1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

NGÔ THỊ MAI HƯƠNG NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI

137 832 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xin cảm ơn sự giúp đỡ vô cùng quí giá của các chi cục Thủy Sản,Trung tâm giống Thủy sản, ngư dân, sinh viên tại các tỉnh thành thuộc địaphận sông Đáy và sông Bôi, đã giúp đỡ tôi thu thập

Trang 1

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Kết quả trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Những trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giảkhác, tài liệu sử dụng trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúngqui định, tiện cho việc đối chiếu

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015

Tác giả luận án

Ngô Thị Mai Hương

Trang 2

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hữu Dực người Thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và hoàn thiện luận án này.

-Tôi xin phép được gửi lời cám ơn chân thành đến tập thể Giáo sư, Phógiáo sư, Tiến sĩ - những người Thầy trong Bộ môn Động vật và Khoa Sinhhọc, phòng Sau Đại học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã cho tôi nhữngbài học quý, những kinh nghiệm trong nghiên cứu, truyền cho tôi tinh thầnlàm việc nghiêm túc, đã cho tôi nhiều ý kiến chỉ dẫn quý báu trong quá trìnhtiến hành đề tài luận án Tôi cũng xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới

GS TS Mai Đình Yên, trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học QuốcGia, đã giúp đỡ về tài liệu nghiên cứu và các ý kiến góp ý cho việc hoàn thiệnluận án

Cho tôi gửi lời cảm ơn tới Nghiên cứu viên chính Nguyễn Văn Hảo,Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã giúp đỡ và truyền cho tôi nhữngkinh nghiệm quí báu

Xin cảm ơn sự giúp đỡ vô cùng quí giá của các chi cục Thủy Sản,Trung tâm giống Thủy sản, ngư dân, sinh viên tại các tỉnh thành thuộc địaphận sông Đáy và sông Bôi, đã giúp đỡ tôi thu thập mẫu vật, cung cấp thôngtin về tình hình khai thác và nguồn lợi cá … ở khu vực nghiên cứu Tôi xingửi lời cám ơn tới Trường Cao đẳng Thủy sản, Khoa Nuôi trồng Thủy sản –

cơ quan công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, đồngnghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án này

Hà Nội, ngày … tháng… năm 2015

Tác giả luận án

Ngô Thị Mai Hương

Trang 3

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục các hình vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 3

3 Mục tiêu 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án 3

6 Đóng góp mới của luận án 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 5

1.1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ NƯỚC NGỌT MIỀN BẮC VIỆT NAM, LƯU VỰC SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI 5

1.1.1 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam 5

1.1.2 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi 14

1.2 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU .17 1.2.1 Đặc điểm tự nhiên KVNC 17

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 24

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 28

2.2 TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU 28

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

Trang 4

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 38

3.1 DANH SÁCH VÀ CẤU TRÚC KHU HỆ CÁ LƯU VỰC SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI 38

3.1.1 Danh sách các loài cá ở lưu vực sông Đáy và sông Bôi 38

3.1.2 Đa dạng thành phần loài cá lưu vực sông Đáyvà sông Bôi 52

3.1.3 Mô tả các loài cá chưa định loại đến loài và sự biến dị của một số loài trong KVNC 58

3.1.4 Giá trị bảo tồn các loài cá ở KVNC 65

3.1.5 Các loài cá đặc hữu Bắc Việt Nam phân bố ở KVNC 71

3.1.6 So sánh khu hệ cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi với các khu hệ cá khác 72 3.2 PHÂN BỐ CÁ Ở LƯU VỰC SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI 76

3.2.1 Phân bố của cá theo loại hình thủy vực 76

3.2.2 Các loài cá phân bố riêng biệt từng lưu vực sông Bôi và lưu vực sông Đáy 78

3.2.3 Phân bố cá theo các sinh cảnh của dòng chính 79

3.2.4 Phân bố theo các nhóm sinh thái 85

3.3 GIÁ TRỊ NGUỒN LỢI, TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ Ở LƯU VỰC SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI 94

3.3.1 Giá trị nguồn lợi cá 94

3.3.2 Tình hình nguồn lợi 98

3.3.3 Tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 104

3.3.4 Nguyên nhân suy giảm nguồn lợi 107

3.3.5 Đề xuất các biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi 113

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC

Trang 5

Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa

KBTTN ĐNN Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.2 Tình hình phát triển dân số giai đoạn 1990-2011 26

Bảng 2.1 Các địa điểm, thời gian nghiên cứu thực địa 29

Bảng 2.2 Số đo, đếm dùng trong định loại của cá ở KVNC 34

Bảng 3.1 Danh sách cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi 39

Bảng 3.2 Tỉ lệ % các họ, giống, loài trong các bộ cá ở KVNC 53

Bảng 3.3 Số lượng và tỉ lệ % các giống, loài trong các họ ở KVNC 54

Bảng 3.4 Sai khác giữa Mastacembelus sp1 và Mastacembelus sp2 với hai loài khác trong giống Mastacembelus 61

Bảng 3 5 Các loài cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi có giá trị bảo tồn 69

Bảng 3.6 Số lượng và tỉ lệ các loài cá trong SĐVN của các 71

khu hệ cá ở Việt Nam 71

Bảng 3.7 Danh sách các loài cá đặc hữu Bắc Việt Nam ở KVNC 72

Bảng 3.8 So sánh cấu trúc thành phần loài cá giữa khu vực nghiên cứu và các khu hệ khác 75

Bảng 3.9 Sự di nhập các loài cá nước mặn vào lưu vực 87

sông Đáy - sông Bôi (2010 -2014) 87

Bảng 3.10 Độ mặn và khoảng cách xâm nhập mặn vào hạ lưu sông Đáy.92 Bảng 3.11 Diện tích mặt nước nuôi thủy sản 102

Bảng 3.12 Sản lượng cá nuôi của các địa phương thuộc KVNC 103

Bảng 3.13 Tình hình hoạt động khai thác cá sông Đáy và sông Bôi 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ lưu vực sông Đáy và sông Bôi các điểm thu mẫu 30

Hình 2.2 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo và tên các bộ phận trên cơ thể cá 37

Hình 3.1 Biểu đồ tỉ lệ % họ, giống, loài trong các bộ cá ở KVNC 57

Hình 3.3 Cá Chạch sông Mastacembelus sp.1 60

Hình 3.4 Cá Chạch sông Mastacembelus sp.2 62

Hình 3.8 Biểu đồ so sánh số lượng, tỉ lệ % các loài cá nguồn gốc biển của lưu vực sông Đáy với các khu hệ cá ở miền Bắc Việt Nam 82

Hình 3.9 Biểu đồ so sánh số lượng và tỉ lệ (%) các loài cá phân bố ở lưu vực sông Bôi 84

Hình 3.10 Biểu đồ so sánh tỉ lệ phân bố các loài cá theo nhóm sinh thái 93

Hình 3.11 Biểu đồ biến động một số yếu tố môi trường sông Đáy 109

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sông Đáy là một phân lưu lớn của hệ thống sông Hồng, lưu vực sôngbao gồm các tỉnh và thành phố Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định vàmột phần của tỉnh Hòa Bình Lưu vực sông nằm trọn trong vùng địa lý đồngbằng châu thổ sông Hồng, thuộc khu địa lý cá nước ngọt đồng bằng Bắc Bộ -Bắc Trung Bộ Do vậy, chế độ thủy văn của sông Đáy chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ của sông Hồng và các vùng nước trũng trong lưu vực Chế độ thủy văncủa sông Đáy đã có nhiều thay đổi sau khi xây dựng đập Đáy vào năm 1937.Đồng thời do sự thay đổi lưu lượng nước của hệ thống sông Hồng trongnhững năm gần đây [47, 51] Hơn nữa, vùng cửa Đáy thuộc cửa sông dạngdelta (châu thổ), nhưng thủy triều có thể xâm nhập sâu vào nội địa [69] SôngBôi là phụ lưu lớn của sông Đáy, thượng nguồn của sông bắt nguồn từ núiHang, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình với độ caotrên 300 m, thuộc khu vực địa lý cá nước ngọt Tây Bắc Do vậy, khu hệ cácủa lưu vực sông Đáy và sông Bôi có độ đa dạng cao, với sự phong phú củacác loài cá phân bố miền núi và các loài có nguồn gốc từ biển

Cá là nguồn thực phẩm giàu đạm, phổ biến trong các bữa ăn của ngườidân Ngoài ra, cá còn được sử dụng vào nhiều mục đích khác như: nuôi làmcảnh, là thành phần trong các bài thuốc dân gian chữa bệnh của người dân, kể

cả mục đích tâm linh, phong thủy… Vì vậy, cá là một đối tượng được khai thácđánh bắt từ lâu đời Diện tích nuôi trồng thủy sản ngọt và mặn lợ của người dântrong lưu vực sông Đáy ngày càng mở rộng, các kỹ thuật mới được áp dụng tạonăng suất cao, đã góp phần cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào cho người dân

