1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn quản trị ngân hàng phân tích ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín giai đoạn 2010 2014

21 476 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 850,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Phân tích tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng Sacombank thông qua các kênh huy động vốn và doanh số doanh số cho vay, tình hình thu nợ, dư nợ và nợ qu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

BỘ MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG



TÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:

PHÂN TÍCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trang 3

2 Ngô Lê Thùy Lynh

 Phân tích tình hình hoạt động của Sacombank.

Trang 4

MỤC LỤC



1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.2 Phạm vi nghiên cứu 1

2 GIỚI THIỆU SACOMBANK 1

2.1 Giới thiệu chung 1

2.2 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank (2010 – 2014) 1

3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA SACOMBANK 2

3.1 Những sản phẩm dịch vụ cốt lõi 2

3.2 Mạng lưới 3

3.3 Tình hình góp vốn, đầu tư 4

3.4 Công nghệ 6

3.5 Chiến lược kinh doanh 6

3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA SACOMBANK 7

3.3 Tăng trưởng tài sản 7

3.2 Tăng trưởng nguồn vốn 8

3.3 Tình hình cho vay 8

3.4 Tình hình thanh khoản 10

3.5 Chất lượng tài sản 11

3.6 Kết quả hoạt động kinh doanh 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 5

1 GIỚI THIỆU

1.1 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng Sacombank thông qua các kênh huy động vốn và doanh số doanh số cho vay, tình hình thu nợ, dư nợ và nợ quá hạn.Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng giai đoạn 2010 - 2014 thông qua việc phân tích các tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động chung của ngân hàng Sacombank trong giai đoạn này

1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn năm 2010 - 2014 Thông qua các báo cáo tài chính đã được công bố của Ngân hàng trong giai đoạn này

2 GIỚI THIỆU SACOMBANK

2.1 Giới thiệu chung

Sacombank (STB) là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) đầu tiên được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) từ việc hợp nhất Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp cùng với 03 hợp tác xã tín dụng là Tân Bình, Thành Công và Lữ Gia vào năm 1991

Sacombank là một trong 5 ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với tốc độ tăng trưởng huy động vốn, tăng trưởng dư nợ, tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận luôn cao hơn mức bình quân ngành Hiệu quả hoạt động kinh doanh của Sacombank cũng khá tốt, tỷ suất sinh lời cao Với hướng phát triển kinh doanh đúng đắn, linh hoạt, đội ngũ lãnh đạo tâmhuyết với công ty và có nhiều kinh nghiệm nên triển vọng phát triển của STB trong thời gian tới là rất lớn Trong năm 2014, STB đứng đầu trong số các ngân hàng TMCP tư nhân xét về vốn điều lệ, đứng thứ hai về thị phần tín dụng và đứng thứ 7 về tổng tài sản

2.2 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank (2010 – 2014)

Sau cuộc khủng hoảng năm 2008, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều biến động với những vấn đề kinh tế vĩ mô như lạm phát, biến động tỷ giá, rủi ro hoạt động ngân hàng gia tăng….khiến cho hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung, và ngân hàng Sacombank nói riêng gặp phải rất nhiều khó khăn Tuy nhiên với sự cố gắng và nỗ lực của mình trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ…ngân hàng Sacombank cũng đã gặt hái được những kết quả nhất định trong giai đoạn 2010-2014.Đối với Sacombank, năm 2011 là năm có ý nghĩa bản lề - vừa phải kết thúc thắng lợi nhiệm vụ xây dựng hoàn thiện kiến trúc Ngân hàng theo mô hình chuẩn quốc tế sau 10

Trang 6

năm tiến hành tái cấu trúc, lại vừa phải tạo lập cho được điểm nhấn mang tính đòn bẩy đểđẩy nhanh tiến trình hiện thực hóa khát vọng trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu khu vực Đông Dương trong giai đoạn 10 năm tiếp theo

