1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BAN HÀNH QUY CHẾ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

103 427 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 495 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh; Đỗ Đức Hồng Quang, 2007, Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quản lý nhà nước của UBND pường trên địa bàn thành phố Hà Nội; Hà Quang Thanh 2008, Luận án tiến sĩ, Hoàn thiện

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn

có trích dẫn, tham khảo nội dung của một số tài liệu tham khảo và kết quả nghiên cứu là trung thực.

Hà Nội ngày 25/8/2014

Vũ Thị Hoa Sen

Trang 2

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- ISO: Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn chất lượng

- ISO 9000: Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng

- KCN: Khu công nghiệp

- KH&ĐT: Kế hoạch và đầu tư

- UBND: Uỷ ban nhân dân

- UBTVQH: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

- XHCN: Xã hội chủ nghĩa

- VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật

- XDCB: Xây dựng cơ bản

- VASS: Viện Khoa học xã hội Việt Nam

- VKSNDTC: Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BAN HÀNH QUY CHẾ CỦA UBND CẤP TỈNH 6

1.1 UBND cấp tỉnh trong hệ thống cơ quan nhà nước 6

1.1.1 Địa vị pháp lý 6

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh 9

1.1.3 Tổ chức bộ máy của UBND cấp tỉnh 14

1.2 Quy chế trong hoạt động của UBND cấp tỉnh 16

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quy chế 16

1.2.2 Phân biệt quy chế với quy định 19

1.2.3 Vai trò của quy chế trong hoạt động của UBND tỉnh 21

1.3 Chất lượng ban hành quy chế của UBND cấp tỉnh 25

1.3.1 Khái niệm chất lượng ban hành quy chế 25

1.3.2 Quan điểm đánh giá chất lượng Quy chế của UBND cấp tỉnh 29

1.3.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng ban hành quy chế của UBND cấp tỉnh 31

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG BAN HÀNH QUY CHẾ CỦA UBND TỈNH LÀO CAI 35

2.1 Một số nét về điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Lào Cai và hoạt động quản lý nhà nước của UBND tỉnh 35

2.1.1 Một số nét về điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Lào Cai 35

2.1.2 Hoạt động quản lý nhà nước của UBND tỉnh Lào Cai 43

2.2 Thực trạng về chất lượng ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai45 2.2.1 Các quy chế đã được UBND tỉnh Lào Cai ban hành giai đoạn 2009-2013 45

2.2.2 Thực trạng thực hiện quy trình ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 48

2.2.3 Thực trạng về chất lượng nội dung và hình thức của quy chế 54

Trang 4

2.3 Đánh giá chung thực trạng công tác ban hành Quy chế của UBND tỉnh

Lào Cai 56

2.3.1 Ưu điểm 56

2.3.2 Hạn chế 58

2.3.3 Nguyên nhân 59

Tiểu kết chương 2 63

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BAN HÀNH QUY CHẾ CỦA UBND TỈNH LÀO CAI 64

3.1 Sự cần thiết ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 64

3.2 Quan điểm và phương hướng nâng cao chất lượng ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 65

3.2.1 Một số quan điểm chung 65

3.2.2 Phương hướng 67

3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 69

3.3.1 Thống nhất về nhận thức ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 69

3.3.2 UBND tỉnh Lào Cai từng bước hoàn thiện việc ban hành Quy chế hoạt động 70

3.3.3 Thống nhất các quy định trong ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 71

3.3.4 Chuẩn hóa thông tin trong ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 73

3.3.5 Chuẩn hóa quy trình ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 75

3.3.6 Đầu tư trang thiết bị và tài liệu phục vụ ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 89

3.3.7 Đảm bảo các nguồn kinh phí ban hành Quy chế của UBND tỉnh Lào Cai 89

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 92

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND tỉnh) có vị trí quan trọng trong hệ thốngchính quyền bốn cấp - là mắt xích quan trọng trong công tác chỉ đạo, điều hànhhoạt động quản lý nhà nước đối với các sở, ngành, đơn vị và các cấp chínhquyền trong toàn tỉnh Thực hiện chức năng, nhiệm vụ quan trọng này, UBNDtỉnh ngày càng phải trực tiếp điều tiết hàng loạt vấn đề liên quan đến quản lý nhànước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh,thông qua việc ban hành quy chế hoạt động để điều chỉnh mối quan hệ phối hợpcông tác với các ngành, các cơ quan, đơn vị Có thể nói, hiệu lực, hiệu quả quản

lý nhà nước của UBND tỉnh phụ thuộc một phần quan trọng vào chất lượng vàhiệu quả của việc ban hành quy chế, vì quy chế có vai trò là phương tiện quantrọng trong công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cơ quannhà nước, là cơ sở pháp lý để xác định được đầy đủ, toàn diện về tổ chức,hoạt động, về lề lối làm việc, thủ tục, trình tự và các mối quan hệ công tác của

cơ quan, tổ chức Do đó, việc quan tâm đúng mức đến vấn đề nâng cao chấtlượng ban hành quy chế sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường hiệu lực,hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của UBND tỉnh

Xuất phát từ thực tiễn trong chỉ đạo, điều hành, UBND tỉnh Lào Cai đãban hành các loại quy chế khác nhau Các quy chế này quy định về nguyêntắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giải quyết công việc và quan

hệ công tác của UBND tỉnh Lào Cai; điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộcphạm vi, thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh

Yêu cầu nâng cao chất lượng ban hành quy chế của UBND tỉnh LàoCai đã trở thành đòi hỏi khách quan trước những yêu cầu: “Tiếp tục đẩy mạnhviệc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm

Trang 7

Nhà nước ta thực sự là của dân, do dân, vì dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiệntốt quản lý kinh tế, quản lý xã hội Nâng cao năng lực quản lý và điều hànhcủa Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷluật, kỷ cương [5, 256 - 247] Việc ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Caiảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.Tuy nhiên, chất lượng xây dựng quy chế vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót vàhiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong bốicảnh đẩy mạnh cải cách hành chính hiện nay của tỉnh Lào Cai.

Từ những lý do nêu trên, cũng như mong muốn góp một phần nhỏ vào việcnhận thức và giải quyết vấn đề này từ góc độ lý luận và thực tiễn, chúng tôi chọn đề tài

“Nâng cao chất lượng ban hành quy chế của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai”

làm đề tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề ban hành quy chế của các cấp chínhquyền là vấn đề cơ bản của nền hành chính nhà nước Có thể hệ thống hoánhững công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn như sau:

- Các công trình nghiên cứu về xây dựng và ban hành văn bản quản lýnhà nước nói chung:

Bộ Tư pháp, (1998), Dự án VIE/94/003 về Quy trình ban hành VBQPPL; Nguyễn Văn Thâm, (2006), Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia; Lưu Kiếm Thanh, (1998), Kỹ thuật lập quy, Nhà xuất bản Lao động; Trương Đắc Linh, (2003), Chính quyền địa phương với việc đảm bảo thi hành hiến pháp và pháp luật, Nhà

xuất bản Chính trị Quốc gia Các công trình trên đã đề cập tương đối đầy đủcác khía cạnh lý luận và thực tiễn đối với việc ban hành VBQPPL, quy trìnhsoạn thảo văn bản quản lý nhà nước như: Thẩm quyền ban hành văn bản theopháp luật hiện hành, vai trò của văn bản trong hoạt động quản lý nhà nước,

Trang 8

quy trình soạn thảo và thể thức văn bản trong hoạt động quản lý nhà nước.Khi đề cập đến quy trình soạn thảo văn bản quản lý nhà nước nói chung Các

tác giả cũng cho rằng có thể chia thành các bước sau đây: sáng kiến văn bản; soạn thảo dự án; dự thảo văn bản; thông qua; công bố văn bản; gửi và lưu giữ văn bản Thực tế đó là những bước đi cần thiết để ban hành văn bản quản

lý nhà nước nói chung, có tính bắt buộc mà các cơ quan nhà nước khi banhành văn bản không thể không áp dụng

Quy trình ban hành VBQPPL ở các cấp chính quyền nói chung, ởUBND cấp tỉnh nói riêng thời gian gần đây cũng thu hút sự quan tâm của một

số luận văn cao học chuyên ngành Quản lý hành chính công: Bùi Mình Hoàng

(2010), Đánh giá chất lượng ban hành văn bản quản lý nhà nước của UBND các huyện miền núi ở tỉnh Lào Cai; Đặng Thanh Tuyền (2000), Hoàn thiện việc ban hành VQPPL của HĐND và UBND TP Hồ Chí Minh; Đỗ Đức Hồng Quang, (2007), Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quản lý nhà nước của UBND pường trên địa bàn thành phố Hà Nội; Hà Quang Thanh (2008), Luận

