Tuy nhiên, qua thực tế 5 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những đóng góp quan trọng nêu trên, do nhiều nguyên nhận nhất là những nguyên nhân khách quan nên một số những quy định trong
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ
BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2013
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT DẠY NGHỀ
VÀ KIẾN NGHỊ CÁC NỘI DUNG CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
VÀO LUẬT DẠY NGHỀ
MÃ SỐ: CB2013-04-06
Chủ nhiệm: TS Vũ Xuân Hùng
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 2MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Luật Dạy nghề được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2006 và có hiệu thực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 Sau 5 năm triển khai thực hiện, Luật Dạy nghề không những chỉ thể hiện là một đạo luật có giá trị pháp lý cao mà ngày càng khẳng định là một đạo luật có giá trị thực tiễn, đáp ứng tốt những đòi hỏi khách quan của thực tiễn Lần đầu tiên hệ thống dạy nghề với 3 cấp trình độ đào tạo (sơ cấp nghề (SCN), trung cấp nghề (TCN) và cao đẳng nghề (CĐN) được hình thành và phát triển ở Việt Nam, từng bước đáp ứng nhu cầu đa dạng về các bậc trình độ đào tạo lao động kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, qua thực tế 5 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những đóng góp quan trọng nêu trên, do nhiều nguyên nhận nhất là những nguyên nhân khách quan nên một số những quy định trong Luật không còn phù hợp, ngày càng trở lên bất cập với thực tiễn, cụ thể như bất cập trong các quy định về các điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy nghề (giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất, thiết bị); chính sách cho người học nghề; chưa quy định rõ loại hình sở hữu của các cơ sở dạy nghề (CSDN) thuộc doanh nghiệp nhà nước; không quy định cụ thể việc thành lập, quản lý các CSDN có vốn đầu tư nước ngoài;; thiếu quy định về dạy nghề thường xuyên, về hợp tác quốc tế v.v…
Kể từ khi Luật Dạy nghề được ban hành (năm 2006) đến nay đã có nhiều Bộ luật, luật khác có liên quan đến Luật Dạy nghề được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung Một số quy định của Luật Dạy nghề trái với một
số quy định trong các văn bản luật liên quan
Chính vì vậy, việc đánh giá thực trạng thi hành Luật Dạy nghề và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung Luật Dạy nghề là việc làm hết sức cấp thiết, phục vụ tốt nhất cho Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dạy nghề, góp phần quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về đào tạo nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 3II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu Luật Giáo dục, dạy nghề, các công trình nghiên cứu
về dạy nghề của các nước cho thấy không có công trình nào trùng với vấn
đề nghiên cứu của Đề tài, tuy nhiên, qua những nghiên cứu này cũng gợi
mở thêm về một số quan điểm, nội dung cần phải luật hóa trong Luật Dạy nghề của Việt Nam Mặc khác, pháp luật dạy nghề nói chung, Luật Dạy nghề nói riêng lại là vấn đề mới còn ít được quan tâm, nghiên cứu Năm 2005, để phục vụ cho Dự án Luật Dạy nghề, nhóm nghiên cứu của Tổng cục Dạy nghề đã tiến hành thực hiện Đề tài “Căn cứ lý luận và thực tiễn để pháp điển hóa những nội dung cơ bản trong luật dạy nghề” (1) (Mã số: CB.2005-02- 02) Đề tài đã tiến hành rà soát các văn bản Luật, Nghị định và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, lựa chọn những vấn đề cơ bản để pháp điển hóa vào các nội dung của dự án Luật Dạy nghề, trên cơ sở đó, Đề tài cũng đề xuất những nội dung cơ bản của Luật Dạy nghề Mặc dù kết quả của Đề tài chỉ phục vụ cho việc xây dựng Luật Dạy nghề lúc đó, song quan điểm, cách tiếp cận về pháp điển hóa vào những nội dung cơ bản trong Luật Dạy nghề vẫn là những định hướng cơ bản có giá trị cho Đề tài
