Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần biết rõ số lượng và giá trị của mỗi loại tài sản ngắn hạn để sử dụng hợp lý và đạt hiệu quả cao.. Thông thường là phân chi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT
VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
SINH VIÊN THỰC HIỆN : VŨ HÀ PHƯƠNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT
VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới giáo viên hướng dẫn Thạc sỹ Vũ Lệ Hằng Cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, hỗ trợ em trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận này Em xin chân thành cảm ơn cô vì những kiến thức mà cô truyền đạt cho em, đó chắc chắn là những hành trang kiến thức quý báu cho em bước vào cuộc sống
Thông qua khóa luận này, em cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Kinh tế - Quản lý, các thầy cô giáo đang giảng dạy tại trường Đại học Thăng Long luôn tạo điều kiện cho chúng em có một môi trường học tập tốt
Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn đến các anh chị, cô chú cán bộ công nhân viên tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất và thiết bị Kim Ngưu đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu và tìm hiểu quá trình kinh doanh của Công ty để từ đó
có thể phân tích sâu sắc hơn trong bài khóa luận của mình
Do trình độ hiểu biết, kinh nghiệm và khả năng thực tiễn của em còn có hạn nên bài báo cáo thực tập không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của thầy cô giáo để bài khóa luận được hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Vũ Hà Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Vũ Hà Phương
Trang 5MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1
1.1 Tài sản ngắn hạn 1
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1
1.1.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn 2
1.1.3 Phân loại tài sản ngắn hạn 3
1.2 Tổng quan về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 5
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 5
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng 6
1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 6
1.2.4 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 7
1.2.5 Đánh giá cơ cấu TSNH và chính sách quản lý tài sản ngắn hạn (Chính sách quản lý TSNH cấp tiến, thận trọng, dung hòa) 10
1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu 15
1.3.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tổng quát 15
1.3.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá chung 18
1.3.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá từng bộ phận cấu thành 21
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 25
1.4.1 Các nhân tố chủ quan 25
1.4.2 Các nhân tố khách quan 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY CP XNK HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU 29
2.1 Tổng quan về Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu 29
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty 30
2.1.3 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của công ty 33
2.2 Thực trạng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu giai đoạn 2012-2014 34
Trang 62.2.1 Tình hình tài sản – nguồn vốn 34
2.2.2 Tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận 41
2.3 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu 48
2.3.1 Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty 48
2.3.2 Các chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của công ty 50
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty 55
2.4.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tổng quát 55
2.4.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 59
2.4.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá từng bộ phận cấu thành 64
2.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty 67
2.5.1 Kết quả đạt được 68
2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 68
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU 71
3.1 Định hướng hoạt động và phát triển của công ty 71
3.1.1 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động, phát triển của công ty 771 3.1.2 Định hướng hoạt động và phát triển cho công ty trong tương lai 72
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu 72
3.2.1 Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền 75
3.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng hàng tồn kho 78
3.2.3 Quản lý các khoản phải thu 82
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng cân đối tài sản năm 2013-2014 36
Bảng 2.2 Bảng cân đối nguồn vốn năm 2013-2014 40
Bảng 2.3 Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012-2014 42
Bảng 2.4 Tiền và các khoản tương đương tiền giai đoạn 2012-2014 51
Bảng 2.5 Các khoản phải thu giai đoạn năm 2012-2014 53
Bảng 2.6 Tình trạng hàng tồn kho năm 2013 - 2014 54
Bảng 2.7 Chỉ tiêu phản ảnh khả năng thanh toán ngắn hạn 55
Bảng 2.8 Chỉ tiêu phản ảnh khả năng thanh toán ngắn hạn ngành 55
Bảng 2.9 Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời 57
Bảng 2.10 Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của ngành 58
Bảng 2.11 Vòng quay tài sản ngắn hạn 60
Bảng 2.12 Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn 60
Bảng 2.13 Mức độ ảnh hưởng của ROS và Hiệu suất sử dụng TSNH lên ROCA 61
Bảng 2.14 Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn 63
Bảng 2.15 Vòng quay khoản phải thu 64
Bảng 2.16 Vòng quay hàng tồn kho 65
Bảng 2.17 Vòng quay các khoản phải trả 66
Bảng 2.18 Thời gian quay vòng tiền 67
Bảng 3.1 Số dư bình quân các khoản mục của Công ty năm 2014 73
Bảng 3.2 Tỷ lệ phẩn trăm các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu 74
Bảng 3.3 Bảng phân loại tồn kho trong công ty 80
Bảng 3.4 Tỷ trọng đầu tư vào các khoản mục hàng tồn kho của Công ty 81
Bảng 3.6 Danh sách các nhóm rủi ro 83
Bảng 3.7 Mô hình điểm tín dụng 84
Bảng 3.8 Đánh giá điểm tín dụng của Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại 84
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản của công ty giai đoạn 2012-2014 35
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn tại Công ty 39
Biểu đồ 2.3 Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu 48
Biểu đồ 2.4 Chỉ tiêu khả năng thanh toán của Công ty 55
Trang 9Biểu đồ 2.5 Sự thay đổi của ROCA giai đoạn 2012 - 2014 61Biểu đồ 3.1 Mô hình ABC 81 Hình 1.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn 13Hình 2.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của Công ty CP XNK hóa chất và thiết
bị Kim Ngưu 50
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu 30
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế cả nước hiện nay, ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam cũng đang có những bước đột phá cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Bối cảnh toàn cầu hóa là nguyên nhân, là tiền đề cho sự chuyển mình sâu sắc này, nó mang đến những tiềm năng to lớn nhưng đi đôi với đó cũng là rất nhiều thử thách Để tận dụng tốt nhất những “cơ hội vàng” cũng như vượt qua sự cạnh tranh gay gắt mà thị trường mở cửa mang lại, các doanh nghiệp của chúng ta phải đương đầu với bài toán, làm thế nào để nâng cao chất lượng sản phẩm, giữ vững uy tín, phát triển
hệ thống ngày càng được mở rộng nhưng tính kinh tế theo quy mô phải luôn tăng trưởng vững vàng và ổn định
