Trong chương trình Ngữ văn THPT, các em được học ba dạng bài nghị luận xã hội: nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội đ
Trang 2Bạn thân mến,
Ai cũng muốn mình học tốt, đạt điểm cao Phương pháp thì trên mạng cũng có đầy rẫy Quan trọng là thực hành thế nào chứ nói thì ai chẳng nói được Tôi luôn chủ trương những gì mình đã làm được hoặc mình chứng thực là hiệu quả thì mới đưa chia sẻ với các bạn
Có câu: “Muốn bắt được cọp thì phải vào hàng cọp” Muốn thực sự thành thạo trong thi THPT Quốc gia thì cách tốt nhất là làm các đề thi thử Bạn chỉ cần làm thường xuyên, đều đặn và sau khi làm so sánh với kết quả, bạn sẽ phát hiện được
lỗ hổng kiến thức của mình để có phương pháp ôn phù hợp Tôi đã từng nói chuyện với nhiều học sinh có điểm thi cao và nhận thấy đó là cách học của những học sinh xuất sắc Trong các môn khác cũng vậy, chỉ có TẬP, TẬP, VÀ TẬP thì bạn mới thành thạo thôi, không có phương pháp nào hiệu quả hơn thường xuyên luyện tập Thêm nữa, luyện tập sẽ củng cố và giữ gìn phong độ của bạn luôn ổn định để chuẩn bị cho kỳ thi chính thức
Trang 3Luyện thi thpt quốc gia môn Văn - Bí quyết kiếm điểm
Môn Ngữ văn thi theo hình thức tự luận, thời gian làm bài là 180 phút, đánh giá thí sinh
ở các mức độ tư duy: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao
Đề thi năm nay theo TS Minh Nguyệt về mặt dung lượng, có thể dài hơn đề thi của các năm trước, gồm nhiều tờ giấy thi Nhưng nếu đã nắm được cấu trúc của đề, chắc hẳn các em
sẽ không ngỡ ngàng để bình tĩnh hoàn thành bài làm của mình
Căn cứ vào đề thi minh họa môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chúng ta thấy cấu trúc của đề thi năm nay có điểm khác biệt so với những năm trước Đó là đề thi thpt quốc gia môn Văn gồm có 2 phần:
- Phần 1: Đọc hiểu (3 điểm) Đề thi minh họa có 8 câu hỏi đọc hiểu văn bản thông tin và văn bản nghệ thuật
- Phần 2: Làm văn (7 điểm) gồm nghị luận xã hội và nghị luận văn học đánh giá ở mức độ vận dụng cao
+ Nghị luận xã hội (3 điểm): Đề văn yêu cầu thí sinh bàn bạc, nêu ý kiến của mình về một
tư tưởng, đạo lí, một vấn đề chính trị- xã hội hoặc một hiện tượng đời sống Trong chương trình Ngữ văn THPT, các em được học ba dạng bài nghị luận xã hội: nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
+ Nghị luận văn học (4 điểm): Câu hỏi nghị luận văn học rất đa dạng về nội dung và cách hỏi Đề văn có thể yêu cầu các em phân tích, cảm nhận về một tác phẩm văn học hoặc một đoạn trích; phân tích vấn đề nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm; bình luận về một ý kiến bàn về văn học hoặc so sánh văn học…
Từ việc phân tích đề thi minh họa môn Ngữ văn trong kì luyện thi THPT Quốc gia môn văn, các em cần lưu ý một số điểm sau khi làm bài để đạt được kết quả tốt nhất:
Đề thi môn Ngữ văn năm nay, về mặt dung lượng, có thể dài hơn đề thi của các năm trước, gồm nhiều tờ giấy thi Nhưng nếu đã nắm được cấu trúc của đề, chắc hẳn các em sẽ không ngỡ ngàng để bình tĩnh hoàn thành bài làm của mình
Phần đọc hiểu:
Trang 4Ngữ liệu phần đọc hiểu có thể các em đã học/đọc trong chương trình Ngữ văn THPT hoặc là ngữ liệu ngoài chương trình nênkhá mới mẻ với các em Các câu hỏi đọc hiểu văn bản được chia làm ba mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng Các câu hỏi này có thể hướng đến các vấn đề: nêu đề tài, chủ đề, thể loại văn bản, phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ; nhận biết thông tin được phản ánh trong văn bản; cắt nghĩa, lí giải nội dung văn bản; phân tích các biện pháp nghệ thuật; nối kết nội dung của văn bản với thực tiễn cuộc sống…
Khi làm câu hỏi này, các em cần đọc kĩ câu hỏi, câu trả lời cần viết ngắn gọntheo đúng yêu cầu Các em không nên viết câu trả lời quá dài (không cần phải viết thành bài văn, đoạn văn)
Phần làm văn:
Câu nghị luận xã hội: Về mặt hình thức, đề bài yêu cầu các em viết một bài văn ngắn (thường là 600 từ), nên bài làm của các em phải có cấu trúc hoàn chỉnh của một bài văn: gồm 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài).Phần thân bài, các em nên viết một số đoạn văn, mỗi đoạn triển khai một luận điểm
Về nội dung, các em cần đọc kĩ đề bài để trả lời câu hỏi: đề bài yêu cầu nghị luận về vấn
đề gì? Từ đó, xác lập các ý cho bài văn Khi đánh giá vấn đề tư tưởng, đạo lí hoặc hiện tượng xã hội, người viết cần đứng trên lập trường của tư tưởng nhân văn, tiến bộ, vì lợi ích cung của cộng đồng để xem xét, đánh giá Bài viết cần phải có luận điểm rõ ràng, luận cứ
cụ thể, lập luận chặt chẽ Có thể nói, sức hấp dẫn của bài văn nghị luận xã hội là ở các dẫn chứng (trong lịch sử, thực tiễn cuộc sống và trong văn học) Vì thế, các em nên chọn dẫn chứng càng cụ thể, sinh động càng thuyết phục; tránh chỉ bình luận chung chung, dễ dãi, tản mạn
Câu nghị luận văn học: Về mặt hình thức, bài làm của các em cũng phải có cấu trúc hoàn chỉnh của một bài văn (gồm 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài)
Về nội dung, đề bài nghị luận văn học có các dạng bài rất phong phú như: phân tích, cảm nhận về một tác phẩm, một đoạn trích, một hình tượng, một chi tiết trong tác phẩm; so sánh văn học; nghị luận về hai ý kiến đối với một tác phẩm, một đoạn trích; nghị luận về
Trang 5một vấn đề văn học… Vì thế, yêu cầu đầu tiên là các em cần đọc thật kĩ đề bài, xác định
“trúng” vấn đề cần nghị luận.Sau đó, các em nên gạch ra một vài ý là luận điểm của bài làm
để triển khai bài viết Lưu ý là, khi phân tích thơ, phải trích dẫn thơ; phân tích văn xuôi phải đưa ra được dẫn chứng
Khi làm bài, các em cần chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm hoặc đoạn trích Trong bài nghị luận văn học, các em cần tránh một số lỗi sau: trích dẫn chứng sai, diễn xuôi thơ, kể lể văn xuôi, không bình giá nghệ thuật của tác phẩm/ đoạn trích, suy diễn vô căn cứ nội dung và nghệ thuật của tác phẩm…
Ngoài yêu cầu cụ thể của từng câu hỏi, tổng thể bài thi môn Ngữ văn của các em nên được trình bày sáng rõ, tránh tình trạng tẩy xóa nhiều, chữ viết cẩu thả Một yêu cầu khác nữa là các em cần chú ý đến việc diễn đạt trong bài làm: diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc, có
sự liên kết giữa các câu, đoạn; tránh mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…
Nguồn: TS Lê Thị Minh Nguyệt- Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 6BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
(Đề thi có 02 trang)
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2015
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
Cho biển cả không còn hoang lạnh Đứa ở đồng chua
Đứa vùng đất mặn Chia nhau nỗi nhớ nhà Hoàng hôn tím ngát xa khơi Chia nhau tin vui
Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng Chúng tôi coi thường gian nan
Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn Ngày mai đảo sẽ nhô lên
Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền Hoàng Sa, Trường Sa
Những quần đảo long lanh như ngọc dát Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi Đảo à, đảo ơi!