Đề tài “Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục giai đoạn
2010 - 2020” (2) (Mã số: B2009-37-08NV) do nhóm tác giả của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp quy pháp luật về giáo dục, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật giáo dục Tuy nhiên, phạm vi của Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu về công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, xác định quy trình soạn thảo văn bản, thực trạng của việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực giáo dục Đề tài không đề cập đến pháp luật dạy nghề và chỉ hướng đến hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật
Về thực trạng dạy nghề hiện nay cũng được trình bày trong một số báo cáo, chương trình, đề án về dạy nghề như Chiến lược phát triển dạy
1 PGS TS Mạc Văn Tiến (2005), Đề tài “Căn cứ lý luận và thực tiễn để pháp điển hóa những nội dung cơ bản trong luật dạy nghề”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Mã số: CB.2005-02- 02
2 PGS.TS Chu Hồng Thanh (2010), Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục giai đoạn
2010 - 2020” Đề tài khoa học cấp Bộ Mã số: B2009-37-08NV, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam;
Trang 4nghề thời kỳ 2011 - 2020(); Báo cáo dạy nghề Việt Nam năm 2011(),
Dự thảo Đề án đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020 v.v…, song cũng chỉ mang tính tổng quát, số liệu hầu hết từ báo cáo do các địa phương, CSDN cung cấp Tuy nhiên, từ những thực trạng đã được nêu ở trên, sẽ làm cơ sở định hướng cho Đề tài trong việc nghiên cứu thực trạng của dạy nghề dưới phương diện pháp luật
Thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, Tổng cục Dạy nghề đang tiến hành thực hiện Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dạy nghề Quá trình thực hiện Dự án, cơ quan quản lý đã tiến hành tổng kết, đánh giá 5 năm thi hành Luật Dạy nghề, nêu lên những mặt đạt được, những hạn chế, yếu kém và có đề xuất một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung vào Luật Dạy nghề Tuy nhiên, những đánh giá, cũng như những đề xuất sửa đổi, bổ sung vào Luật Dạy nghề còn mang tính hành chính, việc đánh giá cũng dựa trên các báo cáo Do vậy, có những đề xuất sửa đổi, bổ sung vào Luật Dạy nghề không phải là những hạn chế, bất cập từ những quy định của pháp luật mà là từ việc tổ chức triển khai trong thực tiễn hoặc từ nhận thức chủ quan của người quản lý
Như vậy, qua nghiên cứu lịch sử vấn đề cho thấy, chưa có nghiên cứu nào cụ thể, đầy đủ về thực trạng thi hành pháp luật về dạy nghề và giải pháp sửa đổi, bổ sung Luật Dạy nghề phù hợp với yêu cầu hội nhập Do vậy, việc nghiên cứu Đề tài là cần thiết trong giai đoạn hiện nay và không trùng lắp với những nghiên cứu trước đó
III MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật về dạy nghề và thực hiện pháp luật về dạy nghề, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị những nội dung cần sửa đổi,
bổ sung vào Luật Dạy nghề, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về dạy nghề
IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trang 5Hệ thống dạy nghề; hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo, dạy nghề;
