh bóng
Trang 28 Củ non và mầm hạt
Đại bộ phận của lily có nhiều củ non ở gần thân rễ, chu vi mỗi củ từ 0,5 - 3
cm, số lượng củ non tùy thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt Một số giống địaphương và giống lai tạo ở nách lá có mầm hạt hình cầu hoặc hình trứng, khi chín cómàu tím, tối, chu vi mầm hạt từ 0,5 - 1,5 cm
Hoa
Hoa lily mọc đơn lẻ, hoặc xếp đặt trên trục hoa, bao hoa hình lá, nhỏ Hoachúc xuống, vươn ngang hoặc hướng lên Hình dáng hoa là căn cứ chủ yếu để phânloại hoa lily Đối với các giống thuộc loại hình loa kèn, 1/3 phía trước cong ngượclên; loại hình phễu 1/3 phía trước cong ngược ra; loại hình cái cốc, phía trước hơicong; loại hình cầu cánh hoa 6 cái, hai vòng nối nhau do 3 vòng đài và 3 cánh tạothành, màu sắc như nhau nhưng đài hoa hẹp hơn, cánh đều, gốc có tuyến mật Rấtnhiều giống lily ở gốc cánh có chấm màu tím, hồng… Nhị có đủ 6 cái, giữa cócuống màu xanh nhạt Trục hoa nhỏ, dài, đấu trục phình to, có 3 khía Màu sắc hoalily rất phong phú: trắng, phấn hồng, đỏ, vàng, vàng cam, đỏ tím, tạp sắc… Màu sắclốm đốm có đen, đỏ thắm, đỏ tím, đen nâu… Phần hoa có màu vàng hoặc đỏ cam,đỏ nâu, nâu tím… Các giống hoa lily phương Đông thường có hương thơm và đây
là đặc điểm nâng cao giá trị của hoa
kiện khô, lạnh, hạt lily có thể bảo quản được 3 năm
1.3.2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục
Đặc điểm sinh trưởng thân
Sự sinh trưởng phát dục của lily có thể chia ra các giai đoạn: phát triển trụcthân, ra nụ, nở hoa, kết hạt, chết khô Thân vảy vùi trong đất sau khoảng 2 tuần sẽnảy mầm Tuy nhiên trong trường hợp xử lí lạnh không đầy đủ hoặc gặp trời lạnh
Trang 29thời gian nảy mầm có thể kéo dài đến 5 tuần Từ khi trồng tới khi ra nụ mất khoảng
6 - 9 tuần (tùy theo giống và điều kiện thời tiết) Từ khi ra nụ đến lúc nở hoa kéo dài
4 - 7 tuần Các giống khác nhau có mức độ chênh lệch nhau khá lớn về thời giansinh trưởng của cây Nhóm giống châu Á từ khi trồng đến khi ra hoa khoảng 12tuần nhưng cũng có một số giống như Kinka, Lotus chỉ cần 11 tuần Trục thân củalily là do trục mầm dinh dưỡng co ngắn lại tạo ra Trục thân chia ra trục thân sơ cấp
và trục thân thứ cấp Đầu trục sơ cấp chính là mầm dinh dưỡng co ngắn, trục thứcấp nằm giữa mầm dinh dưỡng co ngắn và vảy có từ 1 đến 3 các lá trung tâm phátdục ra củ con đời sau Có một số mầm lá, là vảy mới, quyết định đến sự hình thành
củ con Sau khi phá ngủ trục sơ cấp, ở trên mầm nách trục thân là vùng vươn dài thứnhất, mầm đỉnh co ngắn, vươn lên mặt đất, lá bắt đầu mở ra, khi cây ra nụ thì số láđã được cố định Chiều cao cây quyết định bởi số lá và chiều dài đốt, số lá chịu ảnhhưởng của chất lượng củ giống, điều kiện và thời gian xử lí lạnh củ giống, thường
