- Phân tích các công trình nghiên cứu được liệt kê trên đây có thể thấyphần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu các dấu hiệuCTTP của các tội phạm về môi trường, TNHS đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo chương trình và đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Dương Minh Tiến
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10
7 Kết cấu của Luận văn 11
Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 12
1.1 Những vấn đề chung về quản lý chất thải nguy hại 12
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại 12
1.1.2 Khái niệm và quy trình quản lý chất thải nguy hại 16
1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại tới con người và môi trường 19
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam 23
1.2.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 23
1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 25
1.2.2.1 Khách thể của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 25
Trang 51.2.2.2 Chủ thể của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại .28 1.2.2.3 Mặt khách quan của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại 31
1.2.2.4 Mặt chủ quan của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 39 1.2.3 Hình phạt đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 40
1.3 Quy định về Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong pháp luật một số quốc gia 42
1.3.1 Trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga 43
1.3.2 Trong Bộ luật hình sự Liên bang Đức 46
1.3.3 Quy định trong Bộ luật hình sự Trung Quốc 49
1.3.4 Quy định trong Bộ luật hình sự Thái Lan 51
Kết luận chương 1 53
Chương 2 THỰC TRẠNG VI PHẠM, XỬ LÝ VI PHẠM VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC TRONG XỬ LÝ VI PHẠM VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 54
2.1 Tình hình kinh tế xã hội cả nước trong giai đoạn 2010 – 2015 có liên quan đến tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 54
2.2 Thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam hiện nay 58
2.2.1 Thực trạng vi phạm pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 58
2.2.2 Thực trạng phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 64
2.3 Những hạn chế, bất cập trong thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại và nguyên nhân 69
2.3.1 Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật 69
Trang 62.3.2 Những hạn chế, bất cập trong tổ chức và năng lực xử lý vi phạm về
quản lý chất thải nguy hại 73
2.3.3 Hạn chế trong công tác truyền thông, phổ biến pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 75
2.3.4 Những hạn chế, bất cập trong ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế và hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường 76
2.3.5 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 78
Kết luận chương 2 82
Chương 3 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 83
3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 83
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 89
3.2.1 Kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực áp dụng pháp luật của các cơ quan quản lý về môi trường và các cơ quan tư pháp 90
3.2.2 Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật về tội phạm môi trường nói riêng 91
3.2.3 Tăng cường ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại 94
Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7WHO Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại 66Bảng 2.2 Số liệu xét xử các tội phạm môi trường giai đoạn 2010 – 2014 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế - xã hội - môi trường được coi là một trong ba trụ cột của pháttriển bền vững Vì vậy, bảo vệ môi trường (BVMT) đang là vấn đề có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, có tính chất sống còn không chỉ đối với Việt Nam màcòn đối với các nước trên thế giới
Nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là một số nước đang phát triển,điển hình như Trung Quốc đã phải trả giá đắt khi hy sinh lợi ích lâu dài vềmôi trường để đổi lấy lợi ích trước mắt về kinh tế Rút kinh nghiệm từ một
số nước, trong chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước
đều thể hiện rõ tinh thần: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng
trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" (Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004) của Bộ
Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước) Tiếp đến Đại hội Đảng XI, trong Chiến lược pháttriển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 nêu rõ: "Phát triển nhanh gắn liềnvới phát triển bền vững…phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo
vệ và cải thiện môi trường"
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh Kiên định với mục tiêu đó, cần ý thức rõ phải có sự kết hợp chặt chẽ,hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môitrường, phải quan tâm và hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về bảo
vệ môi trường Trong quá trình phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo ra những cơ hội lớn
để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc hơn, bên cạnh mục tiêu
vì sự phát triển kinh tế nhanh luôn kéo theo nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi
Trang 10phải xử lý tốt để phát triển bền vững, trong đó có vấn đề rất quan trọng là bảo
vệ môi trường Sự phát triển kinh tế - xã hội luôn đi kèm với nó là việc giatăng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ quả là sốlượng và tính chất độc hại của các loại chất thải nói chung và chất thải nguyhại nói riêng phát sinh ngày một nhiều hơn gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏecon người và đời sống xã hội Điển hình một số vụ việc về vi phạm về bảo vệmôi trường trong đó có vi phạm về quản lý chất thải nguy hại của một sốdoanh nghiệp lớn mới bị phát hiện thời gian gần đây như: Công ty TNHHVedan Việt Nam; Công ty cổ phần Công nghiệp Tungkuang, Công ty TNHHMiwon Việt Nam, Công ty cổ phần Thuộc da Hào Dương, Công ty cổ phầnGiấy Việt Trì, Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành và Công ty TNHH TânPhát Tài (Đồng Nai); Công ty TNHH Long Tech Precision (Bắc Ninh), Công
ty TNHH MTV Môi trường và Đô thị Hà Nội (URENCO), đặc biệt gần đây
là vụ vi phạm của Công ty Nicotex Thanh Thái ở tỉnh Thanh Hóa…đã gâyhậu quả rất nghiêm trọng đến đời sống sức khỏe nhân dân và gây bức xúcrộng rãi trong dư luận cần được xem xét xử lý nghiêm theo pháp luật
Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam có nhiều biện pháp để ngănchặn và xử lý các vụ việc vi phạm về bảo vệ môi trường như biện pháp xửphạt vi phạm hành chính nhưng có lẽ biện pháp hữu hiệu và có tính răn đehơn cả là biện pháp dùng pháp luật hình sự (PLHS) Với những đặc điểm củaPLHS, các biện pháp PLHS có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc đấu tranhphòng ngừa và chống các loại hành vi xâm hại môi trường
Kể từ khi Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 có hiệu lực, mặc dù một
số điều luật về tội phạm về môi trường được quy định rải rác trong một sốchương như ở Chương VII: Các tội phạm về kinh tế hay Chương VIII: Các tộixâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính nhưng hầunhư không có việc thụ lý và xét xử các vụ án về môi trường Như vậy vi phạm
Trang 11pháp luật (VPPL) về bảo vệ môi trường trong đó có tội phạm về môi trường
là loại tội phạm vẫn còn mới mẻ so với các loại tội phạm khác trong PLHSViệt Nam Đến năm 1999, BLHS mới tổng hợp lại thành một chương riêng vàkhái quát một cách khá toàn diện Cùng với sự phát triển kinh tế, thu hút đầu
tư ồ ạt trong những năm cuối thế kỷ XX, một lần nữa, khi xây dựng BLHSnăm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, các tội phạm về môi trường được đưa
ra xem xét lại để sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm Trong Chương XVII của BLHS đã bổ sung Điều 182a về
“Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại”.
