Các tác phẩm văn họcnghệ thuật về Hà Nội cần được nhìn nhận ở bản chất diễn ngôn- tức là mỗihình ảnh Hà Nội được kiến tạo nên đều nhằm một mục đích nào đó, chịu sựchi phối của một tư tưở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG LAN HƯƠNG
HÀ NỘI NHƯ NHỮNG DIỄN NGÔN
(KHẢO SÁT TRONG VĂN HỌC MIỀN BẮC
VIỆT NAM 1945- 1975)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS Trần Đình Sử
Trang 2Lêi c¶m ¬n
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS Trần Đình Sử đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ, động viên giúp đỡ tôi vững bước trên con đường khoa học
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Hoàng Lan Hương
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Mục đích nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc luận văn 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 DIỄN NGÔN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1945- 1975- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1 Thành phố- một thực thể diễn ngôn 6
1.1 Thế nào là một thành phố? 7
1.2 Diễn ngôn- những vấn đề chung 19
1.2.1 Bước ngoặt diễn ngôn 20
1.2.2 Khái niệm diễn ngôn 26
1.2.3 Đặc điểm, tính chất của diễn ngôn 29
1.2.4 Những yếu tố tác động đến quá trình tạo lập và duy trì một diễn ngôn 33
1.3 Thành phố trong văn học: bản chất diễn ngôn 47
2 Diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam 1945- 1975 .57
2.1 Diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc giai đoạn 1945- 1975 trong dòng chảy diễn ngôn về Hà Nội trong văn học Việt Nam 57
2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam 1945- 1975 63
2.2.1 Bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội: môi trường tạo lập diễn ngôn 63 2.2.2 Chủ thể tạo lập diễn ngôn 69
Tiểu kết chương 1 73
Trang 4CHƯƠNG 2 THỦ ĐÔ/ ĐÔ THỊ- HAI DIỄN NGÔN ĐỘC LẬP TƯƠNG
TRANH 74
1 Diễn ngôn thủ đô- dòng mạch chính trong diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 74
1.1 Ngữ cảnh tạo sinh diễn ngôn thủ đô trong văn học miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 74
1.2 Chủ thể của diễn ngôn thủ đô trong văn học miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 80
1.3 Đặc điểm của diễn ngôn thủ đô 84
2 Diễn ngôn đô thị- những dòng ngầm trong diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 86
2.1 Bối cảnh và chủ thể của diễn ngôn đô thị 86
2.2 Đặc điểm của diễn ngôn đô thị 87
3 Sự độc lập, tương tranh tạo nên giá trị 95
Tiểu kết chương 2 99
CHƯƠNG 3 100
THỦ ĐÔ VÀ ĐÔ THỊ- KHI NHỮNG DIỄN NGÔN TÌM ĐƯỢC SỰ HÒA GIẢI 100
1 Hà Nội- hào hùng và hào hoa 101
2 Hà Nội- mất mát và hồi sinh 106
3 Hà Nội- “lạc” trong mê cung của cái “tôi” 110
4 Hà Nội- bình dị và kiêu hãnh 114
Tiểu kết chương 3 119
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cho đến nay, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại cả một dòng vănhọc nghệ thuật về thành phố Bởi sự hiện diện của thành phố trong tác phẩmnghệ thuật không còn đơn giản chỉ là phông nền, bối cảnh cho những câuchuyện, những tâm tình mà nó chính là “nhân vật chính” của những tác phẩm
ấy Sự hiện diện của thành phố trong văn chương nghệ thuật cũng không đơnthuần là sự chuyển hóa hình ảnh thành phố vật chất vào tác phẩm mà quantrọng hơn, hình ảnh thành phố được thể hiện như thế nào, bản thân nó đã làmột ý tưởng Trong những tác phẩm đầu tiên về thành phố ở phương Tây,thành phố đã hiện lên như một ý niệm tinh thần hơn là một thực thể vật chất.Người Germain đã xây dựng hình ảnh Riga như một ngụy tạo văn hóa phục vụcho mục đích mở rộng lãnh thổ của mình Trong sách Khải huyền của ThánhAugustine, thành phố hiện lên như là một đối cực của thành phố trên cao- thànhphố của Chúa- trật tự hoàn hảo, vì thế thành phố của con người là một biểutượng tha hóa, cái bất toàn Thànnh phố như là những huyễn tưởng được xâydựng trong Utopia của Thomas Moore hay Thành phố mặt trời của ThomasCampanella Paris thường xuyên hiện diện với huyền thoại về kinh đô ánhsáng, Rome với huyền thoại về thành phố tình yêu… Do những khác biệt vềđiều kiện phát triển kinh tế xã hội nên những thành phố ở châu Á xuất hiệnmuôn hơn và ít nhiều chịu ảnh hưởng từ phương Tây Tuy kém về bề dày lịch
sử nhưng những thành phố châu Á vẫn tạo dựng một dòng mạch riêng Châu Á
có những dòng văn học nghệ thuật về Bắc Kinh như là thành phố của giấc mơ
Xã hội chủ nghĩa, Hồng Kông như là một thành phố quốc tế… Hà Nội, với vịtrí của một thủ đô 1000 năm tuổi, cũng có một dòng mạch riêng viết về nó,khởi đầu từ năm 1010, liên tục phát triển, tổng hợp, rẽ nhánh cho đến tận ngày
Trang 6hôm nay Khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu các tác phẩmvăn chương về Hà Nội như là một phần của dòng văn học thành phố.
Khi tiếp cận dòng văn chương viết về Hà Nội, chúng tôi nhận thấy mộthình ảnh Hà Nội không cố định và không thuần nhất ngay tại một thời điểm
Vì thế có thể thấy rằng hình ảnh Hà Nội trong văn học nghệ thuật không thểhiểu đơn giản là sự phản ánh đời sống vào tác phẩm Các tác phẩm văn họcnghệ thuật về Hà Nội cần được nhìn nhận ở bản chất diễn ngôn- tức là mỗihình ảnh Hà Nội được kiến tạo nên đều nhằm một mục đích nào đó, chịu sựchi phối của một tư tưởng hệ, một mĩ cảm nào đó, thậm chí đi theo một sốcông thức biểu đạt nhất định… Hà Nội trong văn học nghệ thuật là một kiếntạo ngôn ngữ với nhiều ảo tưởng, nhiều tham vọng chứ không phải là mộtthực thể trong suốt có thể quy chiếu về thành phố thực tại như ta vẫn tưởng
Ba mươi năm 1945- 1975 là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dântộc Bão táp chiến tranh đã cuốn vào trong nó cuộc đời của những cá nhân,lịch sử của những gia đình và cả lịch sử của những thành phố như Hà Nội Bamươi năm khốc liệt ấy không chỉ để lại dấu ấn trên cảnh quan của thành phốvới sự hiện diện của những lỗ châu mai, của những hầm trú ẩn, những mảngtường lở loét vì bom đạn chiến tranh, những tượng đài quyết tử… mà còn đểlại dấu ấn trong văn học nghệ thuật và vẫn còn hằn sâu trong kí ức của nhữngngười Hà Nội hôm qua và hôm nay Thời đại này đã sản sinh ra những cảmthức hêt sức mới mẻ, trước đây chưa từng có về chốn kinh kì văn hiến, nơi đôthị phồn hoa và tạo dựng cho thành phố này một diện mạo tinh thần mới
Trang 7văn hóa phong tục… Người ta cũng đã nghiên cứu về Hà Nội, con người HàNội, bản sắc văn hoá Hà Nội trong văn học nghệ thuật, tuy nhiên nhữngnghiên cứu này chủ yếu mang tính chất mô tả, quy chiếu về diện mạo củathành phố thực chứ không nhìn nó như một thực thể tinh thần, không lí giảinguyên nhân hay cơ chế thẩm mĩ nào dẫn đến sự kiến tạo hình ảnh Hà Nộiqua các thời kì như ta thấy Trong số các nghiên cứu về Hà Nội trong văn họcnghệ thuật, đáng kể nhất là hội thảo Về bản sắc văn hóa Hà Nội trong văn họcnghệ thuật thế kỉ XX do trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Tuynhiên trong hội thảo này cũng chỉ có duy nhất bài tham luận “Nghệ thuật vàthành phố- Chân dung Hà Nội trong mắt nghệ sĩ Việt Nam” của TS NataliaKraevskaya và Lisa Drummond “xem xét những xu hướng trong việc diễngiải và khái niệm hóa Hà Nội như một chủ thể nghệ thuật” Các bài tham luậnkhác hầu hết có tính chất khái quát những đặc điểm của Hà Nội được thể hiệnqua sáng tác, nghĩa là nhìn nhận nó như là một đối tượng phản ánh của nghệthuật và quan tâm đến cách thức xử lí những hình ảnh đó bằng phương tiệncủa các loại hình nghệ thuật.
Trong khóa luận tốt nghiệp Viết lại Hà Nội: diễn ngôn về thành phố
trong sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Bình Phương, chúng tôi cũng
đã bước đầu xác lập Hà Nội với tư cách một văn bản liên tục được viết lạitheo thời gian Các diễn ngôn song song tồn tại với nhau, thay thế nhau, giaothoa nhau trong từng thời kì tạo nên diện mạo Hà Nội trong văn học nghệthuật Trong dòng mạch đó chúng tôi định vị và nhận diện diễn ngôn về HàNội trong sáng tác của hai nhà văn Tuy nhiên đây chỉ là những bước đi banđầu, chúng tôi cảm thấy cần phải có sự nghiên cứu sâu sắc hơn đối với diễnngôn về Hà Nội trong từng giai đoạn, đặc biệt là một giai đoạn có nhiềunhánh diễn ngôn đa dạng, phong phú như giai đoạn 1945- 1975
Trang 82.2 Lịch sử nghiên cứu diễn ngôn về Hà Nội trong văn học giai đoạn 1945- 1975
Giai đoạn 1945- 1975 là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình vănhọc Việt Nam thế kỉ XX, vì thế nó nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhànghiên cứu văn học, nghệ thuật Tuy nhiên, do những đặc trưng về hoàn cảnhlịch sử xã hội, chủ trương văn hóa văn nghệ đại chúng, thi pháp thời đại màcác nhà nghiên cứu chưa chú trọng đến nghiên cứu diễn ngôn về các vùngmiền trong văn học, nhất là diễn ngôn về thành phố
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các diễn ngôn về Hà Nội trongvăn học miền Bắc Việt Nam 1945- 1975
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát các diễn ngôn về Hà Nội tronggiai đoạn từ 1945 đên 1975, tập trung khai thác những diễn ngôn văn chươngtiêu biểu ở miền Bắc (bao gồm các thể loại văn xuôi, thơ, kí)
5 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này là:
- Thứ nhất: nhận diện các diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miềnBắc Việt Nam 1945- 1975 trong dòng mạch các diễn ngôn liên tục viết tiếp vàviết lại về Hà Nội trong hơn 1000 năm qua
- Thứ hai: chỉ ra được những công thức diễn ngôn tiêu biểu, cơ chếkiến tạo và giá trị của những công thức diễn ngôn này trong việc kiến tạo hìnhảnh Hà Nội trong văn học nghệ thuật cũng như trong tâm thức con người
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu sự kiến tạo hình ảnh
Hà Nội giai đoạn 1945- 1975 trên cơ sở kết hợp các diễn ngôn lịch sử, văn
Trang 9hóa, các diễn ngôn văn học, mỹ thuật, âm nhạc , điện ảnh, các nghiên cứu trênlĩnh vực kiến trúc, quy hoạch đô thị.
