LỜI MỞ ĐẦUBài nghiên cứu tập trung nghiên cứu sự phát triển của Tín dụng Ngân hàng quốc tế, từ hình thức truyền thống đến hình thức kết hợp là thị trường vốn nợ, trong đó ngân hàng cho v
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu sự phát triển của Tín dụng Ngân hàng quốc tế, từ hình thức truyền thống đến hình thức kết hợp là thị trường vốn nợ, trong đó ngân hàng cho vay kết hợp với việc phát hành trái phiếu, hợp đồng hoán đổi, và các kỹ thuật chứng khoán hóa để cung cấp một nền tảng “đòn bẩy tài chính” rộng hơn, lớn hơn
Tín dụng ngân hàng quốc tế là nguồn thu đáng kể của các ngân hàng lớn trong hơn 100 năm qua Các khoản vay được giải ngân cho Chính phủ các quốc gia có chủ quyền với nhiều mục đích khác nhau (bao gồm giải cứu các quốc gia này khỏi những cuộc khủng hoảng thanh khoản) và cung cấp vốn cho các ngành công nghiệp trọng điểm của nước nhà nhằm mục đích mở rộng ra nước ngoài Đồng thời, các ngân hàng theo chân khách hàng của họ thành lập các chi nhánh ở nước ngoài
và bắt đầu khám phá những cơ hội cho vay trong nước Các khoản vay nước ngoài thường được cho vay với lãi suất cao và trong thời kỳ kinh tế sôi động, các ngân hàng được biết rằng đã tạo ra quá nhiều khoản vay như thế Thật vậy, những cuộc vỡ nợ trên thị trường cho vay quốc tế xảy ra vào những năm 1930 và 1980 (và xảy ra sau năm 2007) mà nguyên nhân là nhiều ngân hàng phải đều chỉnh những khoản nợ và rút lui khỏi thị trường tín dụng trong thời gian dài Việc rút khỏi thị trường cho vay của các ngân hàng sau những năm 1980 đã làm cho vai trò của thị trường vốn ngày càng mở rộng trong việc cung cấp vốn và các dịch vụ tài chính trung dài hạn cho doanh nghiệp và Chính phủ,
và dịch vụ cho vay truyền thống chỉ chiếm từ ¼ đến 1/3 trong các khoản vay cung cấp cho khách hàng
Khi thị trường vốn trở nên rộng hơn, hiệu quả hơn, toàn cầu hơn thì lãi suất thị trường đã thấp hơn so với mức lãi suất mà các ngân hàng cho vay bằng chính nguồn vốn của họ Các ngân hàng ứng phó với tình trạng này bằng việc tìm cách bãi bỏ các quy định giới hạn vai trò của ngân hàng trong thị trường vốn ở Hoa Kỳ và một số nước khác Năm 1999, những yếu tố cơ bản của đạo luật quy định về những giới hạn này, đạo luật Glass-Steagall 1933, được bãi bỏ Sau đó, các ngân hàng đã mạnh dạn tham gia vào hoạt động kinh doanh đầu tư ngân hàng và các ngân hàng đầu tư đã đảm nhiệm việc cho khách hàng vay, cạnh tranh ngày càng cao và vì thế người đi vay được hưởng nhiều quyền lợi hơn Các ngân hàng đã thay đổi chiến lược bằng cách sáp nhập hay mua lại với quy
mô lớn, khiến chúng đủ lớn để đáp ứng được việc cho vay đối với những khách hàng có nhu cầu vốn lớn, nhằm mục đích được tham gia vào các giao dịch đầu tư của khách hàng Nhưng các ngân hàng không muốn kiểm soát các khoản vay của họ, họ tìm cách bán lại các khoản nợ Sau đó, Thị trường hoán đổi lãi suất đã phát triển, cho phép những giao dịch hoán đổi với lãi suất cố định hay thả nổi và
từ đó mở ra một thị trường mới cho việc mua bán nợ Cuối cùng, những nỗ lực để tạo ra các công cụ chứng khoán hóa cho việc đóng gói và chuyển giao các khoản nợ cho các nhà đầu tư đã làm chuyển đổi vai trò của ngân hàng từ người cho vay sang vai trò cung cấp các công cụ tín dụng Vào giữa những năm 2000, đã có sự khác biệt giữa hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp và đầu tư vào ngân hàng Các ngân hàng cũng đã tiến sâu vào hoạt động tự doanh, tài sản tài chính mạo hiểm trọng yếu không chỉ là đòn bẩy nợ mà còn là thị trường trái phiếu chứng khoán hóa vào năm 2007 Một vài ngân hàng cũng đã phát triển rộng rãi các dịch vụ tài chính mạo hiểm ở một nước mới nổi