Đảo Thuyền Chài, 4 - 1982
(Trích Hát về một hòn đảo - Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr.51)
Câu 1 Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?
Câu 3 Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo long lanh như ngọc dát
Câu 4 Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con - Người của mỗi sinh thể người Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại Trong cuộc hành trình lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu, con người nhận biết ngay Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay Nhường bước cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho người hành khất, có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã thu được;
có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ
Trang 7Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm
(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr.36-37)
Câu 5 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
Câu 6 Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7 Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Câu 8 Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết
lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
II PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
Có ý kiến cho rằng: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên
Câu 2 (4,0 điểm)
Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
- Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn
ăn cây xương rồng luộc chấm muối
- Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? - Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề
- Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính - bỗng mụ đỏ mặt - nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật
- Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi
- Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
- Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? - Tôi hỏi
- Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu Giá
mà lão uống rượu thì tôi còn đỡ khổ Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão đưa tôi lên bờ mà đánh
- Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên
- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông
- Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải
có một người đàn ông dù hắn man rợ, tàn bạo?
- Phải - Người đàn bà đáp - Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! - Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười - vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ
- Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi
- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.75-76)
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu
trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
-Hết -
Thí sinh không được sử dụng tài liệu Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh: ; Số báo danh:
Trang 8BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2015
ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM Môn thi: NGỮ VĂN
(Đáp án - Thang điểm gồm có 02 trang)
ĐỌC HIỂU 3,0
2 Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh: trần trụi giữa trời, lều bạt, gian nan, có người ngã trước miệng cá
mập, có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
0,25
3
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ là so sánh (0,25 điểm)
- Hiệu quả: làm nổi bật vẻ đẹp của những quần đảo; thể hiện tình yêu, niềm tự
hào về biển đảo (0,25 điểm)
0,50
4 Bày tỏ được tình cảm chân thành, sâu sắc dành cho những người lính đảo 0,50
6 Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là do bệnh vô cảm, do sự xuống cấp nghiêm trọng về ý thức nhân văn 0,25
7 Thái độ của tác giả khi bàn về hiểm họa vô cảm: lo ngại, trăn trở 0,50
I
8
Thể hiện được suy nghĩ chân thành, sâu sắc trước hiện tượng: có những người
“chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”
0,50
1 Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về vấn đề: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức 3,0
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề
Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động
II
- Giải thích: Từ việc giải thích khái niệm kĩ năng sống và kiến thức, thí sinh nêu
khái quát nội dung ý kiến
- Bàn luận
+ Khẳng định ý kiến nêu ra là đúng hay sai, hợp lí hay không hợp lí
+ Bày tỏ thái độ, suy nghĩ về ý kiến bằng những lí lẽ, dẫn chứng phù hợp,
có sức thuyết phục
0,25 1,25
Trang 9Phần Câu Nội dung Điểm
- Bài học nhận thức và hành động: Rút ra bài học phù hợp cho bản thân 0,25
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
2 Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của Nguyễn
Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
4,0
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề
Nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích; cách nhìn nhận cuộc sống và
con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và nhân vật người đàn bà hàng chài
- Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích: cuộc đời, số phận (nghèo khổ, bất hạnh ); tính cách, phẩm chất (cam chịu, giàu đức hi sinh, thấu trải lẽ đời ); nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Bình luận về cách nhìn cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh
Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa:
+ Khám phá bản chất cuộc sống và con người ở góc độ thế sự bằng cái nhìn đa diện, nhiều chiều (cuộc sống của người dân chài còn nhiều nghịch lí, nhân vật người đàn bà vừa nhẫn nhục đến mức phi lí vừa có những phẩm chất đẹp đẽ )
+ Đánh giá về cách nhìn cuộc sống và con người của nhà văn trong tác phẩm
0,50 1,25
0,75
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm
- Hết -
Trang 10ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 3
MÙA XUÂN XANH
Mùa xuân là cả một mùa xanh Giời ở trên cao, lá ở cành Lúa ở đồng tôi và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng anh
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh Tôi đợi người yêu đến tự tình Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy Bắt đầu là cái thắt lưng xanh
(Nguyễn Bính, theo Thơ Nguyễn Bính, NXB Giáo dục, 2002)
Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Bài thơ đã gợi tả những sắc xanh gì? Qua đó tác giả đã thể hiện vẻ đẹp của mùa xuân như thế nào?
Câu 3: Hình ảnh cái thắt lưng xanh gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 4 đến câu 6
Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, người châu Âu vẫn chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa quần đảo Trường Sa với quần đảo Hoàng Sa Cho đến năm 1787-1788, đoàn khảo sát Kergariou Locmaria mới xác định rõ vị trí của quần đảo Paracel (là quần đảo Hoàng Sa hiện nay) và từ đó người phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc với một quần đảo khác ở phía nam, tức quần đảo Trường Sa Đến năm 1791, Henry Spratly, người Anh, du hành qua quần đảo và đặt tên cho đá Vành Khăn là Mischief Năm 1843 Richard Spratly đặt tên cho một số thực thể địa lý thuộc Trường Sa, trong đó có Spartly’s Sandy Island cho đảo Trường Sa Kể từ đó, Spartly dần trở thành tên tiếng Anh của cả quần đảo Đối với người Việt, thời nhà Lê các hải đảo ngoài khơi phía đông được gọi chung là Đại Trường Sa đảo Đến thời nhà Nguyễn triều vua Minh Mạng thì tên Vạn Lí Trường Sa xuất hiện trong bản đồ Đại Nam nhất thống toàn thổ của Phan Huy Chú Bản đồ này đặt nhóm Vạn Lí Trường Sa ở phía nam nhóm Hoàng Sa Về mặt địa lí thì cả hai nhóm đều nằm dọc bờ biển miền trung nước Đại Nam…
Theo Wikipedia
Câu 4: Đoạn văn trên viết về vấn đề gì? Đặt tiêu đề cho đoạn văn
Câu 5: Đoạn văn trên có những cơ sở nào chứng tỏ quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng
Sa là của Việt Nam?