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích văn bản và liên văn bản
7 Cấu trúc luận văn
Phần nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương I: Diễn ngôn về Hà Nội giai đoạn 1945- 1975- những vấn đề chungChương II: Thủ đô/ đô thị- hai diễn ngôn độc lập, tương tranh
Chương III: Thủ đô và đô thị- khi các diễn ngôn tìm được con đườnghòa giải
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1 DIỄN NGÔN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1945- 1975- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Thành phố- một thực thể diễn ngôn
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự ra đời của những thành phố đầu tiên
từ cách đây mấy nghìn năm Từ những thành bang như Aten của Hy Lạp cổđại đến những thành thị trung đại, từ những thành phố cảng, những côngxưởng lớn của thời kì Cách mạng công nghiệp cho đến những thành phố quốc
tế ngày nay, thành phố đã đi một hành trình dài từ lúc khai sinh, liên tục pháttriển và trở nên định hình trong dáng vẻ cũng như trong ý niệm của con người
về nó Tất nhiên, sự định hình mà chúng tôi nhắc đến ở đây chỉ mang tínhchất tương đối, bởi sự phát triển năng động của đời sống khiến cho diện mạocủa các thành phố không ngừng đổi thay từng ngày và theo những quy luậtnhận thức và tâm lý, cách mà chúng ta nghĩ về thành phố hôm nay cũngchẳng bao giờ trọn vẹn là những ấn tượng, cảm nghĩ của ngày hôm qua Tuynhiên, chúng ta cần phải thừa nhận rằng, quá trình phát triển dài lâu đã khiếncho sự phân định giữa thành phố với những miền không gian khác trở nên hếtsức rõ ràng Không còn khó khăn hay tranh cãi khi chúng ta gọi một khônggian là thành phố hay xác định nó không phải thành phố bởi chúng ta đangcùng chia sẻ một ý niệm chung, cùng đồng thuận trong một cách hiểu nhấtđịnh về thành phố “Thành phố là gì?” hiển nhiên là câu hỏi mà bất cứ ai cũngtrả lời được, thậm chí có thể trả lời rất nhanh chóng và dễ dàng Nó đã quá đỗiquen thuộc trong sự quan sát, trải nghiệm và suy nghĩ của chúng ta Xác lậplại định nghĩa về thành phố dường như đã trở thành một việc không cần thiết.Tuy nhiên chúng tôi sẽ bắt đầu từ chính điểm dường như không cần thiết này
để khám phá diện mạo và bản chất của thành phố cũng như sự xuất hiện của
Trang 11thành phố trong văn học với tư cách diễn ngôn thay vì chỉ là bối cảnh, phôngnền cho những truyện kể.
1.1 Thế nào là một thành phố?
Sở dĩ chúng ta có thể dễ dàng đưa ra một định nghĩa về thành phố bởi
nó không phải là một ý niệm trừu tượng, một sản phẩm thuần túy của suytưởng Thành phố là một thực thể vật chất đang hiện hữu ngay bên cạnhchúng ta, thậm chí nó chính là không gian bao bọc sự tồn tại của chúng ta, làcuộc sống thường ngày, gắn bó trong những thói quen, trong từng bước đi,từng hơi thở Trong từng tháng ngày đang sống, ta vừa cảm nhận về thànhphố mơ hồ trong cảm giác vừa sống động trong sự tiếp xúc của tất cả các giácquan Thành phố không phải là những hình dung xa xôi hay là một miềntưởng tượng, thành phố ở rất gần và rất thực, là những hình ảnh mắt ta trôngthấy, những âm thanh tai ta nghe thấy, những cảm giác chật chội, nóng bứchay rộng dài, thênh thang, bay bổng hàng ngày đọng lại thành những ấntượng, lưu lại trong trí nhớ Thành phố thực và gần gũi như khung cửa sổ, máihiên, hàng cây trước ngõ, những con đường, những nếp nhà những mái phố,những ngã ba… Nhưng cũng chính sự gắn bó giản dị và thân thuộc như hơithở thậm chí như máu thịt ấy đã khiến cho cách mà chúng ta nghĩ và địnhnghĩa về thành phố có phần đơn giản
Trong cách hiểu phổ biến nhất, thành phố thường được định nghĩa làmột khu vực tập trung dân cư, được xác định bởi một diện tích giới hạn, quy
mô dân số nhất định, các hoạt động kinh tế, chính trị văn hóa xã hội đặc trưng
và các công trình cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại… Các nhà xãhội học và kinh tế học từ lâu đã đưa ra một hệ thống các tiêu chí và các con sốlàm tiêu chuẩn đánh giá cũng như phân cấp đô thị Các con số này không cốđịnh mà liên tục biến đổi theo thời gian, tương ứng với trình độ phát triểnkinh tế xã hội cũng như tốc độ đô thị hóa Tuy nhiên chúng ta có thể thấy rằng
Trang 12về cơ bản những tiêu chí xác định một vùng không gian có phải là thành phốhay không dường như không có nhiều thay đổi Thành phố vẫn được nhậndiện rõ nét nhất trong sự đối sánh với không gian trái ngược là nông thôn.Trong sự phân biệt muôn thuở này, thành thị và nông thôn luôn là hai đối cực.Nông thôn luôn được nhắc đến là miền không gian rộng lớn, dân cư thưa thớt,nhắc đến không gian nông thôn là nhắc đến sự thoáng đãng và khoáng đạt.Trong khi đó, dù diện tích thường được đo bằng những con số rất lớn nhưngkhông gian đô thị chưa bao giờ thôi đem đến cảm giác chật chội cho những cưdân của nó Cho dù diện tích có được mở rộng đến đâu thì hình như vẫn cứ làchưa đủ so với quy mô dân số ngày càng phình to nơi đô thị Nông thôn làkhông gian liền khối Sự phân cắt không gian duy nhất hiện diện trong hìnhảnh con đường làng Đây là trục giao thông chính nối hai nửa đặc trưng củakhông gian nông thôn: không gian sản xuất (nông trại, cánh đồng) và khônggian cư trú (xóm làng) Trong khi đó, thành phố liên tục bị phân cắt thành cácmảng không gian chức năng hết sức đa dạng: không gian cư trú, không gianlàm việc, không gian của các dịch vụ y tế, thể thao, mua sắm, giải trí…Xengiữa những mảnh vỡ không gian đó là hệ thống giao thông phức tạp Nếu như
ở nông thôn chỉ có một con đường duy nhất, thằng tắp ít những ngã rẽ cắtngang thì ở thành thị, đường phố tạo thành một mê cung chằng chịt nhữngphố những đường, những ngõ nhỏ quanh co sâu hun hút và chúng lại có khảnăng vô tận trong việc kết nối những con đường lại với nhau… Không ai bịlạc trên những con đường nông thôn trong khi đó là cảm giác thường trực ởchốn thị thành, ta liên tục bị đẩy vào tình huống lựa chọn, chỉ cần một chút lơđãng là ngay lập tức con người bị rơi vào những miền không gian xa lạ, loayhoay xác định phương hướng để tìm về cảm giác quen Những ngôi nhà ởnông thôn thường nổi bật ở sự mộc mạc và giản dị, các công trình kiến trúcthường không quá cao, về cơ bản là phù hợp với công năng sử dụng cũng như
Trang 13hài hòa với không gian xung quanh Trong khi đó thị thành trưng ra một diệnmạo lộng lẫy xa hoa với những công trình kiến trúc bề thế, kiểu cách và hếtsức cầu kì Đó là những khối nhà cao tầng với cửa kính, đèn gương sángloáng, những tòa nhà chọc trời cao ngất, thậm chí vượt khỏi tầm mắt ngướclên Diện mạo thành phố chia thành những mảng đầy màu sắc và kiểu dáng:những mảng kiến trúc phương Đông xen giữa mảng kiến trúc phương Tây,những công trình hiện diện như biểu tượng của sự giao thoa văn hóa bên cạnhnhững công trình mang dấu ấn truyền thống hay sừng sững những biểu tượngcủa nền văn mình toàn cầu… Những mảng khối ấy đặt bên cạnh nhau, tươngtác với nhau đem đến cho thành phố một chân dung liên tục biến ảo như nhìnqua chiếc kính vạn hoa Và nếu như nông thôn đem đến cho người ta ấn tượng
về màu xanh của bầu trời, vẻ tươi non của cây cối, sự trong trẻo trong màuvàng của nắng mai, sự mộc mạc trong màu nâu của đất…- những màu sắcgiản dị và thuần phác thì thành phố lại để lại một ấn tượng khác hẳn Thànhphố là một bảng màu mà chúng ta sẽ thất bại nếu như cố gắng xác định sốlượng màu sắc Nó là một hòa sắc, ở đó các màu sắc đan xen trộn lẫn vàonhau làm nên vẻ rực rỡ ban ngày và lại càng thêm lung linh diễm ảo khi phố
sá lên đèn Đời sống yên bình ở làng quê ngàn đời gắn với hoạt động sản xuấtnông nghiệp còn thành phố đặc trưng ở các hoạt động sản xuất công nghiệp
và thương mại Những thành phố đầu tiên ra đời trên thế giới gắn với sự pháttriển của thương mại, buôn bán trao đổi hang hóa giữa các thành bang cổ đại.Những thành phố lớn nhất thời trung đại đều là những thành phố cảng nhưVenice (Italia), Macxay (Pháp)… nơi hoạt động trao đổi hàng hóa đã vượt rangoài lãnh thổ một quốc gia để kết nối nhiều quốc gia với nhau Từ nhữngthành phố cảng này, những con thuyền khám phá đã nhổ neo đưa ngườiphương Tây đến những miền đất mới- nơi sẽ trở thành vùng nguyên liệu mới,thị trường mới và về sau còn là nơi cư trú mới của họ Thế kỉ XVII, ở Việt
Trang 14Nam cũng đã xuất hiện những đô thị lớn mà dấu ấn của nó còn để lại trongnhững câu ca dân gian như “Thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố Hiến” Kinh thànhThăng Long thế kỉ XVII là nơi có cảng đường sông lớn nhất ở miền Bắc, hoạtđộng buôn bán trên bến dưới thuyền vô cùng tấp nập, thậm chí ấn tượng về sựsầm uất ấy còn được ghi lại trong những trang bút kí của những nhà du hànhchâu Âu đến Bắc kì lúc bấy giờ Đương thời, ở miền Trung có đô thị cổ Hội
An là nơi thu hút rất nhiều thương gia Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Anh,Pháp, Hà Lan… Thời kì Cách mạng công nghiệp làm thay đổi toàn bộ diệnmạo nền sản xuất châu Âu nói riêng và thế giới nói chung, những thành phốlớn là những thành phố công nghiệp với hình ảnh đặc trưng là những nhàmáy, những công xưởng lớn với hệ thống máy móc hiện đại… Cho đến naybước chuyển quan trọng nhất trong quá trình đô thị hóa trên đất nước chúng tavẫn là sự thay thế hoạt động sản xuất nông nghiệp bằng sản xuất công nghiệp,