Trang 21 CÁC PHƯƠNG TIỆN CHO VAY THƯƠNG MẠI TRUYỀN THỐNG
1.1 Phân loại các phương tiện cho vay thương mại truyền thống
Có nhiều cách để phân loại hình thức cho vay ngân hàng quốc tế truyền thống đối với công
ty, Chính phủ và các người đi vay khác
Đầu tiên, một ngân hàng sẽ cho vay đối với khách hàng địa phương khác chi nhánh hoặc có liên kết với nước ngoài nơi mà nó hoạt động, được tài trợ bởi tiền gửi nội tệ hoặc thị trường nợ nội địa Đây là hoạt động địa phương thuần túy, cạnh tranh với các ngân hàng nội địa Ngân hàng được đặt ở nước ngoài phải cạnh tranh về giá cả và chất lượng hoặc tập trung chủ yếu vào phân khúc thị trường, chẳng hạn như lĩnh vực công nghiệp Ngân hàng nước ngoài cũng có thể tập trung vào các công ty đa quốc gia được đặt tại nước sở tại hoặc các giao dịch tài chính quốc tế Mặc dù hoạt động này tồn tại chủ yếu dưới hình thức “quốc tế hóa cho vay nội địa”, chúng cho phép các ngân hàng quốc tế kéo giảm chi phí Các ngân hàng có thể bù đắp chi phí của việc phát triển sản phẩm mới bằng cách tăng doanh số của các sản phẩm đó, trong trường hợp này là đối với các khách hàng bên ngoài cố quốc của chúng (tính kinh tế theo quy mô) Các ngân hàng cũng có thể kéo giảm chi phí bằng cách cung cấp cho 1 khách hàng quốc tế với nhiều dịch vụ (tính kinh tế do đa dạng trong lĩnh vực)
Thứ hai, một ngân hàng có thể thực hiện cho vay xuyên biên giới đến những khách hàng ở nước khác Ví dụ, một ngân hàng có thể cho vay đối với các chi nhánh nước ngoài của các công ty
đa quốc gia hoặc các nhân là người tham gia vào các dự án quốc tế Trong nhiều trường hợp, các khoản vay này mang hình thức tín dụng hợp vốn
Việc cho vay, dù là trực tiếp hay hợp vốn, đều có nhiều dạng Hợp đồng cho vay xoay vòng
cho phép khách hàng vay, theo nhu cầu, một con số tối đa nhất định trong một thời gian thỏa thuận
và với lãi suất được cho trước Đổi lại các ngân hàng thu được phí cam kết chấp thuận cho vay, ngay
cả khi việc cho vay có xảy ra hay không Đây là những điều kiện cam kết và những cam kết này thì
có hiệu lực pháp lý và nó được quy định tại các chứng từ pháp lý phù hợp Những điều kiện cam kết này yêu cầu phải được phân tích thận trọng như là cho vay thực tế, đặc biệt là khi đối với một vài khách hàng, những cam kết này chỉ được ký khi thị trường vốn không sẵn sàng hoặc là quá đắt đỏ Những điều kiện này thường là một hình thức hỗ trợ, thứ mà các tổ chức xếp hạng như Moody’s and Standard và Poor’s và đòi hỏi người cung cung cấp dịch vụ tài chính phải đảm bảo cho người đầu tư tính thanh khoản khi các khoản vay đến hạn
Những điều kiện không cam kết thường không có giá trị pháp lý thi hành vì thế nó có phí rẻ
hơn Khách hàng quan tâm hơn đến những điều kiện đó vì phí thấp hơn, họ tin tưởng rằng ít có khả năng xảy ra thị trường vốn không hiệu quả trong tương lai
Không công khai, không tuân theo các hướng dẫn là những giới hạn mà ngân hàng đưa vốn
vào cho vay những dự án có tính chất nguy hiểm Nó có thể tăng hoặc giảm dựa trên những quyết định riêng của ngân hàng hay tình hình tài chính thay đổi
Cho dù cam kết hay không cam kết thì các tổ chức cho vay thương mại quốc tế có thể liên kết với hàng loạt các sản phẩm của ngân hàng khác, đặc biệt là những sản phẩm có liên quan đến lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái có điều chỉnh Ví dụ như: “Hợp đồng lãi suất kỳ hạn” cho phép 1 khách hàng cố định lãi suất ngày hôm nay, thực hiện hợp đồng vay vào một ngày tương lai Đổi lại, ngân hàng sẽ tự bảo hiểm các giao dịch này trên thị trường và giữ biên độ giao động hay khoản phí từ dịch vụ ký quỹ
Trang 31.2 Tài chính ngân hàng của các Chính phủ ở nước ngoài và các tổ chức Chính phủ.