Cũng như những doanh nghiệp khác, lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu mà Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất và thiết bị Kim Ngưu (Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu) đang hướng tới Điều này đỏi hỏi công ty phải luôn có những phương án nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, đặc biệt là tài sản ngắn hạn Với đặc thù sản phẩm chủ lực là hóa chất, sự lưu chuyển các tài sản ngắn hạn tại Công ty Kim Ngưu hết sức nhanh chóng và linh động, đòi hỏi phải có những biện pháp sử dụng hiệu quả dựa trên các chỉ tiêu tài chính chính xác, chặt chẽ Các chỉ tiêu này vừa là bộ khung nhưng cũng là thước đo đánh giá thích đáng mức độ hiệu quả của công tác quản lý tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của công tác sử dụng tài sản ngắn hạn kết hợp với quá trình thực tập tại công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu, em đã
đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất và thiết bị Kim Ngưu” cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất và thiết bị Kim Ngưu
Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất và thiết bị Kim Ngưu giai đoạn 2012-2014
3 Mục tiêu nghiên cứu
Một là trình bày cơ sở lý luận về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 11Hai là phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần xuất nhập hóa chất và thiết bị Kim Ngưu để từ đó đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong quá trình sử dụng tài sản ngắn hạn
Cuối cùng là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong khóa luận bao gồm phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tỷ lệ và phương pháp Dupont
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu
Trang 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tài sản ngắn hạn
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về tài sản ngắn hạn
Để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tư liệu sản xuất mà nó bao gồm hai bộ phận chính là tư liệu lao động và đối tượng lao động
Nếu như tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ đầu tiên cho tới khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất thì đối tượng lao động lại khác, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và sẽ được thay thể bởi những đối tượng lao động khác ở những chu kỳ tiếp theo
Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực thể của sản phẩm, một số khác lại bị mất đi như các loại nhiên liệu Bât kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có các đối tượng lao động Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Tón lại, tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kì của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kì kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là tài sản ngắn hạn
[1]
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, thường là từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần biết rõ số lượng và giá trị của mỗi loại tài sản ngắn hạn để sử dụng hợp lý và đạt hiệu quả cao
1.1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Vận động và luân chuyển không ngừng
TSNH tham gia vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh: dự trữ - sản xuất – lưu thông Quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tài sản ngắn hạn Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện Tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần
Trang 132
vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì tài sản ngắn hạn hòa thành một vòng chu chuyển
Có tính thanh khoản cao
TSNH dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp nà không tốn chi phí lớn nên cũng rất phức tạp và khó quản lý, tránh thất thoát
Được phân bố trong tất cả các khâu
TSNH được phân bổ trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất với tư cách là đối tượng lao động hoặc tư liệu lao động, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục và không bị gián đoạn, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản
Đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh số và sản xuất
Các khoản đầu tư TSNH thường có thể điều chỉnh tăng giảm tùy thuộc vào sự biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh nên có thể nhanh chóng ứng biên theo tình hình hoạt động của doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn
TSNH của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Tài sản ngắn hạn giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định và tránh lãng phí, tổn thất vốn, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản
Do vậy, TSNH là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh nhiệp Ngoài việc đầu tư cho các tài sản dài hạn như máy móc, nhà xưởng,… doanh nghiệp còn phải bỏ ra một khoản tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy có thể thấy TSNH là điều kiện tiên quyết cần có để doanh nghiệp thực hiệc hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường và liên tục Lượng TSNH có hợp lý đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản xuất
Bên cạnh đó, TSNH cũng là một công cụ giúp phản ánh quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp Nhu cầu lượng hàng hóa, vật tư dự trữ ở các khâu nhiều hay ít phản ánh nhu cầu TSNH TSNH luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số hàng hóa vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian luân chuyển và mức độ luân chuyển có hợp lý và đạt yêu cầu hay không Bở vậy thông qua sự vận động của
Trang 14tài sản ngắn hạn có thể đánh giá được hiện trạng sử dụng TSNH của doanh nghiệp có hợp lý hay không
Không những thế, TSNH còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được tự chủ trong việc sử dụng vốn, vì vật khi muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp thì cần có thêm một lượng vật tư hàng hóa nhất định để dự trữ và đưa và sản xuất Đặc biệt còn giúp cho doanh nghiệp nắm được các cơ hội kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
TSNH đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thanh toán và duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, giúp doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và góp phần chặn đứng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp
Vì vậy có thể nói TSNH góp phần quan trọng, giúp doanh nghiệp hoạt động bình thường và liên tục, ổn định TSNH là không thể thay thế được trong bất kì loại hình doanh nghiệp nào, thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào Do đó quản lý TSNH là hoạt động không thể thiếu trong quản lý doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh Doanh nghiệp cần phải thường xuyên phân tích tình hình TSNH và từ đó đưa
ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
1.1.3 Phân loại tài sản ngắn hạn
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà TSNH được phân chia theo các tiêu chí khác nhau Thông thường là phân chia theo hai cách với các tiêu chí sau đây:
Phân loại tài sản ngắn hạn theo vai trò của TSNH đối với quá trình sản xuất kinh doanh
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, TSNH được chia thành:
- Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán
- Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
- Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại
trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng dự trữ trong kho, hàng gửi bán, tài sản trong quá trình lưu thông như tiền mặt, các khoản nợ phải thu của khách hàng
Trang 154
Cách phân chia này giúp xác định tỷ trọng của TSNH trong từng khâu Do đó, nhà quản trị sẽ có những điều chỉnh kịp thời khi có những dấu hiệu bất ổn trong việc phân bổ TSNH ở từng khâu Đặc biệt là tại khâu lưu thông vì khi mà tỷ trọng TSNH trong khâu này tăng lên đồng nghĩ với việc doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn
Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Đây có thể nói là cách phân loại phổ biến trong các doanh nghiệp Việt Nam Tài sản ngắn hạn được phân loại dựa trên khả năng huy động cho việc thanh toán Theo cách phân loại này, TSNH bao gồm các thành phần sau:
- Tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng Tiền mặt được sử dụng để trả lương cho cán bộ công nhân viên, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
Tài sản tài chính ngắn hạn bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kì kinh doanh như tín phiếu kho Bạc, Kỳ phiếu ngân hàng, hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời
và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm
- Phải thu ngắn hạn
Các khoản phải thu ngắn hạn như phải thu của khách hàng, phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm
Trang 161.2 Tổng quan về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay đều phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế Có thể nói nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp Đó cũng là cơ sở để doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại và phát triển
Theo P.Samuelson và W.Nordhaus, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi không thể tăng sản lượng của một loạt hàng hoá này mà không cắt giảm một loạt hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó." Quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất
xã hội, việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao
Có tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỉ lệ giữa sự tăng lên của 2 đại lượng kết quả và chi phí Quan điểm này chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải hiệu quả của toàn bộ phần tham gia vào quá trình kinh tế
Có quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả
và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm này là Manfred Kuhn
"Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế, nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí
Hai tác giả Wohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau "Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí
Trang 176
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình sản xuất kinh doanh
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì những mục tiêu khác nhau như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, song tất cả các mục tiêu đó đều nhằm một mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Để đạt được mục tiêu này, tất cả các doanh nghiệp cần phải nỗ lực khai thác triệt để và có hiệu quả nguồn tài sản của mình Như vậy, có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một thước đo giúp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất Hay có thể hiểu rằng hiệu quả sử dụng TSNH chính là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được xét trong một kì kế toán nhất định
Để đảm bảo mục đích trên, doanh nghiệp cần phải có những chính sách sử dụng hợp lý, hiệu quả từng đồng TSNH, làm sao để TSNH mỗi năm mua được nhiều nguyên, nhiên,vật liệu được hơn, đồng thời tăng mức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ góp phần nâng cao doanh thu
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH
Quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ giai đoạn cung cấp dùng tiền
để mua nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, sau đó và tiến hành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Muốn cho quá trình sản xuất liên tục, doanh nghiệp cần có một lượng vốn lớn nhất định để đầu tư vào từng giai đoạn của quá trình sản xuất Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu như Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu thì TSNH đóng một vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụng các loại TSNH một cách hiệu quả
Để đạt được hiệu quả sử dụng TSNH đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cố gắng và
có nhưng chiến lược hợp lý từ khâu sản xuất tới khâu cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH là yêu cầu tất yếu, quan trọng của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Để phân tích được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp, thông tin
sử dụng cần phải chính xác và khách quan, đảm bảo mọi chỉ tiêu đều được tính toán một cách thuận tiện và dễ dàng nhất Có hai nguồn thông tin được sử dụng đó là nguồn thông tin đầu vào và nguồn thông tin đầu ra, trong đó, bao gồm “Bảng cân đối kế toán” với hệ thống khoản mục tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn và “Báo cáo kết quả kinh
Trang 18doanh” của doanh nghiệp” trong giai đoạn 2012-2014 Không chỉ giới hạn trong phạm
vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà còn mở rộng sang các thông tin chung về kinh
tế, thuế, tiền tệ; các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp, mà cụ thể là ngành hóa chất
1.2.4 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh
nghiệp
1.2.4.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu và được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu cần phân tích Để tiến hành so sánh cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính Như
sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh, mục tiêu so sánh
-Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để
so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước ) và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân
-Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch
-Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian
Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:
+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay đổi vềtài chính của doanh nghiệp
+So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệutrung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được
+So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ
Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, các kỹ thuật so sánh được sử dụng là:
So sánh bằng số tuyệt đối:
Số tuyệt đối: là số biểu hiện quy mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế nào đó ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế Nó là cơ sở để tính toán các loại số liệu khác
Trang 198
So sánh bằng số tuyệt đối: là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh tế kỳ phân tích so với gốc Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế
So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung:
+ So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung là kết quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích cới trị số kỳ gốc đã được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu phân tích có liên quan theo hướng quyết định quy mô
So sánh bằng số tương đối:
+ Số tương đối hoàn thành kế hoạch tính theo tỷ lệ: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Nó phản ánh tỷ lệ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu kinh tế
Số tương đối hoàn thành kế hoạch =
Chỉ tiêu kỳ phân tích
x 100% Chỉ tiêu kỳ gốc
So sánh số tương đối hoàn thành kế hoạch vừa tính được với 100%
+ So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là dạng đặc biệt của số tương đối, nó biểu hiện tính chất và đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thế chung nào đó có cùng một tính chất
1.2.4.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên
ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 20+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp
1.2.4.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp phân tích dùng để xác định mức