Câu 6: Đọc đoạn văn trên trong không khí chính trị - xã hội hiện nay, em có suy nghĩ gì về chủ quyền biển đảo Tổ quốc? (Viết đoạn văn 5-7 câu)
Trang 11Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi
(Trích Tây Tiến – Quang Dũng)
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
-HẾT -
Trang 12SỞ GD &ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC
ĐÁP ÁN- HƯỚNG DẪN CHẤM KÌ THI KHẢO SÁT KHỐI 12 LẦN 1 MÔN: NGỮ VĂN
1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ thất ngôn 0,5
2 - Bài thơ gợi lên bạt ngàn sắc xanh từ mọi tầng không gian: trời
xanh, lá xanh, lúa xanh, cỏ xanh, tre xanh, thắt lưng xanh,… Các
sắc xanh này giao hòa, lan tỏa
- Nhà thơ đã thể hiện vẻ đẹp căng tràn, tươi mới của mùa xuân và
mối giao hòa giữa thiên nhiên và con người
0,25
0,25
3 Trên nền không gian tươi mới của mùa xuân, nổi bật lên hình ảnh
cái thắt lưng xanh của người con gái Đó là màu xanh của tuổi trẻ,
của tình tình yêu và hi vong Vẻ đẹp của thiên nhiên đã hòa làm
một với vẻ đẹp của con người
0,5
4 - Đoạn văn trên viết về lịch sử và các tên gọi khác nhau của 2 quần
đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, đưa những cơ sở chứng tỏ 2
quần đảo này là của Việt Nam
- Đặt nhan đề: Trường Sa và Hoàng Sa – Lịch sử và tên gọi
0,25
0,25
5 Trong đoạn văn trên đã nêu những cơ sở chứng tỏ quần đảo
Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam:
- Thứ nhất, thời nhà Lê các hải đảo ngoài khơi phía đông được gọi
chung là Đại Trường Sa đảo
- Thứ hai, đến thời nhà Nguyễn triều vua Minh Mạng thì tên Vạn
Lí Trường Sa xuất hiện trong bản đồ Đại Nam nhất thống toàn thổ
của Phan Huy Chú
0,5
6 - HS biết cách viết đoạn văn theo đúng qui định về số câu
- Thể hiện suy nghĩ, thái độ và có ý thức hành động về việc bảo vệ
chủ quyền dân tộc nói chung và quyền biển đảo nói riêng
0,5
1 Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của
mình về ý kiến: Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con
người mà chính con người mới làm nên sự cao quí cho nghề
nghiệp
3,0
Có đủ phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề
Thân bài triển khai được vấn đề Kết bài kết luận được vấn đề
Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người mà chính
con người mới làm nên sự cao quí cho nghề nghiệp
c Triền khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt
các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí luận và dẫn chứng;
rút ra bài học nhận thức và hành động
Trang 13
Giải thích
- Nghề nghiệp là cách nói khái quát về ngành nghề, công việc của
mỗi người trong xã hội
- Cao quí là có giá trị lớn về mặt tinh thần, rất đáng trân trọng
- Ý kiến nhằm khẳng định mọi ngành nghề trong xã hội đều quan
trọng; giá trị cao quí của nghề nghiệp là do con người làm nên chứ
không phải do bản thân nghề nghiệp đó
Bàn luận ý kiến
- Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người
+Bản thân nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người,
sự cao quí ấy phải do tự thân con người làm nên trong quá trình
thực hiện nghề nghiệp của mình
+ Trong xã hội, không có nghề tầm thường, bất cứ nghề nào mang
lại lợi ích cho con người và cộng đồng đều đáng được trân trọng,
tôn vinh
- Chính con người mới làm nên sự cao quí cho nghề nghiệp
+ Thước đo giá trị nghề nghiệp là hiệu quả và phẩm chất đạo đức
của người lao động trong công việc
+ Sự cao quí của nghề nghiệp là do con người biết đem hết tài
năng, sức lực và phẩm chất đạo đức của mình để làm nên các giá
trị vật chất hoặc tinh thần, giúp cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp
hơn
-Phê phán một số quan niệm lệch lạc trong xã hội hiện nay khi cho
rằng có nghề cao quí, có nghề tầm thường và chạy theo những
ngành nghề chỉ đem lại lợi ích trước mắt cho cá nhân
Bài học nhận thức và hành động
- Cần phải biết chọn nghề phù hợp với năng lực và trình độ của
bản thân
- Cần nuôi dưỡng niềm say mê, tình cảm yêu nghề để có thể tận
tâm và cống hiến được nhiều nhất cho xã hội
Đảm bảo quí tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
a.Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Có đủ phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề
Thân bài triển khai được vấn đề Kết bài kết luận được vấn đề
0,25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ trong bài
Tây Tiến (Quang Dũng) và Việt Bắc (Tố Hữu)
0,5
c Triền khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt
các thao tác lập luận; cảm nhận sâu sắc; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ
và dẫn chứng
Trang 14-Giới thiệu khái quát về hai tác giả, hai tác phẩm
+ Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội Ông là một nghệ sĩ đa tài
với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn Còn Tố Hữu
(1920-2002), quê ở Huế, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng
Việt Nam với hồn thơ đậm đà tính dân tộc
+ Tây Tiến (1948), Việt Bắc (1954) đều là những thành tựu đặc
sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, đều là những bài ca không
thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch
sử dân tộc
-Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
+ Vị trí đoạn thơ: nằm ngay phần mở đầu của bài thơ
+ Nội dung:
Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhơ da diết, vời vợi về miền Tây và
người lính Tây Tiến
Thiên nhiên miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu mà
thơ mộng; con người miền Tây gian khổ mà hào hoa
+ Nghệ thuật:
Hình ảnh thơ có sự hài hòa giữa nét thực và ảo, vừa mông
lung vừa gợi cảm về cảnh và người (bút pháp lãng mạn)
Nhạc điệu có sự hài hòa giữa lời cảm thán với điệu cảm xúc
(câu mở đầu như một tiếng gọi vang vọng vào không gian),
giữa mật độ dày những âm vần (rồi, ơi, chơi vơi, mỏi, hơi)
với điệp từ nhơ và lối đối uyển chuyển (câu 3 với câu 4) đã tạo ra một âm hưởng tha thiết, ngậm ngùi
- Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu
+ Vị trí: đoạn thơ nằm ở phần đầu của bài thơ Việt Bắc
+ Nội dung:
Đây là lời của người đi (những cán bộ kháng chiến đã từng
gắn bó và công tác ở Việt Bắc, trong đó có Tố Hữu), khẳng định với người ở lại rằng: dù về xuôi, dù xa cách nhau về
không gian địa lí nhưng vẫn nhớ Việt Bắc như nhớ người yêu Từ đó, muốn nói nỗi nhớ của tình yêu là nỗi nhớ cháy
bỏng, nỗi da diết nhất, thường trực nhất, để từ đó khẳng định nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung của mình với Việt Bắc – suối nguồn nuôi dưỡng của cách mạng
Sau lời khẳng định là những hình ảnh thiên nhiên và con
người Việt Bắc đẹp như khúc hát đồng quê Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương, là hình
ảnh rất đặc trưng cho khung cảnh núi rừng êm đềm, thơ mộng ở Việt Bắc Trên cái nền trữ tình là hình ảnh con người Việt Bắc tần tảo, chịu thương chịu khó Con người và thiên nhiên hài hòa gắn bó trong nỗi nhớ người về xuôi
+ Nghệ thuật:
0,25
0,75
0,75
Trang 15 Các hình ảnh trong hoài niệm nhưng hiện lên thật cụ thể, rõ nét, chứng tỏ sự gắn bó sâu sắc và nỗi nhớ tha thiết
Thể thơ lục bát cùng với biện pháp so sánh, điệp từ… đã góp phần thể hiện sâu sắc nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung của người về
- So sánh hai đoạn thơ (0,5)
+ Điểm tương đồng:
Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ của người trong cuộc: tha thiết, bồi hồi, sâu lắng về thiên nhiên và con người một thời gắn bó, yêu thương trong kháng chiến
Đều thể hiện phong cách thơ độc đáo, tấm lòng thủy chung son sắt của những người trong cuộc đối với những mảnh đất một thời gắn bó
+ Điểm khác biệt:
Nỗi nhớ của nhà thơ Quang Dũng được bộc lộ trực tiếp, cụ thể: nỗi nhó đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi bật lên
thành tiếng gọi Tây Tiến ơi Hai chữ chơi vơi vẽ ra trạng
thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ và nỗi nhớ
da diết, thường trực, ám ảnh, mênh mông bao trùm cả không gian, thời gian Nỗi nhớ của Tố Hữu trong đoạn thơ dùng nỗi nhớ tình yêu để khẳng định nỗi nhớ với quê hương cách mạng
Hai đoạn thơ (cũng như toàn bài thơ) sử dụng hai hình thức
khác nhau để bộc lộ cảm xúc: Tây Tiến sử dụng thể thơ thất ngôn trường thiên Việt Bắc sử dụng thể thơ lục bát
+ Lí giải:
* Hai bài thơ đều được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống
Pháp
* Quang Dũng và Tố Hữu là hai nhà thơ, hai chiến sĩ, viết về nỗi
nhớ của người trong cuộc Mỗi nhà thơ có phong cách sáng tạo
nghệ thuật riêng
- Đánh giá chung về giá trị hai đoạn thơ:
Với hồn thơ đậm đà tính dân tộc, lãng mạn, hào hoa, phóng
khoáng, Tố Hữu và Quang Dũng đã làm nổi bật nỗi nhớ thiết tha,
sâu nặng về quê hương cách mạng và đơn vị cũ
Trang 16Thời gian làm bài: 120 phút
Phần I: Đọc - hiểu (3,0 điểm)
Em hãy đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu dưới:
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ mong ngày được hái Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh
(Mẹ và Quả - Nguyễn Khoa Điềm)
Câu 1 (0.5 điểm): Bài thơ trên chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu 2 (0.5 điểm): Nêu nội dung chính của bài thơ?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai câu thơ sau và nêu tác dụng nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:
“Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống”
Câu 4 (1.0 điểm): Viết khoảng 5 đến 7 dòng bộc lộ cảm xúc của em khi đọc hai câu thơ cuối bài?