Trang 9

sự phát triển mạnh, nhưng dân số tăng nhanh, nhu cầu đánh bắt cá tăng Cá bịkhai thác quanh năm bằng mọi phương tiện đánh bắt như kích điện, lưới vét,lưới cào, lưới rê, rùng, chài mắt nhỏ v.v, dẫn đến nguồn lợi cá tự nhiên tronglưu vực sông Đáy và sông Bôi suy giảm một cách trầm trọng Bên cạnh đó, sựphát triển đô thị, các làng nghề và khu công nghiệp làm gia tăng lượng chất thảilỏng, chất thải rắn chưa qua xử lý xả vào lưu vực sông Đáy Mặc dù, lưu vựcsông Bôi không bị ô nhiễm bởi nước thải khu công nghiệp, làng nghề … Tuynhiên, việc khai thác cát sỏi phục vụ cho xây dựng, chặt phá rừng đã có tác độngảnh hưởng đến môi trường nước của sông Bôi Môi trường nước bị ô nhiễm đãtác động tiêu cực đến sự sống của động vật thủy sinh nói chung và cá nói riêng

Con người đang đứng trước những thách thức gay go và quyết liệtgiữa phát triển kinh tế, đô thị hóa, khai thác tài nguyên thiên nhiên với bảo vệtài nguyên đa dạng sinh học [59] Nghiên cứu điều tra đánh giá hiện trạngsinh vật, thống kê và sắp xếp chúng theo hệ thống phân loại khoa học ở nhữngvùng môi trường bị đe dọa là rất cấp thiết Lưu vực sông Đáy và lưu vực sôngBôi có sự liên hệ với nhau về tính chất thủy văn, nhưng hai lưu vực sông lại

có sự khác biệt về địa lý phân bố cá nước ngọt và tác động của hoạt độngsống của con người Trong khi đó, những nghiên cứu về cá trên lưu vực sôngĐáy và sông Bôi được các nhà khoa học tiến hành từ rất lâu, vào những năm

60 của thế kỷ 20 Các nghiên cứu gần đây mang tính ngắt quãng, không liêntục, chưa đại diện toàn bộ lưu vực sông Nên thành phần loài, đặc điểm phân

bố, tình hình khai thác và nguồn lợi cá ở lưu vực sông Đáy và sông Bôi chưađược phản ánh một cách toàn diện Tiến hành nghiên cứu tổng thể, đánh giá

sự biến động cấu trúc thành phần loài cá, xác định được ảnh hưởng của môitrường nước đến nguồn lợi thủy sản; cung cấp cơ sở khoa học để các tổ chứcnhà nước và cá nhân làm căn cứ đề ra các biện pháp bảo vệ, khai thác hợp lý

Trang 10

Vì vậy chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu khu hệ cá các lưu vực sông Đáy và sông Bôi”

2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài cá phân bố ở lưu vực sông Đáy vàsông Bôi

- Phạm vi nghiên cứu: Lưu vực sông Đáy và sông Bôi thuộc các tỉnhthành: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hòa Bình

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến năm 2014

- Đề xuất các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác hợp lýnguồn lợi cá ở KVNC

4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Lập danh sách thành phần loài, phân tích tính đa dạng của cá ở khuvực nghiên cứu

- Nghiên cứu sự phân bố của loài cá ở khu vực nghiên cứu theo sinhcảnh, loại hình thủy vực, sinh thái

- Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác bảo vệ nguồn lợi cá ở KVNC.Phân tích tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lợi cá, đề xuất các biệnpháp bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi cá ở KVNC

Trang 11

- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học cậpnhật về hiện trạng khu hệ cá ở KVNC.

- Kết quả nghiên cứu và các kiến nghị là các cơ sở quan trọng giúp các

cơ quan quản lý các cấp trong việc quy hoạch, bảo tồn, khai thác hợp lý vàphát triển bền vững tài nguyên cá

- Cung cấp bộ sưu tập mẫu cá phục vụ cho việc nghiên cứu và giảngdạy về đối tượng này ở các viện nghiên cứu, các trường đại học và cao đẳng

và các khu bảo tồn trong KVNC

6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Xác định được danh sách đầy đủ nhất về thành phần loài cá ở lưuvực sông Bôi và sông Đáy gồm 290 loài, thuộc 179 giống, 61 họ và 17 bộ Bổsung cho khu hệ 110 loài, trong đó có 02 loài có thể mới cho khoa học

- Ghi nhận đặc điểm sai khác của 02 loài so với mô tả của các tác giảtrước; Mô tả chi tiết 2 loài có thể mới cho khoa học

- Cung cấp dẫn liệu ban đầu về sự phân bố các loài cá tại KVNC theo:Dạng hình thủy vực, sinh cảnh của sông, nhóm sinh thái theo độ mặn của môitrường nước

- Xác định ô nhiễm môi trường nước và khai thác bằng phương tiệnhủy diệt là 2 nguyên nhân chính, ảnh hưởng tiêu cực đến sự biến động vềthành phần, phân bố và nguồn lợi của các loài cá ở KVNC Đề xuất nhữngbiện pháp khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi cá ởKVNC

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN

LƯU VỰC SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI

1.1.1 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam

Việt Nam với vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, có bờ biển dài, thềmlục địa rộng cùng hệ thống ao hồ, sông ngòi, đầm phá mang tính đặc trưngcủa các hệ sinh thái nhiệt đới Do vậy, khu hệ cá rất phong phú và được chútrọng nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về cá được các nhà khoa họcthực hiện nghiên cứu trải qua nhiều thời kỳ, gắn liền với cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc

1.1.1.1 Thời kì từ năm 1884 đến năm 1954

Thời kì này các nghiên cứu về cá chủ yếu của các nhà khoa học ngườiPháp, phần lớn các mẫu vật được lưu giữ ở bảo tàng tự nhiên Paris - Pháp.Các nghiên cứu thời kì này toàn diện về các lĩnh vực: Hình thái, phân loại,phân bố địa lý cá, sinh thái, sinh lý hoá sinh và nuôi cá Tuy nhiên chưa cócông trình nghiên cứu phục vụ cho sự phát triển mạnh mẽ nghề nuôi cá vàkhai thác ở Việt Nam [9, 71]

Công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở Việt Nam làSauvage H.E., (1881) Tác giả đã công bố có 139 loài cá cho toàn vùng ĐôngDương và mô tả 2 loài mới cho miền Bắc Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu vềthành phần loài cá ở các thủy vực khác nhau trên miền Bắc Việt Nam, thuthập và định loại được 10 loài cá ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới Vailant E.,(1891, 1904), đã thu thập và định loại 6 loài và mô tả 4 loài mới ở Lai Châu, 5loài mới ở Lạng Sơn Chevey P (1930, 1932, 1936, 1937) đã đi sâu nghiêncứu thành phần loài cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam, tác giả đã ghi nhận

Trang 13

được loài cá Chình nhật (Anguilla japonica) xuất hiện ở sông Hồng thuộc địa

phận Hà Nội [99]

Năm 1937, Chevey P và Lemasson J đã công bố kết quả nghiên cứu

khu hệ cá nước ngọt Miền Bắc Việt Nam trong “Góp phần nghiên cứu các

loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” với 98 loài, 71 giống, 17 họ và 10 bộ

[99] Đây là công trình nghiên cứu có giá trị nhất về khu hệ cá ở thời kỳ này

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về thành phần loài cá, sựphân bố cá ở thời kỳ này tập trung ở miền Bắc Việt Nam Đó là cơ sở nềntảng khoa học cho các nghiên cứu sau này

Công trình tổng kết các nghiên cứu về cá, có giá trị đầu tiên về cá

nước ngọt miền Bắc Việt Nam là cuốn “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía

Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) [71], gồm 201 loài thuộc 27 họ và

11 bộ, các mẫu thu được từ các thủy vực khác nhau gồm: sông, suối, đầm, hồ,

ao, ruộng Trong tài liệu này, tác giả đã công bố 47 loài và phân loài mới chokhoa học Cùng với 12 loài mới cho khoa học của Nguyễn Văn Hảo và Đoàn

Lệ Hoa (1969) và 4 loài của Bănărescu & Nalbant đưa tổng số loài mới cho

Trang 14

khoa học ở khu vực trong giai đoạn 1954 – 1978 là 63 loài Tác giả đã tuchỉnh tên gọi một số loài cá trước đây đảm bảo độ chính xác, xây dựng khóađịnh loại từ bộ đến loài và phân loài Đối với mỗi loài trình bày: tên phổthông, tên địa phương và tên khoa học chính danh, tên đồng vật (Synonym),

mô tả hình thái ngoài kèm hình vẽ, đặc điểm sinh học Tài liệu này đã thừa kế

và thay thế cho sách cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam của Chevey P &Lemasson J (1937) Cho đến nay công trình này vẫn là một tài liệu có giá trịdùng trong nghiên cứu về cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc (từ Quảng Bìnhtrở ra) Tuy nhiên, hệ thống phân loại được sử dụng trong cuốn sách theo hệthống của Rass T.S & Lindberg G.U (1971), với sự phát triển của khoa họccác tên khoa học của một số loài đã có sự thay đổi

Những năm gần đây, nghiên cứu điều tra về cá được tiến hành với sựtham gia của nhiều nhà khoa học của các viện nghiên cứu, các trường đại họctrong cả nước và có sự hợp tác với các nhà khoa học, các tổ chức trên thếgiới Kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp dữ liệu về thành phần loài cá ở ViệtNam đầy đủ hơn

Kottelat.M., (2001) xuất bản cuốn “Freshwater fishes of Northern

Vietnam” [89], tác giả đã xác định 268 loài thuộc 33 họ ở các thủy vực nước

ngọt tính từ sông Cả ra phía Bắc của Việt Nam; trong đó có 86 loài bổ sungcho nghiên cứu của Mai Đình Yên (1978); kèm theo 162 ảnh màu các loài cá.Tuy nhiên, trong cuốn sách này tác giả không cung cấp đầy đủ khóa định loại,đặc điểm phân loại, chỉ số đo và đếm của tất cả các loài nên việc khai thác sửdụng tài liệu để định loại còn hạn chế