số mầm lá đã được cố định trước khi trồng Vì vậy, chiều cao cây vẫn chủ yếu quyếtđinh bởi chiều dài đốt Trong điều kiện ánh sáng yếu, ngày dài, nhiệt độ thấp và xửlí trước bảo quản lạnh lâu, đều có tác dụng kéo dài đốt thân Ngược lại ánh sángmạnh, ngày ngắn, nhiệt độ cao lại ức chế đốt kéo dài Ở phạm vi nhiệt độ từ 20-
30oC nếu cứ tăng thêm 2oC cây có thể thấp đi 2 cm Nắm được đặc tính này người tacó thể xử lí giờ chiếu sáng trước khi ra nụ khoảng 4 - 5 tuần để điều chỉnh chiều caocây rất có hiệu quả
Đặc điểm phát dục
- Sự phân hóa hoa
Trong điều kiện tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam, lily thường được trồng vàotháng 9 tháng 10 và bắt đầu phân hóa hoa vào tháng 11, 12 Quá trình phân hóa hoađược hoàn thành trong vòng 40 - 60 ngày Các giống lai châu Á đa số thuộc loạinày Khi bắt đầu nảy mầm cũng là lúc cây bắt đầu phân hóa mầm hoa Nguyên nhân
là do mầm co ngắn trong vảy rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp Củ lily xử lí lạnh 5oC
từ 4 - 6 tuần, sau khi trồng 10 - 14 ngày đỉnh sinh trưởng mầm rút ngắn, đã bắt đầuhình thành mầm hoa nguyên thủy Mỗi mầm hoa nguyên thủy này lại kèm theo 1 - 2
Trang 30mầm khác Khi củ đã qua xử lí lạnh trước khi trồng, củ có thể mọc mầm và phânhóa hoa, vì vậy nếu không trồng kịp thời sẽ bất lợi cho phát dục mầm hoa Do đótrước khi mọc mầm hoa hoặc khi mầm ngắn hơn 1 cm phải trồng ngay Tuy nhiên,một số giống thuộc loại hoa phương Đông và lily thơm lại thuộc loại sau khi nảymầm một tháng mới bắt đầu phân hóa hoa, đó là nguyên nhân các giống này có thờigian sinh trưởng dài Trong điểu kiện tự nhiên miền Bắc Việt Nam, có một số ítgiống có thời gian phân hóa hoa bắt đầu vào tháng 8 - 9, đến tháng 10 - 11 thì hoànthành, cũng có giống thời gian phân hóa hoa rất dài, bắt đầu từ tháng 9 - 10, đếntháng 1 - 2 năm sau mới xong Hai loại chính ở các dòng lai châu Á có sức hìnhthành mầm hoa mạnh, vì vậy khả năng phát triển của củ nhỏ hơn các giống khác.
- Sự ra hoa
Sự phân hóa hoa và số lượng mầm hoa chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện trướckhi trồng (chất lượng củ giống, điều kiện xử lí), nhưng tốc độ phát dục của nụ vàhoa lại chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện sau khi trồng, nếu sau khi trồng nhiệt độtrong nhà vườn vượt quá 30oC thì hoa sẽ mù, tức là tất cả các mầm hoa đều khô đi.Nhiệt độ 25 - 30oC sẽ làm thối nụ, tỉ lệ ra hoa chỉ đạt 21- 43%; ở 15 - 20oC tỉ lệ rahoa đạt tới >80% Nhị đực và nhị cái của lily cùng chín một lúc Thời gian quả chíntùy thuộc vào giống Giống ra hoa sớm thì cần khoảng 60 ngày, giống ra hoa trungbình cần khoảng 80-90 ngày, giống ra hoa muộn cần ít nhất tới 150 ngày Ánh sángmạnh tạo ra sự bại dục của nụ, đồng thời còn gây ra cháy lá, việc xử lí che nắng sẽgiảm thối nụ Ngược lại ánh sang yếu (đặc biệt là vào mùa Đông) cũng làm thối nụ
và ảnh hưởng đến chất lượng hoa Quả chín sau khi nở hoa được khoảng hai tháng.Khi quả có màu vàng, sẽ nứt ra, hạt có cánh vì vậy ở điều kiện tự nhiên có thểtruyền đi theo gió Sau khi thu hoạch quả, thân lá khô héo, lúc này ta có thể thuhoạch củ để làm giống
