Trong những năm áp dụng BLTTHS 2003 nói chung cũng như quy định về BPNC nói riêng, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu thể hiện ý kiến đánh giá về thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị. Đặc biệt là từ khi Hiến pháp 2013 được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày vào sáng ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, sau đó là thực hiện Kế hoạch xây dựng dự án BLTTHS do Quốc hội giao nhiệm vụ cho Ban Soạn thảo BLTTHS (sửa đổi), có một số công trình nghiên cứu đưa ra ý kiến kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLTTHS 2003 để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp 2013 để đảm bảo QCN khi áp dụng các BPNC trong tố tụng hình sự. BPNC chính là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu như cuốn sách “Chế định các BPNC theo luật tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả TS. Nguyễn Trọng Phúc(2003), Luận án tiến sỹ: “Các BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Văn Điệp, Luận văn thạc sĩ “ Đảm bảo QCN trong áp dụng các BPNC của tố tụng hình sự”(2004) của tác giả Lại Văn Trình.... Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết khác về BPNC được đăng trên các tạp chí Luật học, Tạp chí TAND, Tạp chí Kiểm sát, Khoa học Pháp lý,... như: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những BPNC” của tác giả Mai Bộ (2007); “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC” của tác giả Vũ Gia Lâm (2012); “Những vướng mắc trong việc áp dụng các BPNC theo quy định của BLTTHS và kiến nghị sửa đổi bổ sung” của tác giả Phùng Văn Tài (2012); “ Hiến pháp 2013 và việc hoàn thiện BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong TTHS” của tác giả Nguyễn Ngọc Chi (2014),…. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy: các tài liệu và công trình nghiên cứu này có đề cập đến việc dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC ở nước ta để từ đó đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi BLTTHS 2003 cho phù hợp với tình hình mới nhưng chưa đề cập được một cách có hệ thống các lý luận cũng như phương hướng hoàn thiện vấn đề áp dụng BPNC trong BLTTHS theo tinh thần Hiến pháp 2013 về QCN. Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về QCN” với mong muốn tạo ra một cơ sở tham khảo để đề xuất hoàn thiện BLTTHS tới đây về vấn đề áp dụng các BPNC theo tinh thần của Hiến pháp 2013 về đảm bảo QCN, góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách về đổi mới tư pháp ở nước ta.
Trang 1MỤC LỤC
A – PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Ý nghĩa của đề tài 9
8 Cấu trúc của đề tài 9
B – PHẦN NỘI DUNG: CHƯƠNG I: NHẬN THỨC VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1 Quyền con người và vấn đề đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự
1.1 Khái niệm và những yêu cầu đặt ra về quyền con người trong tố tụng hình sự 10
1.2 Nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong Hiến pháp năn 2013 14
2 Nhận thức về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam
2.1 Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng Việt Nam 21
2.2 Yêu cầu đặt ra về đảm bảo quyền con người trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn của Luật tố tụng hình sự 31
Kết luận chương I 32
Trang 2CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1 Những vấn đề liên quan đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố
tụng hình sự Việt Nam
1.1 Tình hình và đặc điểm của tội phạm ở Việt Nam 35
1.2 Thực tiễn đảm bảo quyền con người trong Tố tụng hình sự Việt Nam 37 2 Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và đảm bảo quyền con người trong quá trình thực thi ở Việt Nam 48
3 Nhận xét, đánh giá
3.1 Những kết quả đạt được 53
3.2 Những hạn chế và vướng mắc 59
3.3 Nguyên nhân của những hạn chế và vướng mắc 71
Kết luận chương II 75
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRONG THỜI GIAN TỚI 1 Phương hướng hoàn thiện và thực thi các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam để đảm bảo quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013 77 2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC trong TTHS 81
C – PHẦN TỔNG KẾT DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 102
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT:
Trang 4A - PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới đã có rất nhiều văn bản pháp lý thể hiện tương đối toàn diệnnhững chuẩn mực quốc tế về QCN như: Tuyên ngôn thể giới về nhân quyền( 1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) ( ICCPR) vànhiều văn kiên khác như “Tập hợp các nguyên tắc bảo vệ tất cả những người bịgiam hay cầm tù dưới bất kì hình thức nào” được Đại hội đông Liên hợp quốcthông qua bằng Nghị quyết 43/173 ngày 9/12/1988 ( bao gồm 39 nguyên tắc cụthể); “Các quy tắc của Liên Hợp Quốc”…
Tham gia các Công ước quốc tế, trong đó có các công ước về nhân quyền làmột chủ trương thường xuyên và nhất quán của Nhà nước Việt Nam Ngoài việcgia nhập bốn Công ước quốc tế Giơ-ne-vơ (1949) về bảo hộ nạn nhân chiến tranh,đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh năm 1957, Việt Nam chỉ đủ điều kiệntham gia các Công ước quốc tế về nhân quyền sau khi trở thành thành viên Liênhợp quốc năm 1977 Ngày 9/6/1981, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về xóa
bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc Ngày 27/11/1981, Việt Nam ký Công ướcquốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; tháng 2/1982 chính
Trang 5thức phê chuẩn Công ước này Ngày 24/9/1982, Việt Nam gia nhập Công ước quốc
tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tề về các quyền dân
sự chính trị Tháng 1/1990, Việt Nam ký Công ước về quyền trẻ em và phê chuẩnngày 20/2/1990 Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ 2 trên thế giới trởthành thành viên của Công ước này Trong năm 2013 và 2014, Việt Nam phêchuẩn Công ước về chống tra tấn và Công ước về quyền của người khuyết tật.Ngoài các điều ước quốc tế cơ bản về QCN trên, Việt Nam đã tham gia các côngước quốc tế khác có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ QCN và luật nhân đạo quốc tếnhư Nghị định thư bổ sung Công ước Genève về bảo hộ nạn nhân trong các cuộcxung đột quốc tế (tham gia ngày 28/8/1981), Công ước về ngăn ngừa và trừng trịtội ác diệt chủng và Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội ác Apartheid (tham giangày 9/6/1981)…
QCN cũng được coi là một trong những vấn đề trọng tâm tại Đại Hội đồngLiên minh Nghị viện Thế giới 132 (IPU) diễn ra tại thủ đô Hà Nội từ ngày 28/3-1/4/ 2014 - một sự kiện đặc biệt quan trọng, đánh dấu mốc sang trang mới tronglịch sử phát triển 125 năm của tổ chức liên minh nghị viện lớn nhất và lâu đời nhấtthế giới Với 166 thành viên và 10 thành viên liên kết; hơn 1.600 đại biểu quốc tế,trong đó có khoảng 50 vị Chủ tịch Quốc hội và 50 Phó Chủ tịch Quốc hội IPU làtrung tâm của hoạt động ngoại giao nghị viện khắp thế giới, hoạt động nhằm mụcđích vì hòa bình, dân chủ hợp tác giữa các dân tộc và nghị viện các nước
Các Ủy ban thường trực của IPU đã thông qua các Nghị quyết gồm Nghịquyết Chiến tranh mạng – mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninhquốc tế; Nghị quyết Định hình cơ chế mới về quản trị nguồn nước: Thúc đẩy hànhđộng của Nghị viện về vấn đề nước; Nghị quyết về Luật pháp quốc tế trong vấn đềchủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và QCN
Trang 6Ngày 01/01/2014, Hiến Pháp 2013 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cóhiệu lực thi hành, thể hiện những bước tiến mới trong ghi nhận QCN và quyềncông dân; tạo một nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thực hiện QCN, quyềncông dân trên thực tế Qua đó đòi hỏi sự thay đổi phù hợp của các Bộ luật khác đểphù hợp với Hiến pháp 2013 về bảo vệ QCN Tuy nhiên, qua gần 12 năm thi hành,BLTTHS năm 2003 chưa có sự bổ sung, sửa đổi Quy định của BLTTHS 2003 về
