1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình ngữ văn 9 trường TH và THCS hoàng châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu nhãn tự trong thơ

39 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 344,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy một tác phẩm trữ tình không chỉ là các phương pháp khoa học cósẵn mà còn là sự rung động thực sự của chính người dạy.. Qua nghiên cứu đề tài, kết quả cho thấy tác động có ảnh hư

Trang 2

1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI:

Việc dạy văn, học văn là khó Còn khó hơn khi dạy tác phẩm trữ tình saocho học sinh có hứng thú và tạo được sự say mê học tập ở các em Là một giáoviên dạy văn, tôi cũng rất băn khoăn trước thực trạng học sinh ngày càng "xalánh" môn khoa học xã hội, trong đó có môn Ngữ văn Một phần nguyên nhânkhiến học sinh "xa lánh" môn học này là do xu hướng của xã hội, nhưng mộtnguyên nhân không nhỏ nữa là do chất lượng bài giảng của các thầy cô chưathuyết phục, tạo hứng thú và sự say mê ở học sinh

Việc dạy một tác phẩm trữ tình không chỉ là các phương pháp khoa học cósẵn mà còn là sự rung động thực sự của chính người dạy Để giáo viên có thểchinh phục được học sinh của mình, nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy thìđiều đầu tiên, người giáo viên đó phải nắm chắc, hiểu sâu bài dạy Đặc biệt vớimột tác phẩm thơ, giáo viên cần phải có sự rung động thực sự Muốn đạt đượcđiều đó, người giáo viên ngoài nắm chắc, hiểu sâu tác phẩm, còn cần phát hiệnnhững điểm sáng về tín hiệu nghệ thuật trong thơ, hiểu cặn kẽ về những điểmsáng nghệ thuật, giúp các em tiếp cận, tìm hiểu để từ đó tạo hứng thú học tập ở

học sinh Một trong những điểm sáng về nghệ thuật trong thơ - đó chính la " nhãn tự".

- Nghiên cứu sẽ được tiến hành trên hai nhóm học sinh lớp 9 của trường Tiểu Học

và Trung Học Cơ Sở Hoàng Châu: Nhóm 1 là nhóm thực nghiệm, nhóm 2 lànhóm đối chứng Lựa chọn thiết kế kiểm tra sau tác động với các nhóm tươngđương

-Thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế từ tuần 10 đến hết tuần 27Ngữ Văn 9 Qua nghiên cứu đề tài, kết quả cho thấy tác động có ảnh hưởng đếnkết quả học của học sinh, nhóm thực nghiệm đạt kết quả cao hơn so với nhóm đốichứng:

+ Bài kiểm tra đầu ra của nhóm thực nghiệm có giá trị trung bình là: 6.74+ Bài kiểm tra đầu ra của nhóm đối chứng có giá trị trung bình là: 5.67

 Kết quả kiểm chứng cho thấy P1 < 0.05 có nghĩa là có sự khác biệt lớngiữa điểm trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Qua đó cho thấy

Trang 3

tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến việc giảm số lượng học sinh yếu kém và nângcao được hứng thú học tập tác phẩm thơ trữ tình - ở phân môn Ngữ văn

2 GIỚI THIỆU:

2.1 Hiện trạng:

Qua 14 năm giảng dạy và dự giờ thăm lớp, tôi nhận thấy việc phát hiện vàgiúp học sinh tiếp cận "nhãn tự" trong thơ của một số giáo viên còn hạn chế Cóthể nói, nhiều chị em giáo viên phát hiện ra "nhãn tự" trong thơ nhưng hiểu về nóchưa cặn kẽ, thấu đáo, vì thế việc bình và cảm thụ thơ của giáo viên chưa đạt đến

độ sâu, độ "chín", chưa có sự rung động thực sự, vì thế không đánh thức được sựyêu thích và đam mêm việc học thơ ở học sinh Vì thế chất lượng học tập của họcsinh ở môn học này chưa cao, đặc biệt là ở tác phẩm thơ

+ Vì sao trong thơ cần có "nhãn tự"?