- Sự ngủ nghỉ của củ và biện pháp phá ngủ
Kĩ thuật quan trọng trong việc trồng hoa lily là phải phá ngủ củ Nếu trồng củchưa qua ngủ sẽ dẫn đến tỷ lệ nảy mầm thấp và thường xuất hiện hiện tượng hoamù Các giống thuộc dòng lai châu Á có thời gian ngủ nghỉ kéo dài từ 3 - 6 tháng
Trang 31Dùng nhiệt độ thấp để phá ngủ là biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay Nhìn chung cácgiống bảo quản lạnh 5oC sau 4 - 6 tuần là phá được ngủ nghỉ Nhưng cũng có một sốgiống như Connecticut cần 6 đến 8 tuần; giống Yellow Blage cần đến 8 tuần Một
số giống thuộc dòng lai phương Đông cần xử lí lâu hơn như StarGager, Blanca (ít nhất phải trên 10 tuần) Cùng một giống, việc xử lí lạnh càng lâu thì thờigian từ trồng đến ra hoa càng ngắn Từ đặc điểm này ta có thể xác định được thờigian ra hoa, đồng thời là xác định được thời gian trồng thích hợp
Casa-1.3.2.3 Yêu cầu sinh thái [12]
Nhiệt độ
Nói chung hoa lily là cây chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm,nhiệt độ thích hợp ban ngày là 20 - 25oC, ban đêm là 12oC Các giống lai phươngĐông thời kì đầu thích hợp với nhiệt độ ban ngày 25 - 28oC, ban đêm 18 - 20oC.Dưới 12oC cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù, thời gian đầu nhiệt độ thấp có lợicho ra rễ và sự phân hóa hoa
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lily, quantrọng nhất ảnh hưởng đến nảy mầm của hạt, sự phát dục của thân và sự sinh trưởngcủa lá Nhiệt độ ảnh hưởng tương đối lớn đến nảy mầm của hạt Xử lý củ giốngnhóm lily thơm ở nhiệt độ 45oC trong 5 tuần, có thể kích thích lá vươn dài, đốt dài
ra và nâng cao khả năng sinh trưởng của cây nhưng làm cho thân nhỏ hơn, giảm số
lá và nụ Từ khi củ nảy mầm khỏi mặt đất đến khi ra hoa thì tốc độ ra lá, độ dài củathân tương quan thuận với nhiệt độ của không khí Nhiệt độ đất ảnh hưởng đến sựsinh trưởng của rễ, nếu nhiệt độ đất từ 17 - 21oC có lợi cho sinh trưởng của rễ, gốc,nhưng nếu nhiệt độ xuống thấp từ 12 - 13oC hoặc cao hơn (27 - 28oC) thì rễ làmchậm sự phát triển của thân và lá Từ khi xuất hiện nụ đến khi ra hoa nhiệt độ chênhlệch ngày/đêm ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng của thân Nếu chênh lệch nhiệt độ
từ 0 đến 16oC thì độ cao của cây dao động từ 14,2 đến 27 cm Nhiệt độ còn là nhân
tố quan trọng chi phối sự phân hóa hoa và sự ra hoa Nhiệt độ và ánh sáng còn ảnhhưởng đến sự phát triển của củ, nhiệt độ thấp, thời gian chiếu sáng trong ngày dài
củ sẽ to hơn Vì vậy vào mùa đông mỗi ngày cần tăng thêm 4 giờ chiếu sáng, nâng
Trang 32chế độ chiếu sáng lên từ 16 - 24 giờ/ngày, có tác dụng làm cho cây thấp đi rõ rệtđồng thời tăng tỷ lệ ra hoa Chiếu sáng bổ sung ở nhiệt độ thích hợp (16 - 18oC) cóthể rút ngắn được thời gian ra hoa của tất cả các giống.