Phần II: Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm):
Em sẽ chọn nghề gì trong tương lai? Trình bày quan điểm của em về việc lựa chọn
nghề nghiệp cho bản thân?
Câu 2 (4,0 điểm):
Trang 17Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người qua đoạn thơ sau:
(Trích Việt Bắc - Tố Hữu - SGK Ngữ Văn 12 tập 1)
-HẾT
Họ và tên:……… SBD Lớp: 12 A……
Thí sinh không được sử dụng tài liệu Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Trang 18ĐÁP ÁN THI THỬ THPT QG LẦN II 2015 -2016
a Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là biểu cảm
b Nội dung chính của bài thơ: Thể hiện cảm động tình mẫu tử thiêng liêng: tình mẹ
dành cho con và tình cảm yêu thương, kính trọng, biết ơn chân thành của người con
đối với mẹ
c Những biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong câu hai câu thơ: Nhân hóa (bí
và bầu cũng “lớn”), đối lập (Lớn lên, lớn xuống); hoán dụ (tay mẹ)
Tác dụng nghệ thuật: (“Bí và bầu” là thành quả lao động “vun trồng” của mẹ;
“Con” là kết quả của sự sinh thành, dưỡng dục, là niềm tin, sự kỳ vọng của mẹ) =>
Nhấn mạnh sự hi sinh thầm lặng và công lao trời bể của mẹ, đồng thời thể hiện nỗi
thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với mẹ
d Câu thơ “Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi / Mình vẫn còn một thứ quả non
xanh”, bằng nghệ thuật nói giảm nói tránh “mỏi” và biện pháp ẩn dụ “quả non
xanh”, tác giả thể hiện nỗi niềm lo lắng đến hốt hoảng khi nghĩ đến một ngày mẹ
tuổi đã già mà mình vẫn chưa đủ khôn lớn, trưởng thành, vẫn là “một thứ quả non
xanh”, chưa thể thành “trái chín” mẹ mong
Qua lời tâm sự của tác giả khi nghĩ về mẹ, tự trong lòng mỗi chúng ta dấy lên
lòng kính yêu vô hạn đối với cha mẹ và mỗi người đều tự nhủ phải sống sao cho
xứng đáng với công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha
Câu 1: Em sẽ chọn nghề gì trong tương lai? Trình bày quan điểm của em về
việc lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân?
3 đ
Yêu cầu nêu được những ý cơ bản sau:
a Mở bài: Dẫn dắt, đưa ra vấn đề cần nghị luận:
- Với HS lớp 12 - những HS cuối cấp, chúng ta sắp phải đưa ra một quyết định hệ
trọng, một quyết định ảnh hưởng lâu dài tới tương lai của chính bản thân đó là quyết
định lựa chọn một nghề nghiệp cho tương lai
- Mỗi chúng ta cần phải có một quan điểm rõ ràng, đúng đắn về việc lựa chọn nghề
nghiệp để có thể thành công trong cuộc sống và tránh được sự ân hận sau này
b Thân bài:
* Giải thích nghề”: Là một lĩnh vực lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con
0 25
Trang 19người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất
hay tinh thần nào đó đáp ứng được những nhu cầu xã hội và đem lại lợi ích thiết
thực, lâu dài cho bản thân
* Bàn luận về việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai:
- Nghề nghiệp là vấn đề gắn bó lâu dài với cuộc sống mỗi người:
+ Nếu lựa chọn đúng nghề, ta sẽ có niềm say mê, hứng thú với công việc, có cơ
hội phát huy năng lực …
+ Nếu lựa chọn sai nghề ta sẽ mất cơ hội, công việc trở thành gánh nặng …
- Thuận lợi, khó khăn trong việc lựa chọn nghề hiện nay:
+ Thuận lợi: xã hội ngày càng phát triển, ngành nghề ngày càng đa dạng, mở ra
nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp cho thanh niên
+ Khó khăn: Nhu cầu xã hội ngày càng cao đòi hỏi chất lượng tay nghề của người
lao động phải giỏi; Một số ngành được xã hội đề cao hứa hẹn mức thu nhập tốt thì
lại có quá nhiều người theo học dẫn tới tình trạng thiếu việc làm …
- Quan điểm chọn nghề: (HS trình bày quan điểm kết hợp với phân tích, đưa dẫn
chứng)
+ Phải phù hợp với năng lực và niềm say mê, sở thích của bản thân
+ Có đủ các điều kiện để có thể theo học nghề mà mình chọn: (Chiều cao, sức
khỏe, tài chính, lý lịch ….)
+ Không nên chạy theo những công việc thời thượng bởi nhu cầu xã hội biến đổi
không ngừng, không chọn nghề theo sở thích của người khác
+ Khi đã chọn được nghề thì phải có ý thức trau dồi nghề nghiệp của mình
–> Giỏi nghề sẽ không bao giờ lo thất nghiệp mà ngược lại sẽ có cuộc sống sung
túc, ổn định “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”
- Em sẽ chọn nghề gì? Lý do vì sao lại chọn nghề đó? (HS tự do trình bày tuy nhiên
phải mang ý nghĩa tích cực, phù hợp với đạo đức và sự tiến bộ của xã hội)
* Bài học nhận thức và hành động:
- Mỗi người cần nhận thức được khả năng thật sự của bản thân để lựa chọn nghề
nghiệp cho phù hợp
- Khi lựa chọn nghề nghiệp chúng ta cần có sự kết hợp hài hoà giữa năng lực và sở
thích Trong đó năng lực đóng vai trò quyết định
c KL: Khái quát lại vấn đề …
Trang 20thơ sau:
Gợi ý trả lời:
1/ Yêu cầu về kỹ năng:
Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích thơ
Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ,
ngữ pháp
2/ Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở hiểu biết về nhà thơ Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc cũng như cái hay cái
đẹp của đoạn thơ, học sinh có thể trình bày, sắp xếp theo nhiều cách khác nhau
nhưng phải đảm bảo các ý chính sau:
a/ MB: - Giới thiệu tác giả - tác phẩm - đoạn trích
b/ TB:
NỘI DUNG: Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ tha thiết của tác giả về vẻ đẹp của thiên
nhiên và con người Việt Bắc
* 2 câu đầu:
- Câu hỏi tu từ với cách xưng hô mình - ta ngọt ngào là lời ướm hỏi, cách tạo cớ để
giãi bày nỗi nhớ -> khéo léo
- Người về nhớ “hoa cùng người”, nhớ về những gì đẹp nhất của núi rừng VB Tác
giả đã lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng Hoa - Người, “hoa” là hình ảnh ẩn dụ: vẻ
đẹp của thiên nhiên Tương xứng với hoa là vẻ đẹp con người VB - hoa của đất ->
Cách nói tế nhị và duyên dáng
* 8 câu sau:
- Vẻ đẹp của thiên nhiên: Bức tranh tứ bình- bốn mùa của núi rừng Việt Bắc Bằng
bút pháp hội họa tài hoa, tác giả làm bật lên vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng VB bốn
mùa Xuân – Hạ - thu –Đông Cảnh vật sinh động, tươi tắn sắc màu:
+ Mùa đông: Trên cái nền xanh lặng lẽ, trầm tĩnh của rừng già giữa mùa đông
lạnh giá, bỗng nở bừng những bông hoa chuối đỏ tươi như những đốm lửa nhỏ xua
tan cái lạnh lẽo của mùa đông + Ánh nắng hiếm hoi -> Đem lại cảm giác mùa đông
nơi đây không lạnh - một cảm nhận tinh tế và độc đáo của nhà thơ
+ Xuân sang: Núi rừng VB tràn ngập màu trắng tinh khiết của hoa mơ “Mơ
nở” -> Gợi hình ảnh rừng hoa đang bung nở - bức tranh động “Trắng rừng”- trắng
cả không gian, trắng cả thời gian mùa xuân
=> Vẻ đẹp đặc trưng của mùa xuân VB
0.5
0.5
1.0
Trang 21+ Hè về: Một tiếng ve kêu khiến không gian xao động, cảnh vật như chuyển
động Tiếng ve như hiệu lệnh khiến rừng Phách đột ngột “đổ” vàng Sự chuyển mùa
được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây Sắc “vàng” - đặc trưng
của mùa hè VB -> Cảm nhận độc đáo
+ Mùa thu: Nói tới mùa thu không thể thiếu trăng thu Tác giả cảm nhận ánh
trăng tràn trên những cánh rừng, rọi qua vòm lá đem đến vẻ đẹp của sự thanh bình
… Trăng + tiếng hát -> lãng mạn
- Vẻ đẹp của con người: Bức tứ bình về vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn con người
+ Đó là những con người khỏe khoắn, tự tin, làm chủ thiên nhiên, núi rừng
+ Con người khéo léo cần mẫn trong công việc
+ Con người chịu thương, chịu khó, nhưng cũng rất duyên dáng dịu dàng
+ Con người ân tình và rất mực thủy chung
=> Nỗi nhớ đằm sâu nhất, gốc rễ của mọi nỗi nhớ là vẻ đẹp con người VB
NGHỆ THUẬT:
- Bút pháp tả cảnh (giàu chất hội họa, sự phối hợp hài hòa từ đường nét, màu sắc,
ánh sáng…) tả người độc đáo tài hoa (con người hiện lên với vẻ đẹp phẩm chất, tâm
hồn) Không sử dụng bút pháp ước lệ, tác giả sử dụng bút pháp tả thực đem đến một
cảm nhận thực, cảm xúc thực cho người đọc Sự đan xen giữa cảnh và người khiến
bức tranh sinh động, ấm áp, hài hòa
- Âm hưởng chung của đoạn thơ là nỗi nhớ nhung tha thiết: Điệp từ “nhớ”
