1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn chính sách thuế phạm vi ảnh hưởng của thuế

25 447 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Một số đặc điểm của thuế trực thu và thuế gián thu: Thuế trực thu - Có tính công bằng hơn thuế gián thu phần đóng góp về thuế phù hợp với khả năng của từng đối tượng, có tính phân lo

Trang 1

MỤC LỤC

I NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ 1

1 Nguyên tắc 1: Trách nhiệm pháp lý của thuế không phân định rõ ai là người gánh chịu thuế thực sự 1

2 Nguyên tắc 2: Khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào không phản ánh thích hợp sự phân phối gánh nặng thuế 4

3 Nguyên tắc 3: Những đối tượng có cung hoặc cầu không co giãn thì gánh chịu thuế hoàn toàn 5

II MỞ RỘNG PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ 8

1 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất 8

2 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo 11

3 Phạm vi ảnh hưởng của thuế và vấn đề vốn hóa 15

4 Phạm vi ảnh hưởng của thuế đến sự cân bằng ngân sách 16

III CÂN BẰNG TỔNG THỂ 17

1 Xác định tính tương đương của thuế trong mô hình cân bằng tổng thể 17

2 Mô hình cân bằng tổng thể của Harberger 18

3 Phân tích sự tác động các loại thuế khác nhau 19

4 Một vài đặc tính khác cần xem xét 23

IV KẾT LUẬN 24

Trang 2

1

PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ

I NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ

1 Nguyên tắc 1: Trách nhiệm pháp lý của thuế không phân định rõ ai là người gánh chịu thuế thực sự

Khi đưa một sắc thuế vào vận hành cần xác định rõ phạm vi ảnh hưởng của thuế Để xác định phạm vi tác động của thuế cần phân biệt các khái niệm: Phạm vi ảnh hưởng do luật pháp quy định và phạm vi ảnh hưởng kinh tế

1.1 Phạm vi ảnh hưởng do luật pháp quy định

Phạm vi ảnh hưởng của luật pháp là xác định chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý

về nghĩa vụ nộp thuế Đặc biệt đối với thuế gián thu và thuế trực thu, chủ thể chịu thuế và chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý có sự khác nhau

 Thuế trực thu (direct tax): là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập,

lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân Thuế trực thu là loại thuế

mà người, hoạt động, tài sản chịu thuế và nộp thuế là một Các loại thuế trực thu: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế tài nguyên, thuế nhà đất

VD: Doanh nghiệp A có lợi nhuận trước thuế năm 2014 là 1 tỷ đồng, giả sử thuế TNDN hiện tại là 25% thì số tiền thuế TNDN phải nộp là: 1 tỷ đồng x 25%

= 250 triệu đồng

 Thuế gián thu (indirect tax): là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ

phận cấu thành giá cả của hàng hóa Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung gian (thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng

là một Chẳng hạn, chính phủ đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công

ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Các loại thuế gián thu: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường

Trang 3

2

VD: Anh B mua quyển sách giá chưa thuế 50.000 đồng, thuế VAT 10% Vậy tổng số tiền anh B phải thanh toán là 55.000 đồng, trong đó anh B phải gánh chịu 5.000 đồng tiền thuế VAT và số tiền này người bán có trách nhiệm đi nộp

 Một số đặc điểm của thuế trực thu và thuế gián thu:

Thuế trực thu

- Có tính công bằng hơn thuế gián thu (phần đóng góp về thuế phù hợp với khả năng của từng đối tượng), có tính phân loại đối tượng nộp

- Hạn chế sự cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng

- Có thể dẫn tới những phản ứng từ chối hoặc trốn thuế

- Việc quản lý thu thuế phức tạp và chi phí cao

Thuế gián thu

- Dễ thu vì tránh quan hệ trực tiếp giữa người chịu thuế với cơ quan thu thuế, dễ điều chỉnh

vi ảnh hưởng kinh tế, theo quan điểm của các nhà kinh tế học, cho dù phạm vi ảnh hưởng của các loại thuế có khác nhau, suy cho cùng chỉ có con người mới thực sự gánh chịu thuế Xác định người gánh chịu thuế phục vụ cho mục đích phân tích sự tác động của thuế, đặc biệt là phân tích sự tác động của thuế đến mức độ phân phối thu nhập của xã hội

Khi thuế đánh vào người sản xuất trong một thị trường cạnh tranh, thì họ sẽ gia tăng giá cả ở chừng mực nhất định để bù đắp gánh nặng thuế và thu nhập của người sản xuất sẽ không giảm xuống bằng đúng số tiền thuế

Gánh nặng thuế NSX = (Giá trước thuế - giá sau thuế) + Thuế nộp bởi NSX

Trang 4

3

Khi thuế đánh vào người tiêu dùng trong thị trường cạnh tranh thì họ sẽ không sẵn lòng mua nhiều hàng hóa bị đánh thuế vì thế giá cả sẽ giảm xuống