Nước
Đất quá khô hoặc quá nhiều nước đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dụccủa lily Thời kì đầu cây đều cần nước, thời kỳ ra hoa nhu cầu nước giảm bớt bởi vìnước nhiều củ dễ bị thối, rụng nụ Lily thích không khí ẩm ướt, độ ẩm thích hợpnhất là 80-85% Nếu ẩm độ biến động lớn dễ dẫn đến thối củ Cần chú ý là củ lilyrất mọng nước nên ngay sau khi trồng phải tiến hành tưới thật đẫm để không xảy rahiện tượng đất rút nước từ trong củ làm củ héo và sau này sinh trưởng kém
đủ sẽ dẫn đến thiếu các sắc tố Các giống thuộc giống lai châu Á và lily thơm yêu
Trang 33cầu độ pH thích hợp từ 6 - 7, giống thuộc nhóm phương Đông lại yêu cầu thấp hơn
pH từ 5,5 - 6,5
Dinh dưỡng
Lily yêu cầu mức độ phân bón cao nhất trong 3 tuần đầu kể từ khi trồng Tuynhiên, lúc cây ra rễ non dễ bị ngộ độc muối Muối trong đất do 3 nguồn là phân bón,nước tưới và hàm lượng dinh dưỡng của cây trồng vụ trước Vì vậy, để tránh tác hạicủa muối trong đất, trước khi trồng 6 tuần cần phân tích đất để biết hàm lượngmuối Lily cũng mẫn cảm với hợp chất chứa Clo, yêu cầu lượng Clo trong đấtkhông vượt quá 15mmol/l, nếu không sẽ hại rễ Lily cũng mẫn cảm với Flo, nếuhàm lượng Flo trong không khí cao dễ gây cháy lá Vì vậy không được bón phân cóchứa Flo như muối Flophotphat, mà phải bón loại phân có hàm lượng Flo thấp Đấtthiếu canxi, lily dễ bị vàng lá, lá phát triển không gọn
1.3.3 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam và trên thế giới [13]
1.3.3.1 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới
Năm 1997, Hà Lan có 356 ha lily, đứng thứ 2 trong tổng diện tích hoa cắttrồng bằng củ (sau Tuylíp) Sở dĩ hoa lily được phát triển mạnh trong những nămgần đây là do người Hà Lan đã tạo ra rất nhiều giống mới có hoa đẹp, chống chịusâu bệnh tốt, năng suất cao Ngoài ra còn do kỹ thuật điều khiển hoa phát triển nhanhcó thể ra hoa quanh năm Một nguyên nhân nữa là do có sự đầu tư cơ giới hoá trongviệc trồng và chăm sóc đã làm giảm giá thành, vì vậy đã làm hiệu quả kinh tế từ việctrồng hoa lily cao hơn hẳn trước đây
Hiện nay, Hà Lan mỗi năm trồng 18.000 ha hoa lily, trong đó xuất khẩu 70%.Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắt và cũng là một trong những nướctiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á (mỗi năm khoảng 500 triệu USD).Nhật cũng là nước sản xuất hoa lớn, diện tích sản xuất hoa năm 1992 của nước này
là 4.600 ha với 36.000 hộ, sản lượng đạt 900 tỷ Yên, trong đó hoa cúc chiếm vị tríthứ nhất, tiếp đó đến hoa hồng và hoa cẩm chướng, hoa lily đứng ở vị trí thứ 4,
trong đó có 2 giống lily là Star-Gager và Casa-Blanca không những được ưa
chuộng ở Nhật Bản mà còn nổi tiếng trên thế giới
Trang 34Những năm gần đây Hàn Quốc là một trong những nước phát triển nghề trồng hoamạnh, lượng xuất khẩu hoa của Hàn Quốc lớn nhất khu vực Đông Bắc Á Theo thống kênăm 2002, Hàn Quốc có 15.000 ha trồng hoa với 12.000 người tham gia, giá trị sảnlượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lần năm 1989, trong đó lily là loại cây có hiệu quả kinh
tế cao nhất trong số các loại hoa ở Hàn Quốc
Kênia là nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Phi và là nước xuất khẩu hoa tươilớn nhất châu lục này Hiện nay, nước này có tới 3 vạn trang trại với hơn 2 triệungười trồng hoa, chủ yếu là hoa cẩm chướng, hoa lily, hoa hồng Mỗi năm nước nàyxuất khẩu sang châu Âu 65 triệu USD trong đó riêng hoa lily chiếm 35%