hệ thống pháp luật về dạy nghề (Luật Dạy nghề, Luật Giáo dục và các văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề); thực trạng thi hành pháp Luật Dạy nghề (thực trạng công tác triển khai, thực trạng phát triển dạy nghề tính từ khi Luật Dạy nghề có hiệu lực thi hành); những đề xuất sửa đổi,
bổ sung vào Luật Dạy nghề; kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và áp dụng pháp luật về dạy nghề
V PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Về nội dung nghiên cứu
- Thực trạng thi hành Luật Dạy nghề bao gồm cả các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và các văn bản khác dưới Luật;
- Đề tài chỉ đề xuất những vấn đề chính, cơ bản cần sửa đổi, bổ sung vào Luật Dạy nghề, cụ thể như: (1) Về cơ sở dạy nghề; (2) Về trình độ dạy nghề; (3) Về giáo viên dạy nghề; (4) Quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề; (5) Chính sách đối với cơ sở dạy nghề
tư thục; (6) Hợp tác quốc tế về dạy nghề; (7) và một số sửa đổi, bổ sung khác
2 Về không gian nghiên cứu
- Việc áp dụng pháp luật về dạy nghề tại các Bộ, ngành, địa phương, CSDN tính từ khi Luật Dạy nghề có hiệu lực thi hành (năm 2007) đến nay;
- Hệ thống pháp luật về dạy nghề và các bộ luật, luật có liên quan: Bộ Luật lao động, Luật Giáo dục 2005, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Doanh nghiệp v.v…
3 Về thời gian nghiên cứu: 12 tháng
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu nhưng tập trung trong các phương pháp chủ yếu sau:
1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, số liệu thông qua việc thu thập các thông tin thứ cấp và các thông tin do đề tài trực tiếp thu thập, thực hiện (thông tin sơ cấp), cụ thể:
- Các thông tin thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: Nguồn số liệu, thống kê từ Tổng cục Dạy nghề, các Sở Lao động -
Trang 62 Phương pháp chuyên gia: Sử dụng thông qua 2 hình thức chủ yếu
là hội thảo và lấy ý kiến cá nhân các chuyên gia Đề tài đã tổ chức 02 Hội thảo lấy ý kiến của 10 chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực dạy nghề về những bất cập cần sửa đổi, bổ sung và về những đề xuất sửa đổi,
bổ sung
3 Tham vấn và khảo sát thực tế một số địa phương, CSDN ở 3 miền Bắc, Trung, Nam Đề tài đã tổ chức lấy ý kiến chính thức 337 người (trong đó có 227 cán bộ quản lý dạy nghề, 58 giáo viên dạy nghề, 52 cán
bộ doanh nghiệp và chuyên gia) thông qua các Hội thảo, Hội nghị về công tác dạy nghề do Tổng cục Dạy nghề tổ chức Nội dung khảo sát tập trung vào: Thực trạng thi hành Luật Dạy nghề (những hạn chế, bất cập);
đề xuất nội dung cần sửa đổi, bổ sung vào Dự thảo Luật; sự cần thiết, khả thi của những nội dung cần sửa đổi, bổ sung
VII NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT DẠY NGHỀ 1.1 Thực trạng Luật Dạy nghề và các văn bản hướng dẫn thi hành
1.1.1 Thực trạng chỉ đạo triển khai thi hành Luật Dạy nghề
Theo báo cáo của 52 Bộ, ngành, địa phương và Tập đoàn thì ngay sau khi Luật Dạy nghề có hiệu lực thi hành, các Bộ, ngành, địa phương đều chuẩn bị kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực của Bộ, ngành, địa phương mình theo quy định của Luật Dạy nghề
Tuy nhiên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thi hành Luật Dạy nghề vẫn còn một số những tồn tại, hạn chế nhất định Còn một số Bộ, ngành, địa phương vẫn chưa nhận thức đúng mức về vai trò của dạy nghề trong việc đào tạo nhân lực kỹ thuật là một trong những nhân tố quyết định thành công và phát triển bền vững kinh tế - xã hội
Trang 71.1.2 Thực trạng tuyên truyền, phổ biến Luật Dạy nghề
