Chỉ được khởi động vào đầu năm 2002 khi mà HAPACO phát hành một đợt cổ phiếu với số lượng một triệu cổ phiếu mới Đến năm 2002 thì đã có tới 17 công ty niêm yết nhưng ngoài HAPACO mới
Trang 1Giáo viên hướng dẫn:
TS Thân Thị Thu Thủy
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG
CỔ PHIẾU VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện (nhóm 4)
1 Khuất Thị Minh Thu
Trang 2www.themegallery.com
Trang 3LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG
CỔ PHIẾU
www.themegallery.com
Trang 41.2 Đặc điểm của cổ phiếu
Trang 5 Thị trường cổ phiếu
Thị trường cổ phiếu là thị trường mà hàng hóa ( cổ
phiếu) được giao dịch trao đổi, mua bán
www.themegallery.com
Trang 6• Vai trò của thị trường cổ phiếu.
Trang 7Ngoài những tác động tích cực trên đây, thị trường
cổ phiếu cũng có những tác động tiêu cực sau
Trang 8Thực trạng thị trường cổ phiếu Việt
Trang 9 Chỉ được khởi động vào đầu năm 2002 khi mà HAPACO phát hành một đợt cổ phiếu với số lượng một triệu cổ phiếu mới
Đến năm 2002 thì đã có tới 17 công ty niêm yết nhưng ngoài HAPACO mới chỉ có REE là công ty thứ 2 được phép phát
hành một đợt cổ phiếu bổ sung với số lượng 7,5 triệu cổ phiếu.
Giai đoạn 2000-2002
Trang 10Thị trường sơ cấp
Do những bất cập trong hệ thống luật pháp và cải cách thể chế của nước ta mà nhiệm vụ tạo hàng của SSC chỉ đạt được những kết quả rất hạn chế.
Sau hơn 4 năm hoạt động, TTCK Việt Nam chỉ có 26 công
ty niêm yết.
Số lượng các công ty niêm yết còn ít ỏi, chứng tỏ đại đa
số doanh nghiệp chưa thấy lợi ích của việc niêm yết lớn hơn lợi ích của việc không phải công khai, minh bạch.
Giai đoạn 2003-2005
Trang 11Giai đoạn 2003-2005
Trang 12Thị trường sơ cấp
Những “lỗ hổng” trong luật pháp điều chỉnh hoạt động phát
hành chứng khoán ra công chúng vẫn còn khá lớn và vượt quá tầm của SSC.
Những yếu tố cơ bản đang cản trở nỗ lực tạo hàng của các
CTCK cũng như của SSC là thuộc về môi trường thể chế và pháp lý còn nhiều bất cập hiện nay, đặc biệt là việc thả nổi các hoạt động và các tổ chức phát hành chứng khoán ra công
chúng.
Việc thiếu sự quản lý nhà nước thống nhất đối với hoạt động phát hành chứng khoán đang tạo thuận lợi cho các hiện tượng thông tin sai lệch, xung đột lợi ích, thậm chí là lừa đảo trong hoạt động phát hành
Giai đoạn 2003-2005
Trang 13Thị trường sơ cấp
Năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới thực sự
bùng nổ, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân
hàng thương mại với tổng lượng vốn huy động lên đến gần 40.000 tỷ VND
Trong năm 2008, do sự suy giảm của thị trường chứng khoán, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng Thị trường hồi phục vào năm 2009
đã tạo điều kiện cho hoạt động phát hành qua thị trường chứng khoán, đặc biệt là phát hành cổ phiếu.Tổng số vốn huy động qua phát hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008, đạt 21.724 tỷ đồng.