áp dụng BPNC trong tố tụng hình sự bộc lộ nhiều hạn chế như: còn có quy địnhchưa phù hợp với tiêu chí quốc tế về nhân quyền, lạm dụng trong quá trình giảiquyết vụ án của cơ quan THTT, người THTT,… chưa đáp ứng được yêu cầu củaHiến pháp 2013 về đảm bảo QCN trong áp dụng BPNC trong tố tụng hình sự
BPNC sẽ hạn chế một số quyền của công dân, QCN của người bị áp dụngbiện pháp này Tuy nhiên, đây là một chế định quan trọng trong BLTTHS CácBPNC được qui định trong BLTTHS đã phát huy tác dụng giúp cho việc giảiquyết vụ án hình sự được kịp thời, nhanh chóng Tuy nhiên, thời gian qua việc ápdụng các biện pháp này trong thực tế còn nhiều sai sót, vướng mắc; cho nên việcnghiên cứu một cách tổng hợp và sâu sắc các BPNC trong Tố tụng hình sự là hếtsức cần thiết; đặc biệt hơn nữa là trong vấn đề bảo đảm QCN theo tinh thần màHiến pháp 2013 đã nêu và những công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết
Xuất phát từ tình hình thực tế cùng với kiến thức trong quá trình nghiên cứu
học tập, nhóm chúng em thực hiện nghiên cứu đề tài “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự - Định hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về quyền con người”
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm áp dụng BLTTHS 2003 nói chung cũng như quyđịnh về BPNC nói riêng, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu thể hiện ý kiếnđánh giá về thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị Đặc biệt là từ
Trang 7khi Hiến pháp 2013 được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông quavào ngày vào sáng ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01năm 2014, sau đó là thực hiện Kế hoạch xây dựng dự án BLTTHS do Quốc hộigiao nhiệm vụ cho Ban Soạn thảo BLTTHS (sửa đổi), có một số công trình nghiêncứu đưa ra ý kiến kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLTTHS 2003 để phùhợp với tinh thần của Hiến pháp 2013 để đảm bảo QCN khi áp dụng các BPNCtrong tố tụng hình sự
BPNC chính là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tài liệu, công trình
nghiên cứu như cuốn sách “Chế định các BPNC theo luật tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả TS Nguyễn Trọng Phúc(2003), Luận án tiến sỹ: “Các BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Văn Điệp, Luận văn thạc sĩ “ Đảm bảo QCN trong áp dụng các BPNC của tố tụng hình sự”(2004) của tác giả Lại Văn Trình Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết khác
về BPNC được đăng trên các tạp chí Luật học, Tạp chí TAND, Tạp chí Kiểm sát,
Khoa học Pháp lý, như: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những BPNC” của tác giả Mai Bộ (2007); “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC” của tác giả Vũ Gia Lâm (2012); “Những vướng mắc trong việc áp dụng các BPNC theo quy định của BLTTHS và kiến nghị sửa đổi bổ sung” của tác giả Phùng Văn Tài (2012); “ Hiến pháp 2013 và việc hoàn thiện BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong TTHS” của tác giả Nguyễn Ngọc
Chi (2014),…
Thực tiễn nghiên cứu cho thấy: các tài liệu và công trình nghiên cứu này có
đề cập đến việc dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC ở nước ta
để từ đó đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi BLTTHS 2003 cho phù hợp với tìnhhình mới nhưng chưa đề cập được một cách có hệ thống các lý luận cũng nhưphương hướng hoàn thiện vấn đề áp dụng BPNC trong BLTTHS theo tinh thần
Trang 8Hiến pháp 2013 về QCN Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về QCN” với mong muốn tạo ra một cơ sở tham
khảo để đề xuất hoàn thiện BLTTHS tới đây về vấn đề áp dụng các BPNC theotinh thần của Hiến pháp 2013 về đảm bảo QCN, góp phần giải quyết yêu cầu cấpbách về đổi mới tư pháp ở nước ta
3 Mục đích nghiên cứu
Qua việc làm sáng tỏ một cách có hệ thống các cơ sở lý luận cũng như đánhgiá thực tiễn, đề xuất những phương hướng hoàn thiện BLTTHS 2003 về áp dụngBPNC nhằm góp phần giải quyết yêu cầu về cải cách tư pháp, cho phù hợp với tinhthần của Hiến pháp 2013 – cơ sở pháp lý của các Luật
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ những quan điểm, luận điểm về vấn đề QCN được nêu ratrong Hiến pháp 2013 làm tiền đề cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực tiễn
- Đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC trong thực tiễn để có cái nhìn tổngquát cho vấn đề cần nghiên cứu, những vướng mắc, những vấn đề bất cập, bất hợp
lý khi áp dụng trong thực tế và những nguyên nhân điều kiện dẫn đến những tồn tạiđó
- Đưa ra kiến nghị phương hướng hoàn thiện các quy định về áp dụng cácBPNC trong TTHS theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về QCN
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về QCNtrong Hiến pháp và QCN trong hoạt động tố tụng nói chung và trong áp dụng cácBPNC nói riêng
Trang 9- Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu việc áp dụng BPNC trong phạm vi
cả nước, thời gian chú trọng vào giai đoạn 2000 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tường Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nhà nước về đấutranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như : phường pháp phân tích, so sánh,tổng hợp, khảo sát thực tế, phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia…
7 Ý nghĩa của đề tài
- Về lý luận: kết quả của đề tài là một đóng góp tích cực cho việc hoàn thiệnviệc áp dụng các BPNC trong thực tiễn; góp phần xây dựng một cái nhìn mới, địnhhướng mới cho việc áp dụng pháp luật theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 vềQCN
- Về thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan kiến nghị, đóng góp ýkiến sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLTTHS trong thời gian tới theo Kế hoạch xâydựng dự án BLTTHS do Quốc hội giao nhiệm vụ cho Ban Soạn thảo BLTTHS(sửa đổi)
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần mục lục, nội dung chính của đề tàiđược cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1 Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người trong áp dụng cácBPNC
Chương 2 Thực tiễn áp dụng các BPNC trong TTHS Việt Nam
Trang 10Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng cácBPNC trong TTHS thời gian tới.
Trang 111 Quyền con người và vấn đề bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
1.1 Khái niệm và những yêu cầu đặt ra về quyền con người trong
tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Con người là vấn đề cơ bản nhất của mọi thời đại, cho nên QCN, quyền
công dân luôn luôn trở thành nội dung thu hút được sự quan tâm cả về phương diện
lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của mọi quốc gia, từng khu vực vàmang tính toàn cầu Quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền tự
do, bình đẳng… là những quyền cơ bản của con người QCN là thành quả pháttriển của lịch sử lâu dài sự nghiệp đấu tranh giải phóng, cải tạo xã hội và cải tạothiên nhiên của toàn nhân loại Bàn về QCN (hay còn gọi nhân quyền) có nhiềuquan niệm khác nhau Trường phái pháp luật tự nhiên cho rằng: QCN là đặc quyền
tự nhiên Đặc quyền tự nhiên này do pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn phápluật thực định Quan niệm khác xem con người cũng như QCN trong tổng hoà cácmối quan hệ xã hội Theo quan niệm này, nhân quyền là một giá trị nhân loại, đồngthời có tính lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mớiqua các thời đại khác nhau
Học thuyết Mác-Lênin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởngnhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng giá trị
Trang 12tinh hoa của nhân loại về con người và QCN Các Mác đã xuất phát từ con người
là một thực thể thống nhất, một “sinh vật - xã hội ” Do đó QCN là sự thống nhấtbiện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội.”