đô ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu phân tích
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố được xác định bằng cách thay thế lần lượt và liên tục các yếu tố giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu thay đổi Từ đó xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đối đối tượng kinh tế nghiên cứu Để áp dụng phân tích các hoạt động kinh tế cần thực hiện theo trình tự nội dung sau:
- Trước hết, phải biết đựơc số lượng các nhân tốt ảnh hưởng, mối quan hệ của chung với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính của chỉ tiêu
- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trình tự này
- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên - Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn các nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch - Thay thế xong một nhân
tố, phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó, lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế
- Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch hoặc kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)
- Ví dụ khái quát như sau:
Giả định chỉ tiêu A cần phân tích; A tuỳ thuộc vào 3 nhân tố ảnh hưởng, theo thứ
tự a, b và c; các nhân tố này có quan hệ tích số chỉ tiêu A, từ đó chỉ tiêu A được xác
định cụ thể như sau: A = a b c
Trang 21Đối tượng cụ thể của phân tích được xác định là: A 1 - A 0 = ΔA
Chênh lệch nói trên có thể được giải thích bởi ảnh hưởng của ba nhân tố cụ thể
là a, b và c; bằng phương pháp thay thế liên hoàn, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lần lượt được xác định như sau:
Thay thế lần 1: Thay thế nhân tố a:
a 1 b 0 c 0 - a 0 b 0 c 0 = Δa
Δa là ảnh hưởng của nhân tố a
Thay thế lần 2: Thay thế nhân tố b
a 1 b 1 c 0 - a 1 b 0 c 0 = Δb
Δb là kết quả ảnh hưởng của nhân tố b
Thay thế lần 3: Thay thế nhân tố c
a 1 b 1 c 1 - a 1 b 1 c 0 = Δc
Δc là nhân tố ảnh hưởng của nhân tố c
Tổng hợp ảnh hưởng của ba nhân tố:
Δa + Δb + Δc = ΔA = A 1 - A 0
Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích, được sử dụng kết hợp nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất
1.2.5 Đánh giá cơ cấu TSNH và chính sách quản lý tài sản ngắn hạn (Chính sách
quản lý TSNH cấp tiến, thận trọng, dung hòa)
1.2.5.1 Cơ cấu TSNH
Bên cạnh việc so sánh sự biến động TSNH giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, còn cần phải phân tích xem tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số TSNH và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý của việc phân
bổ Qua việc xem xét cơ cấu tài sản và sự biến động về cơ cấu tài sản của nhiều kỳ kinh doanh, có thể dễ dàng hơn trong việc chọn ra các quyết định như đầu tư vào loại tài sản nào là thích hợp, đầu tư và thời điểm nào
Trang 22Cơ cấu TSNH là tỷ trọng của các TSNH như: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, TSNH khác,… so với tổng TSNH có trong doanh nghiệp Từ tỷ trọng này, doanh nghiệp sẽ đưa ra các nhận định về mức độ sử dụng hiệu quả TSNH, đồng thời thấy được mức chên lệch giữa các khoản mục Ở các doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu TSNH cũng không giống nhau Việc phân tích cơ cấu TSNH theo cách các khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về những đặc điểm riêng của TSNH mình đang quản lý, từ đó có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
Mặt khác, thông qua việc đánh giá, tìm hiểu sự thay đổi cơ cấu TSNH trong những thời kỳ khác nhau có thể cho thấy những chuyển biến tích cực cũng như tiêu cực trong công tác quản lý TSNH của doanh nghiệp
Tỷ trọng tiền các khoản tương đương tiền (K)
K = Tiền và các khoản tương đương tiền x 100%
Tổng TSNH Tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới dạng giá trị, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả thuế, trả nợ,… Đây là một loại tài sản đặc biệt, nó là loại tài sản có tính lỏng cao nhất, được sử dụng tức thời để đáp ứng như cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra Ngoài ra tiền mặt là loại tài sản có
tỷ lệ sinh lời thấp thậm chí tiền giấy tại quỹ và tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng có tỷ lệ sinh lời bằng không
Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng TSNH của doanh nghiệp thì khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền chiếm bao nhiêu phần trăm Chỉ tiêu này càng lớn chứng
tỏ lượng tiền công ty đang nắm giữ càng đáp đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, thuận lợi trong hoạt động đầu tư, chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp cao Tuy nhiên nếu tiền và các khoản tương đương tiền quá lớn cũng sẽ không tốt bởi khi đó khả năng sinh lời thấp khiến cho việc sử dụng TSNH không hiệu quả, khả năng xảy ra gian lận, rủi ro, mất mát càng cao
Ngược lại, nếu chỉ tiêu này quá nhỏ thì doanh nghiệp cũng gặp phải những hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh như khả năng thanh toán nhanh thấp Do đó, doanh nghiệp cần phân tích tỷ trọng này và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm xác định lượng dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền một cách hợp lý
Tỷ trọng các khoản phải thu của doanh nghiệp
Tỷ trọng các khoản phải thu =
Giá trị các khoản phải thu KH
x 100%
Tổng TSNH
Trang 2312
Các khoản phải thu của doanh nghiệp có nhiều loại, trong đó chủ yếu là các khoản phải thu người mua và trả trước cho người bán Ngoài ra còn có một số khoản khác như thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác
và dự phòng các khoản phải thu khó đòi Có nhiều loại chi phí phát sinh như chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ khi các khoản phải thu tăng lên và rủi ro khách hàng không trả được nợ, rủi ro này càng lớn khi thời gian cấp tín dụng càng dài
Tỷ trọng các khoản phải thu cho biết các khoản phải thu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng TSNH của doanh nghiệp Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ doanh nghiệp đang quản lý tốt các khoản nợ phải thu, có chính sách bán hàng và thu nợ hợp lý Ngược lại, nếu chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn nhiều, làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp
Khoản phải thu này tăng hoặc giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau và rất khó nắm bắt Vì thế nhà quản trị cần theo dõi sát sao các khoản phải thu của doanh nghiệp,
có những chính sách quản lý chặt chẽ trong khâu thanh toán Xem xét kỹ năng lực tài chính của khách hàng và tình hình thanh toán của khách hàng trước khi đưa ra quyết định cấp tín dụng
Tỷ trọng hàng tồn kho của doanh nghiệp
Tỷ trọng hàng tồn kho =
Giá trị hàng tồn kho
x 100%
Tổng TSNH Trong quá trình luân chuyển TSNH phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Dự trữ tồn kho bao gồm: hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ trong kho, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm tồn kho, hàng hóa gửi bán, dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết giá trị hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng TSNH của doanh nghiệp
Để quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và không bị gián đoạn, đòi hỏi doang nghiệp phải xác định được lương hàng tồn kho dự trữ hợp lý Lượng hàng tồn kho dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa không gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn Một doanh nghiệp có hệ thống cung cấp tốt sẽ giảm được lượng hàng tồn kho mà không ảnh hưởng đến tính liên tục của quá trình kinh doanh
Tuy nhiên giá trị của chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp (sản xuất hay kinh doanh thương mại) và chính