Giai đoạn 2006-nay
Trang 14Thị trường sơ cấp
Từ năm 2010 đến đầu năm 2014, thị trường OTC đóng băng tại hầu hết các cổ phiếu trong bối cảnh thị trường tập trung suy giảm
Tuy nhiên, với nhiều NĐT trên TTCK tự do (OTC), 2014
đã để lại ấn tượng tích cực khi một loạt cổ phiếu lên sàn tăng giá tốt, mang lại lợi nhuận không nhỏ: năm 2014 có
21 công ty niêm yết mới trên 2 sàn giao dịch Trong đó nhiều tên tuổi lên HNX như: Công ty CP Hóa chất Đức Giang, Công ty CP Thủy điện Miền Trung, Công ty CP Dịch vụ hàng không sân bay Đà Nẵng
Giai đoạn 2006-nay
Trang 15Thị trường sơ cấp
Tháng 9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 51/2014/QĐ-Ttg : trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký, DN CPH phải hoàn tất thủ tục đăng ký công ty đại chúng, đăng ký cổ
phiếu để lưu ký tập trung và đăng ký giao dịch trên hệ
Trang 16Thị trường thứ cấp
Ngày 28/07/ 2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán
TP.HCM chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên với
2 mã chứng khoán là REE và SAM
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức đi vào hoạt động
Nhìn chungTTCK Việt Nam từ 2000 đến 2005 phát triển tương đối chậm do ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết nhỏ và không nổi tiếng và chưa thu hút được nhiều đầu tư tham gia
Giai đoạn 2000-2005
Trang 17Theo thống kê của UBCKNN
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số công ty niêm yết/ ĐKGD 5 5 20 22 26 41
Số lượng công ty chứng khoán 3 8 9 11 13 14
Mức vốn hóa thị trường (%GDP) 0,28 0,34 0,48 0,39 0,64 1,21
Số lượng tài khoản khách hàng 2.908 8.774 13.520 15.735 21.616 31.316
Trang 18Giai đoạn 2006-2007: TTCK Việt Nam
phiếu liên tục tăng trần.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN- Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm Với HASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm Tính
chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170%.
Đến cuối năm 2006 tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP).
Trang 19 Sang năm 2007, TTCK Việt Nam bắt đầu chứng kiến nhiều biến động.
Đỉnh điểm là VN-Index đã lên đến 1.170,67 điểm vào ngày ngày 12-3-2007 và kết thúc phiên cuối cùng của năm 2007 với chỉ số chứng kho.án VN-Index dừng lại ở 927,02 điểm.
Theo thống kê của UBCK nhà nước, trong năm 2007 có khoảng 179 công ty được phép chào bán 2,46 tỷ đơn vị CP ra công chúng Tổng giá trị vốn hóa thị trường đạt gần 500.000 tỉ đồng, hơn 43% GDP của
cả năm 2007; số vốn mà doanh nghiệp huy động thêm trong năm 2007 hơn 90.000 tỉ đồng.
=> Có thể nói giai đoạn 2006-2007 là thời kỳ phát triển bùng nổ của TTCK Việt Nam, với một số lượng rất lớn các công ty tham gia niêm yết và thu hút rất nhiều nhà đầu tư tham gia so với giai đoạn trước đó.
Trang 20Giai đoạn 2008-2009: Bong bóng
chứng khoán tan vỡ
Năm 2008 các chỉ tiêu KT vĩ mô của Việt Nam bắt đầu xấu đi: GDP giảm, lạm phát và thất nghiệp tăng cao, chính sách thắt chặt tiền tệ của NHTW,… đã làm cho thị trường bắt đầu điều chỉnh giảm mạnh Thị trường liên tục lập đáy, đỉnh điểm là 286,85 điểm vào ngày 10/12/2008.
Đến cuối năm 2008 có dấu hiệu các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi TTCK Việt Nam, thể hiện qua việc bán ròng của khối ngoại trong giai đoạn cuối năm.
Mặc dù thị trường đang có sự điều chỉnh rất mạnh song số lượng các
DN đăng ký niêm yết cũng tăng đáng kể, nguyên do là chủ trương đẩy mạnh CPH các DNNN, bên cạnh đó là hàng loạt các Ngân hàng, công
ty CK, các doanh nghiệp,… phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, dẫn đến TTCK cung vượt quá cầu.