Theo báo cáo của 52 Bộ, ngành, địa phương và Tập đoàn, ngay trong cuối năm 2007, các Bộ, ngành, địa phương đều đã tổ chức quán triệt đến cán bộ quản lý, chuyên viên về việc thực hiện triển khai thi hành Luật Dạy nghề, xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến Luật Dạy nghề Các CSDN, các cơ sở giáo dục có tham gia dạy nghề cũng đã thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến Luật Dạy nghề ngay sau khi Luật được công bố, thông qua các hình thức như nói chuyện chuyên đề, lồng ghép trong các buổi học pháp luật
Mặc dù Luật Dạy nghề đã được tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nhưng thực tế cho thấy công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Dạy nghề vẫn còn những hạn chế nhất định Đánh giá về vấn đề này, có 211/227 cán bộ quản lý; 53/58 giáo viên dạy nghề; 45/52 cán bộ doanh nghiệp cho rằng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn rất hạn chế và hạn chế
1.1.3 Thực trạng thanh tra, kiểm tra việc thi hành Luật Dạy nghề
Theo báo cáo của 52 Bộ, ngành, địa phương và Tập đoàn, công tác kiểm tra thực hiện Luật Dạy nghề cũng được các Bộ, ngành, địa phương thực hiện định kỳ hàng năm, đảm bảo cho việc thực hiện dạy nghề tại Bộ, ngành, địa phương được triển khai theo đúng quy định của Luật Dạy nghề Qua thanh tra, kiểm tra đã kịp thời chấn chỉnh, tư vấn, hướng dẫn các đơn vị thực hiện đúng các quy định của pháp luật về dạy nghề Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành Luật Dạy nghề vẫn còn những hạn chế, bất cập Khi được hỏi ý kiến về công tác thanh tra, kiểm tra tại địa phương, CSDN, có 68/337 người cho rằng tốt; 247/337 người cho rằng trung bình; 22/337 người cho rằng yếu
1.1.4 Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Dạy nghề
1.1.4.1 Tình hình ban hành các văn bản thi hành
Tính đến 30/10/2013, đã có 152 văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để hướng dẫn triển khai thực hiện Luật Dạy nghề, trong đó có 11 văn bản do Chính phủ ban hành, 138 văn bản do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành và 3 văn bản liên tịch của các Bộ Về nội dung văn bản: Có 70 văn bản quy định và hướng dẫn về các lĩnh vực của hoạt động dạy nghề, và
Trang 81.2 Thực trạng thi hành Luật Dạy nghề
1.2.1 Về mạng lưới và quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề
a) Kết quả triển khai
Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề, tính đến 31/12/2012 cả nước
có 155 trường CĐN (trong đó có 34 trường ngoài công lập), 304 trường TCN (trong đó có 99 trường ngoài công lập); 868 trung tâm dạy nghề (trong đó có 327 trung tâm ngoài công lập) và hơn 1000 cơ sở khác (các
cơ sở giáo dục - đào tạo, doanh nghiệp,…) tham gia dạy nghề, tăng 1,5
lần so với năm 2006 (phụ lục 2) Nếu tính cả các cơ sở khác có dạy nghề
(bao gồm đại học, cao đẳng, trung tâm khác có dạy nghề) thì mạng lưới CSDN cả nước có 1975 cơ sở, trong đó CSDN công lập chiếm 67,2%
b) Đánh giá quy định của Luật hiện hành
Luật Dạy nghề hiện hành chưa có quy định về quy hoạch mạng lưới CSDN, trong khi đây là vấn đề quan trọng Kết quả khảo sát ý kiến về quy hoạch phát triển mạng lưới CSDN thời gian qua đối với 337 người cho thấy: Có 74 người (chiếm 22%) cho rằng quy hoạch mạng lưới CSDN tốt; 215 người (chiếm 63,8%) đánh giá khá; 37 người (chiếm 11%) đánh giá trung bình; và có 11 người (chiếm 3,2%) đánh giá việc quy hoạch CSDN kém
1.2.2 Về loại hình sở hữu cơ sở dạy nghề
Trang 9thuộc doanh nghiệp nhà nước (chiếm 4,6% tổng số CSDN công lập); 466 CSDN tư thục (chiếm 35,1%)
b) Đánh giá quy định hiện hành
Theo quy định của Luật Dạy nghề hiện hành CSDN công lập phải đảm bảo đủ 3 tiêu chí: (1) Do Nhà nước thành lập; (2) Do Nhà nước đầu
tư, xây dựng cơ sở vật chất; (3) Do Nhà nước đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định CSDN