+ Cách tìm hiểu "nhãn tự" trong thơ

Từ đó giáo viên sẽ giúp các em tiếp cận, tìm hiểu tốt "nhãn tự" trong thơ

2.3 Một số nghiên cứu gần đây có liên quan đến đề tài:

- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học sinh mũi nhọn bộ mônNgữ văn - Năm học 2011 - 2012 trường THCS TH và THCS Hoàng Châu - CátHải- Hải Phòng

- "Phương pháp dạy tác phẩm trữ tình" - Chuyên đề trường THCS ĐônLương - Cát Hải - Năm học 2011 - 2012

- Chương trình "Bạn yêu thơ" - chuyên đề Đoàn - Đội - trường THCSHoàng Châu - Cát Hải năm học 2011 - 2012

Trang 4

2.4 Vấn đề cần nghiên cứu:

Nâng cao chất lượng học tập môn Ngữ văn và tạo sự hứng thú cho học sinhqua việc học tập tác phẩm trữ tình bằng việc nghiên cứu, tìm hiểu các "nhãn tự"trong thơ

2.5 Giả thuyết nghiên cứu:

Nghiên cứu tìm hiểu "nhãn tự" trong thơ, nâng cao chất lượng, hiệu quả giờdạy để tạo được sự hứng thú, say mê ở học sinh, từ đó nâng cao chất lượng họctập tác phẩm thơ nói riêng và môn Ngữ văn nói chung ở lớp 9

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Lựa chọn thiết kế: Kiểm tra trước và sau tác động với hai nhóm tương đương

- Tôi dùng Bài kiểm tra học kì 1 làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tracho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự tương đương nhau Chúng tôi dùngphép kiểm chứng T-Test độc lập để kiểm chứng sự tương đương điểm số trungbình của hai nhóm trước khi tác động

 Bảng kiểm chứng để xác định hai nhóm tương đương:

Thực nghiệm (Nhóm 1) Đối chứng (Nhóm 2)

Trang 5

P 1 = 0.928 > 0.05 từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm

thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tươngđương

 Thiết kế nghiên cứu:

Nhóm Kiểm tra trướctác động Tác động Kiểm tra sautác độngThực nghiệm

Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập

3.3 Quy trình nghiên cứu:

* Chuẩn bị bài của giáo viên:

Dạy lớp đối chứng: Thiết kế kế hoạch bài học không ứng dụng việc nghiêncứu về "nhãn tự"; quy trình chuẩn bị bài như bình thường

Dạy học lớp thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch bài học có ứng dụng việcnghiên cứu về "nhãn tự"

* Tiến hành dạy thực nghiệm:

Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học củanhà trường và theo thời khoá biểu để đảm bảo tính khách quan

* Tiến hành kiểm tra và chấm bài.

Sau khi thực hiện dạy xong các tác phẩm "Đồng chí", "Bài thơ về tiểu đội

xe không kính", "Đoàn thuyền đánh cá"; "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưngmẹ"; "Ánh trăng"; "Bếp lửa", tôi tiến hành kiểm tra 1 tiết

Trang 6

Đề bài:

I - Trắc nghiệm: Chọn một phương án trả lời đúng nhất cho các câu hỏi sau.

Câu 1:Văn bản nào ca ngợi những con người lao động hăng say xây dựng đấtnước?

Câu 3: Bà mẹ trong "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ" của NguyễnKhoa Điềm thuộc dân tộc nào?

Câu 4: Tác giả nào có quê ở miền Trung Việt Nam?

Câu 5: Văn bản "Ánh trăng" của Nguyễn Duy được sáng tác năm nào?

Câu 6: Văn bản nào thuộc thể thơ 7 chữ?