Dương Quang Ngọc (2007) [46], nghiên cứu khu hệ cá lưu vực sông

Mã thuộc địa phận Viêt Nam đã xác định được 263 loài thuộc 167 giống, 58

họ và 14 bộ theo hệ thống của Eschmeyer W.N (1998), bổ sung 5 loài mới

Trang 15

cho khoa học Trong đó, có 152 loài cá nước ngọt, 111 loài cá nước mặn, lợ;

50 loài cá nước mặn lợ di nhập sâu vào sông Công trình đã khẳng định cá lưuvực sông Mã thuộc 3 khu địa động vật của Việt Nam: khu Tây Bắc; miền núiBắc Trung Bộ; đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

Nguyễn Thị Hoa (2011) [37], nghiên cứu về cá lưu vực sông Đà thuộcđịa phận Việt Nam, tác giả đã công bố danh sách cá ở lưu vực sông Đà gồm

242 loài và phân loài thuộc 109 giống, 24 họ và 9 bộ theo hệ thống củaEschmeyer W.N (1998) Trong đó có 231 loài cá địa phương, 11 loài cá nhậpnội; bổ sung 65 loài cho khu hệ cá lưu vực sông Đà, có 3 loài mới cho khoahọc, 4 loài cho khu hệ cá nước ngọt Việt Nam Xây dựng khóa định loại đếnloài cho 242 loài cá; Nhận xét sơ bộ tác động của thủy điện Hòa Bình đếnthành phần loài và phân bố cá lưu vực sông Đà Tác giả đã điều tra được thôngtin về thực trạng khai thác cá, chỉ rõ các nguyên nhân đã và đang tác động tiêucực đến khu hệ cá lưu vực sông Đà, đặc biệt xây dựng thủy điện, di dân

Nguyễn Xuân Khoa (2011) [43], nghiên cứu khu hệ cá vườn Quốc gia

Pù Mát và các vùng phụ cận đã xác định danh sách các loài cá tại KVNC gồm

119 loài thuộc 73 giống, 21 họ và 8 bộ theo hệ thống phân loại củaEschmeyer Trong đó có 110 loài cá bản địa, 7 loài di nhập, bổ sung 84 loàicho danh lục cá nước ngọt Pù Mát, 17 loài cho danh lục cá nước ngọt sôngLam, 9 loài cho danh lục cá nước ngọt Việt Nam; công bố 2 loài mới chokhoa học Tác giả phân chia sinh cảnh sống của cá nước ngọt theo hệ thốngphân chia của Rosgen (1996) [96], sự phân chia về sinh cảnh các hệ thốngsông suối căn cứ nền đáy, độ uốn khúc của sông và độ dốc của địa hình nơisông suối chảy qua Căn cứ phân chia sinh sảnh này của Rosgen cũng tươngđồng với cách phân chia sinh cảnh của sông thành 3 phần: thượng lưu, trunglưu và hạ lưu trong Đặng Ngọc Thanh (2007) [55] Nhưng trong phân chia

Trang 16

của Rosgen sinh cảnh sông suối được chia chi tiết hơn với các dạng từ Aađến G tương ứng với 11 dạng lưu vực khác nhau Căn cứ phân chia sinh cảnhcủa Nguyễn Xuân Khoa áp dụng giúp cho sự xác định sinh cảnh thu mẫutrong điều kiện địa hình phức tạp với tiểu sinh cảnh nhỏ.

Tạ Thị Thủy (2012) [60] nghiên cứu cá hai sông Ba Chẽ và Tiên Yêntrong thời gian 2008 – 2012, đã thống kê thành phần loài cá KVNC gồm 244loài thuộc 168 giống, 78 họ và 19 bộ theo hệ thống Eschmeyer (1998) Trong

đó có 7 loài cá nhập nội và một loài di nhập, 84 loài cá nước ngọt và 160 loài

cá nước mặn; lập khóa định loại từ bộ đến họ cho 11 bộ, từ họ đến giống cho

33 họ, từ giống đến loài cho 49 giống; xác định sự phân bố của các loài cátrong khu vực nghiên cứu theo các sinh cảnh thượng lưu, trung lưu, hạ lưucủa sông chính, sinh cảnh suối, ruộng ao, hồ Tác giả phân tích sự ảnh hưởngcửa sông dạng phễu đến tỉ lệ các loài cá biển cao ở KVNC

Nghiên cứu về cá trên lưu vực sông Hồng thuộc địa phận Việt Nam gồm các công trình tiêu biểu sau:

Nguyễn Hữu Dực (2010) [18], nghiên cứu cá cửa sông Hồng tại TiềnHải, Thái Bình gồm 186 loài; Trần Đức Hậu và Hà Thị Thanh Hải (2007) nghiêncứu cá sông Hồng thuộc tỉnh Yên Bái [29] gồm 108 loài; Trần Đức Hậu và BùiThị Vân (2009) nghiên cứu thành phần loài cá sông Hồng thuộc Xuân Trường –Nam Định công bố 48 loài [30]; Nguyễn Đình Tạo (2010) [53] nghiên cứu cángã ba sông Hồng đã công bố 82 loài; Nghiên cứu cá lưu vực sông Hồng thuộctỉnh Thái Bình và Nam Định của Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Thị Hồng Ninh vàNgô Thị Mai Hương (2014) [21], xác định danh sách gồm 303 loài

Chúng tôi đã tổng hợp các nghiên cứu, tu chỉnh tên khoa học và sắpxếp theo hệ thống phân loại của Eschmeyer (1998), cho kết quả thành phần

Trang 17

loài cá lưu vực sông Hồng (trừ sông Đà) nghiên cứu từ năm 1963 (Mai ĐìnhYên) đến năm 2014 là 313 loài thuộc 183 giống, 61 họ và 17 bộ.

Nghiên cứu tổng hợp thành phần cá nội địa có các công trình sau:

Theo “Nguồn lợi thủy sản Việt Nam” của Bộ Thủy Sản (1996), đã

thống kê cá nước ngọt Việt Nam gồm 544 loài và phân loài nằm trong 228giống, 57 họ và 18 bộ Về đặc trưng phân bố, tài liệu đã xác định vùng Bắc

Bộ có 222 loài, Bắc Trung Bộ có 145 loài, Nam Trung Bộ 120 loài và Nam

Bộ có 306 loài Tài liệu đã liệt kê được 97 loài cá có giá trị kinh tế nước ngọt,

mô tả đặc điểm sinh học của hơn 50 loài cá Cuốn sách là một tài liệu có giátrị cho các nhà khoa học, các nhà quản lý nghề cá, các nhà kinh tế

Tổng hợp số liệu từ “Cá nước ngọt Việt Nam” tập 1 của Nguyễn VănHảo và Ngô Sĩ Vân (2001) và “Cá nước ngọt Việt Nam” tập 2, tập 3 củaNguyễn Văn Hảo (2005) [26,27,28], các tác giả đã thống kê 1027 loài và phânloài thuộc 427 giống, 98 họ 22 bộ Thành phần loài cá được tổng hợp từ nhiềunghiên cứu, bao gồm: cá nước ngọt điển hình, cá có nguồn gốc từ biển thíchứng với điều kiện nước lợ vùng cửa sông, đầm phá và di nhập sâu vào hệthống các sông Tác giả đã giám định, tu chỉnh danh pháp cho các taxon theochuẩn quốc tế; cơ sở dữ liệu của mỗi loài cá được mô tả theo trình tự, quichuẩn của “Động vật chí Việt Nam” Đây là công trình mô tả đầy đủ nhất từtrước đến nay về thành phần loài cá nội địa nước ta, tác giả mô tả chi tiết cácloài mới bổ sung cho khoa học và danh lục cá Việt Nam Trong đó: Tập 1 bổsung 39 loài mới thuộc họ cá Chép; Tập 2 với 59 loài mới, 2 giống mới thuộc

6 họ và 2 bộ; Tập 3 mô tả 11 loài thuộc 5 giống, 4 họ và 2 bộ Tác giả căn cứvào sự phân chia của Mai Đình Yên (1973), Nguyễn Thái Tự (1983) [63],Nguyễn Hữu Dực (1995) [11] xếp cá nước ngọt Việt Nam vào vùng ĐôngPhương với 2 phân vùng và 11 khu địa lý:

Trang 18

+ Phân vùng Nam Trung Hoa gồm 5 khu phân bố địa lý khác nhau: 1)khu Cao Bằng – Lạng Sơn; 2) Khu Việt Bắc; 3) Khu Tây Bắc; 4) Khu miềnnúi Bắc Trung Bộ; 5) Khu đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

+ Phân vùng Đông Dương gồm 4 khu phân bố địa lý khác nhau: 1)Khu cao nguyên Tây Nguyên; 2) Khu hạ lưu sông Mekong; 3) Khu đồng bằngNam Bộ; 4) Khu đảo Phú Quốc

+ Ngoài ra có 2 khu mang tính chuyển tiếp giữa 2 phân vùng trên: 1)Khu trung và Nam Trung Bộ; 2) Khu Điện Biên Phủ

Sự phân chia địa động vật cá nước ngọt Việt Nam của tác giả có giá trịkhoa học, cho các nghiên cứu sau này trong việc xác định yếu tố địa động vậthọc Mặc dù đây là cuốn sách có giá trị giúp việc tra cứu thuận tiện, nhưngtổng hợp từ nhiều nguồn nên hệ thống phân loại không thống nhất, tên khoahọc của nhiều loài đã thay đổi