Công nghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, trình độ canh táccòn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản; năm 2001 nước này đã có 490 ha trồnglily, trong đó xuất khẩu lily cắt cành đạt 7,4 triệu USD Hà Lan là nước có côngnghệ tạo giống và trồng lily tiên tiến nhất hiện nay Mỗi năm Hà Lan tạo ra từ 15-20giống mới, sản xuất 1.315 triệu củ giống lily, cung cấp cho 35 nước khác nhau trêntoàn thế giới Ngoài các nước kể trên còn nhiều nước trồng lily lớn khác như: Italia,Mỹ, Đức, Mêhicô, Côlômbia, Israen
1.3.3.2 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam [13]
Hoa lily mới được đưa vào trồng ở nước ta từ mấy năm gần đây ở Đà Lạt, HàNội, Sơn La Từ năm 2003 một số công ty TNHH kinh doanh hoa ở một số địaphương ở miền Bắc đã bắt đầu nhập nội giống của các công ty của Hà Lan, gián tiếpqua các công ty ở Côn Minh Trung Quốc Đà Lạt là nơi thử nghiệm trồng hoa lilyđầu tiên ở nước ta, và đã có hoa lily xuất khẩu sang Nhật, Indonesia, Malaisia vàCampuchia Ước tính hiện nay Đà Lạt có khoảng gần 5 ha canh tác trồng hoa lily cảbên ngoài trời và trong nhà Polifilm Riêng Mộc Châu năm 2009 trồng trên 6 hatrong nhà mái che Tại Sơn La, một số doanh nghiệp tư nhân đã nhập giống từ CônMinh Trung quốc trồng thử nghiệm hoa lily tại Mộc Châu, xã Ngọc Chiến huyệnMường La, cho thấy tỉnh Sơn La có nhiều vùng có thể phát triển tốt cây hoa ily đểphục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Kết quả trồng thử nghiệm ở một số địa
Trang 35phương cho thấy muốn trồng hoa lily có hiệu quả còn rất nhiều vấn đề cần giảiquyết trong các khâu kỹ thuật, cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Chỉ tính tại Hà Nội hoa lily được trồng hàng vạn cây tại Trung tâm nghiên cứuphát triển hoa – Viện Nghiên cứu rau quả Hà Nội Tại đây, trong sản xuất hoa lilychủ yếu mới chỉ dừng ở việc sử dụng phân bón gốc thông thường NPK của các công
ty cung ứng trên thị trường Theo đánh giá của nhiều tác giả, việc bổ sung dinhdưỡng thông qua lá sẽ giúp cây hấp thu nhanh các chất cần thiết trong giai đoạnphân nhánh, ra nụ và hoa
Nhu cầu thị trường về hoa nói chung và đặc biệt là hoa lily nói riêng ngàycàng tăng do loại hoa này có độ bền tương đối lâu và hương sắc quyến rũ Điều nàydẫn đến giá thành hoa lily thương phẩm vào dịp Tết Nguyên đán có giá từ 50.000-80.000 đồng/cành, đặc biệt dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam có lúc lên đến150.000đ/cành 5 tai, đem lại thu nhập cao cho người trồng hoa
Hiện nay ở Việt Nam trồng phổ biến một số giống lily sau (các giống này đãđược Viện Nghiên cứu Rau quả khảo nghiệm, kết luận phù hợp điều kiện Việt Nam):
- Dòng Lily thơm:
+ Giống Sorbonne (chu vi củ 14/16, 16/18, 18/20, >20cm): Cao 85-100cm, có3-7 hoa, hoa màu hồng nhạt, lá nhỏ, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày (giống đượccông nhận chính thức 5/2009)
+ Giống Acpulco (16/18, 18/20): Cao 95-110cm, có 4-7 hoa, hoa hồng đậm cóđốm chấm đỏ, lá to, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày (giống được công nhận tạmthời 5/2006)
+ Giống Tiber (16/18, 18/20): Cao 80-100cm, có 4-6 hoa, hoa hồng nhạt, lánhỏ, thời gian sinh trưởng 85-100 ngày (giống được công nhận tạm thời 5/2006)+ Giống Belladonna (16/18, 18/20): Cao 85-100cm, có 3-5 hoa, hoa màu vàng,
lá to, thời gian sinh trưởng 80-90 ngày
+ Giống Concador (16/18, 18/20): Cao 85 -90 cm, có 4 -7 hoa, hoa màu vàng,
lá to, thời gian sinh trưởng 82 -88 ngày
Trang 36+ Giống Curly (16/18): Cao 70-85cm, có 3-5 hoa, hoa màu hồng đậm, lá thuônnhọn, thời gian sinh trưởng 75-90 ngày.