Trang 24sách dự trữ cũng như tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp Phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cũng cần xem xét trong mối tương quan với sự tăng trưởng của doanh nghiệp Một doanh nghiệp hoạt động ở thị trường mới bùng nổ và doanh thu của doanh nghiệp tăng nhiều năm có thể dẫn đến gia tăng dự trữ hàng tồn kho để đáp ứng cầu nhu của thị trường.Ngược lại, trong giai đoạn kinh tế suy thoái thì tỷ trọng hàng tồn kho có xu hướng giảm Khi hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSNH và có xu hướng tăng cho thấy lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp là lớn, kéo theo các loại chi phí sẽ tăng theo, đồng thời khả năng tiêu thụ sản phẩm giảm và trựn tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSNH Ngược lại nếu hàng tồn kho chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm có nghĩa là doanh nghiệp dự trữ quá ít hàng và sẽ không có khả năng đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của khách hàng, đánh mất cơ hội kinh doanh và cũng khiến hiệu quả sử dụng TSNH giảm
Các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần thường xuyên xác định và so sánh các chỉ tiêu tài chính căn bản theo thời gian hoặc so với mục tiêu cần đạt được để đánh giá thực trạng và diễn biến tình hình tài chính của doanh nghiệp hàng năm Nhất là khi đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSNH
1.2.5.2 Chính sách quản lý TSNH cấp tiến
[2]
Sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản cấp tiến và quản lý nợ cấp tiến tạo nên chính sách tài sản ngắn hạn cấp tiến Với chính sách này, doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn tài sản ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định, duy trì TSNH ở mức thấp nhất Việc dùng nguồn vốn huy động với chi phí thấp, thời gian ngắn để đầu tư vào những tài sản có giá trị lớn và thời gian thu hồi dài sẽ ảnh hưởng đến cân bằng tài
Trang 2514
chính của doanh nghiệp, nó làm cho cân bằng tài chính kém bền vững và mất an toàn
do không có dự cân bằng giữa tài sản và nguồn tài trợ của nó Vì vậy doanh nghiệp sẽ gặp phải vấn đề mất khả năng thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên ưu điểm của chính sách này là chi phí huy động tài sản thấp hơn, thời gian quay vòng tiền được rút ngắn Tóm lại, với chính sách này, chi phí thấp đem lại cho doanh nghiệp thu nhập cao và rủi
ro cao, vì thế kỳ vọng cũng tăng cao
1.2.5.3 Chính sách quản lý TSNH thận trọng
Chính sách này là sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản thận trọng và quản lý
nợ thận trọng Doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, duy trì TSNH ở mức cao nhất Do đó cân bằng tài chính trong trường hợp này là bền vững và doanh nghiệp sẽ không gặp phải cấn đề mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như: khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn tài sản cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên, doanh nghiệp lại mất chi phí huy động tài sản cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn, thời gian quay vòng tiền dài Tóm lại, với chính sách này, doanh nghiệp có mức rủi ro thấp nhưng mang lại thu nhập cũng thấp
1.2.5.4 Chính sách quản lý TSNH dung hòa
Để dung hòa giữa rủi ro và thu nhập, doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lý tài sản cấp tiến với quản lý nợ thận trọng Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: TSNH được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn ngắn hạn và TSCĐ được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn Hay cũng có thể nói doanh nghiệp cố gắng duy trì nguồn TSNH bằng nguồn tài sản dài hạn Với chính sách này, gần như doanh nghiệp
sẽ không gặp phải rủi ro nào Do đó sự cân bằng về thời gian giữa tài sản và nguồn vốn Tuy nhiên hầu như không một doanh nghiệp nào áp dụng được chính sách này Trên đây là các mô hình cơ bản về ba chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách tài sản ngắn hạn riêng và việc quản lý tài sản ngắn hạn tại mỗi doanh nghiệp sẽ mang những đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, nội dung chính của quản lý tài sản ngắn hạn vẫn là quản lý các
bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn
Trang 261.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu
1.3.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tổng quát
1.3.1.1 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn là năng lực đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán trong thời gian ngắn hạn của doanh nghiệp Các chỉ số này xác định năng lực đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn của doanh nghiệp Với dòng tiền đủ lớn, doanh nghiệp có thể trang trải các nghĩa vụ tài chính của mình, nhờ vào đó mà doanh nghiệp sẽ không lâm vào tình trang kiệt quệ tài chính hay vỡ nợ Chỉ số đo lường khả năng thanh toán phổ biến nhất là hệ số thanh toán hiện hàng và hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán hiện hành
Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành
Hệ số thanh toán hiện hành =
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hay có thể nói, 1 đồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Hệ số này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp Hệ số thanh toán hiện hành càng cao thì doanh nghiệp càng được các nhà đầu tư tin tưởng
Nếu hệ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp đang ở mức báo động và có dấu hiệu khó khăn về tài chính Nếu hệ số này lớn hơn 1, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản
nợ Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu
tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn, hay nói cách khác việc quản lý TSNH không hiệu quả
Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn Trong các tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho có độ rủi ro cao (dễ gặp khó khăn trong vấn đề tiêu thụ, giá trị hàng tồn kho hàng kì thường chỉ là đánh giá chủ quan của doanh nghiệp) nên các nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh Vì thế
có thể nói hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành
Trang 2716
mạnh không Nếu một công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và, cần phải rất cẩn trọng khi đầu tư vào những công ty như vậy Phân tích sâu hơn nữa, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán ngay rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho, đây là một ví dụ của các công ty bán lẻ Trong trường hợp này tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp Ngoài ra cần phải so sánh hệ số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước để nhận diện xu hướng biến động, so sánh với hệ số của doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan cạnh tranh
Khả năng thanh toán tức th i
Hệ số thanh toán tức thời =
Tiền + Các khoản tương đương tiền
∑Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán tức thời là một chỉ tiêu thể hiện khả năng sử dụng tiền mặt
và các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đơn vị tiền và các khoản tương đương tiền
Nếu chỉ tiêu này cao, doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ nhanh chóng do giữ lượng lớn TSNH dưới dạng tiền mặt và đầu tư tài chính ngắn hạn, tuy nhiên nếu lượng tiền mặt dự trữ quá lớn sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, giảm khả năng sinh lời Ngược lại, nếu chỉ tiêu này quá thấp, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn để đáp ứng các khoản nợ