Năm 2012, Trước bối cảnh hàng loạt doanh nghiêp phá sản, nợ xấu trở thành vấn đề nan giải của nền kinh tế, Sacombank đã tập trung nâng cao công tác ngăn chặn và xư lý nợquá hạn, giám sát chặt chẽ và xuyên suốt tại từng địa bàn, bổ sung thành phần và cơ chếhoạt động của Phân ban ngăn chặn và xư lý nợ quá hạn, áp dụng cơ chế linh hoạt trong xử

lý tài sản cấn trừ nợ, triển khai cơ chế khen thưởng đối với các đơn vị xử lý tốt nợ quá hạn…Nhờ vậy, tỷ lệ nợ quá hạn của Sacombank luôn nằm trong mức kiểm soát và thuộc nhóm thấp nhất trong toàn hê thống Tại thời điểm 31/12/2012 nợ quá hạn của Sacombank chiếm tỷ lệ 2,39%, nợ xấu chiếm tỷ lệ 1,97%

Năm 2013, Sacombank đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng 18,3% với dư nợ cho vay khách hàng tại thời điểm 31/12 là 110.297 tỷ đồng Huy động vốn khách hàng tăng trưởng 13,75% lên 140.770 tỷ đồng Tổng tài sản tăng thêm 9.260 tỷ đồng, tương đương tăng 6,08% lên 161.378 tỷ đồng Trong hoạt động kinh doanh, tổng thu nhập cả năm đạt 7.601

tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2012 Một số hoạt động không tốt nhưng chi phí hoạt động lại giảm mạnh so với cùng kỳ, giúp cho lợi nhuận thuần từ kinh doanh tăng cao, cả năm đạt 2.960 tỷ đồng

Năm 2014, Sacombank luôn bám sát định hướng chung của Ngành, đặc biệt là Chỉ thị01/CT-NHNN, kiên trì mục tiêu tăng trưởng an toàn - hiệu quả - bền vững, tận dụng tốt lợi thế sẵn có và cơ hội thị trường, tích cực thực hiện phương án tái cơ cấu từ năm 2011-2015 Kết quả hoạt động trong năm của Sacombank như sau: Tổng tài sản đạt 189.802 tỷ đồng, tăng 17,6% so với năm 2013 Nguồn vốn huy động đạt 167.898 tỷ đồng, tăng 19,3% so với năm 2013 Dư nợ tín dụng đạt 130.511 tỷ đồng, tăng 18,3% so với năm 2011

3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA SACOMBANK

3.1 Những sản phẩm dịch vụ cốt lõi

Sacombank đã không ngừng phát triển và cải tiến sản phẩm dịch vụ hướng đến mục tiêu

“đơn giản – thân thiện – vượt trội”, thường xuyên nghiên cứu để phát triển sản phẩm dịch

vụ mới, hiện đại theo xu thế thị trường (thẻ thông minh, giao dịch trực tuyến) nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đặc biệt là các dịch vụ tài chính cá nhân; Tăng cường ứng dụng hàm lượng công nghệ vào công tác phát triển sản phẩm nhằm đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, đa tiện ích cho người sử dụng và gia tăng tính cạnh tranh Nhờ đó mà các sản phẩm dịch vụ của Sacombank ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và hiện đại (tín

Trang 7

dụng, tiền gửi, dịch vụ thẻ, mobie banking, internet banking, sản phẩm đầu tư, bảo hiểm

…) phù hợp cho từng đối tượng khách hàng khác nhau Đơn cử một vài sản phẩm của Sacombank như sau:

 Tín dụng khách hàng cá nhân với 4 hình thức là: Vay kinh doanh; vay tiêu dùng; vay tín chấp và vay đặc thù

 Và một số sản phẩm của khách hàng doanh nghiệp như: Giải pháp phòng ngừa rủi

ro thị trường, tiền gửi và dịch vụ thanh toán, cho vay doanh nghiệp và tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, tài trợ nhà phân phối, dịch vụ quản lý tiền mặt, vay vốn và bảo lãnh