Danh lục cá nước ngọt Việt Nam được cập nhật đến tháng 11 năm 2008

là 632 loài, thứ tự các loài sắp xếp theo bảng chữ cái alphabet và được bổ sungliên tục các loài mới nên rất thuận tiện cho việc tra cứu và sử dụng [105]

Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng sinh học,điều này giải thích tiềm năng về khả năng phát hiện các giống, loài mới chokhoa học đặc biệt là cá nước ngọt Tính chất đa dạng phong phú của khu hệ cánước ngọt Việt Nam đã thu hút các nhà khoa học quốc tế đến Việt Namnghiên cứu trong thời gian gần đây Tiêu biểu có các công trình sau:

+ Chen I.S và Kottelat M (2005) [74], đã công bố 4 loài mới thuộc

giống Rhinogobius thu được ở Quảng Ninh, Việt Nam gồm: Rhinogobius

boa, R sulcatus, R variolatus, R virgigena

+ HeoK Hee Ng., và Kottelat M (2000) [84], công bố 3 loài mới thuộc

họ Akysidae và Sirosidae, các mẫu vật thu được ở Lào và Bắc Việt Nam

Trang 19

+ Conway K., và Kottelat M., (2008) [75], công bố một loài mới và

giống mới thuộc họ cá Chép Cyprinidae Loài Araiocypris batodes, mẫu vật

thu được ở các huyện: Móng Cái, Tiên Yên, Ba Chẽ, Mông Dương, tỉnhQuảng Ninh

+ Freyhof J., Serov D.V và Heok Hee Ng (2000, 2001,2002,2003,2005),

đã đi sâu nghiên cứu điều tra về cá ở miền Trung Việt Nam Các tác giả đã pháthiện và công bố khoảng 35 loài mới thuộc các phân họ Nemacheilidae,Balitoridae, Sisoridae, Bagridae…[77, 79, 80, 81, 86, 87]

Sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và quốc tếđem lại kết quả nghiên cứu về cá có sự phát triển toàn diện Phạm vi nghiên cứuđược mở rộng tới các vùng xa xôi, hẻo lánh, địa hình hiểm trở, các hang động.Nhiều loài, giống cá nước ngọt đặc hữu được công bố, phát hiện ở Việt Nam

Tổng số các loài được công bố ở Việt Nam của các tác giả trong nước

và nước ngoài qua các thời kỳ tính từ năm 1954 đến nay với tổng số 227 loài.Trong đó có giai đoạn 1954 – 1978 có 63 loài mới được công bố, chỉ có 4 loàicủa tác giả nước ngoài; Giai đoạn 1979 – 1996 có 18 loài; Chỉ riêng giai đoạn

1997 đến nay, số lượng loài mới được công bố là 146 loài, có 37 loài do cácnhà khoa học nước ngoài phát hiện và công bố (xem bảng 1.1) Số lượng cácloài mới phát hiện ở Việt Nam chắc chắn sẽ không dừng lại mà còn tiếp tụcđược tăng lên Các loài mới được công bố chiếm tỉ lệ lớn thuộc bộ cá Chép(Cypriniformes), tập trung họ cá Chạch vây bằng (Balitoridae) với 26 loài, họ

cá Chạch suối (Nemacheilidae)

Trang 20

Bảng 1.1 Số lượng các loài mới được công bố từ 1954 đến nay

được công bố

Số loài công bố

do người Việt Nam

Số loài công bố

do tác giả nước ngoài

Nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt ở Việt Nam trong thời gian qua đã có

sự phát triển không ngừng, với sự tham gia của rất nhiều các nhà khoa họcViệt Nam và quốc tế Các nghiên cứu đã đi sâu vào các lĩnh vực như: Điều trathành phần loài, đặc điểm phân bố, tình hình nguồn lợi, đề xuất các biện phápkhai thác hợp lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Đã có rất nhiều loài mới được bổ sung cho danh sách cá nước ngọtViệt Nam cũng như thế giới, điều này là dẫn liệu chứng tỏ Việt Nam là mộttrong 16 quốc gia có độ đa dạng sinh học cao trên thế giới

Bên cạnh đó, nghiên cứu về cá còn có một số tồn tại sau:

- Danh sách các loài cá của các tác giả ở các thời kì và các khu hệkhông thống nhất theo một hệ thống phân loại nhất định Nên gây khó khăntrong công tác nghiên cứu, sử dụng và so sánh

Trang 21

- Một số khu hệ đã nghiên cứu từ rất lâu hoặc chưa được nghiên cứuđầy đủ; Một số khu hệ cá ở vùng sâu, vùng xa, vùng nước ngầm, các hải đảochưa được nghiên cứu đầy đủ.

1.1.2 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi

Nghiên cứu đầu tiên về khu hệ cá ở sông Bôi của Đào Văn Tiến vàMai Đình Yên (1960) [61], đã công bố kết quả nghiên cứu được thực hiệntrong các năm 1957 – 1958 gồm 44 loài trong 14 họ, 8 bộ theo hệ thống phânloại của Lindberg (1941) Tác giả so sánh, xác định sự phân bố địa lý của cácloài cá ở sông Bôi cho thấy 60% loài cá phân bố ở Trung Quốc, 48% loàiphân bố ở đảo Hải Nam Đồng thời xác định mối quan hệ của các loài cá ởsông Bôi với Nam Bộ và Trung Bộ của Việt Nam Tác giả cũng đã xác định

sự phân bố các loài theo độ cao từ đó khẳng định đặc điểm khu hệ cá sông Bôi

có tính chất trung du miền núi Trong 44 loài có 40 loài định cư, chỉ có 4 loàixuất hiện vào đầu mùa nước, xác định sự phân bố của các loài theo sinh cảnh củasông, các loài cá phổ biến ở đồng bằng hiếm gặp ở KVNC

Tuy nhiên, việc thu thập mẫu vật trong nghiên cứu này chỉ tiến hànhtrên sông chính nên danh sách loài chưa bao quát hết toàn bộ lưu vực như cáphân bố ở các suối, ao, hồ…Tên khoa học của các loài được tác giả sắp xếptheo hệ thống phân loại của Lindberg (1941), có nhiều sai khác so với hệthống phân loại của Eschmeyer (1998)

Thái Bá Hồ (1964) [32], đã tiến hành nghiên cứu điều tra về môitrường, ngư loại và nghề cá trên sông Đáy, thời gian từ tháng 9 năm 1963 đếntháng 2 năm 1964, mẫu vật được thu ở 4 địa điểm: Ba Thá, Phủ Lý, NinhBình, Tùng Thiện Công trình đã xác định danh sách thành phần loài cá củasông Đáy bao gồm 78 loài thuộc 30 họ Trong đó, có 44 loài cá nước ngọt

Trang 22

điển hình, có tới 25 loài thuộc họ cá Chép, 34 loài cá nước lợ, cá di cư đi đẻtrứng và một số loài cá biển phân bố vào cửa sông

Nguyễn Xuân Quýnh và Nguyễn Xuân Huấn (2008) [49], khi nghiêncứu đa dạng sinh học ở sông Đáy thuộc địa phận tỉnh Hà Nam công bố có 47loài thuộc 19 họ, 7 bộ

Trong lưu vực sông Đáy và sông Bôi, Khu bảo tồn Thiên nhiên đấtngập nước Vân Long (KBTTN ĐNN) thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình đượcthành lập Sự đa dạng sinh học và sự độc đáo của sinh cảnh vùng núi đá vôi

và đất ngập nước đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học.Nghiên cứu về cá ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long đã được

tiến hành Có các công trình nghiên cứu sau:

- Nguyễn Xuân Huấn (2004) [38] đã tiến hành điều tra thu thập mẫu

từ năm 2000 – 2002, công bố danh sách cá của vùng ngập nước Vân Longgồm 54 loài thuộc 42 giống, 17 họ, 9 bộ

- Nguyễn Hữu Dực (2011) [19] đã công bố danh sách các loài cá củaKBTTN ĐNN Vân Long gồm 43 loài, thuộc 39 giống, 16 họ, 5 bộ

KBTTN ĐNN Vân Long nằm trong lưu vực sông Đáy và sông Bôi có

ý nghĩa khoa học cũng như giá trị thực tiễn, trong thời gian 10 năm đã tiếnhành 2 nghiên cứu toàn diện về đa dạng sinh học tại đây Tuy nhiên, thời gianđiều tra thu mẫu của hai nghiên cứu trên khác nhau và do tác động phát triển

du lịch, khai thác của con người, nên thành phần loài trong nghiên cứu củaNguyễn Hữu Dực (2011) ít hơn so với công bố của Nguyễn Xuân Huấn thờiđiểm 2004

Nguyễn Đình Tạo (2011) [54], nghiên cứu điều tra cá phân bố ở 3 suối

ở Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội gồm suối Yến, suối Long Vân, suối Tuyết

Trang 23

Sơn Tác giả đã công bố khu hệ cá suối ở KVNC có 47 loài thuộc 40 giống,

17 họ và 7 bộ

Hồ Quan Sơn với tổng diện tích 883 ha thuộc 4 xã Hợp Tiến, HồngSơn, Tuy Lai và Thượng Lâm thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội là vùng đất ngậpnước có giá trị về khoa học và thực tiễn sản xuất của người dân trong vùng

Hồ Quan Sơn có sự lưu thông nước với sông Đáy qua sông Mỹ Hà Nghiêncứu của Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự (2010) tại hồ Quan Sơn [94], đã công

bố danh sách thành phần loài cá gồm 61 loài thuộc 21 họ 8 bộ và 03 loài cógiá trị bảo tồn ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007)

Kết quả điều tra nghiên cứu thành phần loài cá tỉnh Ninh Bình củaNgô Sĩ Vân, được tiến hành thu thập mẫu, định loại năm 2009 công bố gồm

149 loài thuộc 45 họ và 13 bộ [68] Trong thành phần loài của nghiên cứunày, có loài di nhập từ trong miền Nam ra nuôi thử nghiệm như cá Mè vinh

(Barbordes gonionotus), nhưng không thích nghi và không phát triển; Loài cá

Rô tổng trường là loài thuộc giống cá Rô đồng (Anabas), được đánh giá là

loài đặc hữu của Ninh Bình Tuy nhiên việc xác định là loài mới khác biệt với

Rô đồng (Anabas testudineus) chưa được công bố trong các tạp chí khoa học.