án tiến sĩ, Hoàn thiện quy trình ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh; Hồ Văn Năm (2001), Ban hành VBQPPL của các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Đồng Nai; Khúc Năng Hoàn, (2009), Nâng cao chất lượng soạn thảo và ban hành văn bản của UBND cấp huyện thuộc tỉnh Sơn La; Nguyễn Lương Bằng, (2003), Hoàn thiện quy trình xử lý văn bản của UBND quận/huyện (Từ thực tiễn thành phố

Hồ Chí Minh);Nguyễn Thị Chiên, (2013), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã là người dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai; Nguyễn Thị Phương Anh

(2010), Đánh giá chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật của UBND huyện

(Qua thực tiễn huyện Đông Anh); Vũ Đình Lãm, (2012), Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quản lý nhà nước của UBND cấp huyện thành phố

Hà Nội; [20]

Trang 9

- Các công trình nghiên cứu về xây dựng, ban hành và thực hiện quy

chế: Lê Văn In, (2003), Phương pháp xây dựng quy chế và điều lệ của một tổ chức trong : Mẫu soạn thảo văn bản dùng cho các cơ quan - chính quyền địa phương, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, NXB Chính trị Quốc gia; Nguyễn Minh Phương, (2007), Một số vấn đề về biên soạn và ban hành quy chế, quy định làm việc ở các cơ quan hiện nay, trong: Kỷ yếu hội thảo khoa học: Quản trị hành chính văn phòng - Lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Thị Thanh Thủy, (2008), Kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế hoạt động, trong cuốn Cẩm nang quản lý trong: Kỹ

năng quản lý hành chính Nhà nước; Các công trình trên đã cung cấp nhiềukiến thức liên quan trực tiếp đến vai trò, cách thức, kỹ năng xây dựng, banhành và thực hiện quy chế Các tác giả đều nhấn mạnh tầm quan trọng vàcách thức xây dựng, thực hiện của quy chế của các cơ quan, tổ chức, đồngthời đưa ra những kiến nghị khoa học về quy trình xây dựng, ban hành, tổchức thực hiện quy chế Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu lý luận, khoa học,thực tiễn về quy chế trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức hiệnnay là vấn đề mang tính cấp thiết xét từ nhiều phương diện

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến chất lượng banhành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: Phân tích, đánh giá chất lượng ban hành quy chế của

UBND tỉnh Lào Cai, trên cơ sở đó luận văn đề xuất các giải pháp để nâng caochất lượng ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai

Trang 10

+ Từ kết quả khảo sát thực tế việc ban hành quy chế của UBND tỉnhLào Cai, trên cơ sở phân tích, đánh giá, luận văn đề xuất một số giải pháp đểnâng cao chất lượng ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng ban hành quy chế của Ủy ban nhândân tỉnh Lào Cai

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2009 đến 2013

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát việc xây dựng và ban hành quy chế tại UBND tỉnh Lào Cai và một số sở thuộc UBND tỉnh với tư cách là các cơ quan tham mưu và trình UBND tỉnh ban hành quy chế

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chung là chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, có sử dụng các phương phápphân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp hệ thống, phươngpháp kết hợp lôgíc và lịch sử

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về chất lượng ban hành quy chế;

- Phân tích thực trạng và đánh giá chất lượng rút ra những ưu điểm,nhược điểm trong ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai;

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng ban hành quy chếcủa UBND tỉnh Lào Cai

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về ban hành quy chế của UBND cấp tỉnh

Chương II: Thực trạng chất lượng ban hành quy chế của UBND tỉnhLào Cai

Chương III Giải pháp nâng cao chất lượng ban hành quy chế của UBNDtỉnh Lào Cai

Trang 11

có quan hệ tương hỗ lẫn nhau hợp thành hệ thống thống nhất nhằm thực hiệnnhững chức năng, nhiệm vụ chung của nhà nước”[9, 136]

Thực tế, các kết quả nghiên cứu đã phân tích lý luận đối với việc xácđịnh thẩm quyền của từng cơ quan, từng cấp chính quyền trong bộ máy nhànước là thống nhất: Sự phân bố quyền lực chính trị trong phạm vi cả nước và

sự phân công thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máynhà nước; Sự phân công thực hiện quyền lực giữa chính quyền trung ương và

địa phương Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản

Việt Nam yêu cầu: "Tiếp tục đổi mới hoạt động của chính quyền địa phương.Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cáccấp, bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm quyết định và tổ chức thựchiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp" [6, 251]

Trang 12

Hiến pháp năm 2013, chương IX Chính quyền địa phương từ Điều 110đến Điều 116 quy định: Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vịhành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyềnđịa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phùhợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặcbiệt do luật định.

Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp vàpháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định;chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên Nhiệm vụ, quyền hạncủa chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyềngiữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chínhquyền địa phương Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương đượcgiao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điềukiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó

Về tổ chức bộ máy, ở mỗi cấp CQĐP đều tổ chức thành HĐND vàUBND: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đạidiện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, doNhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và

cơ quan nhà nước cấp trên" [22, 29]; “Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địaphương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồngnhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trướcHội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên” [22, 29]

Địa vị pháp lý của UBND cấp tỉnh được xác định là “cơ quan chấphành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ởđịa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quannhà nước cấp trên

Trang 13

UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, cácvăn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồngnhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện phápphát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiệncác chính sách khác trên địa bàn” [15].

Đặc trưng cơ bản hoạt động quản lý hành chính nhà nước của UBNDcấp tỉnh là: chấp hành và hành chính Hoạt động mang tính chất thống nhấtdưới sự chỉ đạo tập trung của Chính phủ; hoạt động quản lý hành chính củaUBND cấp tỉnh diễn ra trên địa bàn lãnh thổ một địa phương, là hoạt độngquản lý mang tính chất thường xuyên, liên tục đáp ứng nhu cầu hàng ngày củanhân dân, bảo đảm trật tự phát triển toàn diện các lĩnh vực đời sống xã hội ởđịa phương

UBND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quyđịnh tổ chức thi hành Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấptrên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thông qua việc ban hành VBQPPL dướihình thức: quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó

Theo quy định của pháp luật hiện hành, UBND cấp tỉnh có thẩm quyềnrất rộng, bao trùm các lĩnh vực xã hội ở địa phương Nhưng đây là thẩmquyền thực hiện Hiến pháp, luật và các quy định của cơ quan nhà nước cấptrên, của HĐND cùng cấp, cho nên các quy phạm pháp luật do UBND cấptỉnh ban hành, theo chúng tôi cũng không nên xem đây là quy phạm lập quyhoàn chỉnh, mà chỉ là lập quy hạn chế

Thực chất việc trao quyền lập quy đối với những vấn đề mang tínhđặc thù đối với UBND cấp tỉnh, về cơ bản không trái với các nguyên tắccủa phân cấp trung ương - địa phương, mang tính nội bộ, kiểm soát nội bộ,mục đích chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện quản lý Nhànước trên địa bàn tỉnh

Trang 14

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày26/11/2003; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004; Căn cứ Quyết định số53/2006/QĐ-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quychế làm việc mẫu của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Căn cứ

Quyết định số 62/2011/QĐ-UBND Lào Cai về việc hành Quy chế làm việc

của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2011 - 2016, UBND có chứcnăng, niệm vụ, quyền hạn:

Về chức năng:

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành củaHội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu tráchnhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên; chịutrách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấptrên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiệnchủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh

và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn Đồng thời, Uỷ ban nhân dânthực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉđạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới

cơ sở Ngoài ra, UBND còn chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùngcấp và cơ quan nhà nước cấp trên; chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấpnhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn;thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sựchỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trungương tới cơ sở

Trang 15

Về nhiệm vụ, quyền hạn:

Trong lĩnh vực kinh tế: Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

- xã hội trong phạm vi quản lý của tỉnh trình Hội đồng nhân dân thông qua đểtrình Chính phủ phê duyệt; tham gia với các bộ, ngành Trung ương trong việcphân vùng kinh tế, xây dựng các chương trình, dự án của bộ, ngành Trungương trên địa bàn tỉnh; tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ thuộcchương trình, dự án được giao; lập dự toán thu, chi ngân sách địa phương; lậpphương án phân bổ dự toán ngân sách, điều chỉnh, quyết toán ngân sách địaphương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét theo quy định của phápluật; lập quỹ dự trữ tài chính, thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần vốngóp của Nhà nước tại doanh nghiệp và quyền đại diện chủ sở hữu về đất đaitại địa phương theo quy định của pháp luật

Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và đất đai: Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông

nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi; các chương trình khuyến nông,khuyến lâm, khuyến ngư; phát triển sản xuất và bảo vệ cây trồng, vật nuôitrên địa bàn tỉnh; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để trình Hội đồng nhândân cùng cấp thông qua trước khi trình Chính phủ xét duyệt; xét duyệt quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp,quyết định việc giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, giải quyết các tranh chấpđất đai; thanh tra việc quản lý, sử dụng đất và các nhiệm vụ khác theo quyđịnh của pháp luật; chỉ đạo và kiểm tra việc khai thác, bảo vệ nguồn tàinguyên nước; xây dựng, khai thác, bảo vệ các công trình thuỷ lợi vừa vànhỏ; quản lý, bảo vệ hệ thống đê điều, các công trình phòng, chống lũ lụt;chỉ đạo và huy động lực lượng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bãolụt trên địa bàn tỉnh

Trang 16

Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Xây dựng quy

hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh; tổ chứcquản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp công nghiệp, tiểu thủ công nghiệptrên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền; tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra việcthực hiện các chương trình, dự án phát triển công nghiệp, xây dựng và pháttriển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế theo quy hoạch đã đượcphê duyệt; tổ chức thực hiện việc bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khaithác ở địa phương; tổ chức và kiểm tra việc khai thác tận thu ở địa phương

Trong lĩnh vực giao thông vận tải: Chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng và

thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giao thông của tỉnh phùhợp với tổng sơ đồ phát triển và quy hoạch chương trình giao thông vận tảicủa trung ương; tổ chức quản lý công trình giao thông đô thị, đường bộ vàđường thuỷ nội địa ở địa phương, thực hiện việc kiểm tra, giám định kỹ thuật

an toàn các loại phương tiện cơ giới đường bộ, đường thuỷ nội địa; kiểm tra,cấp giấy phép lưu hành xe, các phương tiện giao thông đường thuỷ nội địa vàgiấy phép lái xe, đảm an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh theo quy định theoquy định của pháp luật

Trong lĩnh vực xây dựng, quản lý và phát triển đô thị: Tổ chức việc lập,

trình duyệt hoặc xét duyệt theo thẩm quyền các quy hoạch xây dựng vùng,xây dựng đô thị trên địa bàn tỉnh, thực hiện các chính sách về nhà ở, đất ở;quản lý quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nước do Chính phủ giao; quản lý kiến trúc,xây dựng, đất xây dựng theo quy hoạch đã được duyệt theo thẩm quyền

Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch: Lập quy hoạch, kế

hoạch phát triển mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch; hướng dẫn, sắp xếpmạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn; tham gia hợp tác quốc tế

về thương mại, dịch vụ, du lịch theo quy định của pháp luật; Cấp, thu hồi giấyphép kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, khách sạn, lữ hành nội địa

Trang 17

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Quản lý nhà nước đối với các loại

hình trường, lớp được giao trên địa bàn tỉnh; cho phép thành lập các trườngngoài công lập theo quy định của pháp luật; quản lý và kiểm tra việc thực hiện

về tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và việc cấp văn bằng theo quy địnhcủa pháp luật; thực hiện thanh tra, kiểm tra công tác giáo dục, đào tạo trên địabàn tỉnh theo quy định của pháp luật

Trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục thể thao: Quản lý nhà nước

đối với các hoạt động văn hoá, thông tin, quảng cáo, báo chí, xuất bản, thểdục thể thao theo quy định của pháp luật; tổ chức và quản lý các đơn vị sựnghiệp về văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, phát thanh, truyền hình củatỉnh; chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo vệ, trùng tu, bảo tồn các di tíchlịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh, công trình văn hoá, nghệ thuật theothẩm quyền

Trong lĩnh vực y tế và xã hội: Quản lý hoạt động của các đơn vị y tế

thuộc tỉnh và cấp giấy phép hành nghề y, dược tư nhân; chỉ đạo và kiểm traviệc tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân: Bảo vệ, chăm sócngười già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, thực hiện chính sáchdân số và kế hoạch hoá gia đình; chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện chínhsách ưu đãi, chăm sóc và giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ,những người và gia đình có công với nước; thực hiện kế hoạch, biện pháp về

sử dụng lao động và giải quyết các quan hệ lao động, cứu trợ xã hội, xoá đói,giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân; hướng dẫn thực hiện công tác từthiện, nhân đạo; phòng, chống các tệ nạn xã hội và dịch bệnh ở địa phương

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường: Chỉ

đạo và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch cụ thể phát triển khoahọc, công nghệ và bảo vệ môi trường; thực hiện các biện pháp khuyến khíchviệc nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các tiến bộ

Trang 18

khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống; quản lý các chươngtrình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh hoặc được cấp trên giao; chỉ đạo,thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đolường và chất lượng sản phẩm; an toàn và kiểm soát bức xạ; sở hữu côngnghiệp; việc chấp hành chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ, bảo vệlợi ích của người tiêu dùng.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội: Bảo

đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng Công annhân dân; chỉ đạo công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, chốngtham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại; bảo vệ bí mật nhà nước,xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quản

lý và kiểm tra việc vận chuyển, sử dụng vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy, chấtđộc, chất phóng xạ; quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt theo quy định củapháp luật; thực hiện các biện pháp xây dựng lực lượng vũ trang và quốcphòng toàn dân; chỉ đạo công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trong nhândân và trường học ở địa phương, xây dựng lực lượng dự bị động viên và huyđộng lực lượng khi cần thiết, đáp ứng yêu cầu của địa phương và cả nước;thực hiện việc kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốcphòng, an ninh; tổ chức quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân

sự trên địa bàn tỉnh

Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo: Tổ

chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách dân tộc; tổchức, chỉ đạo thực hiện biện pháp bảo đảm các điều kiện cải thiện đời sốngvật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số, vùngsâu, vùng xa và vùng có khó khăn đặc biệt; bảo đảm thực hiện quyền bìnhđẳng giữa các dân tộc, giữ gìn, tăng cường đoàn kết và tương trợ, giúp đỡ lẫnnhau giữa các dân tộc ở địa phương; xử lý hành vi xâm phạm tự do tínngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và

Trang 19

Trong lĩnh vực thi hành pháp luật: Tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thi

hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nướccấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức thực hiệncông tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương; chỉ đạo thực hiện cácbiện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo vệ tính mạng, tự do, danh

dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân

Trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính: Tổ

chức, chỉ đạo thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồngnhân dân theo quy định của pháp luật; xây dựng đề án thành lập các cơ quanchuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân theo hướng dẫn của Chính phủ trình Hộiđồng nhân dân quyết định; quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn

cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình; quyết địnhthành lập các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công trên cơ sở quy hoạch và hướngdẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thực hiện quản lý nhà nước đối với

cơ quan, tổ chức, đơn vị của trung ương đóng trên địa bàn tỉnh; quyết địnhphân bổ chỉ tiêu biên chế hành chính, sự nghiệp đối với các đơn vị trực thuộc

và Uỷ ban nhân dân cấp huyện; chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tài chính và tổ chức đối với các đơn vị sựnghiệp theo phân cấp của Chính phủ; xây dựng đề án thành lập mới, nhập,chia, điều chỉnh, quản lý hồ sơ, mốc, chỉ giới và bản đồ địa giới hành chínhcủa tỉnh và các đơn vị hành chính trong tỉnh

1.1.3 Tổ chức bộ máy của UBND cấp tỉnh

UBND cấp tỉnh có từ 9 đến 11 thành viên, gồm Chủ tịch, các Phó Chủtịch, một ủy viên thư ký và các ủy viên khác Thường trực Ủy ban nhân dâncấp tỉnh gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, và ủy viên thư ký Người đứng đầuchính quyền địa phương cấp tỉnh là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Trên danhnghĩa, vị trí này do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bằng bầu cử theo hình

Trang 20

thức bỏ phiếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thường đồng thời là một Phó Bíthư Tỉnh ủy Chủ tịch Ủy ban nhân dân của hai thành phố trực thuộc trungương lớn nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh sẽ đồng thời là Ủy viênBan chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Bộ máy giúp việc củachính quyền địa phương cấp tỉnh gồm Văn phòng UBND và các sở, ban,ngành, các khối (Thực chất việc phân chia thành các khối xuất phát từ thựctiễn kinh nghiệm quản lý, điều hành của lãnh đạo UBND tỉnh; phân công lãnhđạo tỉnh phụ trách các mảng công việc):

- Khối tổng hợp: Văn phòng UBND, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ(trước kia là Ban Tổ chức chính quyền)

- Khối nội chính: Sở Tư pháp, Thanh tra Ngoài ra, các cơ quan sau đâychịu sự chỉ đạo theo ngành dọc, mà không trực thuộc UBND: Công an tỉnh,Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh

- Khối lưu thông phân phối: Sở Công Thương, Sở Tài chính (trong đó

có Kho bạc Nhà nước) Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành chịu sự chỉđạo theo ngành dọc, mà không trực thuộc UBND