sự thay thế có thể nhận thấy rất dễ dàng trên diện mạo: những con đường đấtđược thay bằng đường nhựa, đường rộng thêm ra, tăng cường chiếu sáng…,trên mảnh đất từng là đồng ruộng mọc lên những dãy nhà, những cột ốngkhói, những biển hiệu của các khu công nghiệp, khu chế xuất, những dãy cộtđiện và đèn cao áp thay thế ấn tượng về những hàng cây xanh rì rào trongbuổi chiều quê lộng gió… Thành phố hôm nay, thành phố của thời kì toàn cầuhóa trưng ra lộng lẫy những trung tâm thương mại sầm uất, những tòa nhàchọc trời, đâu đâu người ta cũng bắt gặp hệ thống biển hiệu của những thươnghiệu toàn cầu Thành phố của hôm nay không chỉ sống trong giấc mơ nhỏ bécủa mình mà ôm mộng trở thành những thành phố quốc tế, biểu tượng củatoàn thế giới…
Sự nhận diện một thành phố có thể dựa trên những tiêu chí tổng thể, vĩ
mô, đôi khi có thể chỉ bắt đầu từ cảm nhận hết sức quen thuộc giữa đờithường Thành phố- đó là nơi ta hàng ngày lội giữa biển người và mắc kẹt
Trang 15giữa dòng xe cộ vào giờ cao điểm, nơi cảm giác ngột ngạt khó thở lơ lửnggiữa khói bụi của phương tiện và hơi nóng hầm hập tỏa ra từ mặt đường vànhững tòa nhà xây dựng bằng bê tông cao ngất… Thành phố- đó là nơi tầmmắt liên tục bị giới hạn bởi các công trình, đôi mắt trong veo tìm kiếm mãi
mà vẫn không sao chạm được đến chân trời, nơi đôi tai luôn bị đặt giữa mộtdòng âm thanh hỗn loạn của tiếng nhạc ầm ĩ vọng ra từ các cửa hàng, tiếngcòi xe nhốn nháo, tiếng người nói léo xéo, tiếng máy móc ầm ì…và tuyệtvọng trong nỗ lực thanh lọc lấy những thanh âm trong trẻo và thuần khiết nhấtcủa đời sống như tiếng chim hót, tiếng gió vi vút, âm thanh rì rào của nhữnghang cây… Đôi khi ánh mắt tìm thấy bầu trời cao rộng nhất là bầu trời in hình
rõ rệt trên những mảng kính lớn của các tòa nhà chọc trời và đôi khi âm thanhtrong trẻo nhất lại là tiếng hót của một chú chim cảnh bị nhốt trong lồng trênban công của một ngôi nhà trong ngõ sâu hun hút- thứ âm thanh khắc khoảihướng về tự do…
Đó là thành phố vật chất đang hiện hữu sống động trong từng cảm giác,từng giây phút của chúng ta giữa đời thường Đó là phần diện mạo bên ngoài
mà bất cứ ai cũng có thể dễ dàng nhận ra, phác thảo và gọi tên Tuy nhiênthành phố là một thực thể phức tạp hơn thế Nó đã bắt đầu lịch sử của mình từcách đây hàng nghìn năm, trải qua nhiều biến cố phức tạp, nhiều lần đổi thaydiện mạo, bao phen bị hủy hoại sau đó lại hồi sinh Vì thế mà không thể chỉđịnh nghĩa thành phố trên phương diện vật chất, không thể chỉ đo đếm kíchthước dài rộng của nó bằng hình ảnh ở thời hiện tại, càng không thể thăm dòđến đáy cùng chiều sâu của nó dựa vào trải nghiệm của một cuộc đời, ngay cảkhi đó là trải nghiệm của nhiều cuộc đời hay trải nghiệm của một thế hệ thìvẫn là chưa đủ Câu hỏi “Thành phố là gì? Thế nào là một thành phố?” chưabao giờ khó trả lời kì thực lại không dễ để có được một câu trả lời thỏa đáng.Diện mạo vật chất chỉ là lớp vỏ, chỉ là cái áo ẩn chứa tận sâu bên trong, phía
Trang 16sau bao nhiêu ý niệm tinh thần Những ý niệm đó không chỉ là cái ẩn chứa,cái được cất giấu mà có khi còn tạo thành chính không quyển tinh thần baobọc thành phố, cũng như giới hạn suy nghĩ và cảm nhận của chúng ta.
Trong ý thức văn hóa của chúng ta, hai chữ “thành phố” chưa bao giờđơn giản chỉ quy chiếu về một thực thể vật chất, một loại địa bàn cư trú, mộtkiểu tổ chức đời sống xã hội Có rất nhiều những suy nghĩ, cảm giác theocùng hai chữ “thành phố” ấy- đó chính là cảm thức đô thị Và không phải chỉ
có những người sinh ra, lớn lên, sống trọn vẹn cuộc đời ở thành phố haynhững người từng có trải nghiệm với thành phố mới có cảm thức này Ngay
cả đối với những người chưa từng biết thế nào là đô thị, chưa từng có bất kìtrải nghiệm trực tiếp nào với khung cảnh hay cuộc sống nơi thị thành thì haichữ “thành phố” vẫn gợi ra trong họ rất nhiều suy nghĩ Những cảm thức ấykhông phải đợi đến khi con người ta tiếp xúc với đô thị mới hình thành mà nó
đã có từ trước, trước những trải nghiệm của ta, trước cả sự ra đời của ta, củacha ông ta, nó nằm ở tầng sâu của vô thức xã hội Những kinh nghiệm cánhân của chúng ta với thị thành chỉ là sự nối dài, bồi đắp thêm, cũng có khiđối thoại và làm phong phú thêm cho ý niệm xã hội đó Chúng tôi gọi nó là vôthức đô thị- ở đó thành thị và nông thôn, từ hai miền không gian có nhiều đặcđiểm trái ngược đã nâng lên thành trung tâm của một hệ thống ý niệm và cảm
thức hoàn toàn đối lập nhau Trong tiểu luận nổi tiếng Nông thôn và thành thị (The country and the city), Raymond Williams ngay từ đầu đã khẳng định
“Nông thôn và thành thị là những từ ngữ đầy quyền lực và không có gì đángngạc nhiên khi chúng ta nhớ ra nó hàm chứa bên trong bao nhiêu kinh nghiệmcủa cộng đồng” Ông khẳng định “Trên cơ sở sự định cư thực tế, cái mà lịch
sử sẽ làm biến dạng đi một cách đáng ngạc nhiên, những cảm thức quyền lựctập hợp lại và trở nên phổ biến Trong từ nông thôn tập trung ý niệm vềphương diện tự nhiên của đời sống: về sự thanh bình, hồn nhiên, trong trẻo và
Trang 17thuần khiết Trong từ thành phố dồn nén ý tưởng về trung tâm của nhưngthành tựu: về học tập, giao tiếp và ánh sang Những liên tưởng đối nghịchmang tính quyền lực cũng liên tục phát triển: thành phố được xem như làkhông gian của sự ồn ào náo nhiệt, và tham vọng trong khi nông thôn là nơilạc hậu, không gian của sự giới hạn và là miền đất bị lãng quên.”
Từ những đặc điểm mang tính vật chất, những ý niệm về nông thôn vàthành thị vẫn không ngừng sản sinh và từ bao giờ con người đã quen nhìnnhận chúng như là những đặc tính tự nhiên Thành thị- nông thôn là sự đối lậpánh sáng và bóng tối Không gian thị thành luôn tràn ngập ánh sáng, buổi tốinơi phố phường thậm chí còn lung linh hơn bởi những biển hiệu và hệ thốngđèn chiếu sáng Trong khi đó, ở nông thôn, khi ánh hoàng hôn vừa tắt cũng làlúc những xóm làng lập tức chìm vào bóng tối sâu thẳm Thành phố là hiệnthân của ánh sáng văn minh, của tri thức, của những thành tựu mới mẻ và hiệnđại Ở thành phố, cuộc sống thay đổi từng ngày, thậm chí từng giờ, nhữngthành tựu liên tục được cập nhật, tiện nghi liên tục được thay thế với nhữngđặc điểm và tính năng vượt trội hơn Trong khi đó, nông thôn mang một diệnmạo cố định, gần như không đổi thay Những nếp nhà thấp, lũy tre làng, conđường làng, cánh đồng quê thẳng cánh cò bay… đem đến cảm giác quenthuộc, bình yên như cả nghìn năm rồi vẫn thế Những câu ca dao xưa vẫn cònđúng với cảm nhận về làng quê bây giờ dù diện mạo làng quê, nếp sống nếpsinh hoạt cũng ít nhiều đổi khác Làng quê và thành phố tạo thành những cặp
ý niệm cũ kĩ và mới mẻ, truyền thống và hiện đại, lạc hậu và văn minh, bềnvững và biến đổi, đơn giản và phức tạp… Nông thôn, với vẻ cũ kĩ của mìnhthường đem đến cho con người cảm giác binh yên, thanh thản được trở về với
những giá trị bền vững Nhân vật Thanh trong truyện Dưới bóng hoàng lan
của Thạch Lam từng cảm thấy hồn mình trong trẻo, bình yên vô cùng khi trở
về chốn làng quê, dưới bóng cây xanh mát và hương thơm dịu dàng của cây
Trang 18hoàng lan từ ngày thơ bé, cảm nhận tình yêu thương, sự chăm sóc dịu dàngcủa người bà như chưa từng trải qua những xa cách tháng năm Trong vănchương, xuất hiện rất nhiều môtip chán chường, rời bỏ đô thị để tìm về cuộcsống bình yên nơi làng quê, thôn dã Ngược lại, cuộc sống đô thị với đặc điểmnổi bật là liên tục biến đổi thậm chí đổi thay một cách chóng vánh lại đem đếncho người ta cảm giác bất an thường trực Thành phố tuy nhiều nguy cơnhưng lại là nơi hấp dẫn và mới mẻ, là không gian rộng mở cho sự thể hiện,thử thách tài năng cũng như những đam mê, ước vọng của con người Nôngthôn tuy bình yên nhưng mặt khác lại gợi ra cảm giác về sự tù đọng, trì trệ,giam hãm, giới hạn những khát vọng của con người Bởi thế, trong đời sốngcũng như trong văn chương hành động rời nông thôn lên thành thị luôn làhành động rời bỏ ao tù để vươn ra biển lớn, vượt ra ngoài bóng tối để tìmkiếm ánh sáng, thoát ra khỏi sự giới hạn để tìm đến tự do, theo đuổi khátvọng Thành phố luôn hiện ra như một chân trời mơ ước, một miền đất hứa,đích đến mời gọi khát khao dấn thân đô thị Nhân vật Rastinhac trong bộ tiểu
thuyết Tấn trò đời đã rời bỏ quê hương đến Paris, đầu tiên ngưỡng vọng về nó
như một quầng sáng xa hoa sau đó từng bước từng bước tìm cách nhập vàotrong quầng sáng đó, trở thành một phần trong giới thượng lưu ở thành phốnày Đầu thế kỉ XX, rất nhiều nhà thơ Mới đã rời làng quê lên đô thị, “Bỏvườn cam, bỏ mái gianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành” (thơ Nguyễn Bính)
ôm giấc mơ xây đắp “mộng huy hoàng” Rời nông thôn lên đô thị là phản ứngtâm lý tất yếu của con người từ bóng tối hướng về ánh sáng, từ nơi lạc hậuhướng về chốn văn minh Nhưng trong đó còn có cả một giấc mơ đô thị, giấc
mơ đổi đời của những thôn dân thậm chí là cả một cơn cuồng say đô ngưỡng vọng sự xa hoa và một thứ khao khát đến vĩ cuồng được thuộc về nơi
thị-đó Với miền không gian có tính chất hai mặt như thế, tất yếu sẽ có nhữngngười đô thị tự hào một cách kín đáo, cũng có thể kiêu hãnh một cách phô
Trang 19phang về cái mác “thị dân” của mình, cũng có những người chán ngán sựphức tạp, ngổn ngang, bất trắc, những giá trị nhân tạo và đời sống cuồng quaynơi thị thành Nếu như hành động rời nông thôn lên thành thị không đơnthuần là hành động dịch chuyển qua những miền không gian thì hành động rờithành thị tìm về nông thôn cũng chứa đựng trong nó nhiều ý niệm tinh thần.