- Dòng lily không thơm:
+ Giống Goden Tycoon (16/18): Cao 60-90cm, có 3-5 hoa, hoa màu vàngcam, lá to, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày
+ Giống Freya (14/16): Cao 60-90cm, có 3-4 hoa, hoa màu vàng chanh, lá to,thời gian sinh trưởng 65-70 ngày
(Tất cả các giống trên, Việt Nam và nhiều nước khác chưa sản xuất được màvẫn phải nhập từ Hà Lan)
1.3.4 Quy trình sản xuất hoa lily tại Việt Nam [11].
1.3.4.1 Thời vụ trồng
Đối với vùng Đồng bằng sông Hồng, miền Trung trồng chủ yếu 2 vụ chính: vụThu Đông T9 - T10 để thu hoạch vào dịp Tết, vụ Đông Xuân T10 - T12 để thuhoạch vào dịp 8/3 Đối với một số vùng như Mộc Châu, Mường La (Sơn La) và cácvùng có điều kiện khí hậu tương tự có thể trồng để thu hoạch quanh năm
Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của từng giống lily và điều kiện khí hậu củavùng trồng để chọn thời điểm trồng cho phù hợp Ví dụ đối với giống Sorbonne, đểthu hoa vào dịp tết thì thời điểm trồng thích hợp là:
- Vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Bắc Ninh…): 20/9-27/9 (âm lịch)
- Vùng miền núi phía Bắc (Mộc Châu, Sa Pa…): 5/9-12/9 (âm lịch)
- Vùng miền Trung (từ Thanh Hóa trở vào Huế…): 25/9-2/10 (âm lịch)
1.3.4.2 Chuẩn bị nhà che
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế, chúng ta nên trồng lily trong nhàcó mái che mưa, che giảm ánh sáng: có thể dùng nhà lưới hiện đại, nhà lưới đơngiản hoặc nhà che tạm tuỳ theo điều kiện canh tác
1.3.4.3 Chuẩn bị đất/giá thể trồng lily
Yêu cầu chung của đất/giá thể trồng lily:
+ Tơi xốp, thoát nước tốt, không chứa mầm bệnh hại
+ Độ dẫn điện dung dịch đất: EC=0,5-0,8 mS/cm
Trang 37+ pH: Đối với nhóm lily thơm pH=5,5-6,5; Đối với nhóm lily không thơmpH=6,0-7,0.
a Đất trồng lily (trường hợp trồng trên luống):
Tốt nhất là nên trồng trên chân đất luân canh với lúa nước hoặc cây ngũ cốc,không trồng trên chân đất vụ trước trồng cây cùng họ (hành, tỏi ) hoặc trên chânđất vụ trước trồng loại cây bón nhiều phân, phun nhiều thuốc phòng trừ sâu bệnh(hoa đồng tiền, hoa cúc, rau màu ) Nếu trồng ở vùng đất bị nhiễm mặn cần trồngtrên chậu có giá thể
- Làm đất:
+ Đất được cày bừa tơi, phẳng, sạch cỏ rác
+ Khử trùng đất: Dùng Foocmalin 40% pha theo tỷ lệ 1/80 – 1/100 lần; hoặcdùng Viben C 50BTN pha theo tỷ lệ 1/400 lần, phun vào đất với lượng 250lít/ha.Sau đó dùng nilon phủ kín mặt đất 5-7 ngày, phơi đất 10-15 ngày trồng là được.Nếu không có điều kiện khử trùng như trên thì ngâm đất bằng nước không bị ônhiễm (thời gian ngâm đất từ 24-48h và tháo sạch nước đi)