- Nhịp thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, êm đềm như khúc hát dân ca Đoạn
thơ giàu tính tạo hình, giàu âm hưởng, cấu trúc hài hòa, cân đối, đậm chất trữ tình
=> Góp phần thể hiện tấm lòng, tình cảm gắn bó, mến yêu của người cán bộ kháng
chiến đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc
c/ KL: Đánh giá khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật đoạn thơ và tài năng tác giả
1.0
0.5
0.5
Trang 22SỞ GD&ĐT BẮC GIANG
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA LẦN 1
Năm học: 2015 - 2016 Môn: NGỮ VĂN LỚP 12
Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian phát đề)
PHẦN I ĐỌC - HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi bên dưới, từ câu 1 đến câu 4:
(1) Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vừa đưa ra dự báo, Việt Nam sẽ mất hơn 40 năm nữa để vượt qua mốc thu nhập trung bình 40 năm nữa nghĩa là chúng ta, những người đang đọc bài viết này đều đã già, rất già Thậm chí, có những người có thể đã
ở thế giới bên kia Nhưng điều nguy hiểm là không chỉ từng cá nhân, mà ngay cả đất nước này khi ấy cũng đã già nua
…(2) Cũng giống như một đời người, thời điểm dân số già là lúc quốc gia sẽ phải tiêu tốn tiền bạc đã tích lũy được trong suốt “thời trẻ khỏe” để phục vụ cho giai đoạn không còn hoặc suy giảm khả năng sản xuất Chẳng hạn, năm 2009 cứ hơn bảy người đi làm mới phải “nuôi” một người già Nhưng đến năm 2049, cứ hai người làm việc đã phải gánh một người già (chưa kể còn trẻ em) Khi ấy, nếu chúng ta chưa tạo dựng được một nền kinh tế
đủ mạnh, cùng nền tảng khoa học kỹ thuật phát triển thì gánh nặng an sinh xã hội cũng như nguy cơ tụt hậu là rất lớn
(3) Hành động vì tương lai ngay từ lúc này theo tôi, là điều cần thiết với cả xã hội Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách Nợ công được khẳng định vẫn trong giới hạn an toàn Nhưng cần tính toán trước rằng, 10 -20 năm nữa, khoản nợ ấy sẽ dồn lên vai một cộng đồng dân số đã già, chưa chắc nuôi nổi bản thân, huống hồ là trả nợ Từng giọt dầu, từng mẩu tài nguyên… cũng cần được tiết kiệm Bởi đó chính là “của để dành” khi đất nước về già, năng suất lao động đã sụt giảm
(4) Trong bối cảnh đó, tôi nhận thấy, với một bộ phận thế hệ trẻ, nỗi sợ thời gian dường như vẫn còn rất mơ hồ Họ vẫn dành thì giờ buôn chuyện, chém gió thay vì tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chúng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu
(Phan Tất Đức, Già trước khi giàu, Vn.Express,Thứ sáu, 26/9/2014 )
Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)
Câu 2: Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Tác dụng?
(0,5 điểm)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Trang 23Câu 3: Theo tác giả, chúng ta, đất nước chúng ta cần làm gì để không rơi vào hoàn
cảnh già trước khi kịp giàu? (0,5 điểm)
Câu 4: Hãy viết một đoạn văn (từ 5- 10 dòng) nhận xét thái độ, quan niệm của tác
giả thể hiện trong câu: Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chúng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu (1,5 điểm)
PHẦN II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
Cái mạnh của con ngườì Việt Nam là sự thông minh và nhạy bén với cái mới nhưng bên cạnh cái mạnh đó vẫn còn tồn tại không ít cái yếu Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học "thời thượng", nhất là khả năng thực
hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chạy theo học vẹt nặng nề
(Theo Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới)
Viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên
Câu 2 (4,0 điểm)
Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao
tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc Hãy phân tích để làm sáng tỏ điều đó
Hỡi đồng bào cả nước,
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được: trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc"
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng ra,
câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng
nói:
"Người ta sinh ra bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được bình đẳng về quyền lợi"
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được
(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)
- Hết -
Thí sinh không được sử dụng tài liệu Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh: Số báo danh:
Trang 24ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA LẦN 1
Năm học: 2015 - 2016 Môn: NGỮ VĂN LỚP 12
PHẦN 1
Đọc-hiểu
Câu 1 Phương thức biểu đạt nghị luận/nghị luận
- Điểm 0,5: Trả lời đúng theo các cách trên
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
0.5
Câu 2 Thao tác lập luận so sánh/thao tác so sánh/lập luận so sánh/so sánh
- Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong các cách trên
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
Tác dụng: Giúp người đọc dễ hình dung hơn về những khó khăn của thời điểm dân số già đối với một đất nước, đặc biệt là nước đang phát triển Từ đó,
mỗi người có nhận thức và hành động đúng để Việt Nam không bị già trước khi
Câu 3 Nội dung chính:
Bài viết đã đề cập đến nguy cơ tụt hậu, không đạt được mục tiêu phát triển của đất nước ta nếu không biết chớp thời cơ, bứt phá để vượt lên trong thời
điểm dân số vàng Do vậy, chúng ta cần hành động vì tương lai ngay từ lúc này,
Có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ
- Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên
- Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
0.5
Câu 4: Viết được đoạn văn nhận xét về quan điểm, thái độ của tác giả trong câu
kết của bài Cần thấy được thái độ lo lắng cũng như niềm hi vọng của người viết
trước tình hình thực tế của đất nước Từ đó, nêu suy nghĩ chân thành, nghiêm
1.5
Trang 25túc về trách nhiệm của mỗi người trước tương lai của dân tộc
Đoạn văn viết phải chặt chẽ, có sức thuyết phục
- Điểm 1,5: hiểu yêu cầu đề, thấy được thái độ, quan niệm của người viết
và bày tỏ suy nghĩ hợp lí, thuyết phục (căn cứ vào mức độ bài viết của học sinh
GV chấm và cho điểm cho phù hợp)
- Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ý, không có sức thuyết phục
+ Không có câu trả lời
những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học
"thời thượng", nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học
chạy theo học vẹt nặng nề
3.0
I.Yêu cầu về kĩ năng:
- HS nắm vững phương pháp và kĩ năng làm bài nghị luận xã hội
- Làm sáng tỏ yêu cầu của đề bài qua các bước giải thích, phân tích, lí
giải, bình luận, liên hệ bản thân
- Bài viết có bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, lập luận thuyết phục, không
mắc lỗi chính tả, diễn đạt
II Yêu cầu về kiến thức
HS có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đạt được những
yêu cầu sau:
a Giải thích ý nghĩa câu nói:
- Vế 1: Cái mạnh của con người Việt Nam là sự thông minh và nhạy bén về cái mới.Tác giả khẳng định người Việt Nam có những điểm mạnh đáng tự hào,
đó là sự thông minh trong việc giải quyết vấn đề và sự nhạy bén, nhanh chóng
tiếp thu những tri thức mới, thông minh, nhanh nhạy từ lâu đã là bản chất thiên
phú của con người Việt Nam
- Vế 2: Bên cạnh cái mạnh vẫn tồn tại cái yếu Ấy là những lỗ hổng kiến
0,5
Trang 26thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học "thời thượng", nhất là khả
năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chạy theo học vẹt nặng nề, đó
là tình trạng học lệch , học chay, học vẹt diễn ra trong hầu hết học sinh trên mọi
miền đất nước
=> Ý nghĩa của câu nói là nêu những điểm mạnh và yếu của đất nước,
con người Việt Nam trong xã hội Ngày nay để nêu lên bài học cần phát huy
những mặt mạnh và hạn chế những mặt yếu, hướng tới một đất nước giàu mạnh,
phát triển
b Phân tích, lí giải:
* Những điểm mạnh, điểm yếu của đất nước ta Thái độ của tác giả đối
với những quan niệm ấy?