Theo Từ điển tiếng Việt 1992, quyền là: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” Như vậy, có thể hiểu QCN là
những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng Con người là
một thực thể tự nhiên - xã hội, là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội,cho nên QCN cũng vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội Do con người là
một thực thể sinh học xã hội, cho nên QCN vừa mang tính phổ biến vừa mang tính
đặc thù Tính phổ biến của QCN có nghĩa QCN được áp dụng phổ biến mọi nơi,cho mọi đối tượng Tính đặc thù của QCN có nghĩa, quyền này ở mỗi quốc gia,mỗi lãnh thổ do trình độ phát triển khác nhau mà có đặc điểm riêng phù hợp vớiđiều kiện của quốc gia, lãnh thổ đó QCN mang tính xã hội, nên trong xã hội có sựphân chia giai cấp nên nó vừa mang tính giai cấp sâu sắc, vừa là một giá trị củanhân loại Trong chủ nghĩa xã hội có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợiích tập thể và lợí ích toàn xã hội Lợí ích cá nhân là mục tiêu, động lực của sự pháttriển xã hội, đồng thời bảo đảm lợi ích của tập thể, của cả cộng đồng xã hội
QCN có mối liên hệ mật thiết với quyền công dân C.Mác cho rằng QCN vàquyền công dân luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biệnchứng với nhau Quyền công dân chính là QCN trong một xã hội cụ thể, trong mộtchế độ chính trị - xã hội nhất định với một nền pháp luật cụ thể do Nhà nước đó
thừa nhận quy định.
Có rất nhiều văn bản mang danh là tiếng nói về nhân quyền nhưng văn bảnchung nhất, đại diện cho sự thỏa thuận về QCN trong các khu vực, hiến pháp vàluật pháp quốc gia, mang tính quốc tế sâu sắc chính là Tuyên ngôn Quốc tế Nhânquyền được Đại hội đồng Liên hợp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại
Trang 13Palais de Chaillot ở Paris, Pháp Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền là mộtkhuôn mẫuchung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc Tinh thần của bản Tuyên ngôn
là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên LiênHợp Quốc tôn trọng các QCN cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn Theo đó, conngười có ba nhóm quyền cơ bản bao gồm quyền dân sự, quyền chính trị và quyềnkinh tế, xã hội và văn hóa
Quyền dân sự bao gồm: quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhànước, quản lý xã hội; quyền bình đẳng nam nữ; quyền tự do ngôn luận; tự do báochí; quyền được thông tin; quyền tự do tín ngưỡng
Quyền chính trị bao gồm: quyền tự do đi lại và cư trú trong nước; quyền ranước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyềnđược luật pháp bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bấtkhả xâm phạm về chỗ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điệnbáo, quyền khiếu nại, tố cáo v.v
Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội gồm: quyền lao động; quyền tự do kinhdoanh; quyền sở hữu hợp pháp và thừa kế; quyền học tập; quyền nghiên cứu, phátminh, sáng chế; quyền được bảo vệ sức khỏe; quyền được bảo vệ hôn nhân và giađình; quyền trẻ em; quyền người già…
1.1.2 Yêu cầu đặt ra về đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự.
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế
về QCN , trong đó phải kể đến Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trịnăm 1966 (ICCPR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội,và văn hóa năm
1966 (ICESCR); Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử vớiphụ nữ năm 1979 (CEDAW), Theo các Công ước này, QCN trong mọi lĩnh vựcphải được các quốc gia tôn trọng và bảo vệ, bao gồm cả các quyền cần được đảmbảo bởi pháp luật hình sự và pháp luật TTHS như quyền sống, quyền xin đuợc ân
Trang 14giảm hoặc thay đổi mức hình phạt, quyền không bị tra tấn, đối xử một cách tàn ác,
vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm,không bị bắt giữ và giam cầm vô căn cứ, Các Công ước này cũng đòi hỏi các quốc gia thành viên phải tiến hành các biệnpháp lập pháp cần thiết nhằm đảm bảo ngày càng đầy đủ các QCN Theo đánh giátổng kết của Báo cáo nghiên cứu rà soát quy định pháp luật Việt Nam về các quyền
dân sự, chính trị do Vụ pháp luật Quốc tế thì: “Việc làm hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế nói chung và với các yêu cầu của điều ước Quốc tế
về QCN nói riêng là hết sức cần thiết không chỉ để thực hiện đầy đủ hơn các nghĩa
vụ quốc tế mà Việt Nam cam kết mà còn là đòi hỏi thực tiễn trong nước nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn QCN, quyền tự do, dân chủ của công dân”.
Như vậy, yêu cầu trong thời đại mới đạt ra yêu cầu Việt Nam cần thiết phải
có các biện pháp để có thể đảm bảo QCN, mà cơ sở pháp lý cho những biện pháp
đó chính là phải Hiến pháp và Luật phù hợp với các yêu cầu đó Đặc biệt là trongcác quy định của pháp luật tố tụng về TTHS TTHS là cách thức, trình tự tiến hànhcác hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT, người tham gia tố tụng, củacác cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng hình sự Luật TTHS được xem là “luật hình thức vì nó nói vềcách thức thực hiện và hoạt động của các cơ quan, người THTT nhằm xác định tộiphạm, mức độ trách nhiệm của tội phạm cùng với Luật Hình sự - “luật nội dung”,quy định về tội phạm và hình phạt có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Đây là lĩnhvực mà các QCN có nguy cơ bị vi phạm nhiều nhất, thì việc quy định quyền tốtụng đi đôi với nghĩa vụ tố tụng của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trongviệc bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng.Trong lĩnh vực tố tụng, để giúp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có điều kiệnphát hiện và xử lý vi phạm pháp luật, tội phạm vì lợi ích chung của toàn xã hội,cộng đồng và của người khác, pháp luật cần có một số quy định hạn chế đến QCN,quyền công dân Yêu cầu đặt ra trong lĩnh vực này chính là phải thực hiện những
Trang 15chế định cần thiết để phục vụ cho các hoạt động tố tụng, đảm bảo xử lý hành vi viphạm pháp luật, tội phạm nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được QCN và quyền côngdân.
1.2.Nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong Hiến pháp năm 2013.