Trang 21Hình 1: Diễn biến của VN Index từ năm 2006 - 2008
Trang 22 Qua năm 2009, chịu sự ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu, TTCK Việt Nam đã sụt giảm mạnh Những tháng đầu năm 2009, thị trường đã thiết lập mức đáy thấp nhất trong nhiều năm qua tại ngưỡng 235,50 điểm (ngày 24/2/2009).
Tuy nhiên nhờ các chính sách kích cầu của Chính phủ, TTCK Việt Nam đã có những khởi sắc trở lại, đến tháng 11 năm 2009 chỉ số Vn – Index đã đạt trên
600 điểm Nhưng đến đầu tháng 12, thị trường lại giảm mạnh hơn 20% (VN- Index đạt 434,87 điểm vào ngày 17/12) so với mức đỉnh của năm 2009.
Kết thúc năm 2009, số lượng công ty niêm yết tăng hơn 30%, đạt 447 công ty, mức vốn hóa toàn TCK Việt Nam là 620 nghìn tỷ đồng So với thời điểm
cuối năm 2008 là 225 nghìn tỷ đồng, mức vốn hóa đã tăng gần 3 lần; Số lượng công ty niêm yết tăng hơn 30%, đạt 447 công ty, số lượng các nhà đầu tư tăng hơn 50% so với năm 2008, đạt 739.000 tài khoản.
Giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán tính đến tháng 12/2009 đạt gần 6,6 tỷ USD, tăng gần 1,5 tỷ USD.
=> Có thể nói giai đoạn 2008-2009 là giai đoạn TTCK Việt Nam có sự điều chỉnh rất mạnh so với giai đoạn tăng trưởng bùng nổ trước đó.
Trang 23Giai đoạn 2010-2011
• Thị trường đã có những phát triển vượt bậc: đạt gấp 2 lần so
với kế hoạch ban đầu về quy mô vốn hóa, số lượng công ty niêm yết tăng gấp 10 lần Thị trường cũng đã trở thành kênh huy động vốn cho doanh nghiệp với 110.000 tỷ đồng, tăng 3 lần so với năm 2009 và tăng 4 lần so với năm 2008
• Năm 2010 đạt kỷ lục lên sàn niêm yết khi có thêm 81 cổ
phiếu niêm yết trên HOSE, 110 cổ phiếu niêm yết trên HNX
Năm 2010
Trang 24 Nhu cầu của thị trường bị siết chặt bởi các quy định của chính phủ mà điển hình là Thông tư 13 và Thông tư 19 quy định về các
tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng đã gây ra việc thoái vốn ồ ạt của các ngân hàng khỏi các hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán nhằm đảm bảo tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn mới làm cho các khoản đầu tư vào chứng khoán
bị sụt giảm
Trang 25 Nhìn lại cả năm 2010, thị trường chứng khoán có
khoảng 6-8 tháng giảm điểm hoặc đi ngang VN Index hai lần giảm về mức đáy 420 điểm, trong khi HNX
Index giảm thấp nhất trong vòng 18 tháng xuống 97,44 điểm Giá trị giao dịch từ chỗ giao dịch trên cả 2 sàn ở mức 3.000-4.000 tỉ đồng/phiên, mức trung bình chung của năm 2010 chỉ còn dưới 1.000 tỉ đồng/phiên Kết thúc năm 2010, thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong số ít thị trường không tăng trưởng ở Châu
Á và chịu sự suy giảm đi ngược lại với xu hướng
chung của thế giới”
www.themegallery.com
Trang 26Giai đoạn 2010-2011
Thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung đã trải qua một giai đoạn đầy khó khăn và thách thức
Chỉ số VN Index năm 2011 giảm hơn 25% so với cuối năm
2010 Giá trị vốn hóa của các công ty niêm yết trên sàn giảm 137 ngàn tỷ đồng, còn lại 537 ngàn tỷ đồng vào cuối năm 2011, bằng khoảng 20% GDP
Khối lượng giao dịch giảm 29% về khối lượng và 57% về giá trị so với năm 2010 Tốc độ luân chuyển chứng khoán bình quân về giá trị chỉ đạt trên 28,68%, là mức thấp nhất trong những năm gần đây
Năm 2011
Trang 27 Tổng số lượng doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội giảm hơn năm 2010 Nhiều doanh nghiệp niêm yết trên 2 Sở rơi vào tình trạng thua lỗ, mất hết vốn chủ sở hữu, gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư, xuất hiện hàng loạt các vụ việc về vi phạm quy định công bố thông tin.