Vay nợ nước ngoài của Chính phủ có thể được thực hiện bởi chủ thể tại một quốc gia mà gắn liền với việc quản lý tài chính đối ngoại của quốc gia đó – ví dụ như: Ngân hàng Trung ương, Cơ quan tiền tệ, Bộ tài chính hay các tổ chức tương tự Nó cũng được thực hiện bởi Chính phủ hoặc tổ chức chức nước khác, thường được gọi PARASTATALS, mặc dù vay nợ nước ngoài như vậy thường phải có sự chấp thuận của cơ quan phối hợp như Ngân hàng trung ương
Các khoản vay cho cán cán cân thanh toán được thực hiện bởi các nước có thâm hụt thanh toán tài khoản vãng lai không bù đắp được bởi các dòng vốn tư nhân, dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán Số tiền vay nợ nước ngoài dùng để can thiệp vào thị trường ngoại hối để hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ – tỷ giá hối đoái Các khoản vay cho cán cân thanh toán có thể được thực hiện theo mùa vụ hay theo chu kỳ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh xuất nhập khẩu như khoản thu xuất khẩu, khoản chi nhập khẩu hoặc dòng chảy vốn, hoặc cũng có thể mang tính cấu trúc, do một cú shock lâu dài (ví dụ sự suy giảm mạnh giá xuất khẩu) Vay nợ nước ngoài có thể trở thành căn bệnh mãn tính,
nó là kết quả của việc chi tiêu quá mức so với hàng hóa, thoái vốn do thiếu niềm vào tương lai của quốc gia và các yếu tố tương tự
Vay tài khóa liên quan đến nguồn tài trợ vốn từ nước ngoài để trang trải thâm hụt ngân sách, được liên kết trực tiếp đến cán cân thanh toán và các nguồn tài trợ vốn của nó Trong nhiều trường hợp, vay tài khóa bao gồm đến các khoản vay ngắn hạn được thực hiện dựa trên dự đoán về nguồn thu của Chính phủ, do đó có xu hướng tự thanh lý (tự hoàn trả)
Vay phát triển liên quan đến nguồn tài trợ vốn cho các dự án cơ sở hạ tầng như trường học, bệnh viện, giao thông, đường sắt, sân bay, cảng, mạng truyền thông, hệ thống điện, hệ thống cống thoát nước, nhà ở công cộng, và các dự án khác Một số dự án định hướng trực tiếp đến ngoại hối (tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu), một số khác thì không Khác với cho vay phát triển các dự án, cho vay theo chương trình có thể liên quan đến giáo dục hay hướng nghiệp, ví dụ, với khả năng ảnh hưởng sâu rộng của nội thương và tầm quan trọng của giao thương quốc tế, những điều thường là rất khó dự báo
2 CHO VAY HỢP VỐN
Hầu hết các hợp đồng cho vay quốc tế lớn được hợp tác với nhau Ở hình thức đơn giản, một khoản tín dụng hợp vốn bao gồm sự tham gia của một số ngân hàng gắn kết với nhau trong một khoản vay tương đối lớn cho một khách hàng, dưới sự chỉ đạo của một hoặc một số ngân hàng đóng vai trò như là những nhà điều hành chính Nhiều người cho vay hợp tác với nhau để tạo thành một hợp đồng vay cho một khách hàng cá nhân
Bên đi vay có lợi thế, theo các thỏa thuận, là có thể nâng số tiền lên mức lớn hơn so với khả năng sẵn sàng cho vay của bất kỳ ngân hàng riêng lẻ, với chi phí thấp hơn, và nhanh hơn so với việc xoay xở số tiền cần vay từ nhiều nguồn riêng của mình Hơn nữa, người đi vay tham gia vào thị trường vài lần và nhờ đó có thể cải thiện khả năng tiếp cận vốn trong tương lai "Tầm nhìn" của người đi vay được tăng cường bởi các đối tượng hợp vốn chính thường là các nhóm lớn của các ngân hàng, có thể làm cho việc tài trợ vốn trong tương lai dễ dàng hơn Cho vay hợp vốn cũng có thể được giao dịch, do đó có tính thanh khoản cao hơn so với các tài sản kém thanh khoản cho những người cho vay hoặc các nhà đầu tư cuối cùng, với các thuận lợi về lãi vay
Lợi ích của những người cho vay:
Đa dạng hóa tốt hơn về danh mục tài sản của họ
Trang 4 Được tham gia vào các khoản cho vay mà họ có thể không có quyền tham gia vào.
Hợp tác với nhiều ngân hàng (thường trụ sở đặt tại một số quốc gia khác nhau) có chuyên môn cao hơn và nhiều thông tin hơn so với ngân hàng riêng lẻ
So với bất kỳ ngân hàng riêng lẻ nào thì các ngân hàng hợp vốn có ít rủi ro vỡ nợ hơn, do tăng cường các chế tài đối với người cho vay như giới hạn khả năng tham gia vào thị trường tài chính trong tương lai
Một số bảo vệ pháp lý vốn có trong thỏa thuận vay hợp vốn
Tiềm năng về giao dịch các khoản vay và các công cụ phái sinh