Mọi Nhà nước hiện đại đều ghi nhận QCN trong hiến pháp Hiến pháp làđạo luật cao nhất của một quốc gia , là cơ sở để quốc gia hoàn thiện hệ thống phápluật, điều hành mọi hoạt động cuả quốc gia Việt Nam cũng như vậy, QCN đãsớm được ghi nhận trong bản Hiến pháp năm 1946 và dần được khẳng định mạnh
mẽ và phù hợp với xu thế chung của toàn cầu về bảo đảm QCN qua những bảnHiến pháp sau đó
Hiến pháp năm 2013 – Bản Hiến pháp mới nhất của nước CHXHCN Việt
Nam ra đời trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới Trong bốicảnh đó, tư duy pháp lý cũng có những bước phát triển mới, các quy định mangtính cương lĩnh, chung chung giảm dần và cân nhắc nhiều đến tính khả thi Quyềncông dân là những lợi ích pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ trongpháp luật cho những người có quốc tịch của nước mình đã ghi nhận hai nguyên tắcđặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm QCN được thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhànước và công dân đó là:
Nguyên tắc thứ nhất là, các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và
xã hội phải được tôn trọng (Điều 14)
Nguyên tắc thứ hai là, Nhà nước có nghĩa vụ đảm bảo thực hiện các quyền
và nghĩa vụ pháp lý của công dân (Điều 3)
Từ hai nguyên tắc được quy định tại các Điều 3 và Điều 14 và để đảm bảothực hiện hai nguyên tắc này trên thực tế, Hiến pháp 2013 đã quy định cơ chế thựchiện như sau:
Trang 16- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được hệ thống cơ quan quyền lực
Nhà nước đảm bảo thực hiện Tại điều 6 Hiến pháp 2013 đã quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan đại diện cao nhất donhân dân bầu ra, là cơ quan bảo đảm thực hiện các QCN, quyền và nghĩa vụ côngdân Quốc hội bảo đảm QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân bằng cácphương thức sau:
+ Quốc hội xây dựng Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, phản ánh ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, thể chế hoá các quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân Đây là hoạt động xác lập mối quan hệ cơ bản hữu cơ gắn bó giữa Nhà nước vàcông dân Các mối quan hệ được Hiến pháp ghi nhận là cơ sở pháp lý cao nhất cho
sự ra đời của các mối quan hệ pháp lý cụ thể giữa Nhà nước và công dân Thựchiện giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của tất cả các chủ thể.Nhất là các chủ thể nắm giữ quyền lực Nhà nước Là cơ quan đại diện cho ý chí
của nhân dân thực hiện quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương đại diệncho ý chí, nguyên vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương Với vị trí đó,HĐND các cấp cũng là yếu tố rất quan trọng trong cơ chế pháp lý đảm bảo thựchiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân trên lãnh thổ địa phương mình
- Quyền và nghĩa vụ pháp lý của con người, của công dân được đảm bảo
thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành pháp Chính phủ và uỷ ban nhân dân các cấp
là cơ quan chấp hành và điều hành của cơ quan quyền lực, là chủ thể có tráchnhiệm đưa pháp luật đi vào cuộc sống, làm cho quyền và nghĩa vụ của công dân trởthành hiện thực Là cơ quan trực tiếp thực hiện công tác quản lý Nhà nước – điềuhành xã hội trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hoá,
Trang 17xã hội, ANTT… Trong đó cơ quan công an (cơ quan điều tra) có vai trò quan trọngtrong việc bảo vệ trật tự pháp luật, pháp chế XHCN và trong hoạt động tố tụnghình sự.
- Quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể được bảo đảm qua hệ thống cơ quan tư
pháp Toà án và VKS là những cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau (Toà
án có chức năng xét xử và VKS có chức năng kiểm tra, giám sát) nhưng đều là các
cơ quan “bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản củaNhà nước, tập thể và tính mạng, danh dự, nhân phẩm của mọi công dân”
Trong lĩnh vực TTHS, Hiến pháp 2013 cũng đã quy định một số nội dungquan trọng làm cơ sở, căn cứ để xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể của phápluật HS trong việc bảo vệ QCN, quyền công dân trong thực tiên Cụ thể là:
- Hiến pháp 2013 là Hiến pháp tiến bộ nhất để đảm bảo QCN trong TTHS.Hiến pháp 2013 với sự thay đổi đột phá về tư duy pháp lý trong vấn đề đảmbảo QCN khi ghi nhận bảo vệ QCN bằng việc quy định chương 2 “QCN, quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân” Hiến pháp đã ghi nhận và mở rộng thêm nhiềuQCN, quyền công dân Trong đó có các quyền đáng chú ý trong TTHS, cụ thể là:
+ Hiến pháp 2013 đã quy định rõ hơn về quyền bất khả xâm phạm về thânthể (BKXPVTT) của con người
Quyền BKXPVTT là một trong các quyền cơ bản của con người, được ghinhận tại Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc năm 1948, công ước quốc tế
về quyền dân sự và chính trị năm 1966 và được Việt Nam cam kết thực hiện thôngqua sự gia nhập Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1982 Quyền
này được Hiến pháp 2013 ghi nhận tại điều 20: “1.Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm;
Trang 18không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kì hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; 2.Không ai bị bắt nếu không
có quyết định vủa TAND, quyết định phê chuẩn của VKS Nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người phải do luật định” Theo quy
định này, Hiến pháp 2013 đã thể hiện được những nội dung tương đối toàn dệnnhững chuẩn mực quốc tế về QCN được quy định trong các văn bản pháp lý quốc
tế gồm: thứ nhất, quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam, giữ tùy tiện; thứ hai, quyềnđược bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; thứ ba,quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước đi tựdo; thứ tư, để đảm bảo quyền BKXPVTT thì việc bắt, giam, giữ người do luậtđịnh
+ Hiến pháp 2013 mở rộng quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giam, tạmgiữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo trong TTHS Các chủ thể này thực hiện quyền bào chữa làm sáng tỏnhững tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệmhình sự cho mình Họ có thể tự bào chữa, cũng có thể nhờ người khác bào chữanhưng không làm mất đi quyền tự bào chữa của họ Hiến pháp 2013 đã quy định
quyền này tại Khoản 4, Điều 31 của Hiến pháp 2013: “người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam ( ) có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người bào chữa khác” như
vậy, một người từ khi bị bắt đã có quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Quyền này cùng với quyền BKXPVTT và nguyên tắc SĐVT theo quy địnhcủa Hiến pháp 2013 sẽ góp phần tránh được những oan sai đáng tiếc trong hoạtđộng TTHS
- Hiến pháp 2013 đã làm rõ nguyên tắc suy đoán vô tội
Trang 19SĐVT là một trong những nguyên tắc cơ bản được đánh giá là thành tựu vĩđại của văn minh pháp lý trong việc bảo đảm QCN và được ứng dụng rộng rãitrong nền khoa học pháp lý, được rất nhiều nước trên thế giới ứng dụng Nguyêntắc này được công nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 19848, Công ước quốc
tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên Hợp quốc Việt Nam là mộtthành viên của Liên Hợp quốc từ năm 1948 và gia nhập Công ước quốc tế vềquyền dân sự và chính trị của Liên Hợp quốc năm 1982 Việt Nam đã đem nguyêntắc ấy vào trong bản Hiến pháp của mình Nội dung của nguyên tắc SĐVT đượcquy định tại Điều 31 Hiến pháp 2013 như sau:
“1 Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2 Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời,trong thời hạn luật định, công bằng, công khai Trướng hợp xét xử kín theo quy định của pháp luật thì việc tuyên án phải được công khai.
3 Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
4 Người bị bắt tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
5 Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, tạm giam, tạm giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị
xử lý theo pháp luật”.
Theo Khoản 1 Hiến pháp 2013: một người bị buộc tội bị coi là có tội thìphải đảm bảo 2 điều kiện: 1) phải chứng minh hành vi phạm tội của người đó theo
Trang 20một trình tự tố tụng do pháp luật quy định, 2) có bản án của Tòa án đã có hiệu lựcpháp luật Quy định này đảm bảo tính chặt chẽ với mục đích QCN không bị tước đihay hạn chế một cách vô lý khi mà người đó chưa phải là tội phạm.