- Khối nông lâm nghiệp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, SởTài nguyên và môi trường

- Khối công nghiệp: Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở Thông tin

và Truyền thông, Sở Khoa học và công nghệ (trong đó có Chi cục Tiêu chuẩn,

đo lường, chất lượng)

- Khối văn hóa xã hội: Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa - Thể thao

& Du lịch, Sở Y tế, Sở Lao động, Thương binh & Xã hội

Số lượng Sở, ban thuộc UBND cấp tỉnh là 19, trong đó cơ cấu cứng là

18 Sở, ban, bao gồm các Sở: Nội vụ, Tư pháp, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính,Công thương, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xâydựng (Quy hoạch và Kiến trúc), Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và

Trang 21

Truyền thông, Lao động - Thương binh & Xã hội, Văn hóa, Thể thao &Dulịch, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục & Đào tạo, Y tế; Thanh tra tỉnh; Vănphòng UBND Một sở được tổ chức theo đặc thù của từng địa phương là các

Sở như Ngoại vụ Tuy nhiên tùy thuộc vào từng địa phương có thể có thêmcác cơ quan chuyên môn ngang Sở khác như: Ban Quản lý các KCN, BanDân tộc, Ban Quản lý phát triển Côn Đảo (BRVT),.v.v

1.2 Quy chế trong hoạt động của UBND cấp tỉnh

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quy chế

“Quy chế” với tư cách là một hình thức văn bản hành chính hình thànhtrong hoạt động của cơ quan, tổ chức được quy định tại Nghị định09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điểucủa Nghị định 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư Tuy nhiên, đến naychưa có văn bản chính thức định nghĩa “quy chế” là gì và khác với “quy định”

ở điểm nào

Các tác giả Lê Văn In, trong cuốn Mẫu soạn thảo văn bản dùng cho các cơ quan - chính quyền địa phương, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 2003 và Trần Thị Thanh Thủy, trong cuốn Cẩm nang quản lý (Kỹ năng quản lý hành chính Nhà nước)

xuất bản năm 2008 khi viết về quy chế đều cho rằng: Quy chế là tổng thể nóichung những điều quy định thành chế độ để mọi người thực hiện trong mộthoạt động nhất định nào đó: Quy chế khu phi quân sự, quy chế tuyển sinh;Điều định ra để mọi người cùng theo mà làm; quy chế xuất bản Một văn bảnhoặc toàn thể các văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc quy phạm xã hội

do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tựnhất định, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các thành viên của các cơquan, tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế

Trang 22

Quy chế là hình thức văn bản được dùng để đặt ra các quy phạm phápluật phụ (pháp quy phụ) quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý cho từng đốitượng trong một lĩnh vực nhất định như trong quản lý, trong tuyển sinh đốivới học sinh ; quy định cụ về thể lệ làm việc, quan hệ công tác của các cơquan trong bộ máy nhà nước Quy chế là toàn bộ những quy định về nghĩa vụ

và quyền hạn của toàn thể thành viên trong một cơ quan, tổ chức trong hoạt

động thực thi nhiệm vụ Tô Tử Hạ, trong cuốn Từ điển Hành chính do NXB

Lao động xã hội xuất bản năm 2003 cho rằng: Quy chế hoạt động cần quyđịnh cụ thể chế độ phân công, phân cấp trách nhiệm, quy trình làm việc và cácmối quan hệ công tác để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được quy định trongđiều lệ về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức Quy chế có thể được thểhiện bằng những văn bản có tên loại khác nhau như quy chế, quy định

Quy chế là văn bản được ban hành kèm theo quyết định để quy địnhđầy đủ và toàn diện về tổ chức và hoạt động, về lề lối làm việc, thủ tục, trình

tự và các mối quan hệ công tác của cơ quan, tổ chức nói chung hay của mộthoạt động nào đó "Quy chế là một văn bản hay toàn thể các văn bản xác địnhnhững đảm bảo cơ bản đối với một tập thể, một ngạch"[25, 149]; "Quy chế(danh từ) chỉ những quy định đã thành chế độ để mọi người tuân theo; Hay "Quy chế tổng thể nói chung những điều quy định thành chế độ để mọi ngườithực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó" [27, 1289] Thuật ngữ Hànhchính: "Quy chế là thuật ngữ được sử dụng để chỉ một hay những văn bản vềquy tắc xử sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc tuy khôngban hành nhưng dược thừa nhận hợp pháp của quy chế đó Quy chế có hiệulực bắt buộc mọi người liên quan trong một cộng đồng (Một cơ quan, một tổchức, tại một địa điểm, một vùng) phải tuân theo" [8, 272]

Tóm lại, từ những phân tích trên đây, chúng tôi hiểu: Quy chế là văn bản được ban hành kèm theo quyết định để quy định đầy đủ và toàn diện về tổ chức và hoạt động, về lề lối làm việc, thủ tục, trình tự và các mối quan hệ công tác của cơ quan, tổ chức nói chung hay của một hoạt động nào đó

Trang 23

Từ khái niệm trên, có thể thấy quy chế có những đặc điểm sau:

- Quy chế là văn bản được ban hành kèm theo quyết định Quy chế,cũng như một số văn bản khác như quy định, điều lệ, nội quy luôn được banhành kèm theo quyết định, vì vậy những loại văn bản này còn được gọi là vănbản đi kèm hay văn bản quy phạm pháp luật phụ Chính vì vậy, về thể thức,trong văn bản quy chế không có một số yếu tố như: số, ký hiệu của quy chế;địa danh, ngày tháng năm; nơi nhận vì những yếu tố thể thức này là ở trongquyết định ban hành nó

- Quy chế có thể được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm phápluật hoặc văn bản quy phạm nội bộ của các cơ quan, tổ chức nhằm đưa ra nhữngchuẩn mực để giải quyết công việc một cách thống nhất, liên tục và ổn định

Trước hết, quy chế được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạmpháp luật, kèm theo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội

Ví dụ: Quy chế tổ chức hội họp của Thủ tướng Chính phủ; Quy chếtuyển sinh trình độ thạc sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo Các quy chế nàyđược xây dựng và ban hành theo trình tự, thủ tục của văn bản quy phạm phápluật, có tính pháp lý cao, được các cơ quan, tổ chức thực hiện ở từng ngành,từng lĩnh vực; trên phạm vi toàn quốc hay từng địa phương

Bên cạnh đó, quy chế cũng có thể được ban hành dưới hình thức vănbản quy phạm nội bộ, kèm theo quyết định cá biệt Hầu hết các cơ quankhông có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều ban hành cácquy chế để quản lý công việc nội bộ trong cơ quan Ví dụ, quy chế chi tiêu nội

bộ, quy chế quản lý và sử dụng tài sản trong cơ quan

- Về nội dung: Quy chế quy định những vấn đề về tổ chức và hoạtđộng, phân công trách nhiệm, lề lối, quy trình làm việc và các mối quan hệcông tác của cơ quan, tổ chức hay các đơn vị, bộ phận trong cơ quan, tổ chức

Trang 24

Ví dụ: quy chế tổ chức và hoạt động của Khoa Quản trị kinh doanh, quy chế

tổ chức và hoạt động của Phòng Hành chính - Tổ chức, quy chế làm việc của

uỷ ban nhân dân

Quy chế cũng được ban hành để quy định về thủ tục, trình tự tiến hànhmột hoạt động, trách nhiệm, thẩm quyền thực hiện một hoạt động nhất định

Ví dụ: Quy chế quản lý các khu công nghiệp, quy chế công tác văn thư, quychế tuyển sinh, quy chế thi nâng ngạch, quy chế tiếp công dân và giải quyếtkhiếu nại, tố cáo

1.2.2 Phân biệt quy chế với quy định

Theo Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa

đổi, bổ sung một số điểu của Nghị định 110/2004/NĐ - CP về công tác văn

thư, các hình thức văn bản hành chính hình thành trong hoạt động của cơquan, tổ chức có quy chế và quy định

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi một hình thức văn bản trên phải có nộihàm khác nhau và được sử dụng trong những tình huống khác nhau Tuynhiên, cho đến nay chưa có giải thích chính thức trong văn bản của Nhà nước

về khái niệm các hình thức tên gọi văn bản nói trên Nhiều giáo trình, tài liệu

có đưa ra định nghĩa nhưng không nhất quán và các định nghĩa chưa hẳn đãđảm bảo yêu cầu về tính khoa học Điều này dẫn đến việc sử dụng hình thứctên gọi văn bản trên thực tế hiện nay không có sự thống nhất chung Cùngmột nội dung nhưng có nơi chọn hình thức văn bản quy chế, có nơi lại chọnhình thức văn bản quy định

Tô Tử Hạ, trong cuốn Từ điển Hành chính cho rằng: Quy định là điều định ra để phải theo, phải thực hiện Cuốn Từ điển luật học của NXB Từ điển