Đó là nỗi chán chường đô thị, quan niệm thành phố là nơi ở tạm, là chốn vongthân, nông thôn mới là nơi trở về Cảm giác bất an mà thành phố thời hiện đạimang lại còn gắn với những bí mật, những âm mưu, thủ đoạn, những mànkịch che đậy những tham vọng tăm tối… Trong tâm thức xã hội nảy sinhthêm ý niệm về sự tha hóa đô thị và tất nhiên cả ý niệm về nông thôn tha hóa,nhất là khi đối diện với sự xâm lăng của đô thị Như vậy, thành phố không chỉ
là sự tập hợp, phân hóa cảnh quan không gian gắn với chức năng của chúngtrong đời sống của cư dân đô thị, thành phố còn là sự tập hợp những cảm giáccủa con người về không gian, những quan niệm và cả những mơ ước mà conngười gán cho những không gian đó
Trong tiểu luận Những thành phố vô hình (The Invisible City) nhà văn
Italo Calvino đã đánh thức diện mạo thực sự của một thành phố bằng cách đặt
nó trong những mối quan hệ giữa thành phố và kí ức, thành phố và nhữngkhát vọng, thành phố và con mắt mà ta nhìn nhận nó… Thành phố là một hiệntượng mang tính lịch sử Thành phố nào cũng có quá khứ của riêng nó và quákhứ ấy chưa bao giờ là cái đã xảy ra, đã kết thúc trọn vẹn tại một thời điểm vàvĩnh viễn không còn bất cứ mối quan hệ nào với hiện tại Thành phố nào cũngmang trong hiện tại của mình những dấu vết và âm vang của quá khứ ItaloCalvino đã viết về nỗ lực miêu tả một thành phố như sau: “Thật vô vọng, hỡingài Kublai đại lượng, làm sao tôi có thể cố gắng miêu tả Zaira, thành phốcủa những thành lũy cao ngất Tôi có thể nói cho ngài biết bao nhiêu bước đểtạo nên những con phố như những bậc cầu thang và độ cong của những mái
Trang 20vòm hay loại kẽm nào được sử dụng để bao phủ các mái nhà, nhưng tôi ngaylập tức nhận ra điều đó đồng nghĩa với việc chẳng nói với ngài bất cứ điều gì
cả Thành phố không bao gồm những cái đó mà mang trong mình mối quan
hệ giữa những ước định không gian và những sự kiện xảy ra trong quá khứ…Khi làn sóng kí ức tràn vào, thành phố ngâm mình trong đó và phình to ra nhưmột miếng bọt biển Bất kì sự miêu tả nào về Zaira như nó hiện hữu hôm nayđều bao gồm tất cả quá khứ của nó Thành phố không nói về quá khứ của nó
mà mang quá khứ ấy trong mình như những đường chỉ tay trên một bàn tay,quá khứ được viết trên những góc phố, những chấn song cửa sổ, lan can củatừng bậc cầu thang…” Thành phố hiện diện trước mắt ta hôm nay cho dùkhông còn dấu tích những công trình của quá khứ thì những gì đã diễn ra vẫnsống động trong dòng hồi tưởng, trong những câu chuyện kể về những gì đãqua Bản thân hành động ghi lại lịch sử một thành phố cũng là cất giữ một kỉniệm, cố định một hình ảnh, thậm chí kiến tạo nên một cả huyền thoại Phầnlịch sử đó là kí ức chung của cả cộng đồng hay là phần kí ức tái tạo được cảcộng đồng chấp nhận để rồi từ đó mỗi biến cố, mỗi dấu tích đều gợi nhắc mộthình dung, một cảm thức giống nhau Trong thành phố đang hiện hữu của hômnay có bóng dáng của thành phố ngày hôm qua, thành phố từ hàng trăm thậmchí hàng nghìn năm trước và tiềm tàng cả những giấc mơ về thành phố của
tương lai Trong cuốn Hà Nội tiểu sử một đô thị, tác giả đã trích lại ý kiến của Alan Balfour trong cuốn Tính chính trị của trật tự (The politics of orders) bàn
về sự phức tạp của trong diện mạo cũng như trong ý niệm về thành phố: “Sựhiện diện của quá khứ đan xen bền chặt với niềm hứa hẹn của tương lai Không
có giấc mơ trong sự biệt lập, tất cả đều được phản ánh và tác động trong mộtvòng xoáy hỗn độn của sự tồn tại đã qua Sự tích tụ này, trên mảnh đất và trongtâm trí đã gây nên một sự lẫn lộn không thể nào hòa hợp được trong trật tự các
sự vật” Sự tồn tại đồng thời trên nhiều khung tham chiếu không gian- thời gian
Trang 21khiến cho thành phố giống một bức tranh chồng hình, và bất kì hình ảnh nàocủa thành phố cũng chập chờn giữa bao nhiêu phiên bản.
Tuy nhiên thành phố không chỉ gắn với kinh nghiệm của cộng đồng màcòn có mối quan hệ rất đặc biệt với những kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt làtrải nghiệm của cá nhân với đời sống đô thị Hơn bất kì miền không gian nào,thành thị là nơi giải phóng mạnh mẽ những khát vọng cá nhân của con người,nhịp sống đổi thay nhanh chóng càng khiến thành phố không bao giờ là một ýniệm thuần nhất, trùng khít trong trải nghiệm của mỗi người Với mỗi người
nó gắn bó một khác Luôn có sự vênh lệch khi đặt thành phố trong kí ức cộngđồng bên cạnh thành phố trong hồi tưởng của mỗi cá nhân và kí ức của mỗi cánhân cũng lưu lại những ấn tượng rất khác biệt về cùng một thành phố Trênnền thành phố như chúng ta thấy, như chúng ta biết có thành phố tuổi thơ củamỗi người, có thành phố trong dòng hồi tưởng đứt nối của một trí nhớ đãnhiều sai lệch, có thành phố ngập tràn tình yêu, có thành phố vụn vỡ nhữngmất mát, có thành phố ta hằng sống và vẫn hằng mơ, có thành phố xa xôi nơithiết tha một ngày được đặt chân đến, hay mong mỏi được thuộc về… Tất cảnhững hình ảnh ấy phối trộn lẫn nhau trong một khả năng biến ảo vô tận đểđôi khi thành phố của ước mơ, của khát khao chưa chạm tay đến được trongphút giây đã hóa thành kỉ niệm Italo Calvino đã viết thành phố và khát vọngtrong hình thức một câu chuyện đời người: “Anh ta nghĩ về tất cả những điềunày khi khao khát mơ tưởng về thành phố Insidora, vì thế, là thành phố tronggiấc mơ của anh ta với một điểm khác biệt Thành phố mơ về ấy bao gồm cảanh ta như một chàng trai trẻ, còn thực tế anh ta đến Insidora khi đã già Ởquảng trường có một bức tường nơi một người đàn ông già ngồi nhìn nhữngngười trẻ đi qua, ông đã được xếp vào cùng một hàng với họ Khát vọng ngaylập tức trở thành kỉ niệm”
Trang 22Câu trả lời thực sự cho câu hỏi “Thành phố là gì? Như thế nào là thànhphố?” sẽ phải làm nổi bật được diện mạo thành phố vừa là một thực thể vậtchất vừa là một ý niệm tinh thần, vừa là cái thực vừa là cái phi thực Viết vềmột thành phố phải làm thế nào miêu tả một thành phố hữu hình đồng thời gọidậy diện mạo của vô số những “thành phố vô hình”? Làm sao để thấy nó như
là một hình ảnh mang đậm dấu ấn thời gian hiện tại lại đồng thời là một hìnhảnh, một ý niệm xuyên thời gian nối dài từ quá khứ đến hiện tại và cả nhữngước vọng tương lai? Hơn thế, thành phố còn là một ý niệm phi thời gian.Paris- kinh đô ánh sáng là một ý niệm không tuổi Hình ảnh Rome như làthành phố tình yêu cũng là một hình ảnh hoàn toàn không có dấu ấn thời gian
và đã trở thành một phản xạ tự nhiên trong ý thức mỗi khi ta nghĩ về thànhphố này Dù ở điểm thời gian nào thì ở Rome “nơi người ta yêu nhau trênnhững bậc thềm” (trích dẫn trong phim “To Rome with love”) cũng chỉ có mộtcâu chuyện duy nhất- câu chuyện tình yêu Hà Nội ngày nay cho dù đã phôipha, nhạt nhòa đi biết bao nhiêu nét văn minh, thanh lịch trên thực tế thì trongsuy nghĩ của chúng ta nó vẫn hiện diện kiêu hãnh “Chẳng thơm cũng thể hoanhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” Một thành phố luôn luônđược tạo nên bởi phần diện mạo vật chất và diện mạo tinh thần Tuy nhiên,phần diện mạo vật chất không đơn giản chỉ là phần nổi, là lớp vỏ bên ngoài ẩnchứa bên trong diện mạo tinh thần và diện mạo tinh thần cũng không chỉ làphần chìm giấu mình ở bên trong Chúng không phải là hai phần tách rời, đượcđặt cạnh nhau, kết nối một cách lỏng lẻo Mối quan hệ giữa hai phần trong diệnmạo một thành phố là sự gắn bó chặt chẽ mang tính triết học Ở đó diện mạovật chất không thuần túy là hình thức mà là hình thức mang tính tinh thần vàcái tinh thần cũng không thuần túy là phần linh hồn vô hình, trừu tượng, khónắm bắt mà nó đã tìm được cách hiện diện trong không gian vật chất cụ thể củathành phố Cái tinh thần còn bao trùm lên toàn bộ không gian, một cách vô
Trang 23thức chi phối đến sự cải tạo cảnh quan đô thị của chúng ta Không gian sốngcủa chúng ta chính là sự chuyển hóa, sự hữu hình hóa những ý niệm tinh thần
và bất cứ sự thay đổi nào trên diện mạo vật chất của thành phố cũng ngay lậptức sản sinh ra những cảm thức mới mẻ Thành phố là một hiện tượng phức tạp
tự thân, vì thế sự xuất hiện của thành phố trong sang tác văn chương sẽ khôngđơn giản chỉ là phản ánh một không gian thực trên trang sách