Quyền được đưa ra xét xử của một người bị nghi là thực hiện tội phạmcũng đồng nghĩa với trách nhiệm của các cơ quan THTT phải chứng minh điều trahành vi phạm tội của người đó theo một trình tự theo luật định và phải nhanhchóng đưa ra Tòa án xét xử cho đúng thời hạn, việc tuyên án phải công khai Việcghi nhận nguyên tắc SĐVT nhằm khắc phục định kiến của các cơ quan THTT đốivới người bị tình nghi, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo; đồng thời còntạo điều kiện để những người này thực hiện quyền bào chữa của mình
Hiến pháp 2013 quy định: “không ai bị kết án hai lần vì một tội” thể hiện
kĩ luật lập hiến mới, tiếp cận với các chuẩn mực khoa học pháp lý quốc tế, thể hiệnviệc tôn trọng và thực hiện Công ước quốc tế 1966 và đặc biệt là sự nỗ lực tôntrọng và đảm bảo QCN của Đảng và Nhà nước ta
Nguyên tắc SĐVT có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc đảm bảo quyền bàochữa bởi vì nếu như một người nếu như bị coi là có tội ngay từ đầu thì việc thựchiện quyền bào chữa chỉ còn mang tính hình thức Nắm được vấn đề đó, Hiến pháp
2013 đã khẳng định mạnh mẽ quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam,khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử với sự lựa chọn sự tự bào chữa, nhờ giúp đỡ bàochữa với người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và chứngminh sự vô tội của mình
Nguyên tắc SĐVT có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề đảm bảo QCNtrong hoạt động tố tụng nói chung và áp dụng các BPNC Cụ thể là: trước hếtnguyên tắc này đáp ứng yêu cầu chứng minh – mọi sai lầm trong việc chứng minhmột người có tội hay là không có tội có hậu quả rất nghiêm trọng nhiều khi phải trảgiá bằng sinh mạng của con người Nếu chỉ đơn thuần chứng minh theo hướng suy
Trang 21đoán có tội thì rất dễ dẫn đến việc coi các hoạt động tố tụng chỉ đơn thuần là bắt rồi
ra bản án đối với họ Việc định kiến người bị tình nghi, bị can, bị cáo là có tội rấtnguy hiểm, có thể dẫn đến việc áp dụng tràn lan, thiếu căn cứ các BP cưỡng chếnói chung và các BPNC nói riêng, chà đạp lên QCN mà nhiều trường hợp dẫn đếnoan sai Lúc đó, kể cả họ có được bồi thường thì chẳng qua cũng chỉ là một phần,không thể bù đắp hết những thiệt thòi mà họ và cả gia đình họ phải chịu đựng Nhưtrong vụ oan sai chấn động cả nước của Ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang,trong 10 năm bị kết án oan của mình, ông đã bị bức cung, nhục hình, mất đi tự do
và danh dự, vợ và người thân ông đã mất bao công sức và tiền của đi kêu oan và tự
đi tìm đúng người phạm tội với sự suy sụp về sức khỏe và tinh thần, các con khôngthể học hành đến nơi đến chốn vì mang tiếng có ông bố là tội phạm giết người Bêncạnh đó, nguyên tắc SĐVT còn bảo vệ được quyền của người bị tình nghi, bị can,
bị cáo Hoạt động TTHS bao gồm hai nhiệm vụ: bảo vệ xã hội chống lại nhữnghành vi xâm hại từ phía tội phạm và bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sựxâm hại QCN từ phía công quyền Nguyên tắc này đem tới sự cân bằng trong hoạtđộng TTHS với một bên là các Cơ quan THTT đại diện cho quyền lực Nhà nướcvới một bên yếu thế là người bị tình nghi, bị can, bị cáo: một người luôn vô tội khiNhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh
họ có tội Như vậy, có thể khẳng định nguyên tắc SĐVT là một nguyên tắc tiến bộ,đảm bảo QCN trong các hoạt động TTHS, trong đó có việc áp dụng các BPNC, đặt
ra yêu cẩu cao hơn đới với những người THTT: không được áp đặt ý chí chủ quancủa mình để kết tội nghi can
- Hiến pháp 2013 ghi nhận nguyên tắc tranh tụng
Nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc đảm bảo hoạt động tranh tụng trong xét
xử, các bên tham gia xét xử đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận để bác bỏmột phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia, phần trang tụng này là cơ sở đểTòa án đánh giá toàn bộ nội dung cụ án và đưa ra phán quyết cuối cùngđảm bảo
Trang 22tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Xác định tầm quan trọngcủa hoạt động trang tụng, Khoản 5, Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyêntắc trang tụng trong xét xử được bảo đảm” Việc hiến định nguyên tắc này thể hiệnbước tiến mạnh mẽ trong cải cách tư pháp của nước ta Quy định trên cho thấy việctranh tụng không chỉ diễn ra ở phiên tòa mà rộng hơn ở các giai đoạn tố tụng Quyđịnh này đòi hỏi các chủ thể THTT và tham gia tố tụng phải nâng cao nhận thức,trách nhiệm tạo môi trường bình đẳng, dân chủ, đồng thời không ngừng nâng caotrình độ, năng lực để hạn chế tình trạng chủ quan, duy ý chí trong hoạt động TTHS.
Sự kết hợp giữa nguyên tắc tranh tụng kết hợp với nguyên tắc SĐVT, mởrộng quyền bào chữa cùng với các quy định khác góp phần quan trọng để Tòa ánxét xử đúng người, đúng tội, tránh tình trạng oan sai trong các hoạt động TTHS
2 Nhận thức chung về biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng Hình sự Việt Nam.
2.1 Các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Những BPNC trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế được ápdụng đối với bị can, bị cáo hoặc trong một số trường hợp khác còn áp dụng đối vớingười chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm của họ, ngăn ngừa họ bỏtrốn, tiếp tục phạm tội hoặc có những hành động khác làm cản trở việc điều tra,truy tố, xét xử hoặc thi hành án Những BPNC là một trong những “công cụ” hữuhiệu để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan THTT có hiệu quả,đáp ứng được kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
Vì những lí do như trên nên trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụnghình sự thì BPNC chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Tất cả những quy định của Hiếnpháp và BLTTHS về BPNC đều nhằm góp phần phát huy dân chủ, tăng cường
Trang 23hơn nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảo đảm QCN, quyền công dân để xâydựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Theo Điều 79 BLTTHS 2003, các BPNC trong tố tụng hình sự gồm có 6biện pháp bao gồm:
2.1.1 Biện pháp bắt người
Theo Điều 80, 81, 82 của BLTTHS, BPNC bắt người có 3 trường hợp:
2.1.1.1 Bắt người trong trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể áp dụng trong các trường hợp sau(theo Điều 88 – BLTTHS 2003):
- Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêmtrọng
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng màBLTTHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thểtrốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội
Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam bao gồm( theo Điều 80 – BLTTHS 2003):
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS nhân dân và Viên kiểm sát quân sựcác cấp;
- Chánh án, Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp;
- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩmTAND tối cao; Hội đồng xét xử;
Trang 24- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trong trường hợpnày, Lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Khi bắt phải có lệnh bắt Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức
vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt Lệnh bắt phải cóchữ kí của người ra lệnh và có đóng dấu Khi bắt thì người thi hành lệnh phải đọclệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản vềviệc bắt Biên bản phải có chữ kí của người chứng kiến
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện của chínhquyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến Khitiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có địa diện cơ quan, tổ chức nơingười đó làm việc chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sựchứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người
Không được tiến hành bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp,phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81, 82 củaBLTTHS 2003
2.1.1.2 Bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Bắt người trong trường trường hợp khẩn cấp là BPNC áp dụng khi có căn
cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng; khi người đó
Theo Điều 81 – BLTTHS 2003, BPNC bắt người trong trường hợp khẩncấp được áp dụng trong các trường hợp sau:
- Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạmrất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
Trang 25- Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắttrông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngănchặn ngay việc người đó bỏ trốn;
- Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bịnghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặctiêu hủy chứng cứ
Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấpbao gồm:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương;người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng
Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấpgiống với bắt người để tạm giam Nhưng do tính chất khẩn cấp, nhanh chóng nênviệc bắt người trong trường hợp khẩn cấp có thể tiến hành vào ban đêm Trong mọitrường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bảnkèm theo tài liệu có liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn VKS phảikiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều 81 – BLTTHS 2003.Trong trường hợp cần thiết, VKS phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xemxét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Trong thời hạn 12 giờ
kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp,VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Nếu VKSquyết định không phê chuẩn thì người đã lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bịbắt
Trang 262.1.1.3 Bắt người phạm tội quả tang.