là công lập hay tư thục hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt đối với các CSDN thuộc doanh nghiệp nhà nước
Đánh giá về vấn đề này, hết các ý kiến (84,5%) cho rằng đây là bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung để CSDN thuộc doanh nghiệp nhà nước phát huy thế mạnh, gắn kết chặt chẽ giữa dạy nghề và doanh nghiệp
1.2.3 Về quy mô, cơ cấu nghề đào tạo, trình độ đào tạo
a) Kết quả thực hiện
Quy mô tuyển sinh học nghề năm 2012 đạt hơn 1,49 triệu học sinh, sinh viên, trong đó CĐN là 84.151 người; TCN là 129.189 người; SCN là 909.265 người và dạy nghề dưới 3 tháng là 369.974 người so với năm
2006 tăng khoảng 1,2 lần Danh mục nghề đào tạo đã được xây dựng dựa trên nhu cầu của thị trường lao động Đến tháng 5/2012 đã có danh mục nghề của 386 nghề đào tạo ở trình độ cao đẳng, 462 nghề đào tạo ở trình
độ trung cấp Kết quả khảo sát, thống kê cho thấy, quy mô, cơ cấu nghề đào tạo còn bất hợp lý Các nghề đào tạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nghề phổ biến, các nghề đòi hỏi đầu tư thấp
b) Đánh giá quy định hiện hành
Theo quy định của Luật Dạy nghề hiện hành, dạy nghề có 3 trình độ
là SCN, TCN, CĐN, chưa đáp ứng yêu cầu nhân lực trình độ cao cho nền kinh tế Khảo sát về vấn đề này, có 79,3% ý kiến của cán bộ quản lý, 80,8% giáo viên và 86,2% cán bộ doanh nghiệp cho rằng quy định về trình độ hiện nay là bất cập, tạo ra sự thiếu hụt lao động kỹ thuật ở trình
độ cao
1.2.4 Về chương trình dạy nghề
a) Kết quả thực hiện
Trang 10Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành
có liên quan tổ chức biên soạn, phê duyệt, ban hành được 195 bộ chương trình khung trình độ CĐN, TCN liên thông giữa các trình độ đào tạo nghề
b) Đánh giá về quy định hiện hành
Luật Dạy nghề hiện hành quy định, các CSDN tự xây dựng chương trình của mình trên cơ sở chương trình khung do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Theo góp ý của nhiều chuyên gia (chiếm 84,8%), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần phải tổ chức xây dựng, ban hành các chương trình trọng điểm quốc gia, sử dụng các chương trình khu vực và quốc tế mà không cần ban hành chương trình khung cho các nghề này
1.2.5 Về đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề
a) Kết quả thực hiện
Trên cơ sở các quy định của Luật Dạy nghề và các văn bản hướng dẫn về giáo viên dạy nghề, trong những năm qua, đội ngũ giáo viên dạy nghề tăng khá nhanh về số lượng và chất lượng cũng dần được nâng cao
để đáp ứng yêu cầu dạy nghề 3 trình độ đào tạo
Hiện nay cả nước có 39.260 giáo viên dạy nghề tại các trường CĐN, TCN và trung tâm dạy nghề, (trong đó có: 14.277 giáo viên tại các trường CĐN, 10.874 giáo viên tại các trường TCN và 14.109 giáo viên tại các trung tâm dạy nghề) và có gần 16.000 giáo viên thuộc các cơ sở khác có tham gia dạy nghề, tăng 1,7 lần so với năm 2006
Chất lượng của đội ngũ giáo viên dần được bảo đảm (tại các trường CĐN, tỷ lệ giáo viên có trình độ tiến sĩ/thạc sĩ là 21,1%; đại học chiếm 63,4%, cao đẳng là 5,5% và trung cấp là 2,7% Tỷ lệ tương ứng tại các trường TCN là 6,1%; 53,9%;10,4% và 8,1%; tỷ lệ giáo viên đã qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề của các trường CĐN (đạt chuẩn nghiệp vụ sư phạm) chiếm 82,62%, của các trường TCN chiếm 65,95%, của các trung tâm dạy nghề là 51,71%; tại trường CĐN, tỷ lệ giáo viên bậc 4 hoặc tương đương là 19,06%, bậc 5 hoặc tương đương là 10,68%, bậc 6 hoặc tương đương là 5,02%, bậc 7 hoặc tương đương là 2,03%, nghệ nhân chỉ có 0,04% Tỷ lệ này ở trường TCN tương ứng là: 13,5%; 7,59%; 2,29%; 3,11% và 0,32% Hầu hết giáo viên dạy nghề tận