Bách khoa - NXB Tư pháp năm 2006 thì cho rằng: Quy định là văn bản đặt

ra, đề đạt ra để những đối tượng nhất định phải thực hiện, phải tuân theo ví

dụ: Quy định giờ giấc làm việc Còn trong cuốn, Đại từ điển tiếng Việt do

Trang 25

Nguyễn Như Ý chủ biên thì cho rằng: Quy định là hình thức văn bản quyphạm pháp luật phụ (pháp quy phụ) được dùng để đặt ra các quy phạm phápluật về quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; vềquyền và nghĩa vụ của cá nhân, công dân người nước ngoài, người khôngquốc tịch, của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, về cách thức

tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước

Thực tế ban hành văn bản hiện nay cũng cho thấy, cùng những vấn đềnêu trên, có cơ quan ban hành quy chế, cơ quan khác ban hành quy định Têngọi giữa quy chế và quy định chưa được phân biệt rõ ràng Tuy nhiên, đểhướng tới chuẩn hoá hệ thống văn bản cũng cần làm rõ sự khác nhau về nộidung và hình thức tên gọi của hai loại văn bản này

Trước hết, cần nhận thấy, quy chế và quy định đều là những văn bản cóthể được ban hành kèm theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản quyphạm nội bộ của các cơ quan, tổ chức nhằm đưa ra những chuẩn mực để giảiquyết công việc một cách thống nhất, liên tục và ổn định Tuy nhiên, về nộihàm, hai loại văn bản này không hoàn toàn đồng nhất

Có thể diễn đạt quy định là những quy tắc, chuẩn mực trong xử sự;những tiêu chuẩn, định mức về kinh tế, kỹ thuật được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và buộc các tổ chức, cá nhân có liênquan phải tuân thủ

Quy chế là văn bản quy định đầy đủ, toàn diện về một hoạt động nào

đó, còn quy định điều chỉnh một hay một vài nội dung của hoạt động Ví dụ,quy chế thi nâng ngạch công chức đề cập đến mọi khía cạnh của hoạt động nàynhư điều kiện dự thi, cách tổ chức thi, thành lập các hội đồng thi, coi thi, chấmthi, nội quy thi, công bố điểm, phúc khảo bài thi Còn quy định có thể chỉ điềuchỉnh một vấn đề trong đó như quy định về việc chấm thi Hoặc trên cơ sở quychế quản lý hoạt động khoa học, cơ quan có thể ban hành các quy định về một

Trang 26

khía cạnh cụ thể như quy định tuyển chọn chủ nhiệm đề tài khoa học cấp bộ; quyđịnh về tổ chức hội thảo khoa học; quy định xử lý đối với tập thể, cá nhân viphạm thời hạn và không hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

Quy chế được sử dụng để đưa ra quy tắc về tổ chức, hoạt động, lề lốilàm việc giữa các đơn vị và thành viên trong tổ chức, còn quy định đưa ra cáctiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật Ví dụ, quy định về quy tắcviết hoa trong văn bản, quy định về tiêu chuẩn đường ngang, quy định vềphác đồ điều trị bệnh xơ hoá cơ đelta, quy định về sử dụng thiết bị phòngcháy chữa cháy

Như vậy, trên thực tế, quy chế và quy định là hai loại văn bản gần nhau

về nội hàm và trong một số trường hợp được sử dụng thay thế cho nhau Tuynhiên, để có sự phân biệt tương đối giữa hai loại văn bản trên, TS Nguyễn

Thị Thu Vân trong Giải thích thuật ngữ: Quy chế, Quy định đăng trên tạp chí Quản lý Nhà nước số 10 năm 2010: Quy định là văn bản được ban hành kèm theo quyết định để đưa ra tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, quy tắc và cách thức giải quyết một công việc trong hoạt động của cơ quan, tổ chức.

1.2.3 Vai trò của quy chế trong hoạt động của UBND tỉnh

Trong bộ máy nhà nước, các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp,hành pháp và tư pháp đều cần có các quy tắc xử sự trong mối quan hệ côngtác mang tính chất nội bộ và các quan hệ qua lại giữa các cơ quan đó với các

cơ quan, tổ chức khác nhằm tạo ra một phương thức, lề lối làm việc phù hợpvới thẩm quyền theo quy định của pháp luật Quốc hội có Quy chế hoạt độngcủa Quốc hội; Tòa án nhân dân có Quy chế làm việc của Tòa án nhân dân vàtương tự, Viện kiểm sát nhân dân có Quy chế làm việc của Viện Kiểm sátnhân dân Các cơ quan nhà nước khi xây dựng quy chế làm việc của mình đềuxuất phát từ tính chất thẩm quyền, loại hoạt động và phương thức thực hiện.Hoạt động của UBND cấp tỉnh không là ngoại lệ đòi hỏi có quy chế hoạt

Trang 27

động của mình nhằm quản lý tất cả các mặt, các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh.Xây dựng, hoàn thiện và tập trung vào các giải pháp nâng cao chất lượng xâydựng quy chế hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đòi hỏi khách quantrong thực hiện chắc năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định

Hoạt động hành chính của UBND cấp tỉnh còn mang tính chính xáccao Từ các yêu cầu cần thiết trên, việc nâng cao chất lượng xây dựng Quychế của UBND cấp tỉnh là một tất yếu khách quan Xuất phát từ bản chất củahoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều hành nên nội dung Quy chếcủa UBND cấp tỉnh cũng tập trung quy định những hoạt động mang tính chất

lề lối, cách thức, phương thức giải quyết công việc, mối quan hệ qua lại lẫnnhau trong hệ thống cơ quan hành chính của tỉnh với nhau, giữa UBND cấptỉnh với các cơ quan khác và các tổ chức xã hội

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng: Quy chế của UBND cấp tỉnh là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc giữa các cơ quan cấu thành UBND cấp tỉnh phải thực hiện, do UBND cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành nhằm quy định nguyên tắc, lề lối, cách thức, phương thức giải quyết công việc; trách nhiệm phối hợp giải quyết công việc thông qua hoạt động của UBND cấp tỉnh và mối quan hệ công tác giữa UBND cấp tỉnh với các cơ quan nhà nước khác (các cơ quan quyền lực nhà nước, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân), các tổ chức xã hội và với công dân.

Quy chế của UBND cấp tỉnh là loại văn bản được áp dụng bắt buộcchung với các cơ quan hành chính cấu thành hoạt động của UBND cấp tỉnh,người có thẩm quyền (kể cả công chức) trong các cơ quan đó Về mặt tráchnhiệm pháp lý, quy chế hoạt động của UBND cấp tỉnh là các quy phạm mẫu,

là hình thức phản ánh trách nhiệm, thẩm quyền của các chủ thể - UBND cấptỉnh làm việc trong một nền hành chính thống nhất phải trên cơ sở Quy chếhoạt động công vụ nhà nước theo Luật định

Trang 28

Quy chế của cơ quan, tổ chức nói chung và của UBND tỉnh nói riêngphục vụ đắc lực cho việc cải tiến lề lối làm việc, tăng năng suất lao động vàhiệu quả công tác, góp phần tích cực cải cách hành chính nói chung và cảicách thủ tục hành chính nói riêng ở các cơ quan, đấu tranh chống lại nhữnghành vi sai trái như cửa quyền, sách nhiễu, tham nhũng, lãng phí

Quy chế có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý nóichung và điều hành của các cơ quan công sở nói riêng Đó là công cụ mangtính pháp lý để các nhà quản lý điều hành hoạt động của cơ quan, tổ chức màmình phụ trách Một công sở hay đơn vị muốn thực hiện được mục tiêu hoạtđộng, cần phải dựa trên một bản quy chế được xây dựng khoa học và hợp lý

Như vậy, vai trò của Quy chế của UBND cấp tỉnh trong hoạt động hànhchính nhà nước thể hiện ở những điểm sau:

Một là, Quy chế của UBND cấp tỉnh phản ánh kỷ cương, kỷ luật hành

chính nhà nước trong địa bàn tỉnh Quy chế của UBND cấp tỉnh là văn bảnquy phạm điều chỉnh lề lối, cách thức, phạm vi công tác, mối quan hệ côngtác, trách nhiệm công vụ của công chức, viên chức hành chính nhà nước trênđịa bàn tỉnh Quy chế của UBND cấp tỉnh có tính chất chế tài đối với nhữngcán bộ, công chức, trong hoạt động hành chính trên địa bàn tỉnh Thực chất,quy chế là hiện thực hóa các quy tắc xử sự của UBND cấp tỉnh phù hợp vớivăn hóa tổ chức Mục tiêu của xây dựng quy chế là đảm bảo công bằng và ýthức trách nhiệm của mỗi thành viên của UBND cấp tỉnh Định hướng và xâydựng cho họ một nề nếp làm việc có kỷ cương UBND cấp tỉnh hoạt động màkhông có điều lệ, quy chế, kỷ luật thì dễ dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm,không có tôn ti trật tự, hỗn loạn và khó kiểm soát được Quy chế hoạt động củaUBND cấp tỉnh được ban hành sẽ quy định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn,nhiệm vụ, chế độ khen thưởng, kỷ luật và một loạt vấn đề khác kèm theo giúp chocông sở thực hiện được mục tiêu quản lý công vụ và công chức của mình