Bắt người phạm tội quả tang là bắt người ngay khi người đó đang thựchiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoạc đang bịđuổi bắt
Theo Điều 82 – BLTTHS 2003, biện pháp bắt người phạm tội quả tangđược áp dụng trong các trường hợp sau:
- Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện
- Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì người thực hiện tội phạm đó bị pháthiện và bắt giữ
- Người thực hiện tội phạm đang bị đuổi bắt ngay sau khi thực hiện tộiphạm
Khi thấy người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì bất kỳ người nàocũng có quyền bắt ngay và có quyền tước vũ khí hoặc hung khí của người bị bắt
Sau khi bắt người phạm tội quả tang phải giải ngay người bị bắt đến cơquan Công an, VKS, hoặc Ủy ban Nhân dân nơi gần nhất Cơ quan trên có tráchnhiệm tiếp nhận người bị bắt và phải lập biên bản về việc bị bắt Sau đó phải giảingay người bị bắt đến cơ quan có thẩm quyền điều tra
2.1.1.4 Bắt người đang bị truy nã.
Bắt người đang bị truy nã là bắt người có quyết định truy nã của cơ quan cóthẩm quyền Người đang bị truy nã có thể là bị can, bị cáo hoặc người bị kết ántrốn thi hành an và phạm nhân trốn khỏi nơi giam giữ mà các cơ quan có thẩmquyền không biết rõ họ ở đâu và ra quyết định truy nã
Trang 27Theo Điều 82 – BLTTHS 2003, thẩm quyền bắt và thủ tục bắt người đang bịtruy nã giống với bắt người phạm tội quả tang
2.1.2 Tạm giữ
Tạm giữ là BPNC trong TTHS có thể áp dụng đối với người bị bắt trongtrường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc ngườiđang bị truy nã
Đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giự phải là những người bị bắttrong trường hợp bắt trong trường hợp khẩn cấp Phạm tội quả tang, người phạmtội tự đầu thú, tự thú hoặc người đang bị truy nã
Bên cạnh mục đích ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc những hành vi cản trởhoạt động tố tụng, việc áp dụng biện pháp tạm giữ trong thực tế của các cơ quan,người có thẩm quyền nhằm có thêm thời gian thu thập chứng cứ, đánh giá tínhchất, mức độ phạm tội của người bị bắt và quyết định khởi tố về hình sự, tiếp tục
áp dụng BPNC thích hợp hoặc trả tự do cho người bị bắt
Tuy nhiên không phải trường hợp nào như trên cũng phái áp dụng BPNCtạm giữ mà chỉ trong những trường hợp cần thiết mới áp dụng Tùy theo từngtrường hợp cụ thể cũng như các điều kiện nhất định, Cơ quan có thẩm quyền raquyết định tạm giữ có quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho họ Chẳng hạn trongtrường hợp người bị bắt khi phạm tội quả tang mà xét thấy tính chất thuộc loạikhông nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, không có biểu hiện cản trở các hoạtđộng tố tụng hoặc bỏ trốn thì không nhất thiết phải áp dụng BPNC tạm giữ
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 86 – BLTTHS 2003 thì những người sauđây có quyền ra quyết định tạm giữ:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
Trang 28- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương;người chỉ huy đồn biên phòng ở Hải đảo và Biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng
- Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển
Tạm giữ phái có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền Quyếtđịnh tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ, và giao cho người bịtạm giữ một bản Người thi hành quyết định tạm giữ phái giải thích quyền và nghĩa
vụ cho người bị tạm giữ Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ,quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS cùng cấp Nếu xét thấy việc tạm giữkhông cần thiết hoặc không có căn cứ thì VKS ra quyết định huye bỏ quyết địnhtạm giữ và yêu cầu cơ quan ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạmgiữ
Thời hạn tạm giữ không quá 3 ngày, kể từ khi Cơ quan Điều tra nhận đượcngười bị bắt Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể giahạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyếtđịnh tạm giữ có thể gia hạn thêm lần thứ hai nhưng không được quá 3 ngày Mọitrường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được sự phê chuẩn của VKS cùng cấp Trongthời hạn 12 giờ kể từ ngày nhận được đề nghị gia hạn tạm giữ và tài liệu có liênquan đến việc gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết địnhkhông phê chuẩn Trong khi tạm giữ, nếu không có đủ căn cứ để khởi tố bị can thìphải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạntạm giam Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam
2.1.3 Tạm giam
Tạm giam là BPNC trong TTHS có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo phạmtội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng,
Trang 29ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù từ hai năm trở lên và có căn cứcho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở các HĐTT hoặc có thể tiếp tục phạmtội.
Theo quy định Khoản 1, Điều 88 – BLTTHS 2003, biện pháp tạm giamđược áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng màBLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốnhoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội
Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì khôngtạm giam mà áp dụng các BPNC khác trừ một trong các trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã
- Bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố
ý cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử
- Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ chorằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia
Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt theo quy định tại Điều 80 củaBLTTHS 2003 có quyền ra lệnh tạm giam Tong lệnh phải ghi rõ ngày, tháng,năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam, lí dotạm giam, thời hạn tạm giam và phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khithi hành Trong thời hạn không quá 3 ngày kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩnlệnh tạm giam của Cơ quan điều tra và hồ sơ tài liệu có liên quan đến việc tạmgiam, Viện trưởng VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê
Trang 30chuẩn VKS phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việcxét phê chuẩn.
Cơ quan ra lệnh tạm giam phải giao cho người bị tạm giam một bản, đồngthời phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và phải thông báo cho ngay chogia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan,
tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết
Thời hạn tạm giam để điều tra, ra quyết định truy tố và chuẩn bị xét xử đượcquy định như sau:
- Trong giai đoạn điều tra (theo Điều 120 BLTTHS): Bảng 1 – Phụ lục
Vụ án được gia hạn thêm thời hạn điều tra khi vụ án đó có nhiều tình tiết phức tạpxét thấy cần có thêm thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thayđổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trươc skhi hết hạntạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện trưởng VKS gia hạn tạmgiam
- Trong giai đoạn ra quyết định truy tố (theo điều 166 BLTTHS): Bảng 2 –Phụ lục
Thời hạn tạm giam bị can để ra quyết định khởi tố do VKS quyết định theoquy định của BLTTHS Nếu cần thiết thì Viện trưởng VKS có thể gia hạn thêmtheo bảng trên
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử ( theo Điều 176,177 BLTTHS và Thông
tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/09/2003): Bảng 2 – Phụlục
Trang 31Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử do Tòa án quyết định và có thể giahạn thêm theo như bảng trên.