- Điểm mạnh cuả con người Việt Nam:
+ Sự thông minh, nhạy bén (lấy dẫn chứng trong học tập, trong các lĩnh
vực khác)
+ Những thế mạnh của con người Việt Nam là ngợi ca và khích lệ đối với
việc phát huy những thế mạnh đó (Dẫn chứng)
- Điểm yếu của đất nước ta:
+ Giáo dục có sự thiếu sót: hiện tượng học sinh học lệch, chỉ chú trọng
vào các môn "thời thượng", các môn liên quan tới thi Đại học (Dẫn chứng)
+ Tác giả của bài viết cũng bày tỏ mong muốn người dân Việt Nam sẽ
khắc phục mọi khó khăn, hạn chế tối đa những điểm yếu của mình để đưa đất
nước phát triển (Dẫn chứng)
* Vấn đề đặt ra đối với đất nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: Phát
huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu: Giáo dục Việt Nam cần phải
học tập các Quốc gia trên thế giới về việc điều chỉnh hệ thống giáo dục (Dẫn
chứng)
1,25
c Bình luận, liên hệ bản thân:
- Nhận định của Vũ Khoan đến nay vẫn là một bài học, một vấn đề tâm
sự nhức nhối, chưa có những chuyển biến rõ rệt, con người Việt Nam vẫn phải
từng bước khắc phục để đưa đất nước phát triển
- HS - những chủ nhân tương lai của đất nước phải làm gì để đất nước
Trang 27Câu 2
Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa
sâu sắc Hãy phân tích để làm sáng tỏ điều đó
4,0
1 Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết
bài Mở bài nêu được vấn đề, thân bài phát triển được vấn đề, kết bài kết luận
được vấn đề
0,25
2 Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Đoạn mở đầu Tuyên ngôn Độc
lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên
quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc
0,5
3 Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm qua việc phân tích để
làm sáng tỏ đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn và vận dụng tốt các thao tác lập luận;
nhiều ý nghĩa sâu sắc
* Nhiệm vụ của phần mở đầu một bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ
sở tư tưởng cho toàn bài Nguyên lí của Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền
tự do độc lập của dân tộc Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà lại
dựa vào hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định “Quyền sống, quyền sung sướng
và quyền tự do” của tất cả các dân tộc trên thế giới Đây chính là nghệ thuật “Lấy
gậy ông đập lưng ông”
* Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng
làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của những dân tộc ấy Cách viết
như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết:
- Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ để “khoá miệng” bọn đế quốc Pháp, Mĩ đang âm mưu xâm lược và can
thiệp vào nước ta (sự thật lịch sử đã chứng tỏ điều này)
- Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm dấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ,
nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam
* Đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng
0,5
1,75
Trang 28nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau (và thực sự, cuộc cách mạng tháng Tám
1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của
Pháp (1791)
Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Sau khi nhắc đến những lời bất
hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ, Bác viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa
là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Ý kiến “Suy rộng ra”ấy quả là một đóng
góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nó
như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ
chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau TK XX
- Đánh giá khái quát vấn đề, cách lập luận của tác giả trong đoạn mở đầu bản
Trang 29ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài : 150 phút , không kể thời gian giao đề
I PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:
Đánh giá đời sống của mỗi người cao hay thấp hãy nhìn vào thời gian nhàn rỗi của
họ Có người làm việc “đầu tắt mặt tối” không có lấy chút nhàn rỗi Có người phung phí thời gian ấy vào các cuộc nhậu nhẹt triền miên Có người biết dùng thời gian ấy để phát triển chính mình Phải làm sao để mỗi người có thời gian nhàn rỗi và biết sử dụng hữu ích thời gian ấy là một vấn đề lớn của xã hội có văn hóa
Đánh giá đời sống một xã hội cũng phải xem xã hội ấy đã tạo điều kiện cho con người sống với thời gian nhàn rỗi như thế nào Công viên, bảo tàng, thư viện, nhà hát, nhà hàng, câu lạc bộ, sân vận động, điểm vui chơi,…là những cái không thể thiếu Xã hội càng phát triển thì các phương tiện ấy càng nhiều, càng đa dạng và càng hiện đại Xã hội ta đang chăm lo các phương tiện ấy, nhưng vẫn còn chậm, còn sơ sài, chưa có sự quan tâm đúng mức, nhất là ở các vùng nông thôn
Thời gian nhàn rỗi chính là thời gian của văn hóa và phát triển Mọi người và toàn
xã hội hãy chăm lo thời gian nhàn rỗi của mỗi người
(Phỏng theo Hữu Thọ, dẫn theo SGK Ngữ văn 11 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.94)
Câu 1 Đoạn trích trên chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)
Câu 2 Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích trên? (0,5 điểm)
Câu 3 Đặt nhan đề cho đoạn trích? (0,25 điểm)
Câu 4 Nêu ít nhất 03 biện pháp để sử dụng thời gian nhàn rỗi của bản thân một cách hợp lí
Viết một đoạn văn ngắn 5 -7 dòng (0,5 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 7:
Năm 20 của thế kỷ 20 Tôi sinh ra Nhưng chưa được làm người Nước đã mất Cha đã làm nô lệ
Ôi những ngày xưa Mưa xứ Huế Mưa sao buồn vậy, quê hương ơi!
Ngẩng đầu lên, không thấy mặt trời
Trang 30Nếu chậm mùa xuân ấy, em ơi!