B Bếp lửa D Đồng chí

Câu 7 Từ ngữ sáng tạo và biểu cảm nhất trong bài thơ "Bếp lửa" là nào?

A Chờn vờn B Nồng đượm C Dai dẳng D Ấp iu

8 Câu thơ nào có chứa từ tượng hình ?

A Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi C Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần

B Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối D Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều

II - Tự luận:

Câu 1 (2,0 đ):

a Chép lại theo trí nhớ 7 câu thơ đầu bài "Đồng chí"

Trang 7

b Câu thơ thứ 7 trong đoạn thơ trên là một câu thơ đặc biệt Hãy viết đoạn vănngắn từ 5 - 7 câu phân tích nét đặc sắc của câu thơ đó.

Câu 2 (6,0đ):Cảm nhận của em về vẻ đẹp của 3 câu thơ cuối trong bài thơ

"Đồng chí" của Chính Hữu?

Sau khi tiến hành kiểm tra, chấm bài theo đáp án đã xây dựng

4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ:

Sau tác động

Trước tác động

Sau tác động

(sau tác động cho thấy sự chênh lệch giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm

và nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động)

- Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn: SMD = 0,8629

Trang 8

6.2 Phân tích kết quả dữ liệu:

* Kiểm chứng để xác định nhóm tương đương trước tác động:

Nhóm thựcnghiệm

* Phân tích dữ liệu và kết quả sau tác động:

Nhóm thựcnghiệm

Nhóm đối

Trang 9

Kết luận: Sự chênh lệch điểm trung bình cộng sau tác động của 2 nhóm thực

nghiệm và đối chứng rất có ý nghĩa (do tác động)

SMD = 0,8659 (trong khoảng 0,80 – 1,00) là lớn.

Kết luận: Mức độ ảnh hưởng của tác động đến kết quả học tập của nhóm thực

nghiệm là lớn.

 Như trên đã chứng minh rằng kết quả hai nhóm trước tác động là tương đương.Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test độc lập cho

kết quả P 2 = 0,0006 cho thấy sự chênh lệch giữa điềm trung bình nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểmtrung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng làkhông ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SM 6,74 – 5,67 = 0,8629

-1,24

4.2 Phân tích dữ liệu:

Theo bản tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =

0,8629 Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc dạy tác phẩm trữ tình có

ứng dụng việc nghiên cứu và tìm hiểu "nhãn tự" là có ý nghĩa rất lớn

Bảng 6: So sánh việc tạo hứng thú, sự say mê học thơ (căn cứ vào phiều điều tra):

Trang 10

lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,07 Điều đó cho thấy điểm TBC của hai nhómđối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểmTBC cao hơn lớp đối chứng.

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,8629Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn

Phép kiểm chứng T-Test độc lập điểm trung bình hai bài kiểm tra sau tác

động cùa hai nhóm là P 2 = 0,0006 < 0,001 Kết quả này khẳng định sự

chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà dotác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm

Phiếu điều tra cho thấy giờ dạy có ứng dụng việc tìm hiểu, nghiên cứu

"nhãn tự" trong thơ đã kích thích được từ 20 - 25% sự yêu thích môn học này

* Nhược điểm: Nghiên cứu này giúp giáo viên tìm hiểu sâu, kỹ hơn các tác

phẩm trữ tình, nâng cao hiệu quả giờ dạy và góp phần nâng cao sự say mê, hứngthú học tập các tác phẩm thơ, đặc biệt là môn Ngữ văn ở lớp 9 - trường TH vàTHCS Hoàng Châu, nhưng do thời gian nghiên cứu ngắn nên chưa đánh giá đượcmột cách hoàn toàn chính xác sự tiến bộ của học sinh, có thể dẫn đến sự tiến bộrồi sau đó lại thụt lùi như tình trạng ban đầu nếu như giáo viên không truyền đượcngọn lửa say mê cho học sinh

5.2.1 Đối với các cấp lãnh đạo:

Cần khuyến khích các giáo viên nghiên cứu, chọn ra giải pháp hữu hiệunhằm khắc phục tình trạng học sinh ngày càng không thích học môn Văn, nhất là

Trang 11

các tác phẩm trữ tình Động viên, giúp đỡ và khen thưởng những giáo viên cóthành tích trong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở nhà trường.