2.1.4 Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Cấm đi khỏi nơi cư trú là BPNC có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo
có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơquan điều tra, VKS, Tòa án
Theo Điều 91 – BLTTHS, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú áp dụng cho mộttrong những trường hợp sau đây:
- Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng có nhiềutình tiết giảm nhẹ
- Bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, khai báo thành khẩn, không có biểuhiện trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra, truy tố, xét xử
Thẩm quyền áp dụng biện pháp này giống với những người có thẩm quyền
ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam theo Khoản 1, Điều 80 BLTTHS
Thủ tục áp dụng: bị can, bị cáo phải làm cam đoan không đi khỏi nơi cư trúcủa mình (nếu được phép của cơ quan áp dụng) và phải có mặt theo giấy triều tậpcủa cơ quan THTTHS theo đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tâp Người
ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo việc áp dụng biện pháp này chochính quyền xã, phường, thị trấn để quản lý, theo dõi họ Trường hợp bị can, bị cáo
có lý do chính đáng cần phải tạm thời rời khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ýcủa chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và có giấy phép của cơquan đã áp dụng BPNC này Bị can, bị cáo vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ
bị áp dụng BPNC nghiêm khắc hơn
Trang 322.1.5 Bảo lĩnh.
Bảo lĩnh là BPNC để thay thế biện pháp tạm giam được quy định tại Điều 92BLTTHS Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án có thể quyếtđịnh cho họ được bảo lĩnh Biện pháp này áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cánhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội vàđảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan THTTHS Thông thườngbiện pháp này áp dụng với trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng hoặcphạm tội nghiêm trọng có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị can, bị cáo khai báo thànhkhẩn, cố gắng khắc phục hậu quả do mình gây ra, có nơi ở rõ ràng; có cá nhân hoặc
tổ chức tự nguyện đứng ra nhận bảo lĩnh
Thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh này thuộc về những người sau:
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS nhân dân và Viên kiểm sát quân sựcác cấp;
- Chánh án, Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp;
- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm TANDtối cao; Hội đồng xét xử;
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp
Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải có ít nhất hai người Ngườinhận bảo lĩnh phải là người thân thích với bị can, bị cáo, có đủ những điều kiện: đãthành niên, có tư cách đạo đức tốt, chấp hành tốt chính sách pháp luật, tự nguyệnđứng ra nhận bảo lình, có khả năng thực hiện cam kết Việc bảo lĩnh phải có xácnhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơingười đó đang làm việc Tổ chức có thể đứng ra nhận bảo lĩnh cho thành viên cả tổ
Trang 33chức mình Khi nhận bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức Cánhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh vi phạm cam đoan thì phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật, trường hợp này bị can, bị cáo được bảo lĩnh sẽ áp dụngBPNC thay thế nghiêm khắc hơn.
2.1.6 Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là BPNC thay thế biện pháp tạmgiam được quy định tại Điều 93 Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơquan điều tra, VKS, Tòa án có thể quyết định cho họ được đặt tiền hoặc tài sản cógiá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập
Những người được quy định tại khoản 1 Điều 80 BLTTHS, thẩm phán đượcphân công chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định về việc áp dụng BPNC này.Quyết định đó phải được VKS cùng cấp phê duyệt trước khi thi hành Cơ quan raquyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị phải lập biên bản ghi rõ số lượngtiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can, bị cáo một bản
Trong trướng hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã camđoan thì cơ quan THTT có trách nhiệm trả lại số tiền hoặc tài sản đó đã đặt đó
Trong trường hợp bị can, bị cáo đã được cơ quan Điều tra, VKS, Tóa ántriệu tập mà vẫn vắng mặt thì số tiền hoặc số tài sản đã đặt cược sẽ bị sung quỹNhà nước và trong trường hợp này, bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng BPNC thay thếnghiêm khắc hơn
Các trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản phải đặt để đảm bảo, việctạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã đặt được thực hiện theoquy định của pháp luật
Trang 342.2 Yêu cầu đặt ra về đảm bảo QCN trong áp dụng các BPNC của Luật TTHS.
Với tính chất là luật hình thức, BLTTHS quy định trình tự, thủ tục THTTtrong lĩnh vực hình sự, trong đó vấn đề áp dụng các BPNC được sử dụng để đảmbảo cho các cơ quan THTT thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong côngtác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế CácBPNC có mục đích sâu xa là bảo vệ QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của công dânnhưng khi áp dụng chúng cũng rất dễ tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến QCN,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bời vì áp dụng các BPNC sẽ làm hạn chếmột số quyền công dân, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền tự do, quyềnBKXPVTT, Chính vì vậy, BPNC đòi hỏi phải được quy định chặt chẽ, rõ ràng,
cụ thể trong BLTTHS và các văn bản dưới luật khác để tạo cơ sở lý luận và phápluật để cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng các BPNC có thể làm đúng, đảmbảo hiệu quả công tác nhưng không gây tổn hại đến QCN, quyền và lợi ích hợppháp của công dân
Bên cạnh đó,việc áp dụng các BPNC theo TTHS tất yếu sẽ hạn chếquyền và tự do cá nhân có liên quan Áp dụng các BPNC đúng có tác dụng bảođảm quá trình tố tụng hình sự được khách quan, góp phần phòng, chống tội phạm.Bởi vậy, việc xây dựng, ban hành những quy định pháp luật về các BPNC có tínhkhả thi và việc áp dụng chúng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT phải chínhxác, hợp lý, hợp tình đòi hỏi trách nhiệm và nỗ lực rất lớn của các chủ thể này Cónhư vậy mới thực hiện được nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hình sự là chủ độngphòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý côngminh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội Điều này đặt ra yêu cầu trong thực tiễn, các chủ thể áp dụng BPNC trongTTHS phải thực sự có nhận thức đúng đắn, hiểu biết sâu sắc về pháp luật và phảiluôn tôn trọng QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tránh các loại tư
Trang 35tưởng đề cao hiệu quả hoạt động TTHS mà bỏ qua một bên QCN hay cho rằng cácBPNC là một biện pháp điều tra trong công tác điều tra khám phá tội phạm,
Mặt khác, muốn đảm bảo được QCN trong áp dụng các BPNC của LuậtTTHS thì còn đòi hỏi trong thực tế phải có những điều kiện, cơ sở vật chất để thựchiện cũng như quản lý, có những chế độ riêng biệt để có thể đảm bảo QCN trongkhi áp dụng các BPNC đó, đặc biệt là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam
Kết luận chương I