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, các hành vi xâm hại môi trường làmột trong những loại hành vi xảy ra phổ biến nhất ở nước ta hiện nay và cácthiệt hại do các hành vi đó gây ra có chiều hướng ngày càng trở nên nghiêmtrọng Đặc biệt là với tính chất nguy hiểm của chất thải nguy hại thì các hành
vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại sẽ vô cùng nguy hại đếnsức khỏe và môi trường cần được ngăn chặn và xử lý nghiêm minh khi có viphạm xảy ra
Tuy nhiên, thực tiễn đã xảy ra nhiều vụ việc vi phạm về quản lý chất thảinguy hại gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, hoa màu, gây ô nhiễm nguồnnước, ô nhiễm đất…đã từng bị phát hiện qua các vụ việc điển hình nêu trênnhưng thực tiễn xét xử cho thấy có rất ít vụ việc được đem ra xử lý hình sự
Vậy vai trò và ý nghĩa của các biện pháp PLHS đối với đấu tranhphòng ngừa và chống các tội phạm về môi trường nói chung và tội vi phạm vềquản lý chất thải nguy hại nói riêng phải chăng chưa được nhận thức một cáchsâu sắc cũng như chưa được đánh giá một cách đúng đắn? Hay việc quy định
cụ thể trong Điều 182a còn chưa phù hợp, khó áp dụng trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử trong thực tiễn? Cần sự đầu tư nghiên cứu một cách khoahọc và thực tiễn để có thể sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của Điều luật
Trang 12này và các văn bản hướng dẫn có liên quan nhằm áp dụng được Điều luật nàytrên thực tiễn để trừng trị và răn đe các hành vi vi phạm về quản lý chất thảinguy hại.
Có thể khẳng định trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn cần có nghiêncứu sâu về các quy định hiện hành đối với tội phạm này Đã có nhiều côngtrình khoa học nghiên cứu về các tội phạm môi trường nói chung, về tráchnhiệm hình sự đối với tội phạm môi trường… nhưng chưa có nghiên cứu riêngnào cho tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại Vì vậy, tác giả
mạnh dạn chọn đề tài “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
trong Luật Hình sự Việt Nam” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ luật
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, do đất nước ta chuyển từ baocấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên vấn đề ưu tiênphát triển kinh tế được ưu tiên hàng đầu Vì lẽ đó mà các tội phạm về môitrường và TNHS đối với tội phạm về môi trường là vấn đề còn khá mới trongkhoa học luật hình sự và còn ít được nghiên cứu do thực tiễn những nămtrước đây mới phát sinh Qua những năm thu hút đầu tư nước ngoài ồ ạt dẫnđến các vấn đề về môi trường cũng phát sinh đặc biệt là trong các khu kinh tế,khu công nghiệp, khu chế xuất, các địa điểm tập trung nhiều nhà máy, xínghiệp Đến thời điểm Đảng và Nhà nước thấy rõ vấn đề cần phát triển bềnvững và bảo vệ môi trường thì VPPL môi trường nói chung và tội phạm vềmôi trường nói riêng mới bắt đầu được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học tậptrung quan tâm nghiên cứu Hàng loạt các công trình, đề tài khoa học, các nộidung về bảo vệ môi trường và pháp luật về bảo vệ môi trường được nghiêncứu và công bố, điển hình trong số đó là:
Trang 13- Các tội phạm về môi trường được đề cập trong hầu hết các giáo trình
về Luật Hình sự Việt Nam của các trường đại học chuyên đào tạo về ngànhluật, cụ thể: giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của KhoaLuật - Đại học Quốc gia Hà Nội do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên; giáo trình Luậthình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội; giáo trình Luật hình sự Việt Nam(phần các tội phạm) của Đại học Huế do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên Trongcác giáo trình này, các tội phạm về môi trường mới chỉ được đề cập, nghiên cứu
ở mức độ khái quát các dấu hiệu của nhóm tội phạm về môi trường cũng nhưcủa từng tội cụ thể trong nhóm tội này
- Trong cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự - Phần các tội
phạm", Tập VIII, của tác giả Đinh Văn Quế cũng có đề cập đến TNHS đối với
các tội phạm về môi trường Công trình này có phân tích sâu các dấu hiệu cấuthành tội phạm (CTTP) của các tội phạm về môi trường (mặt khách quan, mặtchủ quan, chủ thể, khách thể)
- Trong bài viết "Chính sách hình sự đối với các tội phạm về môi trường"
GS.TSKH Đào Trí Úc, GS.TS Võ Khánh Vinh - hai nhà khoa học về LuậtHình sự hàng đầu của Việt Nam đã đi sâu phân tích khái niệm, nội dung vàcác lĩnh vực thể hiện chính sách hình sự đối với các tội phạm về môi trường,
cụ thể là chính sách về tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường và kèmtheo đó là chính sách về hình sự hoá các biện pháp tác động đối với các tộiphạm về môi trường, chính sách tổ chức đấu tranh phòng chống tội phạm vềmôi trường qua nội dung bài viết người đọc một cái nhìn tổng quát nhưngsâu sắc đối với tội phạm về môi trường
- GS.TS Võ Khánh Vinh còn đề cập đến vấn đề TNHS đối với các tộiphạm về môi trường như khái niệm, đặc điểm, các hình thức của TNHS trong
bài viết "Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về môi trường theo pháp luật
hình sự hiện hành; Ngoài ra, GS.TS Võ Khánh Vinh cũng có nghiên cứu về
Trang 14"Những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm môi trường", đề cập đến vấn đề TNHS khi phân
tích cơ sở của việc tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường và hoànthiện các quy định của PLHS về tội phạm về môi trường
- Trong công trình nghiên cứu "Tội phạm về môi trường - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn" do PGS.TS Phạm Văn Lợi chủ biên, ông và các đồng
nghiệp của ông đã đi sâu phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm vềmôi trường, chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa tội phạm về môitrường với các tội phạm khác Công trình nghiên cứu này giúp nhận thức sâuhơn và có cách nhìn mới hơn về các tội phạm về môi trường, đặc biệt là vềtính phức tạp của chúng, từ đó nhận diện để áp dụng trong thực tiễn và hoànthiện PLHS
- Vấn đề tội phạm về môi trường cũng được các bộ, ngành phối hợpnghiên cứu trong một số đề tài khoa học và được đánh giá là có kết quả tốt
như: Đề tài khoa học cấp Bộ "Cơ sở khoa học định lượng hóa khung hình
phạt tội phạm về môi trường" do Cục Môi trường (thuộc Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường trước đây) phối hợp với Viện Nhà nước và Pháp luật thựchiện đã đi sâu phân tích cơ sở khoa học của việc xây dựng các khung hìnhphạt đối với các tội phạm về môi trường trên cơ sở định lượng hoá các hậuquả mà các tội phạm về môi trường gây ra
- Bên cạnh các đề tài nghiên cứu tội phạm về môi trường, các đề tàinghiên cứu về VPPL môi trường cũng được đặt ra thực hiện, thậm chí ở cấp
độ đề tài khoa học cấp Nhà nước Trong số đó có thể kể đến đề tài "Những vi
phạm pháp luật về môi trường và giải pháp phòng chống", mã số KX.07-06 do
GS.TS Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân làm chủnhiệm Đề tài này đã đi sâu phân tích, làm rõ các dấu hiệu của VPPL về môitrường, các hình thức biểu hiện, cơ sở phân biệt với các hành vi vi phạm môi
Trang 15trường bị coi là tội phạm; đánh giá thực trạng đấu tranh phòng chống bằngtổng thể các biện pháp, đặc biệt là biện pháp pháp luật Vấn đề TNHS cũngđược đề cập trong công trình này khi nói đến những vấn đề liên quan đến biệnpháp xử lý, biện pháp đấu tranh
- Tài liệu tham khảo “Công tác đấu tranh, phòng, chống vi phạm pháp
luật về BVMT” do Cục Bảo vệ môi trường phát hành năm 2007 cũng phân
tích khái quát đến các VPPL về môi trường và các tội phạm về môi trường
- Gần đây, Luận án Tiến sĩ về "Trách nhiệm hình sự đối với các tội
phạm về môi trường" của tác giả Dương Thanh An - Tổng cục Môi trường đã
đi sâu phân tích và làm rõ vấn đề TNHS đối với các tội phạm về môi trườngrất cần được giải quyết một cách thấu đáo trên cả ba phương diện: lý luận(nhận thức), quy định trong luật và trong cách thức tổ chức thực hiện trênthực tế Các yếu tố nhận diện một cách chính xác TNHS đối với các tội phạm
về môi trường, tính đặc trưng và tính phức tạp của nó trong mối liên hệ vớicác dạng trách nhiệm pháp lý khác đối với VPPL môi trường
- Phân tích các công trình nghiên cứu được liệt kê trên đây có thể thấyphần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu các dấu hiệuCTTP của các tội phạm về môi trường, TNHS đối với tội phạm về môi trườngchứ chưa có đề tài/công trình nào nghiên cứu cụ thể về hành vi vi phạm quyđịnh về quản lý chất thải nguy hại Đặc biệt chưa có những nghiên cứu sâu, cụ
thể về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng “Tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại trong Luật hình sự Việt Nam” Điều đó càng cho thấy
tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ở cấp độ luận văn thạc sĩ mà tác giảđang thực hiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội Vi phạm quy định về quản lýCTNH và thực trạng xử lý các VPPL về quản lý chất thải nguy hại Qua đó
Trang 16kiến nghị và đề xuất những nội dung cơ bản hoàn thiện quy định của BLHSViệt Nam hiện hành về Tội này cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả xử
lý đối với hành vi vi phạm về quản lý chất thải nguy hại
3.2 Về phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là về những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại được quy định trong
Điều 182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
- Về địa điểm: Luận văn nghiên cứu thực trạng việc điều tra, truy tố, xét xử
các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn toàn quốc
- Về thời gian: trong khoảng thời gian 5 năm (2010 – 2014) kể từ khi Bộ
luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội danh này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Với việc nghiên cứu đề tài “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam”, Luận văn hướng vào làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về TNHS đối với hành vi vi phạm về quản lý chất thải nguyhại; những hạn chế, tồn tại, bất cập và nguyên nhân trong áp dụng Điều luậtnày trong thực tiễn, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm áp dụng quyđịnh của Điều luật phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu về đấu tranh,phòng chống tội phạm vi phạm quy định về quản lý về chất thải nguy hại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích tổng quát nêu trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụthể sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và khoa học để quy định tội vi phạm quyđịnh về quản lý chất thải nguy hại
Trang 17- Nghiên cứu những quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định vềquản lý chất thải nguy hại trên cơ sở đó xác định các đặc điểm pháp lý đối vớitội phạm này.
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn mức độ nguy hiểm của hành
vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Nghiên cứu những khó khăn, tồn tại của công tác điều tra, truy tố, xét
xử tội phạm này
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội phạm này
- Đề các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phát hiện, điều tra và xử lýtội vi phạm quy định về quản lý chất thải
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vậtlịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh vềNhà nước và Pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhànước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thểhiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết của BộChính trị như: Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 11năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013
về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên vàbảo vệ môi trường; Chỉ thị số 48- CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010 của BộChính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chốngtội phạm trong tình hình mới
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sửdụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như:phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phươngpháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội
Trang 18học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đềtương ứng được nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu chung về tội phạm về môitrường hoặc trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường nhưng chưa có đề tài nghiên cứu riêng về tội vi phạm quy định
về quản lý chất thải nguy hại
- Nghiên cứu “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
trong Luật Hình sự Việt Nam” góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cho các quy
định PLHS đối với nhóm các tội phạm về môi trường nói chung và tội viphạm quy định về quản lý chất thải nguy hại nói riêng
- Những đề xuất trong Luận văn sẽ giải quyết vấn đề thực tiễn áp dụngnhằm xử lý, răn đe, ngăn chặn kịp thời các tội phạm về quản lý chất thải nguyhại, tránh hậu quả đối với sức khỏe con người và cho xã hội
- Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo không những chocác nhà lập pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để gópphần nâng cao năng lực xét xử vụ án hình sự, mà còn cho các nhà nghiên cứu,các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinhviên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo Luật Kết quảnghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thứcchuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác trong các cơ quan tiếnhành tố tụng và các cơ quan quản lý, chuyên môn về môn trường áp dụng trênthực tiễn để việc giải quyết tội vi phạm về quản lý chất thải một khách kháchquan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của công dân, bảo vệ môi trường sống xanh sạch đẹp
Trang 197 Kết cấu của Luận văn
Phần Mở đầu
Chương 1: Nhận thức chung về quản lý chất thải nguy hại và tội vi
phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng vi phạm, xử lý vi phạm về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
hiện nay và những hạn chế, bất cập trong xử lý vi phạm về quản lý chất thải nguy.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của Luật Hình sự đối với tội vi phạm quy định vềquản lý chất thải nguy hại
Phần Kết luận
Trang 20Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề chung về quản lý chất thải nguy hại
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh racác loại chất thải Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sửdụng được nữa, do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình Theo địnhnghĩa tại Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014:
“Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc hoạt động khác” [45]; Khoản 13 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 quy
định: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”[45] Từ những quy định này, chúng ta có thể hiểu về chất thải như sau:
i) Chất thải trước hết là dạng vật chất chất cụ thể, tồn tại ở các dạng:rắn, lỏng, khí
ii) Loại vật chất này được sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác do con người thực hiện
iii) Loại vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ Như vậy, vật chất đó có phải
là chất thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của chủ sởhữu Tuy nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong hoạt động củamình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tínhchất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác Một vậtchất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợppháp thải ra cho đến khi nó được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuấthoặc chu trình sử dụng khác [31, tr.45]
Trang 21Hiện nay, dựa trên tính chất vật lý và hóa học của chất thải, các quyđịnh pháp lý chuyên ngành về bảo vệ môi trường chia chất thải thành: Chấtthải nguy hại và chất thải thông thường Do tính chất nguy hại của chất thảinguy hại, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường quy định việc quản
lý chất thải nguy hại rất chặt chẽ
Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP): Chất thải
nguy hại là các chất thải (không bao gồm các chất phóng xạ) có khả năngphản ứng hóa học hoặc có khả năng gây độc, gây cháy, ăn mòn, có khả nănggây nguy hại cho sức khỏe con người hay môi trường khi tồn tại riêng lẻ, hoặckhi tiếp xúc với các chất khác
Theo luật Bảo tồn và Phục hồi tài nguyên Mỹ (RCRA): Chất thải nguy
hại là chất thải rắn hoặc tổ hợp các chất thải rắn do lượng hoặc nồng độ hay
do đặc tính vật lý, hoá học hoặc truyền nhiễm mà chúng có thể: (1)Tạo rahoặc góp phần đáng kể vào việc tăng khả năng tử vong hay là nguyên nhândẫn đến tình trạng nguy kịch không thể cứu chữa; (2) Tạo ra sự nguy hại đếnsức khỏe con người hoặc môi trường trong khi xử lý, bảo quản, vận chuyển
Theo quy định của pháp luật BVMT Philippin: Chất thải nguy hại là các
loại vật liệu có khả năng gây nguy hiểm cho con người, động vật, có khả nănggây độc, ngộ độc, ăn mòn, dị ứng, nhạy cảm cao, gây cháy nổ
Nhìn chung, định nghĩa chất thải nguy hại ở các nước tuy có khác nhau
về cách diễn đạt, nhưng bản chất đều nhấn mạnh đến tính chất độc hại củaloại chất thải này đến môi trường và sức khỏe con người
Ở Việt Nam, khái niệm chất thải nguy hại lần đầu tiên được đề cập đến
chính thức tại Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16 tháng 7 năm
1999, tại Khoản 2 Điều 3 của Quy chế quy định: “Chất thải nguy hại là chất
thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại
Trang 22trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người” [48].