5.2.2 Đối với giáo viên:

Nghiên cứu này đòi hỏi giáo viên phải có một thời gian dài tìm hiểu, tíchluỹ kiến thức qua từng tác phẩm thơ Việc tìm hiểu, nghiên cứu "nhãn tự" trongthơ đòi hỏi người giáo viên phải có lòng nhiệt tình, có sự say mê và có thời gian

Vì việc dạy thơ ngoài tìm hiểu "nhãn tự" còn có rất nhiều các tín hiệu nghệ thuật

và nội dung bài dạy để thu hút sự chú ý của học sinh và nâng cao chất lượng bàidạy

Trên đây là một số bài học kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu của bản thân

mà tôi rút ra từ thực tế giảng dạy Nhưng đó mới chỉ là nghiên cứu của cá nhân, sẽ

có nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp

Trang 12

6 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU:

- Từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản GD&ĐT

- Sách bình giảng văn học 8, 9 - Nhà xuất bản GD&ĐT

- Tài liệu tập huấn nghiên cứu KHSPƯD dự án Việt - Bỉ - Bộ GD&ĐT

- Sách giáo khoa môn Ngữ Văn 8, 9 - Nhà xuất bản GIA đìNH

- Tài liệu hướng dẫn giảm tải chương trình môn Ngữ văn - Bộ GD&ĐT

Trang 13

7 MINH CHỨNG - PHỤ LỤC CHO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:

PHỤ LỤC 1: QUY TRÌNH TÌM HIỂU " NHÃN TỰ" TRONG THƠ

I - MẮT - MỤC - NHÃN HAY XUẤT XỨ KHÁI NIỆM

Từ "nhãn tự" hay "từ mắt" được sử dụng phổ biến, trở lên một khái niệmquen thuộc Cần giải nghĩa các từ này để hiểu thấu đáo Từ "mắt" trong TiếngViệt xuất phát từ từ "mục" trong tiếng Hán từ "mắt" theo từ điển Tiếng Việt cónhững nghĩa sau:

1 Cơ quan để thấy, để nhìn (đưa mắt, mắt gà mờ )

2 Chỗ lồi ở đất cây nhỏ như can mắt (mắt tre, mắt mía )

3 Lỗ đan tròn như con mắt (mắt lưới)

4 Cục sưng lồi hai bên cổ chân (mắt cá chân)

5 Xét về cách nhìn nhận, sự lựa chọn của người phụ nữ (mắt xanh)

Trang 14

4 Theo dõi (tiếng Hoa là "giám thị").

5 Hướng đạo (Là dẫn đường, có nghĩa nữa là tuyến sách tức manh mối)

6 Hang động

7 Then chốt hay là yếu điểm

8 Chỉ cho hoa văn trong trang trí

9 Chỉ cho lá liễu non

10 Bọt nước

11 Nhịp phách trong các bài khúc (điệu hát của người Trung Quốc xưa).

12 Thuật ngữ để dùng trong khi đánh cờ vây

Trang 15

chốt, mắt có thần nên nó không thể hiện được ý chữ hay, chữ then chốt làm nổibật ý nghĩa của câu thơ.