Hà Nam và Ninh Bình thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có

sự đan xen các dãy núi đá vôi ở phía Tây Đặc biệt, Ninh Bình có dãy núiTam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, rừng Cúc Phương nằmtrong ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc, đồng bằng châu thổ sông Hồng vàBắc Trung Bộ Vì vậy khu hệ cá ở đây rất đa dạng và có nhiều loài đặc hữu.Trong quá trình thu thập mẫu vật, Nguyễn Văn Hảo (2011, 2013) [92, 93], đã

công bố 3 loài mới thuộc giống Channa gồm các loài Channa ninhbinhensis,

C hanamensis, C hoaluensis được phát hiện ở Hà Nam và Ninh Bình Tổng

Trang 24

hợp các nghiên cứu cá trên lưu vực sông Đáy sông Bôi tính từ năm 1960 đếntrước nghiên cứu này là 180 loài

Như vậy, nghiên cứu về cá trên sông chính của lưu vực sông Đáy sôngBôi đã tiến hành từ rất lâu Các nghiên cứu gần đây thực hiện trên lưu vựcsông có tính chất đơn lẻ, vào thời điểm khác nhau, thời gian nghiên cứu ngắn,địa điểm thu mẫu chưa nhiều, số lần lặp lại ít Do vậy, chưa có một nghiêncứu đầy đủ tổng thể, phản ánh được toàn diện thành phần loài cá ở lưu vựcsông Đáy và sông Bôi Mặt khác, môi trường sống của sinh vật nói chung vàmôi trường nước tại sông Đáy đã có nhiều biến đổi có ảnh hưởng tiêu cực đếnthành phần loài cá Nội dung nghiên cứu của luận án này là hết sức cần thiết,

nó có ý nghĩa khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên KVNC

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Lưu vực sông Đáy có tọa độ địa lý từ 20o33’ đến 21o19’ vĩ độ bắc và

105o 17’ đến 106o 30’ kinh độ đông, bắt đầu từ xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ,

Hà Nội đến Cửa Đáy, Kim Sơn, Ninh Bình; sông Đáy có chiều dài 245 km.Lưu vực sông Bôi có tọa độ đia lý từ 20o41’ đến 20o19’ vĩ độ Bắc và từ

105o32’ đến 105o55’ kinh độ đông, bắt nguồn từ xã Thượng Bì, huyện KimBôi, tỉnh Hòa Bình đến cầu Gián Khẩu xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnhNinh Bình, sông có chiều dài 125 km Tổng diện tích lưu vực 7949 km2

(chiếm 2% diện tích tự nhiên cả nước)

1.2.1.2 Hình thái và địa hình

Sông Đáy là phân lưu, nằm hữu ngạn của sông Hồng thuộc phần TâyNam của đồng bằng Bắc Bộ Lưu vực sông có dạng dài hình nan quạt, baogồm thành phố Hà Nội và các tỉnh, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình và Nam

Trang 25

Định, dòng chảy của sông quanh co uốn khúc Nhìn chung, địa hình vùngsông Đáy chảy qua khá bằng phẳng Vùng đầu nguồn thuộc Phúc Thọ, ĐanPhượng thành phố Hà Nội lưu lượng nước thấp, trong năm thường xuyên cạn,đến mùa khô nhiều chỗ có thể lội qua được, lòng sông hẹp, bị bồi đắp và xâmlấn của bè rau muống Sông Đáy tại vị trí tiếp nước từ sông Hồng tại HátMôn, Phúc Thọ, Hà Nội, hiện nay sông đã bị bồi lấp, gần như không có dòngchảy Bắt đầu từ Vân Đình, Mỹ Đức, Hà Nội lòng sông mở rộng ra, lưu tốcchậm lại và thuyền bè đi lại được (Phụ lục 7) [104].

Sông Bôi bắt nguồn từ Núi Hang, xã Thượng Tiến, huyện Kim Bôi,tỉnh Hòa Bình Sông có sự hợp nhất của nhiều suối ở cánh tả của sông đượcbắt nguồn từ huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình Sông chảy qua chủ yếu vùng núi đávôi với nhiều hang động thuộc tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình Trong lưu vựcsông Bôi có nguồn tài nguyên nước khoáng tại Kim Bôi (Hòa Bình) và Kênh

Gà (Ninh Bình) Sông là phụ lưu cấp 1 của sông Đáy, khi chảy vào sông Đáytại cầu Gián Khẩu Đoạn cuối sông Bôi còn được gọi là sông Hoàng Long,thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, một tên gọi gắn với lịch sử văn hóacác triều vua đóng đô đất Hoa Lư xưa [109]

Xét về địa hình có thể chia KVNC thành hai vùng chính như sau:

Vùng đồi núi

Địa hình đồi núi phân bố phía Tây và Tây Nam chiếm khoảng 30%diên tích Phần lớn các dãy núi có độ cao 400 – 600 m, chỉ có một vài khốinúi cao trên 1000 m như khối núi Đồi Thơi (Kim Bôi, Hòa Bình) có độ cao

1198 m [22]

Kiểu địa hình đồi thấp là dạng chuyển tiếp giữa địa hình núi và đồngbằng có độ cao <100 m Trong phạm vi lưu vực sông Đáy- Bôi, địa hình đồichỉ chiếm khoảng 10% diện tích, phân bố chuyển tiếp từ vùng núi xuống đồng

Trang 26

bằng Theo đặc điểm hình thái, có thể chia thành 2 khu vực: vùng đồi phíaBắc và vùng đồi phía Nam.

Vùng đồng bằng

Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 60% diện tích lưu vực, địa hìnhkhá bằng phẳng, có độ cao < 20 m Địa hình lưu vực bị chia cắt bởi hệ thốngsông và kênh mương chằng chịt, mật độ lưới sông khoảng 0,7 – 1,2 km/km2

Có thể chia đồng bằng thành 4 khu vực có đặc điểm khác nhau: vùngđồng bằng phía Bắc, vùng đồng bằng trung tâm, vùng đồng bằng phía Nam,vùng đồng bằng trũng Bề mặt lưu vực có hướng dốc thay đổi, đầu nguồn hệthống sông hướng Bắc-Nam; trung và hạ nguồn hướng Tây Bắc- Đông Nam.Thượng nguồn hệ thống sông uốn khúc, quanh co, hẹp và dốc, nước chảy xiết,

là nguy cơ tạo nên các hiện tượng xói lở, lũ quét Trung nguồn và hạ nguồnlòng sông được mở rộng, dòng sông chảy chậm, khả năng thoát nước kém dẫnđến tình trạng ngập lũ mỗi khi xuất hiện mưa lớn [51]

Nhận xét:

Do địa hình lưu vực sông Đáy và sông Bôi đa dạng có 2/3 diện tích làđồng bằng, nên sông chảy qua vùng có đặc điểm sinh thái khác nhau: rừngtrên đồi núi đá vôi, rừng trên núi đất, vùng đồng bằng canh tác nông nghiệp,khu dân cư đô thị, vùng đất ngập nước

Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình của sông Đáy và sông Bôi có ảnhhưởng đến môi trường sống của sinh vật, tác động đến mức độ đa dạng cácsinh vật thủy sinh nói chung và thành phần loài cá nói riêng trong lưu vực

1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu

Đặc điểm khí hậu lưu vực sông Đáy và sông Bôi có tính chất nhiệt đớigió mùa, mùa đông lạnh ít mưa; mùa hè nóng mưa nhiều Nhiệt độ trung bìnhhàng năm 23 – 24oC, thường chỉ có 4 tháng có nhiệt độ dưới 20oC vào các

Trang 27

tháng XII, I, II, III Tuy nhiên, nhiệt độ trong mùa đông không hoàn toàn chỉ

có thời tiết rét, mà còn có cả thời tiết lạnh và ấm xen kẽ, có những ngày nhiệt

độ xuống dưới 10oC Đây là điều kiện bất lợi cho sự phát triển của sinh vậtnói chung và cá nói riêng Các tháng có nhiệt độ cao gồm: tháng V, VI, VII

có thể lên tới 39–41oC Đặc điểm khí hậu hai mùa hè và mùa đông có biểuhiện trái ngược rõ rệt, sự chuyển tiếp giữa hai mùa này là mùa xuân và mùathu Mùa xuân thường bắt đầu từ tháng II đến tháng IV Đây là thời gian cóyếu tố môi trường về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa phù hợp, thuận lợi cho sinhsản của các loài động vật thủy sinh [44]

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1700 – 1906 mm,nhưng phân bố không đều, mùa mưa chủ yếu tập trung vào tháng V đến tháng