3.2 Mạng lưới

Mạng lưới hoạt động là một trong những thế mạnh rất lớn của Sacombank trong cạnh tranh

về dài hạn Việc đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu giúp Sacombank đẩy mạnh các mảng hoạt động chính như huy động vốn, cho vay và dịch vụ, đặc biệt tạo nền tảng vững chắc nhằm phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong những năm tiếp theo

Ngày 21/12/1994, Ngân hàng TMCP Sài gòn thương Tín được thành lập với trụ sở chính tại 278 Nam Kỳ khởi Nghĩa, Quận 3, TP Hồ Chí Minh trên cơ sở hợp nhất 4 tổ chức tín dụng: Ngân hàng phát triển kinh tế Gò Vấp với các hợp tác xã Tín dụng Thành Công, Tân Bình, Lữ Gia Công tác phát triển mạng lưới không ngừng được quan tâm, chú trọng phát triển ở những vị trí đắc địa, tiềm năng kinh tế cao Trong năm 2014, Sacombank đã thành lập và đưa vào hoạt động 3 phòng giao dịch (PGD) trong nước (Quế Sơn, Hòa Bình, Đắk Tô) và 01 chi nhánh (CN) tại Campuchia (CN Tăkh Mao), nâng tổng số PGD lên 428 điểm (8 điểm tại Campuchia, 3 điểm tại Lào và 417 điểm trong nước), hiện diện ở 48/63 tỉnh/thành phố trong nước, phủ kín từ Thanh Hóa đến Cà Mau

Trang 8

3.3 Tình hình góp vốn, đầu tư

Hoạt động huy động vốn

Huy động khách hàng tăng, tăng trưởng gộp đạt 21,93% trong giai đoạn 2009 đến 2014, cao hơn tăng trưởng tín dụng, và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu nợ phải trả, từ 65% trong năm 2009 lên 95% trong năm 2014 Tăng trưởng huy động trong năm 2014 đạt 23,9%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng tín dụng 15,8%, làm giảm tỷ lệ LDR từ xấp

xỉ 114% xuống 84% Tốc độ tăng trưởng cao phần nào là nhờ sự bổ sung của các khoản tiền gửi cá nhân từ ba chương trình khuyến mãi chính trong năm 2014 (Khai xuân đắc lợi,

Hè rộn ràng ngàn niềm vui, Sinh nhật vui – Xuân hạnh phúc) Cũng nhờ đó mà ngân hàng

có thêm gần 7.300 tỷ đồng từ tiền gửi trung và dài hạn

Ba nguồn vốn chủ yếu của STB là tiền gửi khách hàng, tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác và phát hành giấy tờ có giá Tỷ trọng tiền gửi khách hàng khá ổn định trong giai đoạn từ 2008 đến 2011 và tăng trưởng rõ rệt từ 59% lên tới hơn 90% qua các năm

2012, 2013 và 2014 Tỷ trọng vay các tổ chức tín dụng khác cũng có sự sụt giảm mạnh từ 10% trong năm 2011 xuống mức 3% kể từ năm 2012 Trong các năm 2008 và 2009, Sacombank được NHNN cho phép phát hành giấy tờ có giá dài hạn trị giá 5.000 tỷ đồng và 10.000 tỷ đồng trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng cao Trong năm 2013 và 2014, các loại giấy tờ có giá cũng suy giảm và nguồn vốn trở nên khá dồi dào, khiến cho tỷ trọng của giấy tờ có giá sụt giảm từ mức khá cao là 24% tổng nợ trong năm 2009 xuống mức dưới 1% trong năm 2013 và 2014

Hoạt động tín dụng

Trang 9

Sacombank luôn tích cực đồng hành cùng khách hàng, mở rộng các đối tượng ưu tiên, phát triển nhanh các phương thức cho vay hiệu quả, áp dụng các gói cho vay ưu đãi, tinh gọn thủ tục… Nhờ vậy, tốc độ tăng trưởng dư nợ khả quan (tăng18,3%, đạt 108% kế hoạch tăng trưởng).