Song, trong từ điển Trung Quốc, người ta không sử dụng từ "nhãn tự" màchỉ có từ "thi nhãn" Theo Thương Lang thi thoại, làm thơ dụng công ở ba yếu tố:

viết khởi kết, viết cú pháp và viết tự nhãn (ba điểm chính trong thơ một là mở đầu, kết luận, hai là cú pháp, ba là tự nhãn) Cách nói "nhãn tự" cũng là cách

Việt hoá xuất phát từ người Việt xưa Và cách dùng từ " mắt" cốt để dễ hiểu,nhưng từ này không thể hiện được tinh thần của khái niệm "nhãn tự" trong thơ ca

cổ Cách gọi "nhãn tự" là phù hợp nhất khi phân tích hay bàn luận về thi pháp

"Thi nhãn" được hiểu với nét nghĩa cơ bản như sau:

1 Chỉ năng lực quan sát của thi nhân

2 Chỉ mổ từ hay một chữ cực kì tinh luyện mang tính truyền thần

II - VÌ SAO TRONG THƠ CẦN CÓ NHÃN TỰ.

Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ Điều này càng đúng với thơ Mỗitác phẩm thơ luôn là một công trình nghệ thuật, mỗi chữ đặt xuống phải có sự cânnhắc kĩ lưỡng, thể hiện dụng công của người thi sĩ Nên không lạ khi để có đượccâu thơ bất hủ:

"Củi một cành khô lạc mấy dòng"

(Tràng giang - Huy Cận) Huy Cận đã phải lựa chọn biết bao hình ảnh khác: Củi một cành khô, lạc giữa dòng, hay Một cánh bèo trôi lạc giữa dòng để đi đến câu thơ cuối cùng

như trong tác phẩm Vì vậy là thơ không phải công việc vui chơi, thoảng qua haycho xong chuyện mà đó là hoạt động nghệ thuật thực sự tổn hao tâm lực và trí tuệcủa con người

Thơ luôn quý sự hàm súc, chữ ít mà ý nhiều, ý ở ngoài lời (ý tại ngôn ngoại) cho nên phải cân nhắc chọn lọc, tìm chữ hạ câu phải đa tư đa lự Một chữ

hạ xuống đôi khi là then chốt, trụ cột cho toàn bài thơ, một chữ là tinh hoa, là cột

đỡ cho cả một cung điện ngôn từ Nếu thiếu đi hay mất đi một từ ấy thôi bài thơ

sẽ trở nên thật xoàng xĩnh, đôi khi chẳng còn chút thơ nào Cũng bởi thế, nhìn vào

Trang 16

một "nhãn tự" ấy thôi người đọc có thể nắm bắt được toàn bài như soi mình thấuđáy hồ thu Người hay dùng "nhãn tự" phải kể đến Bác Hồ Trong bài thơ "Mộ"

(Chiều tối), từ "hồng" đã được hạ xuống thật đắc địa khi khép lại toàn bộ bài thơ:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

(Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng)

Từ "hồng" không chỉ diễn tả ngọn lửa hay ánh lửa trong bài, với một chữ

"hồng" Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uểoải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuônmặt của cô em sau khi xay ngô tối Chữ "hồng" sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ mộtchữ thôi với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa Với chữ

"hồng" đó có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu mà chỉ thấymàu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêukia Đó là màu đỏ của tình cảm Bác Không thể tưởng tượng được bài thơ "Mộ"

(Chiều tối) là một bài thơ trong tập "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh mà

không hề có bóng dáng của nhà tù, không thấy hình ảnh của tù nhân mà cứ tưởngrằng đây là bài thơ của thi sĩ tự do Ánh hồng của lò than được nhắc tới ở cuối bài

thơ (qua chữ hồng - nhãn tự trong tác phẩm) cho thấy tâm trạng của Bác đang

chuyển từ buồn sang vui Quan trọng hơn, nó giúp ta hiểu được niềm lạc quanđáng quý của nhà cách mạng, rõ ràng trong hoàn cảnh nào Bác cũng hướng tớiphần tươi sáng của cuộc đời