Định nghĩa này đã được sửa đổi và diễn đạt ngắn gọn và súc tích hơn
tại Khoản 11 Điều 3 Luật BVMT năm 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải
chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” Đến Luật BVMT năm 2014, khái
niệm chất thải nguy hại cơ bản kế thừa và nhấn mạnh đặc tính “lây nhiễm”lên trước một số đặc tính khác
Khi đối chiếu khái niệm chất thải nguy hại ở 03 văn bản pháp luật trên,
có thể dễ dàng nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm chất thải nguy hạitrong Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT năm 2014 đã rút gọn đi rất nhiều
về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng rõ ràng hơn và súc tích hơn Tuynhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần nội dung mà khái niệm
muốn đề cập đến: “Chất thải nguy hại là một loại chất thải, có các đặc tính
lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác với các chất khác”.
Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải nguy hại như: Phân loại theonguồn thải đặc thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp; phânloại theo loại nguy hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu;theo tình trạng vật lý…[26, tr.6] Theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMTcủa Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm 2006 về việc banhành danh mục chất thải nguy hại, chất thải nguy hại được phân loại theo cácnhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác,chế biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô
cơ, hữu cơ; chất thải từ ngành luyện kim; chất thải từ ngành sản xuất vật liệuxây dựng và thủy tinh; chất thải từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; chất
Trang 23thải từ ngành y tế và thú y; chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu hủy chấtthải, xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp…
Như vậy, qua các khái niệm về chất thải nguy hại ta có thể rút ra đặcđiểm của chất thải nguy hại như sau:
Một là, chất thải nguy hại trước hết có đầy đủ đặc điểm của chất thải
được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia, tức là các loại hình vật chất
cụ thể được thải ra qua quá trình sinh hoạt, sản xuất Dưới một số khía cạnhkhác nhau thì chất thải có thể chỉ là vật chất bỏ đi không có giá trị sử dụnghoặc tái sử dụng Tuy nhiên, hầu hết hiện nay các chất thải phát sinh từ cácquá trình tiêu dùng hay sản xuất đều có thể tái sử dụng, tái chế được Do đó,chất thải của quy trình sản xuất này có thể là nguồn nguyên liệu đầu vào củaquá trình sản xuất khác Ví dụ, sản phẩm là xỉ than thải ra sau quá trình sửdụng của nhà máy nhiệt điện có thể trở thành nguồn nguyên liệu trong ngànhxây dựng như sản xuất gạch xi măng, rải đường
Hai là, chất thải nguy hại ngoài đặc điểm chung như các loại chất thải
khác chúng có đặc điểm riêng là có chứa các chất hoặc hợp chất có một trongcác đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn,
dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chấtkhác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người Như vậy bản thântính nguy hại thể hiện ở chỗ chúng gây nguy hại trực tiếp cho môi trường haysức khỏe của con người Ví dụ như sản phẩm bùn đỏ sau quá trình sản xuấtaluminum từ quặng bô xít có khả năng gây nguy hại rất lớn cho môi trường Chính vì đặc điểm này mà quy chế về quản lý chất thải nguy hại tương đốikhác biệt so với các loại chất thải thông thường khác Bất kì quốc gia nàocũng có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo đảm quản lý được nguồnchất thải này
Trang 24Ba là, chất thải nguy hại được quản lý theo một quy chế riêng được quy
định rất chặt chẽ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật BVMT
và BLHS Đây là đặc điểm tương đối khác biệt so với các loại chất thảithông thường khác Bởi lẽ chất thải nguy hại có tính nguy hại cho con người
và môi trường cao hơn so với các loại chất thải khác Quy chế quản lý chấtthải nguy hại là cơ sở pháp lý, là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý đối vớichất thải nguy hại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hạn chếmột cách tối đa sự tác động xấu tới sức khỏe con người và môi trường củachất thải nguy hại
Bốn là, chất thải nguy hại cũng giống như các loại hình chất thải khác,
đòi hỏi chủ thể phát tán chất thải hoặc chủ thể quản lý phải có những nghĩa vụnhất định nhằm đảm bảo tính an toàn Tuy nhiên, khác với các loại chất thảithông thường khác, chất thải nguy hại có tính nguy hiểm cao hơn nên các vănbản quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ của các chủ thể trongquản lý chất thải nguy hại, nếu để xảy ra những hậu quả nhất định thì sẽ phảichịu trách nhiệm trước Nhà nước Trong đó có hình thức trách nhiệm cao nhất
là trách nhiệm hình sự Điều này là khác biệt so với các chất thải thôngthường, bởi lẽ đối với chất thải thông thường không có một quy chế riêng quyđịnh nghĩa vụ của chủ thể quản lý, mà thường nằm trong các quy định chung
về BVMT
1.1.2 Khái niệm và quy trình quản lý chất thải nguy hại
Tại Khoản 3 Điều 3 Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèmtheo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ
tướng Chính phủ quy định: “Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động
kiểm soát chất thải nguy hại trong suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu huỷ CTNH” [49].
Trang 25Theo Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi tắt là Thông tư
12/2011/TT-BTNMT) tại Khoản 1 Điều 3 quy định: “Quản lý chất thải nguy
hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại” [7].
Khái niệm quản lý chất thải nguy hại lần đầu tiên được quy định tại
Quy chế quản lý chất thải nguy hại, tiếp đó khái niệm này đã được chỉnh sửatại Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT Theo đó, khái niệm quản lý chất thảinguy hại được diễn đạt một cách cụ thể, rõ ràng, có nội hàm rộng hơn và đầy
đủ hơn so với quy định tại Khoản 3 Điều 3 của Quy chế Các nhà làm luật đãliệt kê hàng loạt hoạt động của việc quản lý chất thải nguy hại theo một quytrình chặt chẽ hơn, bao gồm cả những hoạt động liên quan đến việc phòngngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời,vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại Như vậy, trách nhiệm quản lý chấtthải của cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc quản
lý chất thải nguy hại không chỉ có từ khi chất thải đó phát sinh, mà các chủthể trên còn có trách nhiệm trong việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định,phân loại, tái sử dụng trực tiếp bằng việc áp dụng mọi biện pháp kĩ thuật hiệnđại, công nghệ tiên tiến… nhằm hạn chế lượng chất thải nguy hại phát sinhtrên thực tế
Theo quy định trên, quản lý chất thải nguy hại có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, trách nhiệm quản lý chất thải thuộc về cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quản lý chất thải nguy hại và các tổ chức, cá nhân có liên quan.Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý chất thải nguy hại trong phạm
vi chức năng luật định Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý chất thải
Trang 26nguy hại là những chủ thể có những hoạt động liên quan trực tiếp đến chấtthải nguy hại như: chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ.