Trang 29

Hai là, Quy chế của UBND cấp tỉnh cụ thể hóa thẩm quyền đã được

các luật quy định trong luật và các văn bản lập quy Tạo cơ sở cho sự phốihợp giữa các cá nhân, đơn vị với nhau và mối quan hệ giữa cơ quan với các

tổ chức hữu quan tạo nên môi trường làm việc cởi mở, đoàn kết chân thành vìmọi người đều biết rõ phần việc mình phải làm, phối hợp với ai, thời gianthực hiện… Như vậy công việc của UBND cấp tỉnh được tiến hành thuậntiện, đạt hiệu quả cao

Ba là, Quy chế của UBND cấp tỉnh có ý nghĩa như các quy phạm

mang tính thủ tục, quy trình để đưa ra các quy phạm nội dung của các đạo luậtvào thực tiễn quản lý trên địa bàn tỉnh Mặt khác, Quy chế của UBND cấptỉnh của UBND tỉnh còn ghi nhận các quy tắc xử sự của các cơ quan, đơn vịtrong nội bộ UBND tỉnh nhằm phục vụ và đáp ứng có hiệu quả một nền công

vụ thống nhất từ trung ương đến địa phương Việc ban hành quy chế hoạtđộng của UBND cấp tỉnh giúp hạn chế được tiêu cực, lãng phí: Nội dung củaquy chế hoạt động của UBND cấp tỉnh quy định và sắp xếp các hoạt độngđiều hành theo đúng quy trình, thủ tục, hình thức nhất định để các thành viênthực hiện Điều đó sẽ hạn chế những tiêu cực, tạo cơ sở cho hoạt động kiểmtra, giám sát công việc được khách quan và dễ dàng hơn

Bốn là, Quy chế của UBND cấp tỉnh được ban hành mang tính hệ

thống, thống nhất, phản ánh đặc thù của từng loại cơ quan - cơ quan có thẩmquyền chung (UBND tỉnh); cơ quan có thẩm quyền riêng (Sở, cơ quan thuộcUBND tỉnh) Quy chế của UBND cấp tỉnh được ban hành dựa theo một hìnhthức “mẫu” hướng dẫn và thể hiện các đặc điểm của một nền hành chínhthống nhất Các cơ quan của UBND tỉnh đã soạn thảo các quy chế mẫu trìnhchủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành đối với bộ, cơ quan trực thuộc UBND cấptỉnh Các quy chế làm việc mẫu do chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành là cơ sởpháp lý quan trọng để các ngành, các sở căn cứ vào tình hình cụ thể của địa

Trang 30

phương, ngành mình để ban hành Quy chế hoạt động riêng cho phù hợp, hiệuquả Hơn thế, quy chế hoạt động của UBND cấp tỉnh giúp tạo nên thái độ chủđộng, tích cực trong thi hành công việc Trên cơ sở đó sẽ hạn chế tình trạngchồng chéo trách nhiệm, sử dụng hoặc vi phạm quyền hạn; đồng thời cũng tạođiều kiện cho họ chủ động và tích cực thực hiện nhiệm vụ.

Năm là, Quy chế hoạt động của UBND cấp tỉnh tạo ra sự đồng thuận

và thống nhất trong thực thi công vụ: Bởi vì trong quy chế quy định cụ thể vàchặt chẽ chức năng, nhiệm vụ của các đối tượng điều chỉnh Khi quy chế banhành, các đối tượng này sẽ nắm bắt và chủ động điều chỉnh và kiểm soát côngviệc của mình Hơn thế, nó còn góp phần nâng cao ý thức chấp hành và tuânthủ pháp luật: Khi quy chế đã được thông qua, tất cả mọi người đều phải thựchiện Điều đó góp phần hạn chế các biểu hiện tiêu cực trong điều hành nhưtùy tiện, lạm quyền hoặc độc đoán

Sáu là, Quy chế hoạt động của UBND cấp tỉnh còn tạo ra nề nếp văn

hóa công sở: Văn hóa công sở là những giá trị vật chất, tinh thần được cácthành viên trong công sở thừa nhận và tự giác thực hiện, thể hiện truyền thốngcủa công sở Trong quy chế hoạt động của UBND cấp tỉnh thể hiện rõ các quyđịnh về phong cách làm việc của công sở

1.3 Chất lượng ban hành quy chế của UBND cấp tỉnh

1.3.1 Khái niệm chất lượng ban hành quy chế

Khái niệm chất lượng: Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó

định nghĩa, thậm chí khó nắm bắt Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng củaHarvey và Green (1993) nhằm tổng kết những quan niệm chung, chất lượngđược định nghĩa như tập hợp các thuộc tính khác nhau:

- Chất lượng là sự xuất sắc (quality as excellence)

- Chất lượng sự hoàn hảo (quality as perfection)

- Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for purpose)

Trang 31

- Chất lượng là sự đánh giá với đồng tiền (bỏ ra) ( quality as valuefor money)

- Chất lượng là sự chuyển đổi về chất (quality as transformation)

Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000,

đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tínhcủa một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của kháchhàng và các bên có liên quan” Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểmsau đây của khái niệm chất lượng:

+ Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì

lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chấtlượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rấthiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định

ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình

+ Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luônluôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian,không gian, điều kiện sử dụng

+ Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xétđến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụthể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liênquan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội

+ Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêuchuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sửdụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong quátrình sử dụng

+ Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính sản phẩm, hàng hóa mà tavẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quátrình Khái niệm chất lượng trên cũng có thể áp dụng vào nghiên cứu quá

Trang 32

trình xây dựng, ban hành và thực hiện quy chế Chất lượng ban hành quy chếphụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể ban hành quy chế; công nghệ ban hành quychế; trình tự, quy trình; tài chính công.

Khái niệm chất lượng ban hành quy chế: Chất lượng ban hành quy

chế là cơ sở để bảo đảm cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật đạt được kếtquả cao trong thực tiễn, đồng thời cho phép dự báo được khả năng hiện thựchóa các quy định pháp luật trong đời sống xã hội Chất lượng ban hành quychế cần được xem xét cả về hình thức và nội dung

Về hình thức thể hiện, chất lượng của quy chế được thể hiện trước hết ở

sự phù hợp giữa nội dung với hình thức của văn bản Tiếp đến là mức độ đầy

đủ, chặt chẽ của quy trình ban hành quy chế như: thẩm quyền ban hành, quátrình soạn thảo, thông qua; kết cấu của quy chế; tính chặt chẽ, logic, tínhchính xác của các thuật ngữ pháp lý được sử dụng, sự trong sáng của lời văn,mức độ phù hợp với khả năng nhận thức, ý thức pháp luật hiện có của đa sốquần chúng nhân dân

Về hình thức cấu trúc, quy chế phải được cấu trúc chặt chẽ, logic, khoahọc, hành văn theo phong cách nghị luận pháp luật hoặc khuôn mẫu cóchương, phần, điều, khoản phù hợp tạo thành hệ thống thống nhất Trong quychế, mỗi quy định, chương, phần cũng có cấu trúc thích hợp Giữa các bộphận, các quy định của văn bản luôn có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất nộitại với nhau Đây là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất về mụcđích và tính triệt để trong việc thực hiện pháp luật Chất lượng ban hành quychế còn thể hiện ở kỹ thuật pháp lý được sử dụng trong việc thể hiện nó thôngqua những biểu hiện như sự rõ ràng, chính xác, chặt chẽ của các thuật ngữ,khái niệm được sử dụng trong văn bản và tính minh bạch

Về nội dung, quy chế được ban hành phải đảm bảo tính hợp hiến, hợppháp (không trái với các quy định của Hiến pháp và Luật), tính đồng bộ

Trang 33

(không chồng chéo, mâu thuẫn, luôn đảm bảo sự thống nhất với các văn bảnQPPL khác trong hệ thống pháp luật hiện hành), tính toàn diện (có đầy đủ cácquy định cần thiết), tính phù hợp (phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội, với các công cụ điều chỉnh khác, với pháp luật quốc tế, với cơ chếthực thi pháp luật hiện hành ) và trình độ kỹ thuật pháp lý cao.