Mặt khác nói đến nhà thơ là phải nói đến cái "tôi" trong sáng tạo nghệthuật Việc lựa chọn từ ngữ thể hiện rõ tài năng, cách tinh luyện ngôn từ của từngtác giả Cá tính mạnh mẽ của người thi sĩ phả vào tác phẩm, qua nhiều tác phẩmhình thành nên nét độc đáo hiếm có đôi khi là cái nhìn mới lạ, có thể là khácngười, khác đời nhưng chính điều đó tạo nên sức sống, khả năng lan toả của tácphẩm thơ Bởi có "nhãn tự"như thế, có những từ được dùng một lần mà mãi mãi

Trang 17

gắn bó với tên tuổi của một người Điều này thấy rất rõ qua những sáng tác củaNguyễn Khuyến - nhà thơ của làng cảnh Việt Nam Bài thơ "Thu điếu":

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê Chiếc ao thunước trong veo có thể nhìn được rong rêu tận đáy toả ra khí thu lãnh lẽo như baotrùm không gian Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạtrồi nên mới lạnh lẽo như vậy Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền câu bé tẻoteo tự bao giờ Một chiếc gợi tả sự cô đơn của thuyền câu bé tẻo teo nghĩa là rất

bé nhỏ, âm điệ của vần thơ cũng gợi ra sự hun hút của cảnh vật (trong veo - bé tẻoteo) Đó là một nét thu đẹp và êm đềm Hai câu thực:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

tả không gian hai chiều Màu sắc hoà hợp, có sóng biếc với lá vàng, gió thổi nhẹcũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăntừng làn hơi gợn tí Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thư, tô đậm cái nhìn thấy

và nghe thấy Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận,lấy cái lăn tăn của sóng hơi gợn tí phối cảnh với dộ bay xoay xoay khẽ đưa vèocủa chiếc lá thu Chữ "vèo" là một nhãn tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm

phục, vừa tâm đắc Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: Vèo trông

lá rụng đầy sân (Cảm thu, Tiễn thu).

Vì vậy trong thơ không thể thiếu được "nhãn tự" hay nói cách khác, một bàithơ thực sự thành công hay không, lột tả được tâm trạng thi nhân, trường cuộc đờicon người hay không, khơi gợi được những nỗi niềm đồng cảm của người đọchay không nhờ một phần rất lớn vào những "nhãn tự" có trong bài

III - GỢI Ý CÁCH TÌM HIỂU NHÃN TỰ TRONG THƠ

Việc phân tích như trên đã cho thấy, muốn tìm hiểu một bài thơ không thể

bỏ qua các "nhãn tự" Cổ nhân từng dạy: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, soi vào đôi

mắt sẽ thấy được hồn người, cái ẩn chứa sâu kín bên trong, cái vô danh không thể

Trang 18

nói được bằng lời, và với nhãn tự, qua đó có thể thấy được tất cả thông điệp củangười viết nhắn nhủ, tâm tư kí thác, "đọc" được cái hồn của tác phẩm Cho nênviệc dạy các tác phẩm thơ cũng cần cân nhắc và tôn trọng thủ pháp này của thơ

ca Người giáo viên qua việc phân tích "nhãn tự" để giúp học sinh tiếp cận gầnnhất với tác phẩm và người học qua đó nắm được kiến thức nhanh nhất, chính xácnhất để phục vụ cho học và viết bài (nhất là với kiểu bài nghị luận về tác phẩmthơ)

Trong phạm vi bài viết của mình, tôi xin đề xuất một số gợi ý để khám phá

"nhãn tự" trong thơ, hỗ trợ cho việc đọc - hiểu văn bản trong nhà trường

1 Tìm hiểu bằng cách sử dụng các từ thay thế:

Trong tiếng Việt có hệ thống các từ đồng nghĩa rất phong phú và đa dạng,loại trừ những từ đồng nghĩa hoàn toàn, các từ đồng nghĩa còn lại vẫn luôn mangmột sự khác biệt dù ít hay nhiều về sắc thái, khả năng khêu gợi cảm xúc vớingười đọc Với một từ được đặt xuống trong một câu thơ, người viết có thể lựa

chọn những từ ngữ tương đương (quan hệ liên tưởng của ngôn ngữ), việc giáo viên thay thế các từ tương đương không làm thay đổi thanh điệu, sự hoà kết