Thứ hai, nội dung quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động mà các
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và các tổ chức, cá nhân cóliên quan phải thực hiện Cụ thể là: các cơ quan nhà nước có trách nhiệm xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, thanhtra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm… các tổ chức, cánhân có liên quan phải tiến hành những hoạt động phân loại, thu gom, vậnchuyển, xử lý… chất thải nguy hại
Quy trình quản lý chất thải nguy hại được thực hiện theo 5 giai đoạn.
Đó là:
Giai đoạn 1: Quản lý nguồn phát sinh chất thải nguy hại Đây là việc
tiến hành các biện pháp để quản lý chất thải nguy hại ngay tại chính nguồn phátsinh ra chất thải đó Kiểm soát chất thải nguy hại tại nguồn là một công việckhá phức tạp Cách thông thường nhất được nhiều quốc gia sử dụng để giảiquyết những vấn đề trên là tiến hành thủ tục đăng ký cấp giấy phép đối với cácchủ nguồn thải chất thải nguy hại, đặc biệt là trong ngành công nghiệp
Giai đoạn 2: Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải nguy hại Giai
đoạn này được thực hiện bằng việc phân loại, thu gom toàn bộ chất thải nguyhại tại tất cả các nguồn phát sinh ra chúng Sau khi tiến hành việc thu gom,chất thải sẽ được vận chuyển đến khu xử lý và thải bỏ hoặc đến trạm trungchuyển hay đến nơi lưu giữ tạm thời [48, tr.79]
Giai đoạn 3: Xử lý trung gian Giai đoạn này được tiến hành bởi những
phương pháp xử lý khác nhau như: xử lý cơ học, xử lý hóa học, sinh học vànhiệt… nhằm làm giảm khối lượng chất thải nguy hại, giảm thiểu hoặc loại bỏđộc tính để phù hợp hơn với khâu thải bỏ cuối cùng
Trang 27Giai đoạn 4: Chuyên chở chất thải nguy hại đi xử lý tiếp Chất thải
nguy hại sau khi xử lý trung gian sẽ được vận chuyển bằng những phươngtiện chuyên dụng đến nơi xử lý cuối cùng của quy trình
Giai đoạn 5: Thải bỏ chất thải Những phần chất thải khi không còn
được tái chế và tái sử dụng sẽ được thải bỏ bằng những cách thức khác nhaunhư:chôn lấp hoặc thiêu đốt
Việc quản lý chất thải nguy hại có thể được thực hiện bằng nhiều công cụnhư: kinh tế, pháp lý, kĩ thuật… trong đó công cụ pháp lý được coi là phươngtiện hiệu quả hàng đầu trong công tác quản lý chất thải nguy hại, thông qua việcban hành các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật vềmôi trường
1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại tới con người và môi trường
* Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với môi trường
Việc chôn lấp, xử lý chất thải nguy hại không đúng quy cách đã gây ranhững tác động vô cùng nghiêm trọng đối với môi trường, cụ thể là ảnhhưởng đến nước ngầm, nước mặt, đất và không khí
Đặc điểm địa lý của Việt Nam với phần lớn diện tích đồi, núi, phần cònlại là đồng bằng với mạng lưới sông ngòi dày đặc Đây được xem như một ưuđãi của thiên nhiên đối với con người Việt Nam, bởi chúng ta có thể sử dụngmạng lưới sông ngòi này vào sinh hoạt và sản xuất Tuy nhiên, mạng lướisông ngòi này đang bị đe dọa trầm trọng bởi chúng đang được sử dụng nhưnguồn chứa nước thải từ chính hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân,đặc biệt ở những khu đô thị và khu công nghiệp Tại những thành phố lớnnhư: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh… chưa có hệ thống xử lýchất thải công nghiệp và sinh hoạt Do đó, mạng lưới kênh rạch trong thànhphố được coi là nơi chứa chất thải chính, giải quyết vấn đề nhức nhối do chất
Trang 28thải một cách tạm thời Tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì vấn đề ônhiễm nguồn nước càng ở mức báo động Hầu hết các bệnh viện lớn đềukhông có hệ thống xử lý nước thải, hoặc có nhưng không hoạt động đã thảilượng nước này trực tiếp vào sông ngòi lân cận mà không qua xử lý, hoặc xử
lý không đảm bảo vệ sinh Hàng loạt những con sông ở các thành phố đangtrở thành những con sông chết khi nguồn nước ở đây có màu đen sẫm và bốcmùi hôi nồng nặc vào không khí Ngoài ra, nhiều sự cố tràn dầu xảy ra trongthời gian gần đây cũng cảnh báo khả năng gây ô nhiễm đến nguồn nước mặt
và cần có những biện pháp phòng ngừa kịp thời
Ở nông thôn, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan vànhững vỏ bao thuốc này không được đưa vào đúng nơi quy định để xử lýcũng gây nên những ảnh hưởng không nhỏ đối với môi trường Đa số ngườidân sau khi sử dụng đã vứt vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật (trong đó vẫn cònmột lượng nhỏ thuốc tồn lại) lên mặt ruộng, mặt sông, hồ, làm nguồn nước ởnhững nơi này bị ô nhiễm nặng nề Ví dụ, ở Hòa Bình, trong tổng số 1.700 hộ
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì có đến 120 hộ (chiếm khoảng 7%) vứt vỏbao thuốc trừ sâu bừa bãi ở ven đường, gần ao, hồ…
Chất thải nguy hại được chôn lấp vào lòng đất hoặc chôn lấp tại nhữngbãi rác kém chất lượng đã dẫn đến hiện tượng nước rác ngấm trực tiếp vàonguồn nước xung quanh Nhiều trường hợp, chất thải nguy hại được lưu giữlâu dài hoặc chôn lấp ngay tại chỗ mà không qua một khâu xử lý nào, hoặc xử
lý không đúng quy trình kỹ thuật Việc rò rỉ kim loại nặng từ các xỉ kim loạihay hiện tượng khuyếch tán sợi amiăng trong quá trình lưu giữ chất thải nguyhại đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nguồn nước ngầm
Ngoài những ảnh hưởng đến nguồn nước, chất thải nguy hại từ các cơ
sở sản xuất kinh doanh, cơ sở y tế, từ sinh hoạt thường ngày của người dân đã
là một sức ép thực sự nặng nề lên tài nguyên đất do dư lượng độc tố của chất
Trang 29thải nguy hại để lại trong đất quá cao Không chỉ phá vỡ lớp màu mỡ của đất,chất thải nguy hại còn có khả năng gây nhiễm độc cho đất, đem lại khó khăncho quá trình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Đặc biệt, việc sử dụng thuốcbảo vệ thực vật ở các vùng nông thôn (bao gồm cả trường hợp sử dụng thuốcbảo vệ thực vật mà thế giới đã hạn chế hoặc cấm do tỷ lệ độc tố cao) cũng lànguyên nhân chính gây thoái hóa và ô nhiễm đất, mặn hóa hoặc chua phèn,phá hủy cấu trúc đất… Mặt khác, nguồn ô nhiễm đất còn có thể được tạo rabởi các chất thải phóng xạ của các trung tâm khai thác phóng xạ, các nhà máyđiện nguyên tử… Các chất thải phóng xạ này gây ra ảnh hưởng lớn đến hệ visinh vật trong đất, phân giải chất hữu cơ, làm mất dinh dưỡng đất [53, tr.226].
Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải, sinh hoạt,tiêu dùng và đặc biệt là hoạt động công nghiệp đã làm cho mức độ ô nhiễmkhông khí ngày càng gia tăng Kết quả đo lường thực hiện trên thực tế chothấy khoảng 70% lượng bụi trong không khí đô thị do giao thông vận tải vàxây dựng [53, tr.168] Tình trạng thiếu thiết bị xử lý khí thải độc hại ở phầnlớn cơ sở công nghiệp (gần 100% doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị
xử lý CTNH), tình trạng gia tăng số lượng phương tiện giao thông đường bộ,việc đun nấu bằng than, dầu hỏa trong sinh hoạt thường ngày của người dân lànguyên nhân đáng kể làm ảnh hưởng đến bầu khí quyển Nhiều loại CTNHđược thải bỏ bằng cách cho bay hơi chính là nguyên nhân làm cho nhiều độc
tố lan tỏa vào không khí
* Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đến sức khỏe con người
Tồn tại dưới các dạng chủ yếu như: rắn, lỏng, khí… nên chất thải nguyhại dễ dàng xâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều cách thức khác nhau.Đặc biệt khi ở dạng lỏng, sự xâm nhập và phá hủy của nó càng nhanh chóng
và khó kiểm soát Tính chảy dòng của chất lỏng làm chúng dễ dàng di chuyểnnên khó có thể khoanh vùng lại Hơn nữa, các chất lỏng dễ dàng hòa tan các
Trang 30chất khác và có thể chuyển thành dạng hơi và khí [26, tr.31] Khi con ngườitiếp xúc với chất thải nguy hại ở nồng độ nhỏ sẽ có khả năng ảnh hưởng đếnsức khỏe như: viêm da, viêm đường hô hấp, viêm đường tiêu hóa… Nếu tiếpxúc ở nồng độ lớn, con người sẽ có khả năng mắc các bệnh hiểm nghèo, cóthể gây tử vong như: nhuyễn xương, đột biến gen, bệnh Itai do nhiễm độcCadimi…
Hiện nay, cùng với sự gia tăng cả về quy mô và số lượng các bệnh viện,lượng chất thải y tế được thải ra ngày càng nhiều Theo Tổ chức Y tế Thếgiới, trong các loại chất thải y tế, có khoảng hơn 85% chất thải y tế không lâynhiễm, 10% lây nhiễm và 5% rất độc hại Bao gồm: kim tiêm, chai thuốc, hoáchất, bộ phận cơ thể người bị cắt bỏ… có khả năng truyền bệnh rất cao Đặcbiệt các loại chất thải này khi kết hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm giómùa ở nước ta Nước thải bệnh viện chứa rất nhiều loại vi trùng, virus và cácmầm bệnh sinh học khác trong máu mủ, dịch… của người bệnh Theo kết quảphân tích của cơ quan chức năng, loại nước này ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ
và vi sinh Hàm lượng vi sinh cao gấp 100 - 1.000 tiêu chuẩn cho phép, vớinhững loại vi khuẩn Salmonella, tụ cầu, virus đường tiêu hóa, các loại ký sinhtrùng, amip… hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp 2 - 3 lần tiêu chuẩn chophép Dù chứa đựng nhiều độc tố như vậy, nhưng hầu hết tại các bệnh việnlớn ở Trung ương nước thải chỉ qua bể phốt rồi đổ thẳng ra cống Ở bệnh việntuyến huyện thì ngay cả bể phốt cũng không có, mà được thải luôn ra ngoài.Những mầm bệnh trong nước thải khi được thải ra ngoài đã xâm nhập vào cơthể các loại thủy sản, vật nuôi, cây trồng và dễ dàng trở lại với con người.Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm gia tăng các bệnhhiểm nghèo cho người dân
Thuốc bảo vệ thực vật là nguồn gây ô nhiễm nặng nề không chỉ đối vớimôi trường mà còn đối với sức khỏe con người Trên thực tế, đã có nhiều sự
Trang 31cố không nhỏ do thuốc bảo vệ thực vật gây ra Một mặt, do ý thức bảo quảnthuốc của người dân không cao nên một phần dư lượng thuốc đã phát tán vàomôi trường Mặt khác, do người dân ở nhiều nơi lạm dụng thuốc bảo vệ thựcvật đối với rau quả đã khiến dư lượng thuốc quá cao trong sản phẩm, ngay cảkhi chúng đến tay người tiêu dùng Như vậy, bằng nhiều con đường khácnhau, một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật đã quay trở lại cơ thể con người,gây nên những tai nạn đáng tiếc.
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam
1.2.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Việc nghiên cứu về bất kỳ tội phạm nào khâu đầu tiên cũng cần đưa rađược khái niệm về tội phạm ấy Khi nghiên cứu để đưa ra được khái niệm vềbất kỳ tội phạm cụ thể nào cũng cần xuất phát từ khái niệm tội phạm nóichung được quy định tại Điều 8 của BLHS năm 1999 Theo Điều 8 BLHSnăm 1999 thì:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [37].