Về cơ bản, cho vay hợp vốn quốc tế đại diện cho sự giao nhau giữa bao tiêu – bảo lãnh phát hành trái phiếu và cho vay của ngân hàng thương mại truyền thống Cho vay hợp vốn mở ra các cơ hội tài chính trung hạn cho nhiều người đi vay, những người không có khả năng tiếp cận được tín dụng qua các thị trường chứng khoán quốc tế hay trong nước, phát hành riêng lẻ, hoặc các phương tiện tài chính khác
Hợp vốn quốc tế của tín dụng trung hạn bắt đầu vào cuối năm 1960, khi có sự thay đổi trong mức lãi suất và các biến động làm tăng sự hấp dẫn của các khoản tài trợ vốn với điều kiện lãi suất thả nổi, trái ngược với phát hành trái phiếu lãi suất cố định, và nhu cầu vay vượt khả năng cho vay của từng ngân hàng riêng lẻ Trong những năm 1970 và 1980, hơn một nửa các tín dụng trung dài -hạn trên thị trường vốn quốc tế, hơn 80% các khoản vay của các nước đang phát triển, và gần như tất cả các khoản vay của các nền kinh tế tập trung là thuộc các hình thức cho vay hợp vốn Trong những năm 1970, hầu hết các khoản hợp vốn là các khoản vay cho các Chính phủ ở các thị trường mới nổi Trong giai đoạn sau của những năm 1980, các hợp vốn cho mua bán và sáp nhập (M&A)
và mua lại sử dụng đòn bẩy – mua lại bằng vốn vay – mua đứt bằng nợ có thế chấp – đòn bẩy vay
nợ (LBO) trở nên phổ biến Cho vay liên quan đến mua bán và sáp nhập vẫn giữ vai trò quan trọng trong những năm 1990, đặc biệt là trong các lĩnh vực như viễn thông Các trung tâm địa lý của cho vay hợp vốn luôn đặt tại thành phố London, ngay cả khi các tổ chức tham gia hợp vốn được đặt ở những nơi khác, để ít phải sử dụng các cơ sở hạ tầng tài trợ của thị Euromarket
2.1 Quá trình hợp vốn
Người chịu trách nhiệm cho vay của các ngân hàng quốc tế lớn thường là những người đầu tiên phát hiện người đi vay tiềm năng của một khoản vay hợp vốn Các mối quan hệ giữa ngân hàng
và người đi vay tiềm năng càng tốt, thông tin của ngân hàng về nhu cầu mở rộng tài chính của khách hàng càng tốt và cơ hội lớn hơn cho ngân hàng để được đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng những nhu cầu này
Trong khi tìm cách kinh doanh hợp vốn, các ngân hàng dựa trên:
Chi nhánh riêng, văn phòng đại diện, hoặc các chi nhánh khác có mối liên lạc với khách hàng vay có triển vọng
Giới thiệu từ các đơn vị khác của các ngân hàng, hoặc giới thiệu thông qua hợp tác thành lập và các mối quan hệ khách hàng khác
Giới thiệu từ các ngân hàng khác lo ngại trong việc đưa ra dịch vụ cho khách hàng của mình, những ngân hàng không có được vị thế để tự mình đảm nhiệm vai trò dẫn dắt, với những người có mối quan hệ tốt đã được duy trì
Mời mọc trực tiếp từ khách hàng tiềm năng hoặc, trong trường hợp các nhà hợp vốn chủ chốt, các ngân hàng khác
Trang 5 Sự tiếp cận bởi các ngân hàng đầu tư đóng vai trò cố vấn cho khách hàng vay, một trong những tổ chức có chức năng tạo điều kiện tiếp cận thị trường vốn thông qua giới thiệu cho các ngân hàng có thẩm quyền trong hoạt động cho vay hợp vốn
Hiểu biết về người đi vay và các điều kiện của thị trường cho vay quốc tế, một ngân hàng đầu mối tương lai sẽ cẩn thận hoạch định đề nghị để sắp xếp các khoản vay, qua đó tìm kiếm một ủy nhiệm hợp vốn Đề nghị này sẽ xác định về giá cả, điều khoản, phí, và các khía cạnh cần thiết khác của khoản vay, và nó sẽ thể hiện mức độ cam kết của ngân hàng
Cam kết hoàn toàn: các ngân hàng sẽ cung cấp toàn bộ số tiền của khoản vay cho khách hàng vay theo các điều khoản của ủy nhiệm, bất kể có thành công hay không trong nỗ lực thu hút các ngân hàng khác trong việc tham gia vay
Cam kết một phần: Các ngân hàng sẽ đảm bảo để cung cấp một phần của khoản vay, phần còn lại dựa vào phản hồi của thị trường về khoản vay
Nỗ lực tốt nhất: người đi vay sẽ chỉ có được số tiền cần thiết nếu có đủ sự quan tâm
và tham gia giữa các nhà cho vay tiềm năng bằng những nỗ lực mang tính thiện chí của các ngân hàng trong việc tìm kiếm các ủy nhiệm Một mức (hoặc thiếu) cam kết như vậy là rất hiếm, vì các cam kết đại diện cho một phần quan trọng của các giá trị của một khoản vay hợp vốn