âm luật trong câu sẽ giúp làm nổi bật được chọn lựa của tác giả Ví dụ trong

bài "Mùa xuân nho nhỏ", Thanh Hải viêt:

Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Từ "mọc" là một nhãn tự - nó góp phần thể hiện sự sống mùa xuân đang lantoả, bao trùm và dạt dào trong cảnh vật, đất trời Có thể thay thế bằng các từ như:thấy, nở, trôi rồi giáo viên đưa ra so sánh:

Các từ: nở, thấy, trôi đều có thể miêu tả hình ảnh bông hoa và sự pháthiện của nhà thơ Nhưng nếu dùng cái từ trên thì hình ảnh thơ tuyệt đẹp mang tâmhồn xứ Huế "hoa tím biếc" là cái đã có sắc, nở sẵn giữa dòng sông, nhân vật trữtình chỉ tìm ra mà thôi

Từ "mọc" không chỉ cho thấy sự xuất hiện của sự vật mà cả sự vươn lên bất

ngờ mạnh mẽ (từ nụ, vươn dậy, nở thành hoa), không chỉ thấy sự phát hiện tinh tế

Trang 19

của tác giả mà ẩn chứa trong đó cả niềm vui của con người khi cảm nhận đượcsức xuân và sắc xuân tràn lan khắp đất trời, vạn vật.

2 Tìm hiểu bằng cách so sánh và liên tưởng:

Khả năng gợi cảm trong thơ là rất cao, đặc biệt là với các "nhãn tự", muốn

làm toát lên cái hay, cái mới và độc đáo có thể so sánh với những cái quen dùng, hay dùng đã trở thành ước lệ (đôi khi là khuôn sáo).

Trong "Sang thu" - Hữu Thỉnh, khổ 1 của bài thơ đã vẽ lên một bức tranhthiên nhiên xinh xắn về làng quê lúc giao mùa:

Bồng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

Hình ảnh "hương ổi" có thể xem là một phát hiện mới của nhà thơ Thơ xưa

và cả thơ hiện đại khi viết về mùa thu, những tín hiệu mùa thu thường lấy hình

ảnh như là: lá ngô đồng rụng (Ngô đồng một lá lìa cành/ Báo cho thiên hạ tin lành thu sang - Thơ Đường), Hoa cúc nở (Khóm cúc tuôn đôi dòng lệ cũ/ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà - Đỗ Phủ), nếu lấy một làn hương để nhắc ta rằng

đã mùa thu thì có thể là hương hoa sữa nồng nàn con phố nhỏ hay hương cốmmới theo những gánh hàng rong đi khắp nơi Nhưng riêng Hữu Thỉnh, ông lựachọn "hương ổi" để thấy được cái mộc mạc giản dị, cái chân chất qua hương sắctrong bức tranh thu Đây là nét mới mà ông đóng góp với thi liệu khi viết về mùathu

Giáo viên cũng có thể vận dụng chính liên tưởng của mình để bình giảng cái hay của từ ngữ hay hình ảnh thơ có trong bài Đây là cách nâng cao hay tạo

mẫu cho học sinh vì dạy thơ không chỉ là những phương pháp khoa học có sẵn màcòn là chính rung động của tâm hồn người dạy

Trở lại với ví dụ trên (bài thơ "Sang thu"), cần lưu ý từ láy "chùng chình" diễn tả làn sương sớm trôi đi thật chậm Cái mỏng manh, êm nhẹ của làn sươngthu có thể cho chúng ta liên tưởng tới bước chân của người thiếu nữ nửa muốn ra

Ngày đăng: 10/04/2016, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 2: Bảng điểm - skkn  nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình   ngữ văn 9  trường TH và THCS hoàng châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu nhãn tự trong thơ
h ụ lục 2: Bảng điểm (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w