Như vậy có thể rút ra khái niệm ngắn gọn về tội phạm là hành vi nguyhiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt [56,tr.45] Đây là khái niệm tội phạm nói chung, tất cả các khái niệm tội phạm cụ
Trang 32thể được quy định trong phần các tội phạm của BLHS đều phải có những đặcđiểm cơ bản của khái niệm này
Để nghiên cứu đưa ra được khái niệm tội vi phạm quy định về quản lýchất thải nguy hại chúng ta cần xuất phát từ khái niệm được quy định tại Điều182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định cụ thể như sau:
“Người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 của Bộ luật này, thì ”[43] Như vậy, Điều
182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 không đưa ra khái niệm thếnào là tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại mà dẫn chiếu đến cácquy định khác về quản lý chất thải nguy hại Theo đó, người nào vi phạm quyđịnh về quản lý chất thải nguy hại có hậu quả là gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì phạm tội này
Điều này dẫn đến việc chúng ta phải nghiên cứu thế nào là vi phạm quyđịnh về quản lý chất thải nguy hại Như tại tiểu mục 1.1 đã phân tích, chất thảinguy hại là một loại chất thải, có các đặc tính lý, hóa hoặc sinh học có thể gâynguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác với các chất khác Còn quản lýCTNH gồm các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phânloại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi), tiêu huỷ chấtthải nguy hại Như vậy, vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là việccác chủ thể có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật đã không tuân thủ các quyđịnh liên quan đến phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển,lưu giữ, xử lý, tiêu hủy đối với loại chất thải có đặc tính lý, hóa hoặc sinh học
có thể gây nguy hại trực tiếp cho sức khỏe của con người hoặc môi trường
Với tính chất chất nghiêm trọng của loại chất thải này, Nhà nước đãban hành quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến quản lý chất thảinguy hại nhằm đảm bảo các chủ thể có nghĩa vụ trong quản lý loại chất thải
Trang 33này có trách nhiệm hơn trong việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thugom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi), tiêu huỷ chất thảinguy hại Trong đó có cả chế tài về hình sự được quy định tại Điều 182aBLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Như vậy, xuất phát từ khái niệm tội phạm nói chung được quy địnhtrong BLHS năm 1999 và khái niệm vi phạm về quản lý chất thải nguy hạichúng ta có thể rút ra khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại như sau: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự được thực hiện bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự và có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thông qua việc chủ thể đó không tuân thủ các quy định liên quan đến quản lý chất thải nguy hại.
1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Để nghiên cứu cụ thể hơn về tội vi phạm quy định về quản lý chất thảinguy hại ngoài việc đưa ra được khái niệm về tội phạm này còn cần phân tíchđược các dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội phạm) của tội phạm này Theo lýluận về luật hình sự hiện nay cho thấy một tội phạm phải có đầy đủ các dấuhiệu pháp lý về khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan Có đầy đủcác yếu tố này mới đủ cơ sở để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, làm
rõ cơ sở của TNHS đối với tội phạm này Tương tự như các tội phạm khác, tội
vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại có các dấu hiệu pháp lý sau
1.2.2.1 Khách thể của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được phápluật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tộiphạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kểnhất định [14, tr.349]
Trang 34Nghiên cứu về khách thể của bất kỳ tội phạm nào cần phải tìm hiểu mộtcách toàn diện và tổng thể về ba loại khách thể là khách thể chung của tộiphạm, khách thể loại và khách thể trực tiếp.
Khách thể chung của tội phạm là là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội
bị tội phạm xâm hại và được luật hình sự bảo vệ Hiện nay hầu hết các nhànghiên cứu đều thừa nhận khách thể chung của tất cả các tội phạm trong đó cótội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là những quan hệ xã hộiđược mô tả tại khoản 1 Điều 8 của BLHS năm 1999 Theo đó tội phạm làhành vi xâm phạm tới độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, anninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạmtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi íchhợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự phápluật xã hội chủ nghĩa Như vậy, khách thể chung của tội vi phạm quy định vềquản lý chất thải nguy hại là các quan hệ xã hội được mô tả tại khoản 1 Điều
8 của BLHS năm 1999 Việc nghiên cứu khách thể chung của tội phạm chúng
ta có thể xác định được chính sách hình sự của một quốc gia và từ đó phânnhóm được các khách thể này để chỉ ra khách hể loại của tội phạm
Khách thể loại của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Về mặt khái niệm khách thể loại của tội phạm được hiểu là nhóm quan hệ xãhội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm PLHS bảo vệ và bị mộtnhóm các tội phạm xâm hại tới Khách thể loại có vai trò quan trọng tronglĩnh vực lập pháp Nó là cơ sở để BLHS xây dựng các chương trong phần cáctội phạm Tại phần các tội phạm, các tội phạm được phân chia thành từngchương khác nhau phụ thuộc vào nhóm quan hệ xã hội bị xâm hại (tức kháchthể loại của tội phạm)
Trang 35Nghiên cứu phần các tội phạm trong BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sungnăm 2009 thì tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại được quyđịnh tại Chương XVII: Các tội phạm về môi trường Như vậy, khách thể loạicủa tội vi phạm quy định về quản lý CTNH cũng giống như các tội phạm khácđược quy định tại Chương XVII là tổng thể những quan hệ xã hội được hìnhthanh trong lĩnh vực BVMT, về giữ gìn môi trường trong sạch, giữ gìn cácđiều kiện thiên nhiên thuận lợi đối với con người và các động vật sống khác,
sử dụng hợp lý những tài nguyên của nó và đảm bảo an toàn môi trường chocộng đồng dân cư Nội dung của quan hệ xã hội là khách thể của các tội phạmthuộc Chương VII không giới hạn trong một lĩnh vực cụ thể, như trong hoạtđộng kinh tế chẳng hạn.Hậu quả của những hành vi xâm hại môi trường gây
ra không chỉ với hoạt động kinh tế mà đối với toàn bộ hoạt động cuộc sốngtrái đất Như vậy, qua việc nghiên cứu khách thể loại của tội vi phạm quyđịnh về quản lý lý chất thải nguy hại ta có thể xác định quan hệ xã hội bị tộiphạm này xâm hại là các quan hệ trong lĩnh vực BVMT gìn giữ tài nguyên vàđảm bảo môi trường xanh sạch đẹp
Về khách thể trực tiếp của tội vi phạm quy định về quản lý chất thảinguy hại Ta có thể hiểu khách thể trực tiếp của tội phạm là một hoặc một sốquan hệ xã hội cụ thể bị hành vi phạm tội cụ thể xâm hại Thông qua việc gâythiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đối với khách thể trực tiếp mà tội phạm đãgây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại của tội phạm Như vậykhách thể trực tiếp của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại lànhững quan hệ xã hội trong lĩnh vực liên quan đến việc phòng ngừa, giảmthiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi),tiêu huỷ chất thải nguy hại Hành vi không tuân thủ đúng quy định về phòngngừa, phân loại, thu gom, vận chuyển, tiêu hủy chất thải nguy hại có khả nănggây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, đảm bảo sự xanh, sạch, đẹp của
Trang 36môi trường sống trên trái đất Ảnh hưởng tới sức khỏe của con người hoặc tớimôi trường Khách thể trực tiếp của tội phạm là một yếu tố quan trọng trongviệc sử dụng để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác trong cùng mộtchương của BLHS.
Khi nghiên cứu khách thể của tội phạm không thể không tìm hiểu đốitượng tác động của tội phạm vì mỗi tội phạm đều xâm hại tới khách thể nhấtđịnh thông qua việc tác động đến một đối tượng cụ thể Các bộ phận cấuthành nên khách thể bị hành vi phạm tội tác động nhằm gây thiệt hại hoặchoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự gọi là đốitượng tác động của tội phạm Đối tượng bị tội phạm tác động theo tội danhnày là các quy định về quản lý chất thải nguy hại Theo quy định tại khoản 1
Điều 3 Thông tư số: 12/2011/TT-BTNMT thì "Quản lý chất thải nguy hại là
các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại " [7].