X và chiếm khoảng 8085% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng XI đếntháng IV năm sau, lượng mưa chỉ chiếm từ 1520% Do ảnh hưởng của địahình, lượng mưa ở các vùng trong khu vực nghiên cứu cũng có sự khác nhau:phần hữu ngạn của lưu vực có lượng mưa lớn(lượng mưa > 1800mm); phần tảngạn có lượng mưa thấp hơn (1500 – 1800 mm), nhỏ nhất thượng nguồn sôngĐáy (1500mm) và tăng dần ra phía biển [22]

Ở vùng trũng đầm lầy về mùa mưa thường ngập úng, đặc biệt là vùngnằm trong khu vực phân lũ của sông Đáy ở huyện Gia Viễn, Ninh Bình khi cóbáo động cấp III hoặc phân lũ, mực nước sâu từ 1 – 4 m

Chế độ gió khu vực nghiên cứu thay đổi theo mùa Mùa hè hướng gióthịnh hành là gió Đông và Đông Nam, đầu mùa có thể xuất hiện gió Tây Namkhô, nóng Về mùa đông hướng gió chủ đạo là gió hướng Đông Bắc và gió Bắc

Bốc hơi là một trong thành phần chính của cán cân nhiệt và cán cânnước Lượng bốc hơi từ bề mặt trải trên lưu vực chủ yếu quyết định bởi tiềmnăng nhiệt và ẩm Do đó, sự phân bố của lượng bốc hơi năm phụ thuộc vào sự

Trang 28

phân bố không gian của nhiệt và ẩm Ngoài yếu tố mưa, yếu tố bốc hơi từ bềmặt lưu vực cũng tham gia trực tiếp vào cán cân nước, ảnh hưởng rõ rệt tới sựhình thành dòng chảy Do nền nhiệt độ trên lưu vực cao, làm cho quá trìnhbốc hơi diễn ra đều khá lớn Lượng bốc hơi hàng năm dao động trong khoảng

900 – 1000 mm

1.2.1.4 Chế độ thủy văn

Mạng lưới sông ngòi khu vực nghiên cứu tương đối phát triển, mật độlưới sông đạt 0,7 - 1,2km/km2 Lưu vực có dạng dài, hình nan quạt Sông Đáy

có vị trí rất quan trọng, nó vừa là đường thoát nước chính của sông Hồng, vừa

là đường tiêu lũ của bản thân lưu vực sông Đáy [64]

Sông Đáy khởi nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sôngHồng, bắt đầu từ cửa Hát Môn chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Saukhi xây dựng xong đập Đáy vào năm 1937, nước sông Hồng không thườngxuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy (trừ những năm phân lũ) Vì vậy phầnđầu nguồn của sông (từ km 0 đến Ba Thá dài 71 km), sông Đáy coi như đoạnsông chết Lượng nước cung cấp cho sông Đáy chủ yếu là do các sông nhánh,quan trọng nhất là sông Tích Sông Tích có chiều dài 91 km, bắt nguồn từvùng đồi núi Ba Vì, đổ vào sông Đáy tại Ba Thá Dòng chảy của sông Tích vàsông Đáy đo tại trạm Ba Thá là 1,35 tỉ m3/năm, chiếm 4,7% tổng lượng dòngchảy năm tại cửa ra lưu vực [53, 65]

Chế độ thủy văn lưu vực sông Đáy và sông Bôi không những chịu ảnhhưởng của các yếu tố mặt đệm trên bề mặt lưu vực, các yếu tố khí hậu, màcòn phụ thuộc vào chế độ dòng chảy của nước sông Hồng và các sông khác

Do vậy, chế độ thủy văn của lưu vực rất phức tạp và có sự khác nhau nhấtđịnh giữa các đoạn sông Dòng chảy trên lưu vực sông phân bố không đềutheo không gian và thời gian

Trang 29

Theo không gian, dòng chảy lớn nhất là ở núi Ba Vì theo sông Tích,phần hữu ngạn lưu vực có dòng chảy lớn hơn phần tả ngạn

Sự phân bố theo thời gian thể hiện rõ nét thông qua phân phối dòngchảy trong năm Phân phối dòng chảy năm phụ thuộc vào sự phân phối theomùa của lượng mưa năm Nên dòng chảy trong năm cũng phân phối khôngđều và thể hiện hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Lượng mưa mùa lũ ởhầu hết các sông chiếm từ 70- 80% lượng nước năm, còn trong mùa cạn mựcnước và lưu lượng nước nhỏ, lượng nước dòng chảy trong 7 tháng mùa cạnchỉ chiếm khoảng 20- 25% lưu lượng dòng chảy cả năm

Trong mùa mưa, mực nước và lưu lượng các sông suối lớn thay đổinhanh, tốc độ dòng chảy đạt từ 2 - 3 m/s, biên độ mực nước trong từng con lũthường 4 - 5 m Mực nước và lưu lượng lớn nhất năm có khả năng xuất hiệntrong tháng VII, VIII, hoặc IX, nhưng phổ biến vào tháng VIII Như vậy, chothấy chế độ thủy văn trên toàn lưu vực sông Đáy và sông Bôi khá đơn giản vớihai mùa: mùa mưa từ tháng V đến tháng X, mùa khô từ tháng XI đến tháng IV

Nhận xét: Với những điều kiện khí hậu và chế độ thủy văn của lưu

vực sông đã phân tích ở trên, chúng sẽ có ảnh hưởng đến quá trình sinhtrưởng, phát triển của các loài cá ngoài tự nhiên và cả các đối tượng nuôitrồng thủy sản Đồng thời chúng cũng tác động làm cho thành phần loài cá có

sự biến động theo không gian và thời gian

1.2.1.5 Tài nguyên sinh vật

Hiện nay, rừng đầu nguồn đang bị khai thác, tàn phá nghiêm trọng,làm giảm diện tích rừng tự nhiên kéo theo đa dạng sinh học bị giảm sút

Lưu vực sông Đáy – Bôi có địa hình đa dạng (xem 1.2.1.2), là cơ sởtạo nên nguồn tài nguyên sinh vật rất đa dạng phong phú

Trang 30

Vùng thượng nguồn sông Bôi thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bìnhvới diện tích rừng tự nhiên là 55.103,43 ha, trong đó khoảng 16,8% diện tích(9.300 ha) là núi đá vôi, với nhiều loài gỗ quí, có sự đa dạng về động vật vàthực vật mang đặc trưng vùng chuyển tiếp giữa vùng Tây Bắc và đồng bằngchâu thổ sông Hồng Đặc biệt trong vùng thượng nguồn của sông Bôi có KhuBảo tồn Thiên nhiên Thượng Tiến với diện tích 7.308 km2 , tọa độ 20°36-20°41' N, 105°24' - 105°29' E là dạng rừng thường xanh núi thấp Rừng có 2 –

3 tầng, tầng trên gồm các loài gỗ lớn như: Chò chỉ, Sến, Lát hoa…v.v; đặc biệt

có các loài Thông tre, Thông lá ngắn KBTTN Thượng Tiến có hệ động vậtphong phú Mặc dù chưa có nghiên cứu thống kê đầy đủ thành phần loài,nhưng các loài động vât được ghi nhận của kiểm lâm, người dân vẫn còn xuấthiện: Gấu ngựa, Lợn rừng, Nai, Mèo rừng, Rắn hổ trâu, gà Lôi trắng, Cầy bay[110] Nghiên cứu của Thái Trần Bái, Trần Thị Thanh Bình, Nguyễn Hữu Dực(2006) [2], về mức độ đa dạng phong phú của động vật đáy ở KBTTN ThượngTiến Các tác giả đã xác định ấu trùng côn trùng xuất hiện ở suối gồm 14 họtrong 8 bộ côn trùng Bao gồm các bộ: bộ cánh rộng (Megaloptera), bộ cánhlông (Tricoptera), bộ cánh úp (Plecoptera), bộ chuồn chuồn (Odonata), bộ phù

du (Ephemeroptera), bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh nửa (Hemiptera), bộhai cánh (Diptera), bộ cánh phấn (Lepidotera)

Phần lớn nguồn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực sông ở vùngđồng bằng đã bị khai phá từ lâu đời, chỉ còn cây cỏ dại mọc trên bờ ruộng, bãihoang Thực vật đều là cây trồng bao gồm cây nông nghiệp, cây phòng hộ, câylấy bóng mát, cây ăn quả, trong đó cây lương thực chiếm 95% diện tích gieotrồng Động vật hoang dã, đặc biệt thú lớn vắng mặt hoàn toàn, phổ biến là cácloài chim, gậm nhấm, lưỡng cư bò sát, côn trùng Tuy nhiên, với một phần làdiện tích rừng núi thuộc các khu rừng đặc dụng như Cúc Phương, Ba Vì, khu

Trang 31

bảo vệ cảnh quan Hương Sơn, Hoa Lư, Vân Long, khu dự trữ sinh quyển đồngbằng sông Hồng, tạo nên một thế giới sinh vật trong KVNC vô cùng phong phú,

đa dạng Tính đến năm 2002, toàn lưu vực có khoảng 16.406 ha rừng, trong đódiện tích rừng tự nhiên 3.922 ha, diện tích rừng trồng 12.484 ha [51]