Ngân hàng tập trung cho vay phân khúc bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổng cộng chiếm tới hơn 98% cho vay khách hàng trong năm 2014, và cơ cấu cho vay này hầu như không thay đổi kể từ năm 2009

Hoạt động đầu tư

Năm 2008 Sacombank thực hiện đầu tư 1.254.261 triệu đồng với hình thức đầu tư dài hạn; góp vốn liên doanh, liên kết vào các công ty liên kết Đây cũng là năm có mức đầu tư cao nhất trong suốt giai đoạn này Sacombank đầu tư mua sắm tài sản cố định và mở rộng mạng lưới kênh phân phối, điểm giao dịch ATM, POS nhằm tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ và tính hiệu quả của hệ thống phân phối, nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng

Trang 10

Giai đoạn từ 2012 - 2014, cũng như các ngân hàng trên thị trường, Sacombank thực hiện tăng trích lập dự phòng rủi ro, giảm đầu tư dài hạn và hệ lụy của cuộc khủng hoảng kinh tế

2008 ảnh hưởng đến các giao dịch trên thị trường tài chính Do đó các khoản đầu tư dài hạn, góp vốn liên doanh liên kết giảm mạnh so với giai đoạn trước đó Tính đến 31/12/2014, chứng khoán nợ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng danh mục đầu tư (93,0%), tăng 55,8% so với năm 2013, trong đó số dư trái phiếu Chính phủ và tín phiếu NHNN tăng mạnh (tăng 54,9%), thể hiện tính thận trọng của Sacombank, đảm bảo tính linh hoạt trên thị trường mở, đáp ứng nhu cầu thanh khoản; chứng khoán vốn giảm 31,1% so với năm 2013; chiếm tỷ trọng 7,0%, tập trung ở một số ngành nghề như khai thác tài sản, dịch vụ, tài chính

Sacombank luôn chú trọng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trên cơ sở đón đầu các ứng dụng tiên tiến để đem lại nhiều tiện ích hơn cho khách hàng Đây cũng là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam đưa vào hoạt động trung tâm dữ liệu hiện đại, hệ thống ngân hàng lõi đang được áp dụng là T24, phiên bản R11 với nhiều tính năng tiên tiến nhất hiện nay Năm 2013, Sacombank cho ra mắt phiên bản ngân hàng điện tử hoàn toàn mới, cung cấp đa kênh giao dịch trên nền tảng công nghệ hiện đại với nhiều chức năng hữu ích dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp

Sacombank vẫn đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống, triển khai các sản phẩm dịch vụ mang tính đột phá, tăng cường phòng chống rủi ro công nghệ cao

3.5 Chiến lược kinh doanh

Năm 2013 đánh dấu cột mốc quan trọng của Sacombank trong việc kiên trì theo đuổi chiến lược ngân hàng bán lẻ, phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên nền tảng bộ máy hoạt động và mạng lưới kinh doanh được xây dựng bài bản và có tính hệ thống trong suốt 22 năm qua Yếu tố này đã giúp Ngân hàng hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh đặt ra trong năm qua, với lợi nhuận trước thuế đạt 2.838 tỷ đồng 6 tháng đầu năm 2014, lợi nhuận trước thuế của Sacombank đạt 1.531 tỷ đồng, tương đương 51% kế hoạch năm, cho thấy,

Trang 11

khả năng hoàn tất các chỉ tiêu là có cơ sở Thông qua mối quan hệ hợp tác với các định chế tài chính trên thế giới như: IFC, ADB, FMO, Proparco, JBIC, Sacombank cũng đã tiên phong xây dựng mô hình kinh doanh phát triển bền vững gắn kết với cộng đồng, môi trường và xã hội Với bề dày hơn 10 năm làm việc với các định chế tài chính lớn trong và ngoài nước, Sacombank đã xây dựng được nguồn vốn ủy thác đáng kể với giá rẻ để cho vay lại đến những nhóm khách hàng cần cải thiện năng lực tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực tư nhân