1.2.2.2 Chủ thể của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Chủ thể của tội phạm là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình cấm, có năng lực TNHS và đủ tuổichịu trách nhiệm hình sự theo luật định [14, tr.357] Như vậy, chủ thể của tộiphạm là người đạt độ tuổi chịu TNHS, có năng lực TNHS và đã thực hiện mộttội phạm Cơ sở pháp lý để xác định chủ thể của vi phạm quy định về quản lýchất thải nguy hại là Điều 12, Điều 13 BLHS năm 1999, Điều 182a BLHSnăm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 Điều 12 BLHS năm 1999 quy định vềtuổi chịu TNHS như sau:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
Trang 372 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [37].
Theo quy định của PLHS hiện hành, chủ thể của tội phạm ở nước ta là
"người", nghĩa là chỉ cá nhân cụ thể chứ không bao gồm là pháp nhân Cánhân này muốn trở thành chủ thể của tội phạm nói chung hay tội cướp giật tàisản nói riêng thì phải có năng lực TNHS PLHS nước ta không quy định cụthể thế nào là có năng lực TNHS Qua quy định tại khoản 1 Điều 13 BLHS năm
1999, chúng ta có thể hiểu những người có năng lực TNHS là những ngườikhông mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi Người có hành vi vi phạm quy định vềquản lý chất thải nguy hại chỉ khi họ có khả năng nhận thức được tính chấtthực tế (tính nguy hiểm cho xã hội) và tính pháp lý (tính trái PLHS) của hành
vi do mình thực hiện hoặc điều khiển được hành vi của mình [12, tr.358]
Theo quy định tại khoản 1 Điều 182a thì:
“Người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” [43].
Căn cứ vào phân loại tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS thì tội ítnghiêm trọng là tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất củakhung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù Như vậy, theo khoản 1 củaĐiều 182a thì mức hình phạt áp dụng với người phạm tội là phạt tiền từ 50triệu đồng đến 500 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặcphạt tù từ sáu tháng đến ba năm là thuộc trường hợp tội ít nghiêm trọng Đốichiếu với Điều 12 BLHS về năng lực TNHS thì chủ thể của tội phạm trong
Trang 38trường hợp phạm tội tại khoản 1 Điều 182a là cá nhân có năng lực TNHS từ
đủ 16 tuổi trở lên Khoản 2 Điều 182a quy định:
“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;
c) Tái phạm nguy hiểm” [43]
Như vậy, đối chiếu với quy định tại Điều 8 BLHS thì khoản 2 Điều182a là trường hợp tội phạm nghiêm trọng Căn cứ vào Điều 12 BLHS thì chủthể của tội phạm trong trường phạm tội tại khoản 2 Điều 182a là cá nhân cónăng lực TNHS từ đủ 16 tuổi trở lên
Khoản 3 Điều 182a quy định: “Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm
trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm” Như vậy, đây là trường hợp
tội phạm rất nghiêm trọng Đối chiếu với quy định tại Điều 12 BLHS thì chủthể của tội phạm trong trường hợp phạm tội theo khoản 3 Điều 182a BLHS là
cá nhân có năng lực TNHS từ đủ 14 tuổi trở lên
Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định về quản lý chất thải nguy hại thìđòi hỏi chủ thể các chủ thể này phải là người có nghĩa vụ trong việc quản lýchất thải nguy hại theo quy định của pháp luật về BVMT do đó chủ thể củatội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại ngoài đáp ứng được điềukiện về năng lực TNHS và độ tuổi còn phải đáp ứng được điều kiện là chủ thểđặc biệt Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt vì ngoài các các yếu tố bắtbuộc đối với các chủ thể của tội phạm thông thường thì họ phải là nhữngngười có trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý chất thải nguy hại hoặc làngười chịu trách nhiệm tổ chức, kiểm tra, giám sát các công việc đó [28,tr.409]
Trang 39Cơ sở thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, những chủ thể hành nghề quản lýchất thải nguy hại khó có thể là cá nhân Cụ thể, về điều kiện cơ sở pháp lý,
chủ thể thực hiện hoạt động quản lý chất thải nguy hại phải "Có đăng ký
ngành, nghề kinh doanh phù hợp trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ tương đương" Thực tế cho thấy
điều kiện này thường chỉ có pháp nhân mới có thể đáp ứng Do vậy, về mặt lýluận cũng như thực tiễn việc điều tra, truy tố, xét xử Tội vi phạm quy định vềquản lý chất thải nguy hại tội có nhiều vướng mắc Bởi lẽ, PLHS Việt Namchưa có quy định về truy cứu TNHS đối với pháp nhân Khiếm khuyết nàydẫn đến những người hành động nhân danh pháp nhân, cho dù không phải làchủ sở hữu pháp nhân phải chịu TNHS, mà đáng lý và công bằng là phápnhân phải chịu TNHS
1.2.2.3 Mặt khách quan của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Mặt khách quan của tội phạm là sự tổng hợp các dấu hiệu do luật hình sựquy định và các tình tiết phản ánh hành vi bên ngoài của sự xâm hại cụ thể nguyhiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng PLHS Mặt kháchquan của tội phạm bao gồm hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậuquả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả Không cómặt khách quan thì không có tội phạm, trong mặt khách quan thì yếu tố hành
vi khách quan là căn cứ cơ bản nhất để phân biệt tội phạm này với tội phạmkhác trong Phần các tội phạm của BLHS
Về hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội: Là cách xử sự trái
PLHS và nguy hiểm cho xã hội [12, tr.366] Căn cứ vào khoản 1 Điều 182a
thì: “Người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 của Bộ luật này, thì ” [43] Như
Trang 40vậy, hành vi khách quan của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguyhại được thể hiện ở việc người phạm tội đã có cách xử sự trái PLHS Tuynhiên, Điều 182a không mô tả thế nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội màdẫn chiếu đến các quy định về quản lý chất thải nguy hại, do cách mô tả
“người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại” do đó, xử sự trái
pháp luật ở đây được hiểu người phạm tội đã có hành vi vi phạm quy định vềquản lý chất thải nguy hại được thể hiện trong các văn bản pháp luật chuyênngành, cụ thể là văn bản pháp luật về BVMT
Các hành vi vi phạm này được xác định theo luật chuyên ngành, chúngđược quy định chung tại các điều từ Điều 90 đến Điều 94 của Luật BVMTnăm 2014; Điều 25, Điều 26 và Điều 29 của Thông tư 12/2011/TT-BTNMT
Cụ thể hơn nữa là các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
bị pháp luật nghiêm cấm được quy định tại các điều từ Điều 21 đến Điều 24Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt hànhchính trong lĩnh vực BVMT, cụ thể như sau:
* Các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại của Chủ nguồn thải chất thải nguy hại có thể gây ô nhiễm môi trường gồm:
- Không đóng gói, bảo quản chất thải nguy hại theo chủng loại trongcác bao bì chuyên dụng hoặc thiết bị lưu chứa tạm thời chất thải nguy hại đápứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định;
- Không bố trí hoặc bố trí khu vực lưu giữ tạm thời chất thải nguy hạikhông đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định;
- Không thu gom triệt để chất thải nguy hại vào khu vực lưu giữ tạmthời theo quy định; để chất thải nguy hại ngoài trời mà chất thải nguy hại đó
có thể tràn, đổ, phát tán ra ngoài môi trường
- Để lẫn chất thải nguy hại khác loại với nhau hoặc để lẫn chất thải nguyhại với chất thải khác