(Một nhành xuân – Tố Hữu) Câu 5 Trong đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm) Câu 6 Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh mặt trời và nước mắt trong đoạn thơ (0,5
điểm)
Câu 7 Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất được thể hiện
trong 7 dòng thơ cuối? (0,5 điểm)
II PHẦN LÀM VĂN
Câu 1 (3,0 điểm)
Nghịch cảnh không chỉ là một phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ
và bản lĩnh của con người (Danh ngôn Pháp)
Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý
kiến trên
Câu 2 (4,0 điểm)
Khi bàn về hình tượng âm thanh tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca-
Thanh Thảo có ý kiến cho rằng: “Tiếng đàn là thân phận của Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị” Lại có ý kiến khẳng định:
“Tiếng đàn là sức sống và cũng là nghệ thuật bất tử của Lorca”
Qua việc cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn trong bài thơ anh/ chị hãy bình luận hai ý kiến trên
-HẾT -
Thí sinh không được sử dụng tài liệu Giám thị không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh:……….……….….……… Số báo danh:………
Trang 31SỞ GD &ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC
ĐÁP ÁN- HƯỚNG DẪN CHẤM KÌ THI KHẢO SÁT KHỐI 12 LẦN 2 MÔN : NGỮ VĂN
1 - Đoạn trích chủ yếu sử dụng thao tác lập luận bình luận 0,25
2 Nội dung chính của đoạn trích: Nói về việc sử dụng thời gian nhàn
rỗi của mỗi người, nêu thực trạng và kêu gọi mọi người, xã hội hãy
chăm lo
thời gian nhàn rỗi bởi đó là vấn đề văn hóa
0,5
3 Đặt nhan đề: Thời gian nhàn rỗi/ Sử dụng thời gian nhàn rỗi/ Thời
gian nhàn rỗi- vấn đề văn hóa…
6 - Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh:
+ Mặt trời – tượng trưng cho tự do/ ánh sáng của lí tưởng/cuộc
sống tươi đẹp;
+ Nước mắt - tượng trưng cho sự thương đau/ mất mát/ nô lệ/ lầm
than/ cuộc sống tối tăm
0,5
7 - Biện pháp nghệ thuật tiêu biểu nhất: So sánh
- Tác dụng: thể hiện rõ tình trạng mất phương hướng, mất niềm tin
và mơ ước, sống vô nghĩa, lay lắt của nhân vật trữ tình/ tôi khi chưa
gặp được mùa xuân của lí tưởng
0,25 0,25
1 Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ
của mình về ý kiến: Nghịch cảnh không chỉ là một phép thử của
tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ và bản lĩnh của con người
(Danh ngôn Pháp)
3,0
Trang 32a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận 0,25
Có đủ phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề, trích
dẫn câu nói Thân bài triển khai được vấn đề Kết bài kết luận được
vấn đề
b Triền khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các
thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí luận và dẫn chứng; rút ra
bài học nhận thức và hành động
1 Giải thích
+ Nghịch cảnh là hoàn cảnh trớ trêu, nghịch lý, éo le mà con
người không mong muốn trong cuộc sống Ví dụ: Ốm đau, tai nạn,
chiến tranh, xung đột,…
+ Nghịch cảnh không chỉ là phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ và bản lĩnh: Nghĩa là qua nghịch cảnh, con
người không chỉ hiểu thêm về tâm hồn, tình cảm của mình và của
người mà quan trọng hơn, thấy được trí tuệ và bản lĩnh trong cuộc
+ Đối diện và vượt qua nghịch cảnh, mỗi người và cả dân tộc
sẽ chứng tỏ được tầm vóc của trí tuệ và bản lĩnh của mình
+ Phê phán quan niệm và hành động sai lầm: chạy trốn hay đầu hàng nghịch cảnh, thiếu tỉnh táo sáng suốt khi gặp hoàn cảnh éo
le, ngang trái, dễ thất bại trong công việc, thậm chí bị kẻ thù lợi
Trang 33thường của cuộc sống thường ngày thì mỗi người cần luôn có ý thức
học hỏi, cầu tiến để rút kinh nghiệm cho mình, trau dồi kiến thức
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
2 Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn và bình luận 2 ý
kiến
4,0
a.Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Có đủ phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề Thân
bài triển khai được vấn đề Kết bài kết luận được vấn đề
b Triền khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các
thao tác lập luận; cảm nhận sâu sắc; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và
dẫn chứng
1 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề
- Thanh thảo là nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ, có nhiều nỗ lực cách tân thơ sau
năm 1975, nổi bật là sự tìm kiếm những cách biểu đạt mới trong
thơ
- Đàn ghi ta của Lorca rút từ tập thơ Khối vuông Ru- bích
(1985) là thi phẩm tiêu biểu của Thanh Thảo Bài thơ được lấy cảm
hứng từ nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của Lor- ca, là
tiếng nói tri âm của Thanh Thảo đối với người nghệ sĩ Tây Ban
Nha Hình tượng âm thanh tiếng đàn là một sáng tạo độc đáo của
nhà thơ Việt Trích dẫn 2 ý kiến
Trang 34ngắn ngủi để thấy tiếng đàn là thân phận Lor-ca, nghệ thuật Lor-ca
+ Ý kiến sau lại nhận ra tiếng đàn như một sinh thể có sức sống bất diệt để thấy tiếng đàn tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn, cho
sức sống của nghệ thuật Lor-ca
3 Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn và bình luận 2 ý
kiến
a Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn:
* Tiếng đàn là thân phận Lor-ca, thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị
- Những tiếng đàn bọt nước mong manh và ngắn ngủi được
đặt trong sự tương phản, đối lập với sắc đỏ gắt của trận đấu bò sinh
tử, của nền chính trị độc tài thân phát xít đang thiêu đốt tự do dân
chủ, gợi liên tưởng tới thân phận đơn độc nhỏ nhoi, khiêm nhường,
số phận mong manh, ngắn ngủi của Lor-ca trong bối cảnh chính trị
căng thẳng, dữ dội Đây là một trận chiến lớn giữa một bên là khát
vọng dân chủ của nhân dân nói chung, của Lor-ca nói riêng với nền
chính trị độc tài Xét trong lĩnh vực nghệ thuật, đó là cuộc xung đột
giữa khát vọng cách tân của nhà thơ với nền nghệ thuật già nua Xét
ở phương diện nào thì Lor-ca cũng một nghệ sĩ- chiến sĩ đơn độc
- Tiếng ghi ta vỡ tan và ròng ròng máu chảy: Tiếng đàn đã
thành thân phận đau thương của Lor-ca, của nghệ thuật trước sự hủy
diệt tàn bạo của kẻ thù Hai tiếng “vỡ tan”, vừa là sự vỡ ra của bọt
nước vừa là sự phập phồng thổn thức của tiếng đàn Nó đã cất lên
lời ca tranh đấu lên án bè lũ phát xít đã hủy diệt cái tài, hủy diệt cái
đẹp Và vì thế, bản ghi ta bi tráng đẩy đến độ cao trào của sự bi
phẫn, nó ròng ròng máy chảy, nó uất nghẹn, tức tưởi đến bật máu
thành từng dòng đau thương trong một bản đàn giao hưởng hào
sảng Nỗi đau của tiếng đàn cũng là nỗi đau của người nghệ sĩ khi
khát vọng chưa thành Âm thanh tiếng đàn như tiếng kêu cứu của
con người, của cái đẹp trước thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt Thì
ra, nghệ thuật trong bản thể của nó cũng là một sinh mệnh
* Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hồn Lor-ca, là sức sống bất diệt của
nghệ thuật
0,75
Trang 35- Tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh: Tiếng đàn mang âm
vang và sắc màu của một tâm hồn rạo rực, say đắm trong tình yêu,
thiết tha, khắc khoải với sự sống của người nghệ sĩ đa tài Màu nâu
xuất hiện suy tư, trầm tĩnh đến lạ thường Đó là màu nâu của vỏ cây
đàn, màu nâu của đất đai, màu nâu của làn da, mái tóc cô gái Digan