Đến thời điểm này, hoặc không lâu sau đó, các ngân hàng có thể đã mang lại một hoặc nhiều nhà quản lý đồng lãnh đạo để giúp đỡ hợp vốn và chia sẻ trong các cam kết, đặc biệt là nếu số tiền được nêu ra là rất lớn hoặc nếu thỏa thuận này là khá phức tạp Nói chung, khoản vay càng lớn, xu hướng nhóm quản lý tham gia càng lớn, bao gồm cả một số " quản lý dẫn đầu", "quản lý", và "đồng quản lý" mỗi nhóm nhận một phần khác nhau của các trách nhiệm và một số thành phần của người tham gia, mà vai trò thường chỉ giới hạn việc cung cấp vốn
Các điều khoản của việc tìm kiếm chính thức, sự ủy nhiệm sẽ dựa theo sự thảo luận rộng rãi với bên đi vay và sẽ được thiết kế cẩn thận với nhu cầu của họ và điều kiện thị trường Các điều khoản sẽ phải hoàn toàn cạnh tranh với các ngân hàng khác theo sau ủy nhiệm tương tự Thư ủy nhiệm cũng sẽ chỉ định độc quyền của các ủy nhiệm, và sẽ lưu ý nhiều lần vai trò dẫn đầu của ngân hàng ủy nhiệm để thực hiện việc hợp vốn
Có nhiều loại thương lượng, chẳng hạn như giữa các kỳ hạn và quy mô của các khoản cho vay, lịch giải ngân và lịch trả nợ, lãi suất, lệ phí, các giao ước hạn chế, và chi tiết hành chính Trong việc tìm kiếm một ủy nhiệm, các ngân hàng đầu mối tương lai phải có sự cân bằng giữa những gì người vay muốn và những gì thị trường có thể đáp ứng được cùng với việc luôn có sự quan sát thận trọng về những gì đối thủ cạnh tranh có thể đề nghị, điều này sẽ mang đến một tổ chức hợp vốn thành công Tuy nhiên, khả năng để đưa ra giá thấp hơn giá cạnh tranh nói chung là rất thấp
Nếu người đi vay quyết định vay hợp vốn, nhiệm vụ sẽ được trao cho một trong các ngân hàng hoặc nhà thầu cạnh tranh, những người sau đó sẽ trở thành ngân hàng đầu mối Giả sử ngân hàng duy nhất giành được nhiệm vụ phải cam kết 500 triệu $, các ngân hàng đầu mối nắm giữ 75 triệu $ trong danh mục đầu tư của mình - "target take - down", do đó sẽ phải tìm một cách để bán
425 triệu $ còn lại cho các ngân hàng khác, để làm được phải phát triển một chiến lược để nâng cao khả năng thành công, nhưng đòi hỏi phải chia sẻ chi phí quản lý và tầm nhìn để đưa các khoản vay lại với nhau Một số ngân hàng khác sẽ được yêu cầu cùng nhau quản lý hoặc đồng quản lý khoản
Trang 6vay, tuy nhiên, như vậy sẽ phân bổ một phần trong tổng số vốn, một phần trong đó họ sẽ đưa vào danh mục đầu tư của mình và phần còn lại có thể phân bổ lần lượt cho những người tham gia hợp vốn khác
Các ngân hàng đầu mối thường được dự kiến sẽ chiếm một phần lớn trong khoản vay đó ít nhất là lớn đối với bất kỳ người cho vay khác Người quản lý và đồng quản lý ban đầu có thể nắm giữ từ 50% đến 70% tổng số vốn vay cho danh mục đầu tư của mình, nhiều trong số đó có thể được bán sau đó
Cho vay hợp vốn được kết hợp bởi ngân hàng đầu mối trên cơ sở gửi thư mời qua e-mail cho các ngân hàng trên thế giới, kèm theo các điều khoản và thông tin khoản vay khác
Quyết định để mời các ngân hàng vào tổ hợp vốn là một nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng đầu mối Nó phải có khả năng đánh giá được rủi ro quốc gia và rủi ro công nghiệp, các mối quan hệ trong quá khứ, mức độ tinh tế của ngân hàng tham gia hợp vốn, các mối quan hệ riêng của mình với người được mời, và các yếu tố tương tự mà sẽ xác định khả năng các ngân hàng được mời dễ dàng tiếp nhận thỏa thuận Trong một số trường hợp, người đi vay cũng sẽ thể hiện một sở thích về việc những ngân hàng nào cần (và không cần) mời tham gia Liên hệ với một số lượng lớn các ngân hàng
để có được 20 hoặc 30 thành viên cuối cùng không phải là bất thường Các ngân hàng được mời tham gia thường sẽ giảm hoặc yêu cầu thêm cơ sở của các thông tin cung cấp, và ngân hàn đầu mối
sẽ theo dõi cẩn thận các phản ứng
Ngân hàng đầu mối sẽ chuẩn bị một bản ghi nhớ các thông tin, trong đó người đi vay sẽ công khai tình hình tài chính và kinh tế thích hợp với mức độ tín nhiệm hiện tại và dự kiến, kèm theo các điều khoản và thông tin khoản vay được gửi đến các ngân hàng quan tâm
Nếu mọi thứ diễn ra tốt đẹp, khoản vay sẽ được đăng ký đầy đủ Nếu số lượng đăng ký lớn hơn, người tham gia sẽ được tính theo tỷ lệ giữa các ngân hàng quan tâm hoặc đôi khi tổng số tiền của khoản vay sẽ được tăng lên Nếu không đủ nguồn vốn huy động từ vay hợp vốn, sau đó các ngân hàng trong nhóm quản lý sẽ phải tự cân bằng, và do đó nếu vượt quá mục tiêu target take-downs hợp vốn phải được cam kết hoàn toàn Các ngân hàng không muốn khách hàng của họ thất vọng, nhưng đôi khi họ phải từ chối tiến hành cho vay nếu không thể cung cấp nó, và cam kết với khách hàng là có điều kiện làm như thế