Tuy nhiên khó có thể nói khả năng thanh toán tức thời cao hay thấp ở mức nào là tốt hay không tốt Vì chỉ tiêu này phụ thuộc vào các khoản phải thu và dự trữ mà nó phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp và của người phân tích
1.3.1.2 Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả
Hệ số hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số luân chuyển hay hệ số hiệu quả do đó khi phân tích hệ số này thì cần phân tích các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh l i
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Trang 28Tỷ suất sinh lời trên doanh thu được xác định bằng công thức:
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Chỉ tiêu ROS cho biết khả năng tạo lợi nhuận từ doanh thu, phản ánh cứ 1 đồng doanh thu thuần thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROS càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có các biện pháp quản lý chi phí hiệu quả Khi so sánh tỷ suất giữa các năm, sự biến động của tỷ suất này phản ánh sự biến động về hiệu quả ảnh hưởng các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm
Ý nghĩa: Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỉ số càng lớn có nghĩa là lãi càng lớn Tỷ số này mang giá trị âm có nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA được tính bằng công thức sau:
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản
Từ đó có thể thấy ROA là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận đầu tư tài sản, phản ánh 1 đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROA càng cao chứng tỏ hiệu quả sản xuất của tài sản càng cao, hay có thể nói doanh nghiệp
sử dụng tài sản có hiệu quả Để có được cái nhìn khách quan và chính xác, cần so sáng chỉ số này với các doanh nghiệp cùng ngành hoặc tỷ lệ chung của ngành
Ý nghĩa: Nếu tỷ số này lớn hơn 0, có nghĩa doanh nghiệp đang làm ăn có lãi Tỷ
số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản
để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
Theo phương pháp DuPont (1 chỉ số được tách thành 2 hay nhiều chỉ số khác) thì ROA được tính bằng:
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu thuần
Doanh thu thuần Tổng tài sản Như vậy, ROA chịu tác động của 2 yếu tố là ROS và số vòng quay tổng tài sản
Để tăng ROA, doanh nghiệp cần thay đổi hợp lý 2 yếu tố trên Để đánh giá chính xác ROA, cần so sánh với bình quân hoặc với các doanh nghiệp tương tự cùng ngành do
Trang 2918
chỉ số này phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc điểm kinh doanh từng ngành nghề khác nhau
Tỷ suất sinh lời trên tài sản chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên tài sản chủ sở hữu đo khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản
cổ phần phổ thông, phản ánh 1 đồng tài sản cổ đông tạo ra bao nhiêu lợi nhuận sau thuế ROE càng cao chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh
Ý nghĩa: Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi, nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ
ROE =
Lợi nhuận sau thuế Tài sản chủ sở hữu ROE còn được tính bằng:
1.3.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá chung
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (Số vòng quay TSNH)
Chỉ tiêu này còn được gọi là số vòng quay tổng tài sản ngắn hạn, là thước đo khái quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Công thức tính là:
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần
Tổng tài sản ngắn hạn
Tỷ số này cho biết mỗi đồng tài sản ngắn hạn tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu Hay có thể nói các tài sản quay được bao nhiêu vòng Giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (doanh thu thuần) và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong một kỳ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Khi phân tích chỉ tiêu này, cần xem xét kĩ ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài sản của doanh nghiệp để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý nhằm tăng tốc độ quay vòng của tài sản
Trang 30Tỷ suất sinh l i trên tài sản ngắn hạn (ROCA)
Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn (ROCA) đo khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản ngắn hạn, phản ánh 1 đồng tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Doanh nghiệp được đánh giá sử dụng TSNH tốt hay kém một phần là do chỉ tiêu này phản ảnh
ROCA = Lợi nhuận sau thuế
Tài sản ngắn hạn
Mô hình Dupont là một kỹ thuật được dùng để phân tích khả năng sinh lời của
mọt doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, mô hình Dupont được vận dụng để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính để phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân chỉ tiêu cần phân tích theo một trình tự nhất định
Theo đó ROCA được tính bằng:
x Doanh thu thuần Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn Như vậy, ROCA chịu tác động của hai yếu tố là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và
số vòng quay tài sản ngắn hạn
Thứ nhất là hiệu suất sử dụng số vòng quay tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ sức sản xuất của các tài sản ngắn hạn càng nhanh, đó là nhân tố tăng sức sinh lời của tài sản ngắn hạn, cụ thể hơn số vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn lại bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố là tổng số luân chuyển thuần và tài sản ngắn hạn Nếu tổng số luân chuyển thuần lớn và tài sản ngắn hạn nhỏ thì số vòng quay lớn Tuy nhiên trong thực
tế hai chỉ tiêu này thường có mối quan hệ cùng chiều, khi tài sản ngắn hạn tăng thì tổng số luân chuyển thuần cũng tăng ví dụ như khi doanh nghiệp nới lỏng hơn chính sách tín dụng thương mại, dẫn đến khoản phải thu khách hàng tăng, hàng tồn kho tăng
và doanh thu thuần cũng tăng lên… Trên cơ sở đó, nếu doanh nghiệp muốn tăng vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn thì cần phân tích các nhân tố liên quan phát hiện những mặt tích cực và tiêu cực của từng nhân tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản ngắn hạn thích hợp
Trang 3120
Thứ hai là, tỷ suất sinh lời trên doanh thu càng cao thì sức sinh lời của tài sản ngắn hạn càng tăng Tuy nhiên có thể thấy rằng sức sinh lời của doanh thu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là doanh thu và chi phí, nếu doanh thu cao và chi phí thấp thì tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng và ngược lại Tuy nhiên, trong thực tế khi doanh nghiệp tăng doanh thu thì kéo theo mức chi phí cũng tăng lên như chi phí giá vốn, chi phí quản lý, chi phí bán hàng… Chính vì vậy, để có thể tăng được tỷ suất sinh lời trên doanh thu, doanh nghiệp cần nghiên cứu những nhân tố cấu thành nên tổng chi phí để
có các biện pháp điều chỉnh phù hợp, đồng thời có các biện pháp đẩy nhanh tốc độ bán hàng, tăng doanh thu và giảm các khoản giảm trừ doanh thu
Có thể thấy phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bằng mô hình Dupont
có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản
lý của doanh nghiệp
Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn
Mức tiết kiệm TSNH là lượng tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp tiết kiệm được
do tăng tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn ở kỳ này so với kỳ trước Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn do tăng tốc độ luân chuyển được thể hiện qua hai chỉ tiêu:
Mức tiết kiệm tuyệt đối
Nếu quy mô doanh nghiệp không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH
đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng TSNH rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác Nói cách khác, do mức luân chuyển TSNH không thay đổi nhưng