Theo Nguyễn Lân Hùng Sơn (2011) [50], công bố kết quả nghiên cứucủa các nhà khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nguồn tài nguyên sinhvật của riêng KBTTN ĐNN Vân Long thuộc KVNC rất đa dạng phong phú.Khu hệ thực vật gồm 163 họ; Động vật đáy có 60 loài giáp xác, thân mềm,trong đó có 42 loài trai ốc, 18 loài giáp xác; 48 loài thân mềm chân bụng trêncạn, Có 38 loài lưỡng cư bò sát; 102 loài chim ; 39 loài thú Đặc biệt, tại đâycòn bảo tồn quần thể Voọc mông trắng lớn nhất Việt Nam với 09 cá thểtrưởng thành tại núi Ba Đào, 02 cá thể trưởng thành tại khu vực núi HangTranh Như vậy trong vùng đất ngập nước Vân Long vẫn duy trì sự tồn tạicủa một số động vật quí hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam như: Voọcmông trắng, Gấu ngựa, Sóc đỏ, Mèo rừng,…

Diện tích rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề, diện tích rừng tự nhiên

bị thu hẹp được thay thế bằng diện tích rừng trồng Điều này ảnh hưởng đếnkhả năng giữ nước và lưu lượng nước hàng năm của sông bị giảm

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1.2.2.1 Phân bố dân cư

Toàn bộ diện tích lưu vực sông Đáy và sông Bôi là 7665 km2, chiếmkhoảng 2% diện tích cả nước Theo số liệu thống kê mới nhất, tính đến 2011tổng dân số khu vực nghiên cứu là 11.026.700 người, mật độ dân cư trungbình là 949 người/ km2 Hà Nội là nơi tập trung đông dân nhất, tổng số dâncủa Hà Nội là 6.699.600 người, mật độ dân số trung bình là 2013 người/ km2;mật độ dân cư thấp nhất là vùng núi thuộc tỉnh Hòa Bình 174 người/km2 So

Trang 32

sánh mật độ dân cư giữa các vùng: thành thị cao hơn so với vùng nông thôn

và đồng bằng cao hơn miền núi (Bảng 1.2) [103] Dân cư phân bố trong lưuvực sông chủ yếu là dân tộc Kinh, vùng núi và trung du thuộc tỉnh Hòa Bình

là dân tộc Mường, Dao…

Kết quả điều tra dân số cho thấy, nguồn nhân lực lao động của toànlưu vực tăng nhanh, đặc biệt là ở thành thị Cho đến năm 2011, tốc độ tăngcủa lực lượng lao động trung bình đạt 2,5%/năm, trong đó ở thành thị là5,7%/năm, vùng nông thôn là 1,75%/năm

Tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động nhanh không phù hợp với tốc

độ tăng trưởng của nền kinh tế, nên số người thất nghiệp và thiếu việc làmcủa người dân ở lưu vực sông Đáy khá cao Điều này đã tác động tiêu cực đếnmôi trường tự nhiên, môi trường xã hội

Sự phân bố nguồn nhân lực và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực giữacác vùng, các địa phương cũng rất khác nhau, không tương ứng với nguồn tàinguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng và khoáng sản cũng như không phùhợp với tốc độ tăng của nền kinh tế Điều này dẫn đến những luồng di chuyểndân cư lao động từ vùng này sang vùng khác, cũng là nguyên nhân gây mâuthuẫn, xung đột trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên

Vùng thượng nguồn sông Bôi có mật độ dân số thấp, chủ yếu là dântộc thiểu số, trình độ dân trí không cao, cuộc sống của họ còn gặp nhiềukhó khăn, sống chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp, trồng rừng Việckhai thác thủy sản chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thực phẩm hàng ngày,nguồn thu từ khai thác đánh bắt rất thấp Ý thức bảo vệ thiên nhiên nóichung và nguồn lợi thủy sản nói riêng chưa cao Vùng đồng bằng, thành thị

có mật độ dân cư đông, hoạt động đánh bắt khai thác cá trên sông Đáy có

Trang 33

từ rất lâu đời và mật độ ngư dân ở sông Đáy cao hơn so với các sông khác

ở miền Bắc Việt Nam [32]

Bảng 1.2 Tình hình phát triển dân số giai đoạn 1990-2011

(Trích nguồn: Tổng cục thống kê năm 2014)

Người dân lưu vực sông Đáy có truyền thống nuôi cá lồng bè, đăngchắn trên sông, đem lại nguồn thu ổn định [32] Tuy nhiên, nghề nuôi cá lồngcủa ngư dân tỉnh Hà Nam đang đứng trước nguy cơ phá sản do nguồn nước bị

ô nhiễm Đánh bắt thủy sản trên sông đến nay chỉ còn đem lại một phần thunhập cho kinh tế gia đình các hộ dân có nghề chài lưới

1.2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế

Lưu vực sông Đáy – sông Bôi là khu vực có nền kinh tế- xã hội pháttriển liên tục từ rất lâu đời Ngày nay, đây vẫn là một vùng kinh tế- xã hộiphát triển nhất đồng bằng sông Hồng Ngoài ra, vùng còn có nhiều thị trấn,huyện lỵ với qui mô dân số đông, mỗi thị trấn, huyện lỵ có khoảng 3000 -

5000 người Hiện nay, trên toàn lưu vực sông có 45.500 cơ sở sản xuất kinhdoanh, 19 khu công nghiệp, nhiều cụm công nghiệp và hơn 450 làng nghề, đó

là chưa kể hơn 10 triệu dân của 5 tỉnh thành phố Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình,Nam Định, Hòa Bình [104] Những năm qua, các cơ sở hạ tầng của các khu

đô thị đang phát triển mạnh, nhưng chưa được đầu tư thích đáng và chưa đápứng được nhu cầu phát triển

Trang 34

Việc phát triển các làng nghề, khu công nghiệp, các nhà máy, thị trấnhuyện lỵ, cũng như việc khai thác khoáng sản (cát, vôi) trong KVNC nhữngnăm qua không có sự quản lý và qui hoạch khoa học Những yếu tố phát triểnnhanh về dân số, cơ cấu việc làm, công nghiệp, làng nghề đã có ảnh hưởngmạnh mẽ đến khai thác tài nguyên thiên nhiên, trong đó tài nguyên nước bịảnh hưởng trầm trọng Điều này ảnh hưởng đến môi trường sống của cá, sựtồn tại sinh trưởng phát triển của cá trong khu vực nghiên cứu

Trang 35

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đề tài được tiến hành trên lưu vực sông Đáy và sông Bôi thuộc địaphận 5 tỉnh thành: Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định và Hòa Bình.Chúng tôi đã tiến hành điều tra, thu thập mẫu vật tại 56 điểm, các địa điểmnghiên cứu được thể hiện ở hình 2.1, bảng 2.1 và phụ lục 2

Thời gian nghiên cứu thực địa: Thu mẫu trực tiếp từ 3/2011 – 6/2014,

tổng số 107 ngày, chia thành nhiều đợt ngắn ngày, tập trung mùa khô và bổsung vào mùa mưa

2.2 TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

- 2024 mẫu vật thu thập qua các đợt thực địa, trong đó đo đếm đầy đủ

614 mẫu vật Các mẫu vật hiện đang lưu giữ tại phòng thí nghiệm và Bảo tàngThủy sinh vật – trường Cao đẳng Thủy sản

- Nhật ký thực địa: ghi chép các loài cá ngoài thực địa, phiếu điều traphỏng vấn, ảnh chụp ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm

- Các tài liệu khoa học liên quan

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

2.3.1.1.Phương pháp lựa chọn địa điểm thu mẫu

- Nguyên tắc chọn địa điểm thu mẫu:

+ Các địa điểm lựa chọn thu mẫu phải đặc trưng cho từng loại thủy vực,bao trùm toàn bộ lưu vực, từ thượng nguồn đến hạ nguồn, bao gồm: trên dòngsông chính, các chi lưu, phân lưu, các ngã ba sông; các ao, hồ, đầm, ruộng

Trang 36

Bảng 2.1 Các địa điểm, thời gian nghiên cứu thực địa

SB: Gia Viễn (Me, Gia Hưng, Gia Tiến, Gia Lập)

4

SĐ: Bột Xuyên, Hương Sơn, An Mỹ, Ba Thá;

SB: TT Bo, Hợp Kim, Trung Bì, Hợp Đồng

5 SĐ: Gia Lập, Quế Thanh Thủy, Thanh Hải 12/ 2012 3 42

6

SĐ: Cao Viên, Ba Thá, Hát Môn, Gián Khẩu, Khánh

Tiên, Khánh Thành, Khánh Trung (Yên Khánh)

SB: TTBo, Hạ Bì, Trung Bì

SB: Gia Viễn (Me, Gia Hưng, Gia Tiến, Gia Lập)

SĐ: Bình Minh (Kim Sơn)

3/ 2013

6/ 2013

7

SĐ: Quế, Ba Thá, Hồ Quan Sơn, Cấn Hữu

SĐ: Nghĩa Hưng (Nam Điền, Nghĩa Hải, Nghĩa

Hòa – TT Quỹ Nhất, Nghĩa Hùng, Nghĩa Châu,

SB: Thượng tiến, Bo, Hợp Đồng, Vĩnh Tiến,

Bình Sơn (suối Khăm)

Trang 37

Hình 2.1 Bản đồ lưu vực sông Đáy và sông Bôi các điểm thu mẫu

Trang 38

+ Địa điểm thu mẫu đặc trưng cho từng loại địa hình: vùng núi, vùngđồng bằng, vùng cửa sông ven biển.