Ủy ban chứng khoán Nhà nước lấy ý kiến dự thảo lần 2
Nghị định “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật
Chứng khoán và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán”
Trang 28Hình 3: Biến động của VN Index từ năm 2001-2010
Trang 29 2012 được coi là một năm nhiều khó khăn nhất trong lịch sử hơn
12 năm hoạt động của TTCK Việt Nam
80% mã cổ phiếu có giá trị dưới mệnh giá, trong đó ghi nhận
những mã cổ phiếu với giá trị giao dịch chỉ còn 200 đồng/cổ phiếu (SME) - mức thấp nhất trong lịch sử TTCK Việt Nam
Ngoài những nguyên nhân như nợ xấu ngân hàng, BĐS đóng
băng, hàng tồn kho tăng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn thì có nguyên nhân quan trọng là những tồn tại trong bản thân thị trường
Năm 2012
Trang 30 Mức vốn hóa thị trường:Mức vốn hóa vào khoảng 964 nghìn tỷ đồng (tăng
199 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% GDP.
Giá trị giao dịch: Quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 2.578 tỷ đồng,
tăng 31% so với năm 2012.
Hoạt động niêm yết và huy động: Đến cuối năm trên 2 sàn có 683 cổ phiếu và
chứng chỉ quỹ niêm yết với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là 361 nghìn
tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2012.
Hoạt động của các công ty niêm yết: Có khả quan hơn về lợi nhuận.
Hoạt động đầu tư: số lượng tài khoản khoảng 1,27 triệu tài khoản, trong đó số
lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài tăng lên (dòng vốn nước ngoài vào thuần đạt 175 triệu USD)
Năm 2013
Trang 31 Các nguyên nhân:
• Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) đã có xu hướng ổn định.
• Mặt bằng lãi suất có chiều hướng giảm dần; tăng trưởng tín dụng có cải
thiện
• Thị trường ngoại hối trong xu thế ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng.
• Dòng vốn FDI đạt khoảng 20,8 tỷ USD, tăng 54,2% so với cùng kỳ năm
ngoái; quy mô dòng vốn đầu tư gián tiếp tăng
• Các giải pháp nhằm cải thiện thị trường: giảm thuế chuyển nhượng, nới
biên độ giao dịch
• Công tác tái cấu trúc TTCK:sắp xếp lại các tổ chức kinh doanh chứng
khoán và việc ban hành các quy định mới về quỹ mở
Năm 2013
Trang 32Thị trường cổ phiếu 2014 qua những con số điển hình:
• Chỉ số giá: Có sự tăng giảm qua từng giai đoạn trong năm.
• Thanh khoản: Thanh khoản của thị trường cổ phiếu Việt Nam có sự cải
Trang 33 Đóng cửa phiên giao dịch cuối tháng 6, VN-Index dừng ở mức 593,05 điểm,
tăng trưởng xấp xỉ 9%.
Điểm đáng chú ý tác động đáng kể tới thị trường:
• Thông tư 36 có hiệu lực.
• Thông tin hai sở hợp nhất thành một.
• Hhiệu ứng Biển Đông
• Dự thảo có nội dung cơ bản là rút ngắn thời gian giao dịch cổ phiếu.