do tăng tốc độ luân chuyển TSNH nên doanh nghiệp cần ít vốn hơn cũng như có thể tiết kiệm một lượng TNSH Lượng TSNH doanh nghiệp tiết kiệm được được tính theo công thức:
Trong đó: : Tài sản ngắn hạn tiết kiệm tuyệt đối
M0 : Doanh thu thuần kỳ trước
V0, V1 : Vòng quay tài sản ngắn hạn kỳ trước và kỳ này (V1> V0)
Trang 32Mức tiết kiệm tương đối
Nếu quy mô doanh nghiệp được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm TSNH hoặc bỏ ra số TSNH ít hơn so với trước Lượng TSNH doanh nghiệp tiết kiệm được là mức tiết kiệm tương đối, được tính theo công thức:
Trong đó: : Tài sản ngắn hạn tiết kiệm tương đối
M1 : Doanh thu thuần kỳ này
V0, V1 : Vòng quay tài sản ngắn hạn kỳ trước và kỳ này (V1>
V0)
Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn
Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn để phản ánh số ngày thực hiện một vòng quay TSNH Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ tốc độ thu hồi TSNH của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Công thức:
K = 365
V Trong đó: K : Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn
V : Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ
1.3.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá từng bộ phận cấu thành TSNH
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá thời gian quay vòng là các hệ số đo lường khả năng quay vòng tài sản của doanh nghiệp Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả
Hệ số hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số luân chuyển hay hệ số hiệu quả do đó khi đi phân tích hệ số này cần phân tích các chỉ tiêu sau:
Vòng quay khoản phải thu
Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu tiền do thực hiện chính sách bán chịu cho khách hàng và các khoản tạm ứng chưa thanh toán do thực hiện các khoản trả trước cho người bán
Vòng quay các khoản phải thu là một chỉ tiêu cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp đã áp dụng với khách hàng Công thức:
Trang 3322
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần Bình quân các khoản phải thu Trong đó bình quân các khoản phải thu được tính bằng công thức:
Bình quân các khoản phải thu = Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ
2 Khi khách hàng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn thì có nghĩa các khoản phải thu đã quay được một vòng Chỉ số vòng quay càng cao cho thấy doanh nghiệp càng được khách hàng trả nợ nhanh, đồng nghĩa với việc vốn bị chiếm dụng giảm Nhưng cũng cần phải so sánh với doanh nghiệp cùng ngành để có những chiến lược cạnh tranh tín dụng hợp lý
Thời gian thu nợ trung bình được tính bằng công thức:
Thời gian thu nợ trung bình = 360
Vòng quay các khoản phải thu Thời gian thu nợ trung bình cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày thì doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản phải thu của mình Như vậy có thể thấy chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì thời gian thu nợ bình quân càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu nợ bình quân cao hay thấp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp Tuy nhiên với đa số doanh nghiệp thì chỉ tiêu này càng thấp càng tốt và ngược lại
Trang 34Bình quân giá trị hàng lưu kho = Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ
2 Chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào Chỉ
số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao thì cũng không tốt vì chứng tỏ lượng hàng dữ trữ trong kho không nhiều, nếu như cầu thị trường tăng đột biến thì doanh nghiệp sẽ không có khả năng kịp thời đáp ứng như cầu của khách hàng và có nguy cơ mất khách hàng Bên cạnh đó, nếu dữ trữ không đủ nguyên nhiên vật liệu để đáp ứng cho sản xuất thì sản xuất sẽ bị ngưng trệ,
vì vậy cần duy trì lượng hàng tồn kho đủ lớn để đảm bảo cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Thời gian luân chuyển kho trung bình = 360
Vòng quay hàng tồn kho Bên cạnh việc xem xét vòng quay hàng tồn kho, nhà quản trị cũng cần xem xét thời gian luân chuyển kho trung bình (hay còn gọi là thời gian quay vòng hàng tồn kho) để có những chính sách bán hàng hợp lý Thời gian luân chuyển kho trung bình cho biết cứ bao nhiêu ngày thì lượng hàng tồn kho lại được quay vòng một lần Hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càn bán được nhiều hàng Tuy nhiên, trong quá trình phân tích đánh giá cũng cần xem xét cụ thể những yếu tố khác để có nhận xét khách quan hơn
Thời gian lưu kho trung bình = 360
Hệ số lưu kho Cũng giống với thời gian luân chuyển kho trung bình, thời gian lưu kho trung bình sẽ cho nhà quản trị biết tình hình bán hàng của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các chính sách hợp lý Thời gian lưu kho trung bình là khoảng thời gian trung bình hàng hóa được lưu giữ trong kho Thòi gian lưu kho được kéo dài đồng nghĩa hệ số lưu kho thấp, hàng tồn kho nhiều, vòng quay tiền bị kéo dài Mức dự trữ kho lớn cũng làm cho doanh nghiệp tốn chi phí lưu kho, bảo quản hàng hóa và ngược lại Vì thế doanh
nghiệp cần duy trì chỉ số này thấp
Vòng quay các khoản phải trả
Vòng quay các khoản phải trả = GVHB
Bình quân phải trả người bán
Trang 3524
Trong đó bình quân các khoản phải trả người bán được tính bằng công thức:
Bình quân phải trả người bán= Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ
2 Vòng quay các khoản phải trả cho biết số lần trả nợ của doanh nghiệp trong một chu kỳ kinh doanh, hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng được các khoản nợ dài Tuy nhiên nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Lợi ích của việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
Thời gian trả nợ trung bình = 360
Hệ số trả nợ Thời gian trả nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày
để trả nợ Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp tốt Tuy nhiên chiếm dụng quá lâu có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác
Th i gian quay vòng tiền
Thời gian quay vòng tiền mặt phản ánh khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa đầu vào cho tới khi doanh nghiệp thu được tiền về
Thời gian
quay vòng tiền mặt =
Kỳ thu tiền bình quân +
Thời gian quay vòng hàng lưu kho
- Kỳ trả tiền bình quân Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả Thời gian quay vòng tiền ngắn chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ Tuy nhiên cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động
Hầu hết các doanh nghiệp đều mong muốn có thời gian quay vòng tiền ngắn do chỉ khi nào dòng tiền thực sự quay trở lại doanh nghiệp, kinh doanh mới thực sự đạt hiệu quả trên thực tế và thời gian quay vòng tiền càng ngắn, doanh nghiệp thu hồi tài sản càng nhanh Tuy nhiên, để làm được điều đó các doanh nghiệp buộc phải cung cấp chính sách tín dụng thương mại thắt chắt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng tài sản
Trang 36của khách hàng Điều này dẫn tới những ảnh hưởng không có lợi trong mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính, ngoài việc phân tích các chỉ tiêu, nhà quản trị doanh nghiệp cũng phải xác định và xem xét các nhân tố tác động để
từ đó có cái nhìn khái quát nhất Có nhiều nhân tố ảnh hưởng nhưng về cơ bản có thể chia các nhân tố đó thành góc độ nghiên cứu là chủ quan và khách quan
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm bên trong nội tại doanh nghiệp, thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp, có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng Đây chính là nhân tố đánh giá trình độ quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn, là nhân tố chính tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Nhân tố con ngư i