Từ đầu năm 2014 đến nay, Sacombank đã triển khai 13 gói cho vay ưu đãi trị giá 25.750 tỷ đồng và 120 triệu USD, góp phần hỗ trợ cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân trên

cả nước tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn để ổn định hoạt động sản xuất - kinh doanh và tạo tiền đề tiếp tục phát triển trong những năm kế tiếp

Với Sacombank, sự thành công của doanh nghiệp phải luôn song hành với lợi ích gia tăng của cộng đồng, khách hàng và xã hội Vì thế, Ngân hàng đã xác lập và thực hiện ngày càng hoàn thiện các trách nhiệm trọng yếu: đảm bảo cung ứng dịch vụ chất lượng - hiện đại thông qua hàng trăm nghìn giao dịch được xử lý mỗi ngày, giúp khách hàng có mức lợi tức hợp lý từ các khoản tiền gửi, đầu tư, quản lý khoản vay, mua sắm thuận tiện qua thẻ

Là một tổ chức hoạt động trong nền kinh tế nói riêng và toàn xã hội nói chung, Sacombank nhận thức rằng, sự tồn tại và phát triển của mình gắn liền với sự phát triển, ổn định của xã hội Mỗi cá nhân, tổ chức luôn phải nhận thức trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội, giúp dân cư ngày một thịnh vượng về tài chính và bền vững về mặt xã hội Vì thế, Sacombank

đã thành công với mô hình ngân hàng bán lẻ nhiều năm qua, góp phần tạo lợi nhuận bền vững cho Ngân hàng

3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA SACOMBANK

3.3 Tăng trưởng tài sản

Trang 12

Tổng tài sản của Sacombank từ 2008 đến 2014 có sự tăng trưởng ổn định từ 67.469 tỷ đồng lên 189.802 tỷ đồng, tức tăng xấp xỉ khoảng 180% Tổng tài sản tăng trưởng mạnh cả

về chất và lượng, tăng 17,8% so với đầu năm (toàn ngành tăng 12,2%), cao hơn 4 lần so với mức tăng bình quân 3 năm gần nhất (4,2%), đạt 123% kế hoạch tăng trưởng Đạt được kết quả này là do có sự tăng trưởng trong hoạt động cấp tín dụng, đầu tư vào hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại và mở rộng hệ thống mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch

3.2 Tăng trưởng nguồn vốn

Với chính sách chỉ trả cổ tức bằng cổ phiếu kể từ năm 2006 và việc liên tục phát hành thêm

cổ phiếu, Sacombank dẫn đầu về vốn điều lệ trong số các ngân hàng TMCP với mức vốn điều lệ đạt 12.245 tỷ đồng trong năm 2014 Vốn điều lệ của Sacombank tăng trưởng mạnh chủ yếu trong năm 2009 và 2010, và chững lại vào năm 2012 khi HĐQT và Ban Giám đốc chuyển hướng tập trung vào chuyển nhượng quyền sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ của Sacombank giai đoạn 2008 – 2014 đều có sự gia tăng qua các năm và tốc độ tăng trưởng bình quân lần lượt là 16.4% và 16.8% Tuy nhiên vào năm 2012, vốn chủ sở hữu giảm từ 14.224 tỷ đồng xuống 13.414 tỷ đồng (tương đương 5.7%) Điều này được lý giải do năm 2012 Sacombank giữ nguyên cơ cấu vốn điều lệ là 10.740 tỷ đồng trong khi khoản mục lợi nhuận chưa phân phối vốn chủ sở hữu thì không có sự thay đổi nhiều

3.3 Tình hình cho vay

Giai đoạn từ 2008 – 2014 là giai đoạn mà tình hình kinh tế - xã hội trải qua nhiều diễn biến phức tạp, đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng tài chính dây chuyền bắt đầu ở Mỹ năm 2008, kéo theo lạm phát và nợ công tăng cao nhưng Sacombank vẫn đạt được sự tăng trưởng tổng dư nợ khá tốt với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 26,1% giai đoạn 2008 – 2014

Ngày đăng: 10/04/2016, 02:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w