Quy chế phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, đảmbảo sự phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội củađất nước Nó phải phản ánh đúng các quy luật kinh tế, những điều kiện kinh

tế đặc thù của phương thức sản xuất tồn tại trong đất nước; phản ánh sâu sắcđịnh hướng chính trị xã hội của đất nước, thể chế hóa chính xác, đầy đủđường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền và thể hiện ở mức độ cao nhất,đầy đủ nhất ý chí của nhân dân; bảo đảm tính hợp lý trong việc phản ánh vàbảo vệ lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau như lợi ích của toàn xã hội,của giai cấp, của các nhóm xã hội và lợi ích cùa mỗi cá nhân trên phạm vi

cả nước, từng địa phương và mỗi cộng đồng; phù hợp với đạo đức, văn hóa,thuần phong mỹ tục của đất nước; phù hợp với các quy định của pháp luậtquốc tế (các công ước, điều ước và thông lệ quốc tế mà Việt Nam đã ký kếthoặc tham gia); đưa ra được phương án tốt nhất với những phương pháp điềuchỉnh pháp luật phù hợp để thông qua đó có thể đạt được mục đích mongmuốn trong những điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại của đất nước; đề ra đượcnhững mục đích phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, có tính khả thi

Tóm lại, Chất lượng ban hành quy chế là mức phù hợp của quy chế đối với thực tiễn quản lý, điều hành các mặt, các lĩnh vực của một cơ quan, tổ chức;

là sự phù hợp giữa nội dung với hình thức của văn bản; là mức độ đầy đủ, chặt chẽ của quy trình ban hành quy chế như: thẩm quyền ban hành, quá trình soạn thảo, thông qua; tính chuẩn mực trong kết cấu của quy chế; tính chặt chẽ, logic, tính chính xác, tường minh của các thuật ngữ; phù hợp với khả năng nhận thức, ý thức pháp luật hiện có của đa số cá nhân trong cơ quan, tổ chức, quần chúng nhân dân.

Trang 34

1.3.2 Quan điểm đánh giá chất lượng Quy chế của UBND cấp tỉnh

Đánh giá chất lượng ban hành quy chế là quá trình xem xét, phân tích

và kết luận về sự phù hợp của quy trình (trình tự, thủ tục, phương thức) và sảnphẩm (quy chế) của quy trình đó trên những phương diện nhất định (thẩmquyền, nội dung, hình thức ) với những mục tiêu đặt ra (quản lý, pháp lý, kỹthuật ) nhằm phát hiện kịp thời những khuyết điểm, bất cập và có nhữngbiện pháp xử lý tương thích Vì vậy, những yếu tố chính của đánh giá chấtlượng ban hành quy chế thường là:

- Trước hết, đó là quá trình nhận biết về đối tượng thông qua tiêu chí,thước đo cụ thể Quá trình nhận biết này được tiến hành bằng các hoạt độngnhận diện thực trạng của đối tượng như nghiên cứu, xem xét, phân tích để điđến các kết luận nhất định;

- Để có được những kết luận sát thực tế về đối tượng đánh giá, quátrình nhận biết phải được diễn ra trên cơ sở những nguyên tắc khách quan,khoa học và bằng những phương pháp đúng đắn;

- Đánh giá hướng tới việc sử dụng những kết quả nhận biết về thựctrạng của đối tượng đánh giá vào những mục đích như dự báo hậu quả, xácđịnh khả năng, phạm vi sử dụng, đề xuất phương thức, biện pháp khắc phụchoàn thiện Trong nhiều trường hợp cần chú ý là những mục đích, yêu cầu,định hướng đề ra cho quy chế không chỉ mang tính hiện thực mà còn mangtính cương lĩnh, nghĩa là chúng có thể đề ra cho hiện tại, hoặc có trường hợp

là đề ra cho tương lai

Thực trạng ban hành văn bản QLNN ở nước ta hiện nay nói chung, xâydựng, ban hành Quy chế của UBND cấp tỉnh nói riêng có nhiều ý kiến đánhgiá khác nhau, đôi khi còn trái ngược nhau Có nhiều lý do để giải thích tìnhtrạng này, nhưng lý do chính là ở chỗ chưa có những quan điểm chung thốngnhất khi đánh giá Theo chúng tôi, đánh giá thực trạng ban hành ban hànhQuy chế của UBND cấp tỉnh cần xuất phát từ các quan điểm sau:

Trang 35

Một là, đánh giá từ góc độ quan điểm lịch sử Nước ta đang trong tiếntrình đổi mới toàn diện và sâu sắc, đây là đòi hỏi khách quan, cấp bách có ýnghĩa quyết định đối với vận mệnh đất nước Một số vấn đề lý luận vềCNXH, mô hình xây dựng CNXH, về hệ thống chính trị, về thời kỳ quá độ,

về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trước đây được chúng ta chấpnhận như là kinh điển, là khuôn mẫu tuyệt đối không được tranh cãi thì ngàynay cần được nghiên cứu theo hướng tư duy lý luận mới để vận dụng phù hợpvới điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Đó cũng là biện chứng của sự phát triển.Đánh giá thực trạng xây dựng Quy chế của UBND cấp tỉnh từ góc độ quan điểmlịch sử tạo ra khả năng sàng lọc, chỉnh lý các Quy chế cũ đã ban hành và xâydựng Quy chế của UBND cấp tỉnh mới phù họp với chủ trương, đường lối đổimới của Đảng và định hướng các quan hệ xã hội cần điều chỉnh

Hai là, đánh giá trên tinh thần coi trọng những tiến bộ của pháp luật, kỹthuật công nghệ phục vụ xây dựng, ban hành VBQPPL những năm qua Côngtác xây dựng, ban hành Quy chế của UBND cấp tỉnh được chú trọng, hoànthiện, phải được tính đến khi đánh giá pháp luật nước ta nói chung và thựctrạng ban hành Quy chế của UBND cấp tỉnh nói riêng Ngoài thực tiễn kháchquan cũng cần chú ý đến thực tiễn chủ quan là ý chí của cán bộ, công chức trựctiếp xây dựng, ban hành quy chế trong xây dựng, ban hành Quy chế của UBNDcấp tỉnh Từ quan điểm thực tiễn cho phép đánh giá đúng sự thật, không thể phủnhận vai trò quan trọng của pháp luật, thành quả của hoạt động ban hành văn bảnQLNN thời gian qua, nhưng cũng cần nhìn nhận những yếu kém, bất cập,nghiêm túc rút ra bài học kinh nghiệm để nhanh chóng khắc phục

Ba là, đánh giá tư duy và tầm nhìn mới trong xây dựng Quy chế củaUBND cấp tỉnh Về nội dung, nếu nhìn theo quan điểm lịch sử, quan điểmthực tiễn thì có thể thấy ít thiếu sót, nhưng muốn hoàn thiện Quy chế củaUBND cấp tỉnh ngang tầm với nhu cầu của sự nghiệp đổi mới thì phải đánh

Trang 36

giá từ tư duy mới, tầm nhìn mới Những nhận thức về Quy chế hoạt động củaUBND cấp tỉnh và sự thể hiện thành các quy phạm thông qua công tác xâydựng Quy chế của UBND cấp tỉnh trước đây là đúng và hiện nay vẫn đúng thìcần tiếp tục bổ sung, phát triển và vận dụng cho phù hợp Quan điểm nàykhông những ngăn chặn, loại trừ cách đánh giá, phủ nhận sạch trơn mà cònnhấn mạnh tính kế thừa và phát triến của xây dựng, ban hành Quy chế củaUBND cấp tỉnh.

1.3.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng ban hành quy chế của UBND cấp tỉnh

Về chất lượng của Quy chế của UBND cấp tỉnh và các tiêu chí đánh giáchất lượng của Quy chế của UBND cấp tỉnh cho đến nay vẫn chưa có côngtrình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện Tuy nhiên,xuất phát từ các cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng, ban hành Quy chế củaUBND cấp tỉnh ở nước ta, bước đầu có thể đưa ra các tiêu chí như sau:

Thứ nhất, Quy chế của UBND cấp tỉnh phải thể hiện trọn vẹn và ghinhận đầy đủ nguyên tắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giảiquyết công việc và quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh; các thành viên

Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn, cơ quan thuộc

Ủy ban nhân dân tỉnh và các tổ chức, cá nhân có quan hệ làm việc với Ủy bannhân dân tỉnh chịu sự điều chỉnh của Quy chế này

Thứ hai, nội dung Quy chế của UBND cấp tỉnh phải phù hợp với điềukiện kinh tế - xã hội, điều kiện phát triển của địa phương và trên cơ sở Quychế làm việc mẫu do Thủ tướng Chính phủ ban hành phù hợp với tình hình cụthể ở địa phương Thông thường, Quy chế của UBND cấp tỉnh thường đề cậpđến các nội dung cơ bản: Ủy ban nhân dân tỉnh làm việc theo nguyên tắc tậptrung dân chủ, vừa bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể Ủy bannhân dân, vừa đề cao trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch vàcác Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh; giải quyết công việc theo quy định của