Như vậy, số lượng đăng ký thấp hơn hoặc lớn hơn đều cần phải tránh, và đây là lý do tại sao các điều khoản cho vay để thị trường tiếp nhận độ chính xác trong việc định giá, là một yếu tố quyết định quan trọng về năng lực lãnh đạo trong cho vay hợp vốn Riêng người tham gia mong muốn trình bày một hồ sơ rủi ro lợi nhuận thuận lợi, được so sánh với các khoản cho vay trong thị trường,
và được cung cấp trong những tháng sắp tới Ngân hàng đầu mối với một hồ sơ hoàn thành giao dịch như vậy được thưởng bằng việc nâng cao vai trò lãnh đạo hơn nữa và thêm bài báo hấp dẫn đối với danh mục đầu tư của mình
Theo đó, hợp đồng vay nợ sẽ được lập dứt khoát, trong đó nêu rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, luật chi phối, và các vấn đề liên quan Ngay sau khi hoàn thành việc hợp
Trang 7vốn, làm việc trên các thỏa thuận cho vay cũng có thể tiếp tục cho đến khi tất cả hai bên đồng ý Không có ngân hàng nào được cam kết cho vay hợp vốn cho đến khi nó chấp nhận các điều khoản của thỏa thuận, và nếu không có sự đồng thuận nó có thể dễ dàng rút khỏi tổ hợp vốn Tuy nhiên, phần lớn thời gian các tài liệu hướng dẫn cho vay là đủ tiêu chuẩn, còn thời gian chuẩn bị và câu hỏi
có chấp nhận hay không chỉ là những vấn đề tương đối nhỏ
Có một số biến thể của mô hình cho vay hợp vốn này Nếu điều kiện thị trường không tiếp nhận một hợp vốn đầy đủ, hoặc nếu một khách hàng vay là thường xuyên trên thị trường vốn, có thể sắp xếp một "câu lạc bộ vay mượn" với một số ít các ngân hàng nổi tiếng cho người đi vay, nơi mà một bảng ghi nhớ riêng biệt là không cần thiết, và các ngân hàng đầu mối cùng với phần còn lại của câu lạc bộ cung cấp toàn bộ số tiền của khoản vay Trong hợp vốn, một phần lớn bất thường được cung cấp bởi các nhà quản lý, và phần còn lại được cung cấp bởi một số lượng tương đối nhỏ của những người tham gia có hiểu biết rõ về người đi vay, do đó được tham gia vào với nhiều cơ sở đặc quyền hơn
Trong một số khoản vay, một hoặc nhiều ngân hàng sẽ bảo lãnh toàn bộ tài chính và thực hiện các thỏa thuận vay, sau đó cá nhân bán lại quyền tham gia cho một số ngân hàng khác mà không có cấu trúc hình thức vay hợp vốn Cũng được gọi là pre-advanced hợp vốn, người vay thực
sự được tiền từ các ngân hàng đầu mối trước khi khoản vay được bán xuống
Toàn bộ quá trình cung cấp thông tin hợp vốn bất cứ nơi nào thường phải mất từ ít nhất một tuần đến ba tháng, tùy thuộc vào người vay, sự phức tạp của hợp đồng, điều kiện thị trường, quy mô của khoản vay, và các yếu tố tương tự Tất cả các chi phí khác có liên quan đến cho vay hợp vốn, bao gồm chi phí pháp lý, quảng cáo, du lịch, và các chi phí thông tin liên lạc được tính vào chi phí của người đi vay
2.2 Kỳ hạn và cơ cấu cho vay
Cho vay hợp vốn thông thường là trung hạn (5-10 năm), do đó các ngân hàng tham gia lo ngại về khả năng và sự sẵn sàng của người vay để phục vụ cho vay đối với độ dài của thời gian Đó
lý do dẫn đến tầm quan trọng của Chính phủ và việc Chính phủ bảo lãnh vay trên thị trường theo thời gian, đặc biệt là trong giai đoạn bất ổn như năm 2008
Nhu cầu vay nhất định, kỳ hạn cho vay có xu hướng theo điều kiện thị trường và mức độ tín nhiệm Cho vay hợp vốn bao gồm lịch trình rút vốn, khi đó khi người vay sẽ được bên giao đại lý cho vay và trả lại tiền Ở đây có thể là một thời gian ân hạn vài năm khi không trả nợ gốc, hoặc sau
đó trả nợ có thể được thực hiện cùng một lúc khi đến hạn (một "bullet loan"), hoặc theo một số lịch trình đã thoả thuận khác trong suốt thời gian vay
2.3 Giá
Các khoản vay hợp vốn ở ngân hàng quốc tế thường được định giá trên một thỏa thuận lãi suất thả nổi cơ bản, trong hầu hết các trường hợp, các liên ngân hàng London cung cấp giá (LIBOR), như là một proxy cho chi phí của các ngân hàng Lãi phải trả của khách hàng vay được điều chỉnh vào một ngày tái đầu tư, thường mỗi 3 hoặc 6 tháng, tùy theo lựa chọn của khách hàng
Trang 8vay Cơ sở thả nổi này được thêm một phí bảo hiểm theo hợp đồng, hoặc có thể được cố định trong suốt thời gian vay hoặc có thể được tách ra - đó là cố định tại một biên độ trong những năm đầu tiên,