1.2 Diễn ngôn- những vấn đề chung
Thế kỉ XX là thế kỉ chứng kiến nhiều biến động trên hầu hết các lĩnhvực của đời sống xã hội và đặc biệt là văn hóa, tư tưởng Từ khoảng giữanhững năm 1960 đến nay, có một hướng nghiên cứu thu hút được sự chú ýnhiều nhất của các học giả và cũng có ảnh hưởng quan trọng, toàn diện đếnnhiều ngành nghiên cứu khoa học xã hội thậm chí dẫn đến sự phát triển củanhững nghiên cứu liên ngành như triết học khoa học, triết học nghệ thuật, sựkết nối giữa nghệ thuật và khoa học, khoa học và tôn giáo… Đó chính làhướng nghiên cứu diễn ngôn Trong bài viết mang tính chất tổng thuật vềhướng nghiên cứu diễn ngôn “Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinh nghiệmphân loại”, tác giả O F Rusakova đã nhận xét: “Suốt cả thế kỉ XX, các khoahọc nhân văn vị các hiện tượng ngôn ngữ hút hồn Nói theo Richard Rorty,
“ngôn ngữ chiêu mộ thế giới” và, tất nhiên, tri thức đáng tin cậy nhất về thếgiới đã được mã hóa trong ngôn ngữ Nghiên cứu ngôn ngữ là chìa khóa đểnghiên cứu con người và thế giới Định đề này được ghi nhớ như là cơ sởphương pháp luận của các khoa học xã hội khác nhau và được trao cho danhhiệu “bước mặt ngôn ngữ học” Từ cuối những năm 1960, trước tiên, nhờ hệthống thuật ngữ và tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại và kí hiệu học đượcquảng bá rộng rãi trong giới học thuật, “bước ngoặt ngôn ngữ” biến thành
“bước ngoặt diễn ngôn”’ Diễn ngôn không phải là một thuật ngữ hoàn toànmới mẻ, nó đã tồn tại từ trước trong hệ từ vựng của nhiều ngôn ngữ Nó chính
Trang 24là từ “discourse” trong tiếng Anh và “discours” trong tiếng Pháp Cách hiểuphổ biến về ý nghĩa của từ này trong đời sống cũng khá đơn giản Đến khiđược hiểu như một thuật ngữ trong nghiên cứu khoa học, nội hàm ý nghĩa của
nó mới được mở rộng và trở nên phong phú hơn Bản thân thuật ngữ diễn ngônđến giờ vẫn chưa thực sự cố định và thống nhất về mặt ý nghĩa, mỗi nhà nghiêncứu, mỗi hướng nghiên cứu lại chọn khai thác một phương diện của nó, Chođến nay, diễn ngôn vẫn được xem là thuật ngữ năng động và có tính gợi mởcao nhất cho nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn Ở Việt Nam, hướng nghiêncứu diễn ngôn tuy không hoàn toàn mới mẻ nhưng cũng chỉ mới đạt đượcnhững thành tựu bước đầu Chỉ riêng sự đồng thuận trong cách dịch thuật ngữ
và thống nhất tương đối về cách hiểu và diễn giải thuật ngữ giữa các nhànghiên cứu cũng phải trải qua một quãng thời gian khá dài mới có được Sau
đó, quá trình vận dụng lí thuyết vào nghiên cứu diễn ngôn thơ ca, diễn ngôntiểu thuyết, diễn ngôn kí, diễn ngôn phê bình… cũng không phải là một khoảngthời gian ngắn Giờ đây “diễn ngôn” xuất hiện thường xuyên trên các bài báo,các công trình nghiên cứu như một thuật ngữ thời thượng, hay đôi khi bị lạmdụng như một thứ trang sức làm nên vẻ hiện đại và tân kì cho trang viết Mặc
dù vậy, chúng ta vẫn cần phải thừa nhận rằng hướng nghiên cứu diễn ngônđang mở ra rất nhiều hướng đi tiềm năng cho nghiên cứu văn học nói riêng vànghiên cứu văn hóa, xã hội ở Việt Nam nói chung
1.2.1 Bước ngoặt diễn ngôn
Lí thuyết diễn ngôn thực sự đã tạo nên một bước ngoặt quan trọngkhông chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu mà còn làm thay đổi căn bản cái nhìncủa chúng ta về thế giới xung quanh Nhiều nhà nghiên cứu còn đánh giábước ngoặt diễn ngôn như một sự thay đổi hệ hình tri thức và tư duy của conngười Trước hết, việc thừa nhận thuật ngữ diễn ngôn đã thay đổi quan niệmcủa chúng ta về bản thể Sự thay đổi không chỉ diễn ra trong nhận thức của
Trang 25con người về bản thế thế giới mà còn diễn ra trong chính nhận thức của chúng
ta về bản thân mình Quan niệm về nhận thức của chúng ta từ trước đến naythường gắn với lí thuyết phản ánh Theo đó, thế giới bên ngoài tồn tại kháchquan, hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của conngười, Tồn tại xã hội là cái có trước, ý thức ra đời sau, nhằm nhận thức nhữngyếu tố có trong thực tại Lí thuyết phản ánh nhìn nhận tồn tại xã hội và ý thức
xã hội trong mối quan hệ nhân quả: tồn tại xã hội là nguyên nhân, là nơi khởisinh nhu cầu nhận thức, là cơ sở cho quá trình nhận thức còn ý thức xã hộichính là kết quả của quá trình nhận thức đó Trong mối quan hệ này, thực tếkhông chỉ có vai trò định hình nhận thức của chúng ta mà còn là nơi kiểmchứng tính đúng đắn của những nhận thức đó Những tri thức được hình thànhtrong quá trình con người khám phá, tìm hiểu thế giới đều phải đảm bảo phảnánh đúng đắn chân thực những sự vật, hiện tượng đang diễn ra Những quyluật được đúc kết sẽ mãi mãi ở dạng giả thuyết mà không được thừa nhận nếunhư không chứng minh được sự phù hợp với các chu trình hoạt động của thếgiới trong thực tế Chỉ khi ấy, những tri thức và quy luật mới được công nhận
là chân lí Trong lí thuyết phản ánh, sự phù hợp, tương ứng giữa ý thức xã hộivới cái có trước nó là tồn tại xã hội chính là tiêu chuẩn của chân lí Hai phạmtrù triết học quan trọng nhất mà phản ánh luận đề cao, đó chính là thừa nhận
sự chân thực và đặt niềm tin tuyệt đối ở chân lí Chân lí là ý thức duy nhấtphản ánh chân thực và đúng đắn bản chất của thế giới xung quanh Như vậy,tất cả các hình thái ý thức xã hội như khoa học, chính trị, nghệ thuật, tôngiáo… đều là sự phản ánh thực tại bằng phương tiện đặc trưng Từ thời cổđại, trong cuốn Nghệ thuật thi ca, Aristotes đã xác định bản chất của vănchương nằm ở sự mô phỏng thực tại Trong những tiêu chí đưa ra để xác địnhđặc trưng của thể loại bi kịch, ông có nhấn mạnh tính chất mô phỏng, bắt
Trang 26chước hành động thực tế của con người, Phạm trù Mimesis trong văn học từlâu đã bị hiểu một cách máy móc là sự bắt chước đến xác thực.
Phát hiện và đề cao thuật ngữ diễn ngôn, các nhà nghiên cứu không phủnhận thực tại khách quan Thế giới xung quanh chúng ta là tồn tại có thực vàđộc lập với ý muốn chủ quan của con người, dù ta muốn hay không muốn thìthế giới bên ngoài ta cũng đã sinh thành và vận hành như thế Tuy nhiên, ýthức của con người về thế giới không bao giờ là trọn vẹn khách quan và chânthực tuyệt đối Nhận thức của chúng ta luôn gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ.Chúng ta nhận thức bằng ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ Tất cả những trithức, quy luật mà con người đúc kết được về thế giới từ trước đến nay đềucho ta thấy diện mạo đầy ảo tưởng về một thế giới như nó vốn có Tất thảychỉ là thế giới trong nỗ lực thể hiện bằng ngôn ngữ, thế giới như ta nói về nó,như ta viết về nó Thế giới khách quan vẫn tồn tại bên ngoài con người, vẫn làđối tượng của nhận thức, tuy nhiên, nó chỉ được biết đến thông qua diễn ngôn
Và bởi ý thức của con người về thế giới không phải là bức ảnh chụp, nhậnthức của chúng ta chưa bao giờ là nhận thức theo lối gương soi, bản chất củaquá trình nhận thức là sự tái tạo, phản ánh thông qua ngôn ngữ là thứ phảnánh nhiều sai lệch nên những phạm trù mà chúng ta đặt vào đó nhiều niềm tinnhất ngay lập tức bị hoài nghi: hiện thực, lịch sử, chân lý Không có hiện thựctuyệt đối mà chỉ có hiện thực của diễn ngôn Không có chân lý tuyệt đối, chân
lý là những gì được xem là chân lý, dược tin là chân lý Và lịch sử khôngchỉnh xác là những gì đã xảy ra, nó chỉ là một trong vô số diễn ngôn về quákhứ, một khả năng được cộng đồng đặt vào đó nhiều niềm tin nhất
Cũng giống như nhận thức về thế giới, nhận thức về bản thân củachúng ta không bao giờ nằm ngoài ngôn ngữ Các nhà triết học ngôn ngữ đãchỉ cho chúng ta thấy rằng “ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại”, chúng ta gọitên mình, định nghĩa mình, tất cả đều bằng ngôn ngữ, chúng ta tồn tại trong
Trang 27một thế giới được tạo nên bởi ngôn ngữ Khi thừa nhận tính diễn ngôn, conngười đồng thời nhận ra thế giới xung quanh bao bọc sự tồn tại của mình làkhông tuyệt đối và những ý niệm về bản thể, cái tôi cũng không tuyệt đối.Bản thế cũng chỉ là một kiến tạo của ngôn ngữ mà chúng ta tin rằng có và cáitôi cũng chỉ là diễn ngôn chứ không phải sự thật.