+ Bón lót: Có thể bón lót bằng phân chuồng hoai mục: 0,5m3/100m2, trộn đềuphân với đất trước khi trồng
- Lên luống: Mặt luống rộng 1,0-1,2m; cao 25-30cm, rãnh luống 30-35cm
b Giá thể trồng lily (trường hợp trồng trong chậu)
- Giá thể tốt nhất trồng lily là: Đất: xơ dừa (mùn cưa gỗ tạp): phân chuồng(hoai mục) với tỷ lệ 2:2:1 (về thể tích)
- Trước khi trồng, giá thể phải được xử lý tiêu độc Dùng Foocmalin 40% phatheo tỷ lệ 1/80 – 1/100 lần; hoặc dùng Viben C 50BTN pha theo tỷ lệ 1/400 lần,phun hoặc tưới vào giá thể, trộn đều, phủ kín nilon ủ từ 3- 5 ngày, sau 1-2 ngày làtrồng được
1.3.4.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1.3.4.4.1 Chọn củ giống
Kích cỡ củ giống đem trồng: có chu vi là 14/16 cm, 16/18cm, 18/20cm hoặc
>20cm Củ có kích cỡ càng lớn thì càng nhiều hoa nhưng dễ bị bệnh cháy lá
Trang 38Ví dụ: đối với giống Sorbonne:
+ Củ 14/16: cây cao 60-70cm, ít hoa (2-3 hoa/cây), không bị cháy lá
+ Củ 16/18: cây cao 80-90cm, ít hoa (3-5 hoa/cây), không bị cháy lá
+ Củ 18/20: cây cao 90-100, nhiều hoa (5-7 hoa/cây), ít bị cháy lá
+ Củ > 20cm: cây cao 100-110, nhiều hoa (6-9 hoa/cây), cháy lá nhiều
1.3.4.4.2 Kỹ thuật trồng
a Xử lý nấm bệnh củ giống trước khi trồng:
- Dùng Daconil 75WP hoặc Rhidomil Gold 68%WP (pha tỷ lệ 20-25g/10 lítnước), ngâm củ 8-10 phút, sau đó vớt củ, để ráo rồi đem trồng
- Ngoài ra, có thể áp dụng phương pháp xử lý mát củ giống trước khi trồngbằng cách: xếp củ lần lượt ra khay nhựa có phủ giá thể (có sẵn trong khay củ nhậpvề hoặc xơ dừa), tưới ẩm, để vào kho lạnh (10o-12oC) trong 15 ngày giúp cây sinhtrưởng, phát triển thuận lợi, giảm hiện tượng cháy lá
b Kỹ thuật trồng
Đối với trồng đất:
- Lên luống: mặt luống rộng 1m rạch 5 hàng; rộng 1,2m rạch 6 hàng; rãnh sâu10-12cm
- Mật độ trồng: căn cứ vào kích cỡ củ Ví dụ giống Sorbonne (18/20cm) trồng
25 củ/m2 (khoảng cách 20 x 20cm)
- Trồng xong lấp đất dày 8-10cm, tưới đẫm nước (để nước ngấm cả phần củ)
Đối với trồng chậu
- Dùng chậu nhựa hoặc chậu sứ có kích thước, kiểu dáng khác nhau Chậu cóđường kính 26cm trồng 3 củ/chậu; đường kính 35cm trồng 5 củ/chậu; chiều caochậu tối thiểu là 30cm
- Cách trồng:
+ Cho giá thể vào chậu (dày tối thiểu 5cm), đặt mầm củ quay ra phía ngoàithành chậu để khi cây mọc lên sẽ thẳng và phân bố đều trên mặt chậu, sau đó phủgiá thể dày 8-10cm (tính từ đỉnh củ) Khi trồng xong phải tưới nước đảm bảo độ ẩmcho củ và giá thể
Trang 39+ Xếp chậu với chậu cách nhau 10-15cm (tính từ mép chậu).