và một biên độ khác ở một phần hay toàn bộ thời gian còn lại Ví dụ, tỷ lệ trên 8 năm tín dụng hợp vốn để người vay chính có thể được đặt ở LIBOR 3/4% trong 5 năm đầu và LIBOR + 7/8% cho phần thời gian còn lại Khả năng mở rộng hoặc thu hẹp biên độ trong tương lai tách khỏi ngân hàng với một số rủi ro lãi suất, ngay cả trên các khoản vay có lãi suất thả nổi; ví dụ, một ngân hàng có thể tham gia hợp vốn có giá tính ngày hôm nay, nhưng điều kiện thị trường có thể gây khó khăn (như đã từng xảy ra trong năm 2008) cho các ngân hàng để có quỹ tại LIBOR, trong trường hợp này biên độ cho vay của nó sẽ ít hơn mà biên độ đã được đồng ý
Lãi suất có thể được kết hợp với tỉ lệ trần, sàn, hoặc quyền chọn xác định độ lệch tối đa cho phép từ điểm chuẩn lãi suất nhằm bảo vệ người đi vay từ những thay đổi mạnh mẽ trong lãi suất Các ngân hàng vẫn có thể gặp phải rủi ro tín dụng và rủi ro quốc gia, cũng như rủi ro tài trợ đó là nguy cơ các quỹ bằng tiền cần thiết có thể không có sẵn khi tài trợ cho khoản vay
Tất cả các khoản thanh toán gốc và lãi các khoản vay hợp vốn được quy định ròng với người cho vay - đó là miễn phí và rõ ràng với tất cả các loại thuế đánh theo quốc gia của người vay, hoặc hoàn toàn khấu trừ đối với các loại thuế đánh vào đất nước của ngân hàng Trách nhiệm pháp lý các loại thuế đánh vào khoản vay hợp vốn là điểm thường đạt được trong thương lượng Những người tham gia cho vay hợp vốn có xu hướng khá tách biệt trong việc thẩm định giá cho vay, không giống như các ngân hàng trong nhóm quản lý, vì họ có rất ít hoặc không có gì mối quan hệ với khách hàng vay Những gì tốt cho các nhà quản lý không hẳn là tốt cho những người tham gia
Tuy nhiên trong quá khứ, các ngân hàng đã tham gia hợp vốn với biên độ nhỏ, để bù đắp cho nhu cầu vay vốn ở nơi khác, đảm bảo tiếp cận thị trường hay một khách hàng, hoặc để tạo ra cơ hội cho lợi nhuận, vì đánh giá rủi ro cẩu thả và quản lý danh mục cho vay
2.4 Phí
Một lãi suất đặc biệt trong việc đánh giá lợi nhuận cho các ngân hàng từ cho vay hợp vốn là các khoản lệ phí do khách hàng vay trả cho những người tham gia cho vay
Đầu tiên ngân hàng sẽ được trả một khoản đền bù cho việc sắp xếp và bảo lãnh phát hành khoản nợ, bao gồm việc giả định những rủi ro gồm có Điều này thường có dạng như là một một loại phí trả trước - là tỷ lệ phần trăm cố định trong tổng cho vay (ví dụ 1%) được trả tại thời điểm ký hợp đồng Tỷ lệ phí thu này phụ thuộc vào giá trị và độ phức tạp của khoản vay, bản chất của người vay, cạnh tranh giữa các ngân hàng cho các yếu tố kinh doanh và những nhân tố tương tự khác
Thứ hai, một phần của khoản lệ phí thường sẽ được chia cho các ngân hàng cùng tham gia cho vay hợp vốn, đặc biệt khi mà khoản cho vay lớn Phí tham gia này có dạng như là tỷ lệ phần trăm cố định trên số tiền cuối cùng của mỗi ngân hàng cho vay Nó thường được chia thành nhiều tỷ
lệ khác nhau dựa trên mức độ tham gia của các nhóm các ngân hàng
Thứ ba, khi có một khoản vay không được rút ra ngay lập tức, nhưng ngân hàng cũng phải
có sẵn khoản tiền này cho khách hàng vay, theo quy định trong hợp đồng cho vay, phí cam kết thường là tỷ lệ phần trăm cố định (ví dụ là ½%) trên phần chưa rút của khoản vay bắt đầu từ ngày giao kết và tính theo tỷ lệ giữa các ngân hàng tham gia
Trang 9Cuối cùng, các ngân hàng đại lý trong cho vay hợp vốn thông thường sẽ thương lượng một khoản phí đại lý, thường là một khoản tiền cố định (ví dụ $150,000 mỗi năm trong suốt thời hạn vay) được trả trước hoặc trả hàng năm bởi người đi vay, để công nhận trách nhiệm của ngân hàng trong việc quản lý vay một khi nó đã được ban hành
Trong khi phí ngân hàng đại lý và phí cam kết được thiết lập rõ ràng trong các điều khoản thỏa thuận, việc phân chia các khoản phí quản lý giữa các thành viên hợp vốn là một vấn đề rất phức tạp Trên một khoản vay cam kết 100 triệu USD, ngân hàng đầu mối thương lượng được lệ phí được hưởng khi cho vay khoản vay này là 1%, hoặc 1 triệu USD trên tổng khoản cho vay đó và ngân hàng này sẽ phân phối khoản lệ phí $750,000 cho các ngân hàng cùng tham gia cho vay hợp vốn, nhưng giữ lại ¼% ($250,000) cho chính mình như là một khoản phí bồi thường cho "quản lý của quản lý" Phần ¼% này được gọi là một praecipium và đại diện cho lợi nhuận duy nhất mà ngân hàng đầu mối