Bảo đảm QCN là một trong những vấn đề quan trọng, được hầu hết cácquốc gia trên thế giới quan tâm Bảo đảm QCN chính là bảo đảm được nền dânchủ, bảo đảm được hiệu quả, hiệu lực của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợppháp của công dân Trong công ước quốc tế về QCN năm 1966, QCN được ghinhận và bảo vệ, các quyền tự do cá nhân của con người còn được nhấn mạnh vàđược gọi là các quyền dân sự Ngày nay, chất lượng cuộc sống, trình độ văn minhcủa các quốc gia được thể hiện ở dân chủ, sự thoả mãn và bảo đảm quyền tự do cánhân của mỗi công dân Vì vậy việc bảo đảm các QCN được coi là một trong cácchuẩn mực đánh giá trình độ giải phóng con người, sự phát triển xã hội ở mỗiquốc gia
Ở nước ta vấn đề QCN luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm,bảo vệ Để thực sự có được QCN thì trước hết đất nước phải được độc lập, không
bị tác động, chi phối của bất kỳ thế lực nào, quốc gia nào Chính vì điều này màĐảng ta, Nhà nước ta và nhân dân ta đã dám đánh đổi tất cả những gì mình có, kể
cả xương máu và tính mạng của mình để đánh đuổi các thế lực thù địch và giặcngoại xâm để giành độc lập tự do cho Tổ quốc, thực hiện xây dựng một chế độ mớitươi đẹp, tiến bộ, công bằng và tôn trọng phẩm giá con người Từ khi nước ta đượcđộc lập, nhân dân ta được tự do thì QCN càng được quan tâm và bảo đảm Bằngnhiều văn bản pháp luật khác nhau như Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng
Trang 36hình sự … Nhà nước đã chính thức ghi nhận và bảo đảm QCN, quyền công dân,coi đó như những chế định quan trọng và là mục tiêu cuối cùng của chế độ ta-chế
độ XHCN
Cùng với Hiến pháp và các đạo luật khác, Bộ luật tố tụng hình sự của nước
ta đã ghi nhận, bảo vệ QCN, quyền công dân qua nhiều chế định khác nhau Cácquy định về Bắt người, tạm giữ, tạm giam là một trong các quy định nhằm bảo vệQCN, quyền công dân của bị can, bị cáo, của người bị bắt Bộ luật tố tụng hình sự
đã xác định rõ tính chất, mức độ, các trường hợp được bắt và không được bắt; trình
tự, thủ tục khi bắt người, tạm giữ, tạm giam để nhằm bảo vệ uy tín, danh dự, nhânphẩm của con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có cảcác quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt Tất cả những quy định của Hiếnpháp và Bộ luật tố tụng hình sự về bắt, tạm giữ, tạm giam đều nhằm góp phần pháthuy dân chủ, tăng cường hơn nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảo đảm QCN,quyền công dân để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và giàumạnh
Trang 37Chương II
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
KHI ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
1 Những vấn đề liên quan đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong
Tố tụng hình sự Việt Nam
1.1 Tình hình và đặc điểm của tội phạm Việt Nam
Trong những năm gần đây, do bối cảnh đất nước thời đại mới với nhữngnguyên nhân và điều kiện khác nhau ảnh hưởng, tác động xấu đến an ninh chính trị
và TTATXH, trong đó có tình hình tội phạm
Số lượng tội phạm có xu hướng gia tăng, đặc biệt là các tội phạm xâmphạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội Trong những năm gần đây, bình quân mỗinăm ở nước ta có từ 80.000 đến 85.000 vụ tội phạm xâm phạm TTATXH Tínhtrung bình mỗi ngày xảy ra 227 vụ, mỗi giờ xảy ra 9,5 cụ và cứ 5 giờ lại xảy ra một
vụ giết người; 2,5 giờ lại xảy ra một cụ cướp; cứ 10 giờ lại xảy ra một vụ hiếpdâm Riêng trong năm 2014, cơ quan chức năng đã phát hiện 93.109 vụ phạm tộihình sự, trong đó có 53.528 vụ phạm tội về TTATXH, 11.816 vụ phạm tội trật tựkinh tế - chức vụ, 17.959 vụ phạm tội về ma túy, còn lại là 9806 vụ phạm các tộikhác (nguồn: trung tâm Tội phạm học – Học viện CSND)
Trang 38Cơ cấu tội phạm rất đa dạng, diễn biến phức tạp:
Bảng số liệu thể hiện cơ cấu số vụ phạm tội của tội phạm hình sự
giai đoạn 2010 – 2014( đơn vị: %)
Năm Tổng tỉ lệ Vụ phạm
tội vềTTXH
Vụ phạmtội vềTTKT - Cv
Vụ phạmtội về matúy
( nguồn: báo cáo của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm)
Tội phạm hình sự chiếm tỉ lệ lớn ( 58,0 %) nhưng đang có xu hướng giảm.Các tội phạm về TTKT và chức vụ(14,4%), ma túy (19,1%) đạt tỉ lện tương đốicao và tương đối ổn định, các nhóm tội phạm khác diễn biến bất thường, đáng chú
ý trong đó tăng chủ yếu thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu và tội phạm về thamnhũng
Qua nghiên cứu, tình hình tội phạm nước ta trong giai đoạn hiện nay cónhững đặc điểm như sau:
Trang 39- Tội phạm có chuẩn bị trước, hoạt động theo băng, nhóm, tội phạm có
tổ chức dạng mafia có chiều hướng gia tăng điều này cho thấy tính chất nguy hiểmcủa tội phạm ngày càng tăng lên – chủ động, trắng trợn, táo bạo, ngang nhiên
- Do tính chất tội phạm nguy hiểm càng ngày càng tăng lên nên thiệthại do tội phạm gây ra càng ngày càng lớn Nhiều vụ giết người dã man, tàn bạonhư vụ giết người yêu rồi chặt xác phi tang của Nguyễn Đức Nghĩa tại Hà Nội, vụgiết 3 người một nhà để cướp tiệm vang của Lê Văn Luyện ở Bắc Giang, Nhiềuđường dây ma túy bị triệt phá mà số bánh của mỗi vụ có thể lên tới cả nghìnbánh,
- Người phạm tội có xu hướng trẻ hóa Độ tuổi phạm tội càng ngàycàng trẻ, báo động tình trạng người chưa thành niên phạm tội càng ngày càngnhiều, đặc biệt có nhiều vụ có tính chất rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng
- Tình trạng tái phạm tội có chiều hướng gia tăng Hiện nay, tỷ lệ táiphạm ở nước ta chiếm tỉ lệ khá cao, khoảng 27 – 28%
- Đã xuất hiện thêm nhiều loại tội phạm mới nhất là tội phạm sử dụngcông nghệ cao, tội phạm rửa tiền,
- Âm mưu, thủ đoạn hoạt động của tội phạm càng ngày càng tinh vi,xảo quyệt, lôi kéo nhiều thành phần tham gia
Tình hình tội phạm nước ta hiện nay vô cùng phức tạp đặt ra nhữngnhiệm vụ quan trọng, nặng nề cho các cơ quan chức năng để tìm cách giải quyết,một mặt là để giữ gìn an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH, mặt khác là để đảm bảotính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, gây dựng lòng tin củaNhân dân vào Đảng và Nhà nước Trong đó TTHS đóng một vai trò quan trọngnhằm phát hiện, xử lý tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, không bỏ lọt tội
Trang 40phạm, không làm oan người vô tội, đảm bảo được QCN, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân.
1.2.Thực tiễn đảm bảo quyền con người trong Tố tụng hình sự Việt Nam
Pháp luật TTHS có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ quyền con ngườithông qua việc “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác,nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tộiphạm, không làm oan người vô tội” hướng tới mục đích “góp phần bảo vệ chế độXHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổchức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuântheo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Những định hướng trênđược quán triệt và thể hiện ở tất cả các quy định của luật TTHS về nguyên tắc cũngnhư trong quá trình giải quyết vụ án: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
của các cơ quan THTT và người THTT, tạo thành hệ thống các quy phạm làm cơ
sở cho việc bảo vệ QCN Tuy nhiên thực tiễn cho thấy trong quá trình áp dụng cácquy định này bên cạnh những cái đúng vẫn tồn tại không ít vấn đề
ở những cấp độ khác nhau đều thể hiện tinh thần bảo vệ quyền con người với haiđịnh hướng: 1) Xử lý nhanh chóng, kịp thời đúng pháp luật đối với tội phạm xâm