Hướng nghiên cứu diễn ngôn đồng thời tạo ra bước ngoặt quan trọngtrong nhận thức của con người về ngôn ngữ Ngôn ngữ không còn đơn thuầnđược xem là phương tiện chuyên chở ý nghĩa, một công cụ biểu đạt thông tinmột cách chính xác, chân thực trong hoạt động giao tiếp Ngược lại, ngôn ngữ
là một thứ “công cụ” đầy quyền năng, một thiết chế quyền lực có khả năngcan thiệp rất sâu, chi phối, thậm chí giới hạn các hành vi biểu đạt của conngười Từ khoảng giữa thế kỉ XIX trở về trước, con người đặt niềm tin trọnvẹn ở ngôn ngữ như là phương tiện có khả năng biểu đạt một cách chân thực
và chính xác những suy nghĩ, tình cảm của con người Không mảy may có bất
kì sự nghi ngờ nào đối với sự trong suốt của ngôn ngữ Khi viết bộ tiểu thuyết
đồ sộ Tấn trò đời với tham vọng miêu tả chính xác diện mạo Paris với nhữngcảnh đời nông thôn, những cảnh đời đô thị và khi đưa ra nhận xét rằng tácphẩm này đã đem đến thông tin đầy đủ, chính xác và thậm chí phong phú hơn
cả những tài liệu chính trị, kinh tế, xã hội học cộng lại, cả Balzac và Engelsđều tin vào sức mạnh truyền tải thông tin của ngôn ngữ Nhưng từ nửa cuốithế kỉ XIX trở đi, con người bắt đầu hoài nghi và nhận ra tính chính xác và vẻtrong suốt của ngôn ngữ chỉ là một ảo tưởng Ngôn ngữ là một loại kí hiệu, nógồm hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt là hình thức chữviết cũng như lớp vỏ ngữ âm, còn cái được biểu đạt chính là ý nghĩa quychiếu đến một sự vật, hiện tượng trong đời sống Khi khai thác mối quan hệgiữa chúng, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự tương ứng giữa hình thức biểuđạt với nội dung được biểu đạt của kí hiệu ngôn ngữ không phải là tự nhiên và
Trang 28tất yếu Đó là mối quan hệ có tính chất võ đoán và tính chất quy ước trongphạm vi một cộng đồng Hơn thế trong nội dung biểu đạt, một kí hiệu ngônngữ không đơn thuần chỉ mang thông tin biểu vật, quy chiếu đến những sựkiện tương ứng ngoài ngôn ngữ mà còn chứa đựng thông tin về tình cảm, thái
độ của người nói, người viết Vì thế sẽ không thể có được sự trùng khít, cónghĩa là không có sự chính xác tuyệt đối khi xuất phát từ ngôn ngữ mà quychiếu về thực tại Kể từ “bước ngoặt ngôn ngữ”, người ta đã “phân biệtnghiên cứu sự thực và nghiên cứu ngôn ngữ để biểu đạt chúng, từ nghiên cứucác sự thật chuyển vào nghiên cứu cấu trúc, ý nghĩa của ngôn ngữ, qua đó tưduy lại về cách hiểu của con người với tư cách chủ thể và nhận thức lại cáchthức nhận thức chân lí, khắc phục các ý thức siêu hình” Bước ngoặt ngôn ngữnếu như mới chỉ nhấn mạnh vào sự khác biệt và chủ yếu tập trung vào nghiêncứu cấu trúc biểu đạt của ngôn ngữ thì bước ngoặt diễn ngôn nhấn mạnh đếntính chất kiến tạo sự thật của ngôn ngữ Nói cách khác, hướng nghiên cứudiễn ngôn không nhìn nhận ngôn ngữ như những cấu trúc nội tại nữa mà nhìnnhận nó như là một thiết chế quyền lực Ngôn ngữ là dạng thức tồn tại củaquyền lực xã hội: tính chất phân hóa thứ bậc, hệ tư tưởng văn hóa trung tâm,thống trị trong đời sống, ảnh hưởng trực tiếp, chi phối, giới hạn hành vi của
con người trong cộng đồng Trong tiểu luận Độ không của lối viết, Roland
Barthes có viết: “Ta biết rằng ngôn ngữ là một tập hợp những chỉ định vànhững tập tục, chung cho tất cả các nhà văn trong một thời đại Ðiều đó cónghĩa là ngôn ngữ giống như một bản chất trôi tuột hết qua lời nói của nhàvăn, mà không đem lại cho lời nói ấy một hình thức nào hết, thậm chí cũngkhông nuôi dưỡng lời nói ấy: nó như một địa hạt trừu tượng của các chân lý,
mà chỉ bên ngoài đó mới bắt đầu lắng lại tỷ trọng của một lời nói đơn độc Nóbao bọc toàn bộ sự sáng tạo văn học gần như kiểu bầu trời, mặt đất và sự nốikết giữa hai cái ấy phác ra cho con người một chốn cư trú thân thuộc Nó là
Trang 29một phạm vi hơn là một kho dự trữ chất liệu, tức vừa là một giới hạn vừa làmột nơi chốn, tóm lại một khoảng rộng yên ổn của một kết cấu Ðúng ra nhàvăn chẳng rút ra được gì từ đấy cả: đối với anh ta ngôn ngữ giống như mộtđường kẻ ngăn mà vi phạm vào đó có thể làm bật ra một siêu tính chất củahành ngôn: nó là sân bãi của một hành động, là xác định và chờ đợi một khảnăng Nó không là nơi diễn ra sự dấn thân xã nội, mà chỉ là một phản xạkhông lựa chọn, là tài sản chung của mọi người chứ không phải của các nhàvăn, nó nằm ngoài nghi thức của văn chương, nó là một sự vật có tính chất xãhội do định nghĩa chứ không phải do lựa chọn; không có gia công trước,không ai có thể lồng sự tự do của nhà văn của mình vào trong khoảng mờ đụccủa ngôn ngữ, bởi vì toàn bộ Lịch sử đã chiếm hết cái khoảng đó, trọn vẹn vàtrơn phẳng, theo kiểu một Bản chất.”
Sự thay đổi trong quan niệm về nhận thức và ngôn ngữ tất yếu dẫn đến
sự thay đổi trong quan niệm của con người về văn chương Ảnh hưởng từ líthuyết phản ánh, suốt một thời gian dài văn chương được quan niệm như làmột hình thái ý thức xã hội Mặc dù được nhìn nhận như một dạng thức phảnánh với nhiều nét đặc thù của tư duy nghệ thuật cũng như những đặc điểm vềchất liệu, khác với chính trị, tôn giáo, khoa học… nhưng về cơ bản, chúng tavẫn hay quy chiếu văn chương về thực tại, vẫn lấy khả năng khám phá, phảnánh hiện thực ra làm một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá tác phẩmvăn chương Bước ngoặt diễn ngôn khiến chúng ta phải từ bỏ thói quen đánhgiá văn chương từ góc độ phản ánh và xác định lại bản chất của nó Diễnngôn ngay lập tức làm lung lay những định nghĩa của chúng ta về văn học,làm xô lệch những tiêu chí phân biệt giữa văn học và cái phi văn học, khiếncho sự phân định cũng không còn xác tín một cách tuyệt đối Diễn ngôn khiếncho ranh giới giữa văn học và phi văn học trở thành ranh giới mềm và không
cố định Đó là thứ ranh giới dễ bị vi phạm, thậm chí các nhà văn còn cố ý
Trang 30thách thức nó để tạo ra những đột phá về giá trị Văn học xét cho cùng là tậphợp những gì chúng ta coi là văn học Văn học là một trong rất nhiều cách màcon người nhận thức về đời sống nhưng nhận thức đó không đơn thuần chỉ làphản ánh Bản chất của văn học là diễn ngôn về đời sống Trong bài viết
Bước ngoặt diễn ngôn và sự đổi thay hệ hình nghiên cứu văn học, nhà nghiên
cứu Trần Đình Sử đã khẳng định: “Là một diễn ngôn, văn học mang tính chấtchung của diễn ngôn nói chung nhưng có nét đặc thù Cái chung đó là diễnngôn văn học mang tính ý thức hệ, là phương thức tồn tại của con người, kiếntạo nên bản thân hiện thực, có quy tắc, cơ chế và chức năng riêng, nghiên cứudiễn ngôn văn học là nghiên cứu con người, xã hội, văn hóa […] Tính đặc thùcủa diễn ngôn văn học là một vấn đề phức tạp Đã có nhiều công trình lí luậnvăn học khẳng định đặc trưng của diễn ngôn văn học như “tính văn học”,
“tính hư cấu”, “các biện pháp tu từ”, “hình tượng” nhưng theo các ông J.Culler, Tz Todorov, T Eagleton, A Campagnon thì đặc trưng ấy rất mongmanh” Như vậy quan niệm về văn học cũng như bản chất của văn học đãthay đổi, trở nên cởi mở và linh hoạt hơn
1.2.2 Khái niệm diễn ngôn
Diễn ngôn là một thuật ngữ với nội hàm phức tạp, ngoại diên trải ratrên một phạm vi cực kì rộng lớn và quá trình vận động ý nghĩa vẫn chưadừng lại Vì thế trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi không thể baoquát toàn bộ các phương diện của thuật ngữ cũng như khả năng ứng dụngphong phú của nó trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Chúng tôi
sẽ lược thuật lại các hướng tiếp cận thuật ngữ diễn ngôn và đi sâu vào nhữngphương diện có liên quan trực tiếp đến quá trình tạo lập và diễn giải, sự khởisinh và được chấp nhận của diễn ngôn về thành phố trong văn học nói chung
và diễn ngôn về thành phố Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam giaiđoạn từ năm 1945 đến 1975
Trang 31Trước hết, trong các từ điển ngôn ngữ phổ thông, diễn ngôn thườngđược hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, diễn ngôn là sự giao tiếp bằng tiếng nói(cuộc trò chuyện, lời nói, bài phát biểu…) Thứ hai, diễn ngôn là sự nghiêncứu tường minh, có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, luận văn, các sảnphẩm của suy luận…) Cả hai định nghĩa thông dụng này đều xem diễn ngôn
là thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ Trong hai trường hợp này diễn ngôn là sảnphẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được đồng nhất với văn bản(bao gồm cả văn bản nói và văn bản viết) Cũng chính từ cách hiểu phổ biếnnày mà hướng phân tích diễn ngôn thường bị nhầm lẫn về mặt bản chất vớiphân tích văn bản Văn bản là khái niệm được khai thác sâu sắc bởi hướngtiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc, trong tương quan phân biệt với tác phẩm Vănbản là hình thức tồn tại của tác phẩm, nhấn mạnh khái niệm văn bản là nhấnmạnh đến cấu trúc nội tại của tác phẩm, hệ thống tổ chức ngôn ngữ, tổ chứchình tượng nhằm chuyển tải được ý nghĩa Văn bản chỉ là dạng thức tồn tại cụthể của diễn ngôn mà thôi Và một diễn ngôn không chỉ tồn tại trên một vănbản, diễn ngôn là hiện tượng xuyên văn bản, liên văn bản, thậm chí siêu vănbản Để nhận diện một diễn ngôn, cần có cái nhìn xuyên qua, kết nối các vănbản có cùng một nội dung biểu đạt, cùng hướng tiếp cận đối tượng, sử dụngcùng một hệ biểu tượng… Sự kết nối này cũng không phải là một phép cộnggiản đơn cho ra kết quả là diễn ngôn bằng các văn bản cộng lại Đó phải là sựnhìn nhận văn bản trong tính liên kết và liên tục tương tác với nhau và tươngtác với các yếu tố ngoài văn bản có liên quan đến quá trình tạo lập văn bản
Trong bài biết Quan niệm diễn ngôn như là yếu tố siêu ngôn ngữ của nghiên
cứu văn học, nhà nghiên cứu Juri Rudnev đã trích lại ý được diễn giải trong từ
điển của Arutiunova: “diễn ngôn là văn bản có tính liên kết trong tổng hòa vớicác nhân tố ngoài ngôn ngữ, xã hội học, tâm lí học… và các nhân tố khác, cònvăn bản được xem xét về phương diện sự kiện.” Diễn ngôn không là một kiểu
Trang 32cấu trúc văn bản, một công thức biểu đạt cụ thể mà là một cơ chế văn hóa tinhthần trừu tượng thống nhất các văn bản và chi phối đến quá trình tạo lập và sựtồn tại của văn bản Diễn ngôn là sự tổng hòa các mối quan hệ của bối cảnhlịch sử, môi trường xã hội, tâm lí chủ thể, những giới hạn ngôn ngữ, định kiếnvăn hóa,… đến văn bản và quan hệ giữa các văn bản trong sự tương tác, ảnhhưởng, chi phối, giới hạn lẫn nhau Như vậy diễn ngôn không phải là văn bảnnhưng luôn luôn có mặt trong văn bản, nó là một siêu văn bàn.