Trang 37

pháp luật, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; bảođảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnhtrong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; trong phâncông giải quyết công việc, mỗi việc chỉ được giao cho một cơ quan, đơn vị,một người phụ trách và chịu trách nhiệm chính Cấp trên không làm thaycông việc của cấp dưới, tập thể không làm thay công việc của cá nhân vàngược lại Thủ trưởng cơ quan được giao công việc phải chịu trách nhiệm vềtiến độ và kết quả công việc được phân công; bảo đảm tuân thủ trình tự, thủtục và thời hạn giải quyết công việc theo đúng quy định của pháp luật,chương trình, kế hoạch và Quy chế làm việc; bảo đảm phát huy năng lực và

sở trường của cán bộ, công chức; đề cao sự phối hợp công tác, trao đổi thôngtin trong giải quyết công việc và trong mọi hoạt động theo chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn được pháp luật quy định; bảo đảm dân chủ, rõ ràng, minh bạch

và hiệu quả trong mọi hoạt động; mọi hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh,thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và cơ quan hành chính Nhà nước phải bảođảm sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ các quy định của pháp luật và bảo đảmquyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân

Mọi hoạt động của UBND cấp tỉnh phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng,tuân thủ các quy định của pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp trướchết của nhân dân trên địa bàn tỉnh.Về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giảiquyết công việc của UBND cấp tỉnh Đảm bảo xây dựng và ban hành Quy chếcủa UBND cấp tỉnh phải khách quan

Thứ ba, Quy chế của UBND cấp tỉnh phải bảo đảm tính hợp hiến, họppháp và tính thống nhất Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp của Quy chếcủa UBND cấp tỉnh là một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giáthực trạng Quy chế của UBND cấp tỉnh Cùng với tính hợp hiến, Quy chế củaUBND cấp tỉnh phải bảo đảm tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản

Trang 38

trong hệ thống pháp luật Yêu cầu này tồn tại song song với yêu cầu Quy chếcủa UBND cấp tỉnh ban hành phải phù hợp với văn bản QLNN của cơ quannhà nước cấp trên.

Thứ tư, Quy chế của UBND cấp tỉnh phải toàn diện, đồng bộ, khả thi,công khai, minh bạch, bảo đảm phát huy vai trò và hiệu lực

Thứ năm, Quy chế của UBND cấp tỉnh phải được soạn thảo thông qua

kỹ thuật lập quy và đạt yêu cầu về nội dung và hình thức

Thứ sáu, quy trình xây dựng, ban hành Quy chế của UBND cấp tỉnhphải hoàn thiện Quy chế của UBND cấp tỉnh chỉ có chất lượng cao khi thôngqua quy trình xây dựng, ban hành hợp lý, khoa học, hiệu quả, đảm bảo cácgiai đoạn được thực hiện một cách độc lập và được xác định theo một trật tựchặt chẽ, nghiêm ngặt, thu hút trí tuệ của các nhà khoa học, kinh nghiệm vàđóng góp của các đối tượng liên quan

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Xuất phát từ thực tiễn trong chỉ đạo, điều hành, UBND tỉnh Lào Cai đãban hành các loại quy chế khác nhau Các quy chế này quy định về nguyêntắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giải quyết công việc và quan

hệ công tác của UBND tỉnh Lào Cai; điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộcphạm vi, thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh Hoạt động hành chính củaUBND cấp tỉnh mang tính chính xác cao Từ các yêu cầu cần thiết trên, việcnâng cao chất lượng ban hành Quy chế của UBND cấp tỉnh là một tất yếukhách quan Xuất phát từ bản chất của hoạt động quản lý là hoạt động chấphành và điều hành nên nội dung Quy chế của UBND cấp tỉnh cũng tập trungquy định những hoạt động mang tính chất lề lối, cách thức, phương thức giảiquyết công việc, mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong hệ thống cơ quan hànhchính của tỉnh với nhau, giữa UBND cấp tỉnh với các cơ quan khác và các tổchức xã hội

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày những hiểu biết về quy chế,đặc điểm, vai trò của quy chế; chất lượng ban hành quy chế; quan điểm đánhgiá chất lượng ban hành quy chế; các tiêu chí đánh giá chất lượng của Quychế của UBND cấp tỉnh Những nội dung trong chương này là cơ sở lý luậnđược chúng tôi sử dụng phân tích, đánh giá thực trạng của chương 2

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG BAN HÀNH QUY CHẾ

CỦA UBND TỈNH LÀO CAI

2.1 Một số nét về điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Lào Cai và hoạt động quản lý nhà nước của UBND tỉnh

2.1.1 Một số nét về điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Lào Cai

- Điều kiện tự nhiên: Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nhằm chính

giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 kmtheo đường sắt và 345 km theo đường bộ Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Từ ngày 01/01/2004 (saukhi tách huyện Than Uyên sang Tỉnh Lai Châu) diện tích tự nhiên 6.383,88

km2 (chiếm 2,44% diện tích cả nước, là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/63 tỉnh,thành phố cả nước)

Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tâygiáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc với 203 kmđường biên giới Với 203 km đường biên giới với tỉnh Vân Nam - TrungQuốc, Lào Cai là một trong những đầu mối giao thong quan trọng của cảnước nối liền với nước bạn Trung Hoa

Lào Cai có địa hình rất phức tạp, có khí hậu nhiệt đới gió mùa Đặcđiểm khí hậu Lào Cai rất thích hợp với các loại cây ôn đới, vì vậy Lào Cai cólợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như:hoa, quả, thảo dược và cá nước lạnh.Vùng núi cao với độ cao từ 700m trở lên,được hình thành từ những dãy núi, khối núi lớn, trong đó có 2 dãy núi chính

là Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi chạy song song với nhau theo hướng TâyBắc – Đông Nam Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan Xi Păng – mái nhà của đấtnước có độ cao 3.143m, Tả Giảng Phình có độ cao 3.096m, Pu Luông

Ngày đăng: 10/04/2016, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia. Tr .248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Tr .248
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia. Tr 246 - Tr. 247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Tr 246 - Tr. 247
Năm: 2011
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia. Tr 251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Tr 251
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X, , Nxb CHính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CHính trị Quốc gia
Năm: 2006
7. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính, (2009), Thuật ngữ Hành chính, Hà Nội, Tr. 272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Hành chính
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính
Năm: 2009
8. Học viện Hành chính Quốc gia (2003) Tổ chức bộ máy nhà nước, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội; Tr.136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy nhà nước
Nhà XB: Nhà xuấtbản giáo dục
9. Học Viện Hành chính Quốc gia, (2004), Kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật xây dựng và ban hànhvăn bản
Tác giả: Học Viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
10. Lê Hồng Sơn, (1999), Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND, Thông tin Khoa học Pháp lý, số 3, tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luậtcủa HĐND và UBND
Tác giả: Lê Hồng Sơn
Năm: 1999
14. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân (2003). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân (2003)
Tác giả: Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân
Nhà XB: Nhà xuấtbản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
15. Lưu Kiếm Thanh, (2003), Xây dựng và ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, Nxb Thống Kê, Hà Nội, tr.77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và ban hành văn bản Quy phạm phápluật
Tác giả: Lưu Kiếm Thanh
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2003
17. Nguyễn Đăng Dung (1997), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (lịch sử hiện tại), Nhà xuất bản Đồng Nai; Hà Quang Thanh (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương(lịch sử hiện tại)
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Đồng Nai; Hà Quang Thanh (2005)
Năm: 1997
20. Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2013), Khoản 1.Điều 114, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tr.29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoản 1."Điều 114, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
22. Tô Tử Hạ, (2003), Từ điển Hành chính , Nxb Lao Động - Xã hội, Hà Nội, tr. 208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hành chính
Tác giả: Tô Tử Hạ
Nhà XB: Nxb Lao Động - Xã hội
Năm: 2003
23. Từ điển Hành chính công (1996), Nxb. Juta và Co.Ltd Nam Phi, Hà Nội. Tr. 149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hành chính công
Tác giả: Từ điển Hành chính công
Nhà XB: Nxb. Juta và Co.Ltd Nam Phi
Năm: 1996
25. Từ điển tiếng Việt (1999), Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội. tr.1289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 1999
1. Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Lào Cai năm 2012 về kết quả rà soát đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đang công tác tại các cơ quan trên địa bàn tỉnh Lào Cai Khác
2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết số Khác
11. Lê nin Toàn tập, (1979), Tập 39, Nxb Tiến bộ Mat - Xcơ - va, Tr. 178 Khác
12. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (2004) Khác
16. Nghị quyết số: 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 09 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, UBNĐ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w