1.3.4.4.3 Kiểm tra cây sau trồng
- Sau trồng 10-12 ngày, bới đất ở phần gốc của một số cây để kiểm tra sự pháttriển của rễ Nếu thấy rễ trắng, ra đều xung quanh gốc là cây sinh trưởng bìnhthường; ngược lại cần phải xem xét tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp khắcphục ngay lập tức (lúc này cần có sự tư vấn của các nhà khoa học)
- Đối với trồng chậu, nên kiểm tra để bổ sung giá thể nếu thấy rễ thân bị nhôlên khỏi mặt giá thể
1.3.4.4.4 Kỹ thuật tưới nước
- Luôn phải giữ ẩm cho đất trong suốt quá trình trồng
- Tưới cây ở phần gốc, tránh làm lá và nụ bị ướt
- Nên sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho lily với chế độ tưới 30 phút/ngày
- Kinh nghiệm kiểm tra lượng nước tưới vừa đủ: Bóp chặt 1 nắm đất sau khitưới, không thấy nước rỉ ra ngoài tay, đất nắm thành cục, khi gõ nhẹ vào nắm đất sẽbị vỡ ra
1.3.4.4.5 Che phủ sau trồng
- Che phủ mặt luống: sau khi trồng xong dùng trấu hoặc rơm dạ phủ lên mặt luống
- Che lưới đen: dùng 2 lớp lưới đen che cách mặt luống (chậu) từ 2,0-2,5m.Sau 15-20 ngày bỏ 1 lớp lưới đen ra Khi cây bắt đầu xuất hiện nụ thì kéo lớp lướiđen còn lại ra Những ngày nắng nóng thì che lưới đen lại
1.3.4.4.6 Kỹ thuật bón phân
- Sau trồng 3 tuần (cây lily cao 15-20cm) tiến hành bón phân thúc
+ Loại phân bón thúc chính thường dùng là NPK Đầu trâu (13-13-13+TE), ởmỗi giai đoạn sinh trưởng của cây có bổ sung thêm phân đạm, lân, kali khác nhau,nên hòa phân với nước để tưới
- Lần 1: sau trồng 3 tuần: dùng NPK Đầu trâu (13-13-13+TE) lượng dùng 2kg/100m2
- Lần 2: bón sau lần 1 từ 7-10 ngày Lượng bón cho 100m2: 0,2kg đạm Urê +3kg NPK Đầu Trâu
Trang 40- Lần 3: khi cây sắp xuất hiện nụ Lượng bón cho 100m2: 0,3kg đạm Urê + 4kgNPK Đầu Trâu + 0,5kg lân Lâm Thao + 1kg Canxi Nitrat.
- Lần 4: khi đang xuất hiện nụ hoa Lượng bón cho 100m2: 0,2kg đạm Urê +4kg NPK Đầu Trâu + 0,5kg lân Lâm Thao + 0,3kg kali clorua + 1kg Canxi Nitrat
- Lần 5: sau lần 4 từ 7-10 ngày Lượng bón cho 100m2: 4kg NPK Đầu trâu +0,5kg lân Lâm Thao+ 0,3kg kali clorua
- Lần 6: sau lần 5 từ 7-10 ngày Lượng bón cho 100m2: 4kg NPK Đầu Trâu +0,4kg lân Lâm Thao + 0,4kg kali clorua
+ Ngoài ra, muốn nâng cao chất lượng hoa cần phun một số phân bón lá vàthuốc kích thích sinh trưởng như: Antonix, Komix, Đầu trâu (502, 901, 902) Phunsau trồng 15-20 ngày, phun định lỳ 5-7 ngày/lần
1.3.4.4.7 Điều khiển sinh trưởng cho lily
- Biện pháp rút ngắn thời gian sinh trưởng cho hoa nở sớm: Khi đã ấn địnhthời điểm thu hoạch, nếu trước khi thu hoạch 35 ngày, nhiệt độ dưới 18oC, chiều dài
nụ hoa vẫn nhỏ hơn 3cm, có thể dùng nilon quây kín và thắp điện vào ban đêm hoặcphun chế phẩm Đầu trâu 902 (có tác dụng rút ngắn thời gian sinh trưởng của lily từ3-6 ngày)
- Biện pháp kéo dài thời gian sinh trưởng cho hoa nở muộn: muốn kéo dài thờigian sinh trưởng của lily cần tổng hợp các biện pháp hạ nhiệt độ, giảm ánh sángbằng cách che nắng, hạn chế tưới nước Nếu phát hiện hoa có khả năng nở sớmhơn so với thời điểm tiêu thụ thì có thể xếp các chậu hoa vào trong kho lạnh (12-
15oC) trước khi tiêu thụ
1.3.4.5 Phòng trừ sâu bệnh
1.3.4.5.1 Sâu hại
Rệp: chủ yếu là rệp xanh đen, rệp bông.
- Triệu chứng: Thường làm cho cây còi cọc, ngọn quăn queo, nụ bị thui, hoakhông nở được hoặc dị dạng
- Phòng trừ: Sử dụng Karate 2,5 EC liều lượng 10 - 15 ml/bình 10lít, hoặcSupracide 40ND liều lượng 10 – 15 ml/bình 10 lít, Actara 25WG liều lượng 25-30g/ha