Và nếu như trước đây chúng ta nhìn nhận diễn ngôn trong mối quan hệtrực tiếp với ngôn ngữ, xem nó là một sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ thì giờ đây, khái niệm diễn ngôn đã được mở rộng tối đa Không chỉ
có những sản phẩm kiến tạo ngôn ngữ mới là diễn ngôn mà tất cả đều là diễnngôn Hội họa cũng là diễn ngôn, điện ảnh cũng là diễn ngôn, các công trìnhkiến trúc cũng cũng là diễn ngôn Mọi hoạt động mang bản chất kiến tạo dù ởtrên chất liệu gì cũng sẽ cho sản phẩm là diễn ngôn Cho dù chất liệu là nhữngcon chữ, âm thanh, giai điệu, màu sắc, đường nét hay mảng khối… thì khôngkhi nào là một sang tạo không lựa chọn, một sự sắp đặt ngẫu nhiên hay là mộtkết hợp vô nghĩa Bao giờ nó cũng thể hiện một ý tưởng nào đó, nếu khôngphải là đem đến một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ thì cũng là trao cho nhữngchất liệu quen thuộc những khả năng biểu đạt mới như lời của một nhà văn:
“Trên đời này không có cái gì sinh ra là tự nó và cho nó mà bao giờ cũng là vìmột cái gì khác và cho một cái gì khác” Sự kiến tạo chính là đặc điểm quantrọng nhất làm nên tính diễn ngôn Nó đối lập mạnh mẽ với tính tự nhiên màtâm lí nhận thức của chúng ta thường có xu hướng gán cho mọi vật dưới têngọi bản chất, bản sắc… Trong mọi phương diện của đời sống con người, bất
cứ sản phẩm nào chúng ta tạo ra cũng là một kiến tạo Từ thuở bình minh củalịch sử chúng ta đã liên tục tạo nên những diễn ngôn về mình và về thế giớixung quanh Ngay cả giới tự nhiên là thứ vốn ra đời trước, tồn tại trước cả sự
Trang 33xuất hiện của loài người, cái thuộc về sự bí ẩn diệu kì của vũ trụ thì cũng làdiễn ngôn Con người không tạo ra tự nhiên nhưng tự nhiên là kết quả của sựdiễn giải Tạo hóa sinh ra thế giới này đầu tiên và con người lại khai sinh ra
nó thêm một, thậm chí là thêm nhiều lần nữa bằng những hành động cải tạo
và diễn giải của mình Louise J Phillips và Marianna V Jorgensen định nghĩa
“Diễn ngôn lả hành vi xã hội phục vụ cho việc biểu trưng thế giới xã hội (baogồm tri thức, con người và các mối quan hệ xã hội)” Mở rộng ra ngoài giớihạn của ngôn ngữ, nhìn nhận diễn ngôn như một phạm trù xã hội phổ quát,đồng nhất nó với thực tiễn kiến tạo xã hội thì xung quanh ta mọi thứ đều là
diễn ngôn, hành động nào cũng mang tính diễn ngôn Trong bài viết Khái
niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay, nhà nghiên cứu Trần
Đình Sử cũng đã điểm qua hai khái niệm diễn ngôn thường gặp và thấy đượcphần khuyết thiếu trong những định nghĩa quen thuộc này: “Cả hai nghĩa đóđều để chỉ thực tiễn giao tiếp bằng ngôn ngữ, nhưng chưa nói đến cái nghĩahiện đại là hình thức của ý thức hệ và quyền lực, cũng chưa đề cập đến giaotiếp phi ngôn từ như cử chỉ thân thể, sự mô phỏng động tác, sự thay đổi tư thếcủa thân thể, trang phục, nghi thức… Đồng thời cả một lĩnh vực rộng lớn lànghệ thuật như hội họa, điêu khắc, múa nhảy, âm nhạc, thi ca đều nằm ngoàiđịnh nghĩa đó” Như vậy từ định nghĩa ban đầu còn đơn giản và bị giới hạntrong hành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ, giờ đây “Tất cả đều là diễn ngôn’(Jacques Derrida)
1.2.3 Đặc điểm, tính chất của diễn ngôn
Từ cách hiểu rất rộng về khái niệm diễn ngôn như thế, việc mô tả đặcđiểm của diễn ngôn hay làm rõ tính diễn ngôn cũng rất khó có thể toàn diện
và trọn vẹn được Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin đưa ra nhữngđiểm cơ bản làm rõ đặc điểm, tính chất của diễn ngôn
Trang 34Trước hết, như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, diễn ngôn mang bản chất kiếntạo Nó chống lại ảo tưởng về tính tự nhiên mà con người thường gán chonhững sự vật xung quanh và cho cả chính bản thân mình Khi định danh bảnchất của một sự vật, một sự việc và cố định nó bằng một vài từ ngữ ta đã đồngthời quy giản sự vật, hiện tượng vào một vài đặc điểm, tính chất và giới hạnnhận thức của mình trong niềm tin giản đơn đó Ảo tưởng về tính tự nhiên, vềnhững đặc tính vốn có là một trong số những thành trì nhận thức kiên cố nhất,khó phá dỡ và thay đổi nhất bất kể đặc điểm ấy được gán cho sự vật hay chocon người Ở con người, chúng ta duy trì một niềm tin xã hội về “giang sơn
dễ dổi bản tính khó dời” còn ở sự vật, chúng ta phóng đại và xác tín vàonhững thuộc tính trở thành bản chất bất biến và phổ quát Hệ quả tất yếu lànhững đánh giá của con người rất khó chệch ra khỏi định kiến về bản chất.Chỉ khi nào có đủ sự tỉnh táo để nhìn nhận vấn đề trong tính khả biến và chỉkhi có đủ sự cởi mở để chấp nhận những đổi thay khiến cho sự vật, hiệntượng khác đi hoặc trái ngược lại hoàn toàn với niềm tin vào bản chất, người
ta mới nhận thấy rõ sự vênh lệch phơi bày rõ tính chất diễn ngôn
Thứ hai, diễn ngôn là một kiến tạo mang dấu ấn ý thức hệ Như chúngtôi đã nhắc tới trong cách phần trên, sự thật, chân lí, tính khách quan đều chỉ
là một ảo tưởng Trên thực tế, mọi sự phản ánh, diễn giải đều chỉ nỗ lực đểtiệm cận đến cái khách quan chứ không khi nào có được cái khách quan thuầntúy Trong cuốn Từ xác định đến bất định- Những câu chuyện về khoa học và
tư tưởng của thế kỉ XX, theo chứng minh của các nhà khoa học, tác giả đã chỉ
ra ngày cả hành động nhìn và hành động nghe cũng là những hành động đầychủ ý Những hình ảnh, âm thanh và đọng lại thành ấn tượng được quyết địnhrất nhiều bởi chủ thể và chủ ý Tại sao giữa một dòng âm thanh hỗn độn,chúng ta lại có thể tách ra được một vài giọng nói? Tại sao giữa một chuỗihình ảnh bày ra trước mắt, mắt ta lại lưu lại ấn tượng về hình ảnh này mà
Trang 35không phải là hình ảnh khác? Nghe và nhìn tưởng như thuần túy bản năng vàđầy tính chất ngẫu nhiên mà không phải vậy Cái nhìn thấy, âm thanh nghethấy đều phải được nhấn mạnh ở chỗ ai nhìn thấy, nghe thấy và họ diễn giảinhững điểu nhìn thấy và nghe thấy như thế nào.Từ đó, ta có thể khẳng địnhrằng diễn ngôn cũng được quyết định rất nhiều bởi chủ thể, phản ánh ý thức
hệ của chủ thể Một người sáng tác có thể lựa chọn nhiều tư cách chủ thể, mỗi
tư cách lại có thể gắn với một ý thức hệ khác nhau nhưng nhất định khôngbao giờ tồn tại chủ thể không liên quan, chịu sự chi phối của một tư tưởng nào
đó và tất yếu không có diễn ngôn phi ý thức hệ Bởi diễn ngôn là một hiệntượng siêu văn bản cho nên ý thức hệ ở đây cũng không phải là ý thức hệ củamột chủ thể duy nhất mà là ý thức hệ xã hội thuộc về toàn thể xã hội hay mộtnhóm xã hội quyền lực nào đó
Thứ ba, diễn ngôn có tính quyền lực Triết gia người Pháp MichelFoucault là người đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất quyền lực của diễn ngôn
và có nhiều đóng góp cho hướng nghiên cứu này Trong bài viết tổng thuật lạicác hướng tiếp cận khái niệm diễn ngôn, tác giả Trần Đình Sử đã chỉ ra những
luận điểm cơ bản của Michel Focault trong cuốn Khảo cổ học tri thức Thứ
nhất, diễn ngôn biểu hiện ra bề ngoài thành hình thức ngôn ngữ, nhưng nókhông phải là ngôn ngữ thuần túy mà là một phương thức biểu đạt của tưtưởng và lịch sử Diễn ngôn thuộc về lịch sử Thứ hai, nó có tính chất chỉnhthể Diễn ngôn không phải là sự phơi bày của một chủ thể tư duy, nhận thức
và sử dụng diễn ngôn để trình bày một cách trang nghiêm, mà là một tổng thểđược xác định do sự khuếch tán của chủ thể và tính không liên tục của chúng.Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự khuếch tán của chủ thể và tính không liêntục này, chính chúng sẽ giải thích cho cơ chế biến chính diễn ngôn- một sảnphẩm của ý thức hệ trở thành một ý thức hệ quyền lực Phạm vi khuếch táncàng rộng, ảnh hưởng càng sâu đến tâm thức văn hóa của xã hội thì quyền lực
Trang 36của diễn ngôn càng lớn Foucault đã chỉ ra những tư tưởng văn hóa xã hội,những hệ hình tri thức đã giới hạn suy nghĩ và hành động của chúng ta, nhữngthứ ta vẫn quen thừa nhận là hiển nhiên cũng chính là một diễn ngôn quyềnlực- thứ quyền lực đã thống trị trên một phạm vi rất rộng và trong một thời
gian quá lâu dài Louis Maren định nghĩa: “Diễn ngôn là hình thức tồn tại của
một cái tưởng tượng, gắn liền với sức mạnh của cái tưởng tượng, mà tên của
nó là quyền lực.”Foucault nói về diễn ngôn như sau: “Diễn ngôn là một cuộcsống, nó có thời gian khác so với thời gian của ta, trong đó người ta khôngchấp nhận cái chết Có thể là các người sẽ chôn vùi Chúa dưới sức nặng củanhững gì mà các người nói, nhưng chớ nghĩ rằng, bằng những gì người nói,con người có thể tạo nên được một con người có thể sống lâu hơn Chúa.”
“Diễn ngôn, nói toẹt ra, cần phải hiểu như một sự cưỡng bức mà chúng tathực hiện đối với sự vật, trong mọi trường hợp, nó là một thực tiễn mà chúng
ta ép buộc cho chúng.”