+ Những nơi có nghề cá phát triển, nơi có ngư dân, có điều kiện thuậnlợi cho việc đánh bắt cá

+ Tọa độ các địa điểm thu mẫu được đo bằng GPS Garmin 72

2.3.1.2 Phương pháp thu mẫu vật

- Thời gian đi thu mẫu được tiến hành tập trung vào mùa khô (Từtháng XI đến tháng IV năm sau) và bổ sung vào mùa mưa (Từ tháng V đếntháng X)

- Thu mua cá của ngư dân, dân địa phương tại khu vực đánh bắt

- Thu mua ở các chợ chính có nguồn cá đánh bắt ở các địa phươngthuộc KVNC: Chợ Ba Thá, Chợ Đục Khê, Chợ Quế, Khánh Trung, KhánhThiện, Quĩ Nhất, Chi Nê, TT Bo, Gia Thanh…

- Thu mua tại bến cá ven sông: Phú Lão (Lạc Thủy), Cồn Thoi (KimSơn), Nam Điền (Nghĩa Hưng)

- Tự tổ chức đánh bắt: khi tổ chức thu mẫu, chúng tôi yêu cầu ngư dân

sử dụng các loại ngư cụ khác nhau để đánh bắt như lưới các loại, kích điện(loại 24 V)

- Nhờ người dân tại các địa điểm có tiềm năng đánh bắt cá: Hát Môn,Đồng Tháp, Ba Thá, Gia Lập, Trung Bì, … Hướng dẫn thu mẫu (phụ lục 1)

Thu và làm tiêu bản cá định loại

Các loài cá phổ biến thu từ 3 – 5 mẫu tại mỗi điểm thu mẫu; các loài

cá quí hiếm, các mẫu lạ thu càng nhiều càng tốt Các mẫu cá yêu cầu phảitươi, có hình dạng đẹp, vây, vảy nguyên vẹn

- Phương pháp làm mẫu cá để trưng bày, mẫu chụp ảnh, mẫu chuẩn:

Xử lý từng vây một cho căng hết cỡ, xòe đều cố định cho cứng phẳng bằngcách ngâm vào dung dịch formalin 38% trong 3 – 5 phút Sau đó dùng khăn

Trang 39

vải khô ép hai bên bằng tay khoảng 1 phút cho vây khô cứng đúng với tư thếmong muốn.

- Các tiêu bản thông thường phục vụ cho nghiên cứu định loại: Để cá

nằm ngang trên khay, tiêm formalin 8 – 10% vào xoang bụng, buồng mang vàgốc các vây làm cho cá cứng và xòe đều Đối với cá có kích cỡ lớn dùng daorạch một đường ở lườn bụng cho ngấm hóa chất, sau đó ngâm mẫu ngập trongdung dich formalin 8 – 10% Đối với cá nhỏ dưới 10 cm không cần tiêm màngâm trực tiếp cả con vào dung dịch formalin nồng độ 8 – 10%

Ghi nhật ký thực địa các thông tin cần thiết như sau: Thời gian thu

mẫu, địa điểm thu mẫu, số lượng mẫu, người thu mẫu, đặc điểm sinh cảnh nơithu mẫu, màu sắc của loài, vì đặc điểm này có thể bị mất đi khi ngâmformalin, quan sát hoạt động đánh bắt của ngư dân, đặc điểm tự nhiên và xãhội KVNC

Tiến hành chụp ảnh mẫu vật khi còn tươi sống, cảnh các hoạt độngtrong quá trình đi thực địa thu mẫu

Phương pháp đo độ mặn: độ mặn của nước được đo bằng máy khúc xạ

kế Atago S – 28E Salt 0-28% Các địa điểm đo độ mặn: Cửa Đáy (Nam Điền,Bình Minh) đến Đò Mười (Yên Khánh) Thời gian đo: Các tháng X, XII năm2013; các tháng III, IV, V năm 2014

Phương pháp điều tra

Xây dựng mẫu phiếu điều tra nguồn lợi cá theo tài liệu [25] (Phụ lục3) Phát phiếu hoặc phỏng vấn trực tiếp ngư dân và người dân có kinh nghiệm

về nghề cá, những vấn đề liên quan đến các nội dung nghiên cứu như: Cácloài cá chiếm ưu thế, loài còn xuất hiện, loài mất đi, nguyên nhân biến mấtcác loài cá, sản lượng đánh bắt, thu nhập từ khai thác cá, nhu cầu sử dụng cátrong đời sống của người dân địa phương, phương tiện đánh bắt…

Trang 40

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

- Chúng tôi sử dụng theo hệ thống phân loại của Eschmeyer W.N.,(1998) [76], các tên chính danh, tên đồng vật được tra cứu và đối chiếu theoFroese R & Pauly D (2014) [83]

- Các tài liệu sử dụng trong định loại: Mai Đình Yên (1978) [71];Vương Dĩ Khang (1958) [42]; Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005 a, 2005 b) [26,

27, 28]; Kottelat M (2001a, 2001b) [88, 89]; Chen Yiyu (1998) [102], ChuXin Luo et al (1999) [101]; Yue Peipi et al (2000) [102]; Tetsuji Nakabo(2002) [97]; Nguyễn Nhật Thi (1991, 2000) [57, 58]; Nguyễn Khắc Hường(1991, 1992, 1993) [39 – 41]

Nguyên tắc phân loại

- Dựa theo nguyên tắc phân loại động vật của Mayr E., (1974) [45],tham khảo tài liệu Nguyễn Ngọc Châu (2007) [10]

- Phân tích đặc điểm hình thái theo hướng dẫn của Pravdin (1961) [50]bao gồm: 14 chỉ số đo, 11 chỉ số đếm Các dấu hiệu dùng trong phân loại thểhiện ở bảng 2.2 và hình 2.2

Các dấu hiệu hình thái khác:

- Hình dạng đầu, thân; hình dạng và vị trí các vây, viền ngoài vâylưng, viền vây đuôi; hình dạng đường bên; cấu tạo vảy; màu sắc và hoa văncủa cá (thân, lưng, bụng, vây)

- Tia vây cứng, mềm; có răng cưa, trơn; có vây mỡ hoặc không có Tiavây cứng các vây ký hiệu bằng chữ số La Mã, tia đơn không hóa xương vàcác tia vây phân nhánh ký hiệu bằng chữ số Ả Rập cách nhau bởi dấu phẩy(,) Dao động giữa từng loại tia vây với nhau biểu thị bằng gạch nối (-) Tiavây cứng, tia vây mềm tính riêng

- Các loài cá thuộc bộ cá Nheo (Siluriformes) cần đo chiều dài cácrâu, đếm số lượng các loại râu

Ngày đăng: 10/04/2016, 11:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các địa điểm, thời gian nghiên cứu thực địa - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 2.1. Các địa điểm, thời gian nghiên cứu thực địa (Trang 37)
Bảng 3.1. Danh sách cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3.1. Danh sách cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi (Trang 47)
Bảng 3.2. Tỉ lệ % các họ, giống, loài trong các bộ cá ở KVNC - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3.2. Tỉ lệ % các họ, giống, loài trong các bộ cá ở KVNC (Trang 57)
Bảng 3.3. Số lượng và tỉ lệ % các giống, loài trong các họ ở KVNC - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3.3. Số lượng và tỉ lệ % các giống, loài trong các họ ở KVNC (Trang 58)
Hình 3.2. Phim chụp X– quang đốt sống của Mastacembelus sp1. và M. sp2. - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Hình 3.2. Phim chụp X– quang đốt sống của Mastacembelus sp1. và M. sp2 (Trang 64)
Hình 3.3. Cá Chạch sông Mastacembelus sp.1 Nhận   xét:   Mẫu   thu   được   có   đặc   điểm   của   giống   cá   Chạch   sông - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Hình 3.3. Cá Chạch sông Mastacembelus sp.1 Nhận xét: Mẫu thu được có đặc điểm của giống cá Chạch sông (Trang 65)
Bảng 3. 5. Các loài cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi có giá trị bảo tồn - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3. 5. Các loài cá lưu vực sông Đáy và sông Bôi có giá trị bảo tồn (Trang 73)
Bảng 3.6. Số lượng và tỉ lệ các loài cá trong SĐVN của các - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3.6. Số lượng và tỉ lệ các loài cá trong SĐVN của các (Trang 76)
Hình 3.5. So sánh số lượng các bậc taxon giữa lưu vực sông Đáy và sông - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Hình 3.5. So sánh số lượng các bậc taxon giữa lưu vực sông Đáy và sông (Trang 79)
Hình 3.6. Biểu đồ so sánh tỉ lệ (%), số lượng loài phân bố - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Hình 3.6. Biểu đồ so sánh tỉ lệ (%), số lượng loài phân bố (Trang 82)
Bảng 3.9. Sự di nhập các loài cá nước mặn vào lưu vực - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3.9. Sự di nhập các loài cá nước mặn vào lưu vực (Trang 92)
Bảng 3.10. Độ mặn và khoảng cách xâm nhập mặn vào - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3.10. Độ mặn và khoảng cách xâm nhập mặn vào (Trang 96)
Bảng 3.11. Diện tích mặt nước nuôi thủy sản - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Bảng 3.11. Diện tích mặt nước nuôi thủy sản (Trang 107)
Hình 3.11. Biểu đồ biến động một số yếu tố môi trường sông Đáy - NGÔ THỊ MAI HƯƠNG     NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ CÁC LƯU VỰC  SÔNG ĐÁY VÀ SÔNG BÔI
Hình 3.11. Biểu đồ biến động một số yếu tố môi trường sông Đáy (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w