Trước giây phút từ li, chàng đã ngước lên nhìn bầu trời xanh tha
thiết, bầu trời khát vọng, bầu trời yêu thương nơi có bóng hình nàng
Maria thủy chung Đó là màu xanh, là sự hóa thân của Lor-ca và
tiếng đàn vào thiên nhiên mang sức sống cỏ cây Hai tiếng “biết
mấy” nằm ở cuối câu vừa là sự tha thiết trong tình cảm của người
nghệ sĩ Thanh Thảo vửa tôn thêm vẻ đẹp của tuổi trẻ Lor-ca – vẻ
đẹp của người chiến sĩ suốt đời hi sinh vì lý tưởng
- Tiếng đàn mãi trường tồn “không ai chôn cất tiếng đàn/
tiếng đàn như cỏ mọc hoang”: “tiếng đàn” tượng trưng cho nghệ
thuật của Lor-ca, cho tình yêu tự do, yêu con người mà suốt đời ông
theo đuổi; đó là cái đẹp không thể bị hủy diệt, nó sẽ sống, sẽ lan
truyền mãi, giản dị mà kiên cường như cỏ dại Giai điệu la la
li-la mãi vang ngân là một ẩn dụ tượng trưng cho sức sống bất diệt của
Lor-ca, của nghệ thuật, của những giá trị chân chính trên cõi đời
này Tiếng đàn mang tên loài hoa Li La như sự sống vẫn lặng lẽ tỏa
hương, hiện hữu giữa cuộc đời
(Lưu ý: HS có thể trình bày theo cách khác nhưng phải làm
tượng trưng của hình tượng tiếng đàn: Tiếng đàn vừa là một ẩn dụ
nghệ thuật của thân phận mong manh, ngắn ngủi của Lor-ca, của
0,75
0,5
Trang 36nghệ thuật vừa là hỉnh ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp sức sống bất diệt
của tâm hồn Lor-ca, của nghệ thuật nói chung
- Hình tượng có được nhiều ý nghĩa ấy là do Thanh Thảo đã
sử dụng phối kết hợp nhiều biện pháp nghệ thuật: Đối lập, ẩn dụ
chuyển đổi cảm giác, điệp ngữ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh để tạo
nên nhiều hình ảnh thơ lạ hóa giàu sắc thái tượng trưng, siêu thực,
hình thức câu thơ tự do, ngắt nhịp bất thường, giàu chất nhạc, chất
họa…
4 Đánh giá chung
- Khẳng định lại hai ý kiến trên và đánh giá chung về hình tượng Lor-ca, khẳng định sự bất tử của Lor-ca, của tiếng đàn Lor-
ca Người nghệ sĩ ấy đã chết nhưng tiếng đàn của ông vẫn sống mãi
với Tây Ban Nha, với lòng người yêu tự đo, yêu hòa bình
- Khẳng định tài năng độc đáo, sự trăn trở của người nghệ sĩ Thanh Thảo trên hành trình sáng tạo ông đã hóa thân, nhập cảm sâu
sắc vào thế giới nghệ thuật vào cuộc đời và số phận của Lor-ca, sự
cộng hưởng cùng khát vọng sáng tạo để suy ngẫm sâu xa về nỗi đau,
niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ lớn đã dâng hiến trọn vẹn cho cái
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
ĐIỂM TOÀN BÀI THI: I + II = 10 điểm
Trang 37
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre
… Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ
…
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình
(Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ - Thơ tình, NXB Văn học 2002)
1 Các phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên là gì ?
2 Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ
3 Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn thơ
4 Viết một đoạn văn (5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ của anh (chị) sau khi đọc câu thơ:
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 8:
(1) Có thể sẽ có nhiều, rất nhiều người không tin Làm sao để tin được bởi vì chữ
“nghề” được hiểu là công việc để kiếm sống, tức là có thu nhập để chăm lo cho cuộc sống bản thân, gia đình Nên nói làm từ thiện là “đi cho” chứ ai lại “cá kiếm” bao giờ
(2) Chuyện tưởng nghe chừng vô lý, là khó xảy ra, nhưng nó lại là sự thật, thậm chí xuất hiện nhan nhản cứ như “nấm mọc sau mưa” trên… mạng xã hội Facebook Mạng thì tưởng
là ảo, nhưng chuyện là thật và tiền là thật của trò kiếm sống bằng nghề “làm từ thiện” online
Trang 38… (3) Ăn chặn tiền từ thiện của các nhà hảo tâm dành cho những số phận, những mảnh
đời kém may mắn là một trong những điều độc ác Thế nên ai đang nghĩ, đang suy tính hay
đang lọc lừa bằng cách “lấy từ thiện làm nghề mưu sinh”, ắt hẳn chưa bao giờ có được một
giấc ngủ trọn vẹn Họ mới chính là những người đáng thương hơn cả những người có số
phận không may, kém may mắn, phải không các bạn?
(Theo Blog - Dantri.com.vn, 18/12/2015)
5 Văn bản trên thuộc kiểu phong cách ngôn ngữ nào?
6 Chỉ ra giọng điệu và thái độ của tác giả trong đoạn (1)
7 Thao tác lập luận trong đoạn (3) là gì?
8 Phân tích cấu tạo ngữ pháp và xác định kiểu câu của câu văn sau: Ăn chặn tiền từ thiện của
các nhà hảo tâm dành cho những số phận, những mảnh đời kém may mắn là một trong những điều độc ác
PHẦN II: LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về ý kiến sau: Gập
máy tính lại, tắt điện thoại đi Hãy giao tiếp nhiều hơn với xã hội và tận hưởng cuộc sống
thực tại
Câu 2 (4,0 điểm)
Về hình tượng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ
Ngọc Tường, có ý kiến cho rằng:
Sông Hương mang vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình
Bằng hiểu biết về tác phẩm, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận xét trên
HẾT
Thí sinh không được sử dụng tài liệu Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh:……….……….….….; Số báo danh:…………
Trang 39- Sau khi chấm xong, điểm toàn bài làm tròn đến 0,25 điểm
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: So sánh
- Nêu tác dụng: Biện pháp so sánh được sử dụng khiến hai câu thơ trở nên mềm mại, cuốn hút So sánh tiếng Việt với đất cày, lụa, tre ngà, tơ tác giả
gợi ra vẻ bình dị, nên thơ, gần gũi, gắn bó của tiếng Việt với cuộc sống của người nông dân, đồng thời khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu, ý thức trách nhiệm gìn giữ vẻ đẹp văn hóa quý báu của dân tộc
0,25
0,25
3 Nội dung chính của đoạn thơ là: Ca ngợi vẻ đẹp, thể hiện sự gắn bó, yêu
quý, thấu hiểu của tác giả với tiếng Việt
5 - Văn bản thuộc kiểu phong cách ngôn ngữ : Báo chí 0,25
6 - Giọng điệu: Mỉa mai, châm biếm
- Thái độ: Bất bình, khinh miệt,…
0,25 0,25
8 + Ăn chặn tiền từ thiện của các nhà hảo tâm dành cho những số phận, 0,25
Trang 40những mảnh đời kém may mắn: Chủ ngữ + là một trong những điều độc ác: Vị ngữ
LÀM VĂN
Viết bài văn trình bày suy nghĩ về ý kiến: Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi Hãy giao tiếp nhiều hơn với xã hội và tận hưởng cuộc sống thực tại
3.0
Có đủ mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề Thân bài triển khai được vấn đề Kết bài kết luận được vấn đề
Con người cần phải thoát khỏi thế giới ảo để sống với cuộc đời thực
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động
người thoát ra khỏi cuộc sống ảo và sống với cuộc đời thực
* Phân tích thực trạng, nguyên nhân, tác động của hiện tượng
- Con người trong thời đại ngày nay đang sống trong một thế giới số, nơi
mọi hoạt động từ những sinh hoạt thường ngày đến những sự kiện đặc biệt,
từ công việc đến vui chơi giải trí, chúng ta đều tự gắn chặt với thế giới số
Mạng xã hội đã trở thành một phần của đời sống hiện đại, nhất là giới trẻ
- Vì sao con người đắm chìm trong thế giới ảo? Vì cuộc sống ảo luôn chứa đựng nhiều điều bất ngờ, thú vị nên con người dễ bị cuốn hút về phía ấy
- Đắm chìm trong thế giới ảo để lại hậu quả rất nghiêm trọng với cuộc sống thực của con người: Họ không quan tâm tới thế giới thực tại quanh
mình Cuộc sống của họ diễn ra trên Facebook, Twitter, Youtube… họ tự
0,5
0,25
0,25