Cuối cùng chúng tôi muốn lưu ý đến bản chất đối thoại của diễn ngôn.Nhà nghiên cứu Julia Kristeva từng nói về diễn ngôn: “Nguyên tắc đối thoạibao giờ cũng đi đôi với các cấu trúc chiều sâu của diễn ngôn… Nguyên tắcđối thoại là nguyên tắc của mọi phát ngôn” Ngay từ khi tiềm tàng trong ýthức, chưa thành hình thành khối, chưa trú ngụ trong một dạng thức vật chất
cụ thể, diễn ngôn tự nó đã là một ý thức đối thoại với thế giới xung quanh- cáithế giới xung quanh là tập hợp của những sự vật hiện hữu và cả những ýniệm, niềm tin của con người về thế giới đó Tính chất đối thoại thể hiện trênmọi phương diện của diễn ngôn Một diễn ngôn không chỉ là một đối thoại ýthức hệ giữa niềm tin của cộng đồng với niềm tin của cá nhân, những tưtưởng, quan niệm của cộng đồng đối với quan niệm của các nhóm xã hộiquyền lực khác nhau… Nó cũng không chỉ là đối kinh nghiệm cá nhân vớikinh nghiệm cộng đồng, đối thoại với các diễn ngôn đã có, các diễn ngôn có
Trang 37thể có, các diễn ngôn quá khứ, các diễn ngôn hiện tại và cả những khả năngtrong tương lai Diễn ngôn còn là cuộc đối thoại trên chất liệu nữa Tính đốithoại là một đặc điểm thuộc về bản chất của diễn ngôn.
1.2.4 Những yếu tố tác động đến quá trình tạo lập và duy trì một diễn ngôn
Trong các phương diện liên quan đến sự hình thành, tạo lập các diễnngôn, chúng tôi xin được nhấn mạnh hai phương diện quan trọng: thứ nhất làmôi trường- ngữ cảnh của diễn ngôn và thứ hai là chủ thể tạo lập diễn ngôn.Môi trường- ngữ cảnh của diễn ngôn chính là toàn bộ hoàn cảnh lịch sử, xãhội, văn hóa cùng đặc điểm về tâm lý của xã hội Ngữ cảnh văn hóa này chính
là xuất phát điểm của quá trình tạo lập diễn ngôn, là môi trường bao bọc, chiphối đến quá trình tạo lập diễn ngôn, nơi mà trên đó, diễn ngôn được diễn giải
và chấp nhận, đồng thời là khách thể- đối tượng của diễn ngôn Chủ thể tạolập diễn ngôn- người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm cùng tất cả những đặcđiểm về ý thức hệ, những quan niệm riêng về con người và thế giới, cách lựachọn ứng xử với ngôn ngữ và với những diễn ngôn trước đó, những trảinghiệm cá nhân và lựa chọn ứng xử với kí ức… tất cả đều có tác động trựctiếp đến quá trình hình thành diễn ngôn và để lại dấu ấn của mình trong cácdiễn ngôn đó Mối quan hệ giữa môi trường- chủ thể- diễn ngôn là một mốiquan hệ hết sức phức tạp Nó không chỉ đơn giản và một chiều là ngữ cảnh tácđộng đến diễn ngôn và chủ thể tác động đến diễn ngôn mà môi trường cũng
có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến chủ thể tạo lập diễn ngôn Như vậy môitrường có thể tác động trực tiếp đến diễn ngôn cũng có thể ảnh hưởng giántiếp thông qua chủ thể Bản thân diễn ngôn cũng không đơn giản là sản phẩmcủa môi trường và chủ thể, nó tác động ngược lại đối với chủ thể và cả ngữcảnh Trong quá trình tác động ngược lại đó, diễn ngôn lại có thể làm sản sinhnhững cơ chế văn hóa mới quyết định sự hình thành một kiểu diễn ngôn mớivới một kiểu chủ thể và ngữ cảnh mới gắn liền với nó
Trang 38Mối liên hệ trực tiếp giữa ngữ cảnh và diễn ngôn có thể diễn giải cụ thểnhư sau:
Trước hết, môi trường với những đặc điểm về hoàn cảnh lịch sử, vănhóa xã hội chính là nơi phát sinh nhu cầu tạo lập diễn ngôn Những đổi thaytrong hoàn cảnh xã hội tất yếu dẫn đến nhu cầu hình thành một kiểu diễnngôn mới Trong văn học Việt Nam sẽ không bao giờ có sự xuất hiện của diễnngôn đô thị nếu như bối cảnh lịch sử xã hội không chút đổi thay so với nhữngthế kỉ 15- 16 Diễn ngôn về một đô thị văn minh rởm, bức tranh thu nhỏ củamột xã hội “khốn nạn và chó đểu” của Vũ Trọng Phụng sẽ không thể tạo sinhtrong một một hoàn cảnh xã hội khác Thậm chí nếu cùng thời điểm mà tadịch chuyển sang một không gian đô thị khác không phải là phố phường HàNội hỗn độn, tạp nham “Tây tàu nhố nhăng” “ối a ba phèng” thì diễn ngônđược khai sinh sẽ chỉ là diễn ngôn về không gian nửa làng nửa phố, nửa quênửa tỉnh Diễn ngôn về người lính, một diễn ngôn quan trọng trong văn họccũng như đời sống văn hóa của dân tộc sẽ không bao giờ xuất hiện nếu nhưđất nước ta không phải đối mặt với hai cuộc chiến khốc liệt kéo dài trong suốt
ba mươi năm của thế kỉ XX Và nếu như ba mươi năm kháng chiến ấy khôngnhiều mất mát đau thương, không hào hùng đến thế và nếu như tuổi trẻ nhữngnăm tháng ấy không phải dấn thân, hi sinh nhiều đến thế trong chiến tranh thìcũng không bao giờ có cả một dòng mạch diễn ngôn về người lính kéo dàisuốt từ những năm 1945 đến 1975 và vẫn còn tiếp tục được nối dài themnhững cảm thức mới ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc, nước nhà độc lập,non song thống nhất Từ diễn ngôn về người lính nông dân những năm chốngPháp đến diễn ngôn về thế hệ trẻ những năm đánh Mĩ với hình ảnh quenthuộc của những cô thanh niên xung phong, những chàng trai vừa rời ghế nhàtrường ngay lập tức khoác ba lô ra chiến trường cho đến diễn ngôn về ngườilính ngày trở về học cách thích nghi, hòa nhập với đời thường… diễn ngôn
Trang 39nào cũng mang đậm dấu ấn của bối cảnh lịch sử xã hội sản sinh ra nó Nhữngbiến cố lịch sử lớn lao cũng là điểm khởi sinh ra những diễn ngôn quan trọngkhông chỉ của thời đại mà còn có ý nghĩa như một huyền thoại hay một ámảnh trong nền văn hóa của một dân tộc và cũng có khi là đối với cả nhân loại.Thảm họa Phát-xít và những vụ thảm sát như Hollocaust là một chấn độngnhư vậy Nhật Bản tháng 8 năm 1945 với sự kiện Mỹ ném bom nguyên tửxuống hai thành phố Hiroshima và Nagashaki hay Hà Nội đêm Noel năm
1972 đều là những kí ức vô cùng ám ảnh…
Sau đó, chúng ta đều có thể dễ dàng nhận thấy môi trường văn hóa, xãhội, hoàn cảnh lịch sử không chỉ là đường viền bối cánh mà trở thành kháchthể được khám phá và thể hiện trong diễn ngôn Điều này có thể nhận thấy rất
rõ trong trường hợp diễn ngôn về thành phố mà chúng tôi lựa chọn để tiếp cậncác sáng tác văn chương về Hà Nội trong luận văn này Môi trường văn hóa
xã hội từ trước đến nay thường được nhìn nhận như là bối cảnh, làm nền chocâu chuyện chứ không phải là “nhân vật chính” của tác phẩm Ngay cả trong
ý thức của người sáng tác nhiều khi không gian, thời gian, dấu ấn văn hóacũng chỉ là yếu tố phụ trợ để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật hay tạo khôngkhí cho diễn biến câu chuyện Tuy vậy trong rất nhiều tác phẩm, sự thể hiệncác yếu tố thuộc về không gian và bối cảnh lại đặc biệt được chú trọng và cóđược vị trí ngang hàng với cốt truyện tạo nên một tự sự kép- tự sự của conngười và tự sự không gian Những tác phẩm của thế kỉ XIX , với một niềmxác tín vào sự trong suốt của ngôn ngữ và khát vọng phản ánh chân thực diệnmạo đời sống đã đem đến cho văn học những tự sự không gian dù nhà văn cóthể không ý thức về điều ấy Đó là những tác phẩm như Thằng gù ở nhà thờĐức Bà, Những người khốn khổ của Victor Hugo, những tiểu thuyết củaBalzac Các nhà văn dành rất nhiều trang viết để miêu tả diện mạo Paris vàcác công trình kiến trúc, đường phố, thậm chí có những công trình còn được
Trang 40miêu tả tỉ mỉ đến từng chi tiết như hệ thống cống ngầm trong Những ngườikhốn khổ hay nhà thờ Đức Bà trong tiểu thuyết Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà.Trong tác phẩm của mình, Hugo không chỉ miêu tả nhà thờ như một khônggian gắn với cuộc sống và công việc hàng ngày của Quasimondo và đức chaPhrolo mà còn tái hiện một cách cụ thể những đặc điểm kiến trúc của côngtrình nổi tiếng đã trỏ thành biểu tượng của Paris này Những trường đoạnmiêu tả tỉ mỉ đến từng mái vòm, gác chuông và cả các chi tiết trên cửa chính,cửa sổ… thực sự là một tự sự không gian- đặc trưng cho phong cách kiến trúcgothic Nhà thờ Đức Bà còn là tự sự của không gian nghi lễ văn hóa và khônggian thân phận Balzac, với tham vọng đem toàn bộ Paris và hơi thở của đờisống đương thời vào trong tác phẩm, cũng đã kì công khắc họa diện mạokhông gian những ngôi nhà, những con phố, ngõ ngách của Paris Nhữngvùng không gian và những cảnh đời Paris được tái hiện trong tiểu thuyết củaông còn chân thực đến mức có thể xác thực Những nhà nghiên cứu Balzacthậm chí đã lập một cuốn niêm giám chính xác dịa chỉ, tên tuổi, nghề nghiệpcủa những nhân vật từng xuất hiện trong tiểu thuyết của ông Thế kỉ XX, mộtnhà văn Pháp khác là Patrick Modiano cũng tạo nên trong tác phẩm của mìnhmột tự sự không gian như vậy Tuy văn phong của Modiano nổi bật ở sự mơ
hồ, mong manh, chập chờn của kí ức nhưng ấn tượng về không gian thườnghết sức đậm nét, nhiều khi những hành động và lời nói của nhân vật đều bịtrôi tuột đi, trượt xuống “thăm thẳm lãng quên” chỉ còn lại Paris với những
“quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối”, “phố những cửa hiệu u tối”, những khônggian giáp ranh, những vùng trung tính, nơi vô tình gặp gỡ của những tuổi trẻdạt trôi Như vậy, môi trường, ngữ cảnh hoàn toàn có thể trở thành một diễnngôn độc lập, có giá trị tự thân trong khi vẫn đan xen, cộng hưởng để làm nênkhông khí cho câu chuyện