Trang 11tụy với nghề, có phẩm chất, đạo đức tốt, tích cực tham gia Hội giảng, Hội thi các cấp và các hoạt động chuyên môn Một số giáo viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và các giải thưởng cao quý khác, hàng ngàn giáo viên được công nhận giáo viên dạy giỏi các
cấp
b) Đánh giá về những quy định hiện hành
Mặc dù cũng đạt được nhiều kết quả khả quan như trên, nhưng quy định về giáo viên dạy nghề trong Luật Dạy nghề hiện hành còn khá nhiều bất cập Luật hiện hành không quy định rõ giữa nhà giáo dạy môn chung
và nhà giáo dạy nghề trong CSDN; không quy định trình độ kỹ năng nghề của giáo viên dạy nghề; thiếu những cơ chế để đánh giá, phân loại, giáo viên hàng năm; thiếu chính sách để thu hút giáo viên dạy nghề; thiếu những chính sách tôn vinh.v.v
1.2.6 Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề
a) Kết quả thực hiện
Công tác chuẩn hóa, hiện đại hóa trang thiết bị dạy nghề đã được quan tâm bằng việc ban hành các quy định về danh mục thiết bị tối thiểu cho các nghề đào tạo Đến nay đã ban hành được 9 danh mục thiết bị tối thiểu cho 9 nghề trình độ trung cấp và 9 nghề trình độ cao đẳng
b) Đánh giá quy định hiện hành
Tuy đã đạt được một số kết quả trên, song trong quy định của Luật hiện hành không có quy định nào về cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, một trong điều kiện quan trọng để đảm bảo chất lượng dạy nghề Đánh giá sự bất cập về cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề: 83,5% ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên và doanh nghiệp cho rằng rất bất cập; 14,2% cho rằng bất cập; chỉ có 2,3% cho rằng không bất cập
1.2.7 Về kiểm định chất lượng dạy nghề
a) Kết quả thực hiện
Tính đến 31/12/2012 đã kiểm định được 143 CSDN, trong đó: 75 trường CĐN, 41 trường TCN, 27 trung tâm dạy nghề; đã tổ chức đào tạo được 737 kiểm định viên chất lượng dạy nghề và 2.321 cán bộ tự kiểm định chất lượng dạy nghề
b) Đánh giá quy định hiện hành
Trang 12Luật hiện hành chỉ quy định việc kiểm định chất lượng dạy nghề đối với CSDN nhưng chưa quy định việc kiểm định từng chương trình đào tạo; chưa có tổ chức kiểm định độc lập, bên cạnh của Nhà nước Đánh giá
về quy định kiểm định chất lượng dạy nghề: 62,3% ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên và doanh nghiệp cho rằng rất bất cập; 34,2% cho rằng bất cập
1.2.8 Về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
b) Đánh giá quy định hiện hành
Theo quy định của Luật Việc làm vừa được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua, Chương này sẽ bị bãi bỏ khi Luật Việc làm có hiệu lực thi hành
1.2.9 Về thực hiện quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp
a) Kết quả thực hiện
Theo thống kê, hiện nay cả nước có khoảng 355 CSDN thuộc các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế, bao gồm: hơn 100 trường TCN, CĐN (trong đó có 47,57% trường ngoài công lập); còn lại khoảng 250 CSDN (trong đó có 67% ngoài công lập) và hàng trăm CSDN khác tham gia dạy nghề ngắn hạn Tuy nhiên, ngoài việc thành lập CSDN tại doanh nghiệp (chỉ có các doanh nghiệp nhà nước), việc tham gia hoạt động dạy nghề của doanh còn rất hạn chế do thiếu những cơ chế lợi ích và thiếu những chế tài
b) Đánh giá quy định hiện hành
Điều 55, 56 của Luật Dạy nghề hiện hành có quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề Tuy nhiên, đánh giá về những quy định này nhiều ý kiến, nhất là ý kiến của doanh nghiệp cho rằng không thể thực hiện được, vì quy định chung chung, thiếu cơ chế lợi ích bảo đảm cho doanh nghiệp tham gia dạy nghề, đây là yếu tố mấu chốt Kết quả khảo sát ý kiến về quyền và nghĩa vụ của doanh