có được khi đàm phán khoản chi phí
Khoản phí được hưởng của các ngân hàng hợp vốn dựa trên tỷ lệ góp vốn cho vay như sau: các ngân hàng đầu mối và các ngân hàng đồng tài trợ được hưởng ¾% khi cho vay ít nhất 10 triệu USD, ½% cho các ngân hàng tham gia ở mức 5 triệu đồng hay hơn và ¼% cho các ngân hàng cho vay mức dưới 5 triệu
Giả sử, trong tổng số cho vay 100 triệu USD, ngân hàng đầu mối cho vay 15 triệu USD vào danh mục đầu tư của mình, bốn ngân hàng đồng quản lý mỗi ngân hàng đầu tư mức 10 triệu đồng, cộng với sáu ngân hàng mỗi ngân hàng 5 triệu và 15 ngân hàng mỗi ngân hàng 1 triệu Trên lệ phí
có sẵn khi cho vay hợp vốn là 750.000 USD, ngân hàng đầu mối được hưởng 112,500 USD (3/4% trên 15 triệu USD cho vay) Các ngân hàng đồng quản lý có được 300,000 USD (3/4% trên 10 triệu USD x 4 ngân hàng); những ngân hàng tham gia cấp một nhận được 150.000 USD (1/2% trên 5 triệu USD x 6 ngân hàng) và ngân hàng tham gia cấp hai có được 37,500 USD (1/4% trên 1 triệu USD x 15 ngân hàng) Dưới những điều kiện này, tổng cộng 600,000 USD lệ phí tham gia đã được chia, để lại 150,000 USD chưa phân bổ, được gọi là "quỹ chung" Quỹ chung này thường được phân phối cho các nhóm quản lý tương ứng với các cam kết bảo lãnh cá nhân của họ
Tóm tắt lại như sau:
Tổng cho vay: 100 triệu USD
Khoản phí được
hưởng: 1 triệu USD (1%)
Lệ phí được chia: 750,000 USD
Số lượng ngân hàng
Số tiền góp vốn/ 1 NH
% phí được hưởng
Số tiền được nhận
Ngân hàng đồng tài
Trong ví dụ này, lệ phí 1 triệu USD được phân chia cho các ngân hàng như sau:
Trang 10Tham gia 112,500
$403,409 (1 ngân hàng) Mỗi ngân hàng đồng quản lý nhận:
Mỗi thành viên cấp 1 được nhận:
Mỗi thành viên cấp 2 được nhận:
Tổng cộng: $403,409 + $102,373 (4) + $25,000 (6) + $2,500 (15) ~ 1 triệu USD
Phần hố bơi của ngân hàng đầu mối và 4 ngân hàng đồng quản lý được tính như sau:
- Tổng số tiền ngân hàng đầu mối và 4 ngân hàng đồng quản lý cho vay:
$15,000,000 + 4 x $10,000,000 = $55,000,000
Phần hố bơi là: $150,000 dành cho những ngân hàng tham gia quản lý
=> Ngân hàng đầu mối được hưởng từ số tiền trên là: x 150,000 = 40,909
Mỗi ngân hàng đồng quản lý được nhần: x 150,000 = 27,273
Lợi nhuận trên tài sản (trước lãi vay) đối với ngân hàng đầu mối là 2,69%; đối với ngân hàng đồng quản lý là 1,02%, thành viên tham gia cấp 1 là 0,5% và cho thành viên tham gia cấp thứ hai 0,25% Nhưng vì những khoản phí là ngay lập tức, tương đương lãi suất dựa trên tuổi thọ trung bình của khoản vay là tỷ lệ tương ứng cao hơn Điều này cho thấy tầm quan trọng mà phí tín dụng liên quan đến xu hướng giả định trong việc đánh giá lại tổng thể của ngân hàng đối với hoạt động cho vay hợp vốn, và lý do tại sao các ngân hàng tìm được khách hàng vay trở thành ngân hàng đầu mối
và giữ lại một phần tương đối nhỏ của khoản vay Mục tiêu cho các ngân hàng đầu mối là tối đa hóa khoản phí thu được cho mỗi đô la thực sự cho vay Như vậy, rõ ràng là ngân hàng lớn đóng vai trò quan trọng trong việc cho vay hợp vốn, cạnh tranh mạnh để trở thành ngân hàng đầu mối và đôi khi đẩy các ngân hàng cho vay khác với các điều khoản không phù hợp với các rủi ro liên quan
Khi các thành phần của lợi nhuận cho các ngân hàng tham gia (và chi phí cho khách hàng vay), biên lãi và lệ phí rõ ràng là có liên quan Phí hợp đồng có thể chênh lệch tùy mức độ tín nhiệm của khách hàng vay, bên vay có thể đồng ý trả lệ phí cao hơn để bồi thường cho người cho vay, để cải thiện vị trí của mình trong thị trường vay trong tương lai Tương tự như vậy, người đi vay sẽ đôi khi thực hiện khoản tài trợ chuẩn - khoản vay hợp vốn với giá cả cực kỳ tốt, ngay cả khi không có nhu cầu thực sự cho quỹ (thị trường sẽ có một cái nhìn với người đi vay với một uy tín tín dụng đặc biệt) để cố gắng cải thiện điều kiện vay vốn trong tương lai Tên của một người vay trên thị trường
sẽ được cải thiện theo thời gian, cũng như hiệu suất cạnh tranh của ngân hàng và cả hai đều có một
sự thương lượng tốt về gía cả và phí
2.5 Chức năng đại lý