• Chính thức nới room cho khối ngoại:
Nửa đầu
2015
Trang 34Thị trường phi tập trung
Là thị trường OTC được tổ chức theo hình thức phi tập trung , không có địa điểm giao dịch mang tính tập trung giữa bên mua và bán.
-Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC bao
gồm hai loại: Thứ nhất , chiếm phần lớn là các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch nhưng đáp ứng điều kiện trên thị trường OTC, thứ hai
là các loại chứng khoán đã niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán
Trang 35 Năm 2001- 2003: cả nước có 2.829 công ty cổ phần
Trong đó 557 công ty nhà nước được cổ phần hoá, 2.272 công ty cổ phần không có vốn nhà nước.
Năm 2006: Có 40 loại cổ phiếu được giao dịch thường xuyên trên OTC Tổng giá trị vốn hóa của các thị trường này lên tới 3,9 tỷ USD, trong khi toàn thị trường niêm yết tổng giá trị vốn hóa chỉ đạt khoảng 3 tỷ USD
Trang 36 Năm 2008: ngày 20/11/2008, Bộ Tài chính ban hành
Quyết định số 108/2008-QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế tổ chức và quản lý giao dịch chứng khoán công ty đại chúng (CTĐC) chưa niêm yết tại Trung tâm Giao
dịch Chứng khoán Hà Nội (HaSTC) Đây là cơ sở pháp
lý quan trọng trong việc triển khai thị trường UPCoM.
Trên cơ sở đó thị trường UPCoM ra đời và khai trương vào ngày 24/6/2009 Ở thời điểm bấy giờ UPCOM có 10 thành viên tham gia, trong đó có 5 công ty chứng khoán.
Trang 37 Năm 2011: chỉ số UPCoM-Index dừng lại ở mức 33,76 điể m, trên thị trường có 131 loại cổ phiếu, trong đó vào ngày giao dịch cuối cùng của năm 2011, chỉ có 24 mã
tăng giá, 16 mã giảm giá, 4 mã đứng giá và 87 mã
không có giao dịch.=> Một năm không hiệu quả của thị trường OTC.
năm 2010 đến đầu năm 2014, thị trường OTC đóng băng tại hầu hết các cổ phiếu trong bối cảnh thị trường tập
trung suy giảm.
Trang 38 Sang giữa năm 2014, khi thị trường có mức tăng trưởng
ấn tượng từ 530 điểm lên trên 600 điểm, nhiều DN đã
khởi động lại kế hoạch lên sàn.
9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 51/2014/QĐ-Ttg quy định một số nội dung về thoái vốn, bán cổ phần và đăng ký giao dịch, niêm yết trên TTCK của DNNN =>là cơ sở pháp lý, góp phần tạo tiền đề cho các DN cổ phần hóa thực hiện niêm yết và đăng ký giao dịch trên thị trường tập trung, mở ra cơ hội cho các NĐT trên thị trường OTC.
Trang 39Đánh giá chung về Thị trường
cổ phiếu Việt Nam
Thành tựu đạt được
Từ một thị trường bắt đầu với hai cổ phiếu đến bây giờ đã có gần 600-700 cổ phiếu niêm yết, giá trị vốn hóa gần 60 tỷ USD HOSE hiện nay đã chiếm 88% giá trị vốn hóa niêm yết trên thị trường chứng khoán
cả nước; giá trị giao dịch bình quân hàng ngày
khoảng 2.100 tỷ đồng và chiếm trên 70% của cả
nước
www.themegallery.com
Trang 40Đánh giá chung về Thị trường
cổ phiếu Việt Nam
Thành tựu đạt được
Về các định chế, đến giờ có hơn 80 công ty chứng
khoán và gần 1,5 triệu tài khoản, gần 20.000 tài
khoản nhà đầu tư nước ngoài, gần 40 công ty quản lý quỹ
Về cơ sở vật chất, Việt Nam đã có một cơ sở vật chất ngang tầm thế giới từ khu làm việc cho đến hệ thống công nghệ, hệ thống phụ trợ cho công nghệ.
www.themegallery.com