Để tiến hành hoạt động sản xuất thì không thể thiếu nhân tố con người, nhân tố con người thể hiện ở hai mặt quản lý và lao động
Vai trò của nhà quản lý thể hiện thông qua khả năng kết hợp một cách tối ưu các yếu tố sản xuất để tạo ra lợi nhuận cao với chi phí thấp nhất Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, nhà quản lý sẽ là người phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, để từ đó có những giải pháp tối ưu cho doanh nghiệp Ngoài ra vai trò của nhà quản lý còn thể hiện qua sự nắm bắt các cơ hội kinh doanh và tận dụng nó một cách hiệu quả nhất Nếu nhà quản lý thực hiện tốt vai trò của minh sẽ làm cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, kết quả hoạt động tốt, hiệu quả sử dụng vốn cao
Vai trò của người lao động thể hiện ý thức trách nhiệm và lòng nhiệt tình trong công việc, bên cạnh đó là tay nghề chuyên môn cao và am hiểu về quy trình sản xuát của doanh nghiệp Người lao động nếu hội tụ đầy đủ các yếu tố này sẽ góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp
Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là yếu tố quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn Để đi vào sản xuất
Trang 3726
thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi tài sản càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Đây cũng là một nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc chọn mua những nguyên vật liệu tốt thì việc doanh nghiệp có được những thiết bị máy móc tốt phục vụ cho quy trình sản xuất kinh doanh cũng sẽ góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp tạo
ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng Một doanh nghiệp có những trang thiết bị tốt
sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn Cùng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào trang thiết bị tốt, máy móc đưa vào dây chuyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn và giảm đáng kể các rủi ro trong quá trình sản xuất Ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng TSNH không cao
1.4.2 Các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là các nhân tố từ bên ngoài tác động vào toàn bộ thị trường nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, các nhân tố này nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp vì thế rất khó để nắm bắt Doanh nghiệp cần phải linh động điều chỉnh các chính sách sao cho phù hợp với thị trường
Chính sách pháp lý của nhà nước
Hệ thống pháp luật được đặt ra nhằm quản lý và điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các quy định do nhà nước đặt ra một phần trực tiếp và gián tiếp sẽ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động phải tuân theo quy định của pháp luật về thuế, về lao động, bảo vệ môi trường,
an toàn lao động
Nếu doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực được nhà nước khuyến khích thì họ
sẽ được tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển và ngược lại Ngoài ra trong điều kiện cơ chế thị trường, chỉ một sự thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý của nhà nước sẽ làm ảnh hưởng lớn đến đến hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, nếu nhà nước tạo ra
cơ chế chặt chẽ, đồng bộ ổn định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng
Trang 38Môi trư ng kinh tế
Nhân tố này là tổng hợp của các yếu tố như tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mức độ thất nghiệp hay lãi suất ngân hàng…tác động tới tốc độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua đó nó tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng
Khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển, doanh nghiệp sẽ làm ăn thuận lợi hơn Luồng tiền vào doanh nghiệp tăng, phải thu giảm Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái
số lượng hàng hóa bán được giảm đi, tồn kho tăng lên Do vậy các nhà quản trị cần phải theo dõi sự biến động của nến kinh tế để có điều chỉnh kịp thời
Thị trường tài chính lại là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hang hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia đồng thời cũng thhúc đẩy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Vì thế vấn đề sống còn của một doanh nghiệp là làm sao để có khả năng chiến thắng các đối thủ cạnh tranh Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều người mua Từ đó sẽ nẩy sinh không ít rắc rối về vấn đề cải thiện chất lượng, nâng cao dịch vụ nhưng không làm gia tăng quá nhiều chi phí Đây là một bài toán khó đối với các nhà quản trị
Nhu cầu của khách hàng
Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao, mẫu mã như thế nào Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm Những doanh nghiệp mà đội ngũ nhân viên khéo léo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vào thị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh
Thuế nhập khấu
Thuế nhập khẩu càng cao thì giá trị hàng hóa sẽ bị đội lên đo đó làm hạn chế sức cạnh tranh của mặt hàng của doanh nghiệp Ngược lại, thuế nhập khẩu giảm, chi phí cho việc nhập khẩu sẽ thấp làm tăng lợi nhuận nhập khẩu Do vậy, hiệu quả thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp được cải thiện Chính phủ cần điều chỉnh thuế như thế nào để dung hòa được lợi ích của các chủ thể kinh tế: người tiêu dùng, doanh nghiệp và nhà
Trang 39Kết luận chương 1: Trong chương 1, những lý luận cơ bản về TSNH cùng một
số vấn đề liên quan tới hiệu quả sử dụng TSNH trong DN đã được đề cập Phần đầu chương tập trung làm rõ khái niệm TSNH thông qua tìm hiểu các đặc điểm, vai trò và cách phân loại TSNH Phần tiếp theo đề cập đến hiệu quả sử dụng TSNH trong DN, xem xét các chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Phần cuối chương là những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng TSNH trong DN
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN
HẠN TẠI CÔNG TY CP XNK HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất và thiết bị kim ngưu
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Vài nét về Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu
Tên công ty :Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thiết bị và hóa chất Kim Ngưu
Tên giao dịch :Kimnguu Instrument & Chemical Im-Ex Joint Stock Company
Tên viết tắt :KIMMEX JSC
Lĩnh vực KD :Thiết bị thí nghiệm và hóa chất
Trụ sở chính :Số 85 Đức Giang, Long Biên, Hà Nội
VP giao dịch :Số 9 ngõ 51 Lãng Yên, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Thành lập :Tháng 6/2000
Vốn điều lệ :30 tỷ đồng Việt Nam
Mã số thuế :0101515887 Điện thoại :+ 84.4.39842258
4 Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cung cấp thiết bị phòng thí nghiệm hoá chất tinh khiết, hoá chất công nghiệp Tiền thân của công ty chỉ là cửa hàng kinh doanh thiết bị, hoá chất hoạt động trên 10 năm tại số 40 Kim Ngưu do ông Nguyễn Đức Việt, một người có nhiều kinh nghiệm trong ngành điều hành
Ngày 30 tháng 06 năm 2004, Công ty CP XNK Hóa chất và thiết bị Kim Ngưu được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0101515887 tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội Với mục tiêu tăng trưởng thị phần và
đa dạng hoá ngành nghề hoạt động kinh doanh, Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Hoá chất và Thiết bị Kim Ngưu (gọi tắt tên cty là KIMMEX JSC, Tên sản phẩm đăng ký nhãn hiệu VIETCHEM) được thành lập theo hình thức công ty cổ phần thay thế cho