Gánh nặng thuế NTD = (Giá sau thuế - giá trước thuế) + Thuế nộp bởi NTD

Ví dụ: Ta xét thuế đánh vào thị trường dầu lửa và người sản xuất phải nộp thuế với phương trình đường cung và đường cầu lần lượt như sau:

Cung: QS = 50PS + 25; Cầu: QD = -100/3PD + 150

Ban đầu thị trường dầu lửa cân bằng tại điểm A với giá P1 = 1,5 đôla tại mức sản lượng Q1 = 100 tỷ gallon Khi chính phủ đánh thuế 0,5 đôla vào người sản xuất dầu lửa Khi đó đường cung S1 dịch chuyển sang S2 với đường cung S2: QS = 50PS Giá cả tiếp tục gia tăng đến khi thị trường đạt được điểm cân bằng mới (điểm D) với giá thị trường P2 = 1,8 đôla và số lượng là 90 tỷ gallon Giá cả thị trường bây giờ cao hơn 0,3 đôla so với trước khi đánh thuế

Điều này gây ra hai ảnh hưởng đến những người tham gia thị trường dầu lửa:

 Thứ nhất: làm thay đổi giá cả thị trường tăng 0,3 đôla từ 1,5 đôla lên 1,8 đôla

 Thứ hai: người sản xuất phải nộp thuế cho chính phủ 0,5 đôla/gallon được bán trên thị trường

Từ góc độ của người tiêu dùng, họ phải trả thêm 0,3 đôla/gallon mặc dù người tiêu dùng không chịu trách nhiệm pháp lý nộp thuế cho chính phủ mà là người sản xuất có trách nhiệm nộp thuế 0,5 đôla so với người sản xuất đến người tiêu dùng

Trang 5

4

 Gánh nặng của người tiêu dùng = (1,8 – 1,5) + 0 = 0,3 đôla

 Gánh nặng của người sản xuất = (1,5 – 1,8) + 0,5 = 0,2 đôla

 Tổng số gánh nặng là 0,5 đô la, đây còn gọi là góc thuế: chênh lệch giữa số tiền người tiêu dùng trả 1,8 đôla và người sản xuất nhận được 1,3 đôla

2 Nguyên tắc 2: Khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào không phản ánh thích hợp sự phân phối gánh nặng thuế

Có nghĩa là gánh nặng thuế là giống nhau cho dù đánh thuế vào người sản xuất hay người tiêu dùng Bây giờ chúng ta xét trường hợp người tiêu dùng là người chịu trách nhiệm pháp lý nộp thuế chứ không phải là người sản xuất như được trình bày trong nguyên tắc 1

Trước khi đánh thuế, người tiêu dùng sẵn lòng trả P1 = 1,5 đôla để có được Q1 =

100 tỷ gallon tại điểm cân bằng A Với việc phải trả thêm 0,5 đôla tiền thuế cho mỗi đơn vị sản phẩm tiêu dùng, đường cầu D1 dịch chuyển sang D2 dẫn đến mức giá cân bằng mới trên thị trường đạt P2 = 1,3 đôla với Q2 = 90 tỷ gallon

Điều này gây ra hai ảnh hưởng đến những người tham gia thị trường dầu lửa

 Thứ nhất: làm thay đổi giá cả thị trường giảm từ 1,5 đôla xuống 1,3 đôla

 Thứ hai: người tiêu dùng là người chịu trách nhiệm nộp thuế cho chính phủ

Từ góc độ của người tiêu dùng, thuế 0,5 đôla được bù lại bởi sự giảm đi 0,2 đôla giá cả thị trường

Từ góc độ của người sản xuất, với mức thuế 0,5 đôla, họ nhận ít hơn 0,2 đôla trên mỗi đơn vị dầu lửa được bán

Trang 6

5

Mặc dù người sản xuất không có trách nhiệm pháp lý nộp thuế nhưng cả người tiêu dùng lẫn người sản xuất đều gánh chịu gánh nặng thuế vì giá cả giảm đã chuyển gánh nặng thuế từ người tiêu dùng sang người sản xuất

 Gánh nặng của người tiêu dùng = (1,3 – 1,5) +0,5 = 0,3 đôla

 Gánh nặng của người sản xuất = (1,5 – 1,3) + 0 = 0,2 đôla

 Ta thấy dù người sản xuất hay người tiêu dùng nộp thuế thì gánh nặng chịu thế của hai đối tượng này không thay đổi

Trước khi đánh thuế, chỉ có duy nhất một giá thị trường Nhưng khi đánh thuế,

có 2 loại giá:

 Tổng giá cả: giá phải trả hoặc nhận được bởi chủ thể không phải nộp thuế

 Giá sau thuế: = tổng giá cả trừ (-) tiền thuế NSX nộp

hoặc = tổng giá cả cộng (+) tiền thuế NTD nộp

3 Nguyên tắc 3: Những đối tượng có cung hoặc cầu không co giãn thì gánh chịu thuế hoàn toàn

Trong ví dụ trước, chúng ta miêu tả trường hợp mà trong đó người tiêu dùng gánh chịu gánh nặng thuế cao hơn người sản xuất Tuy nhiên, nó chỉ là một trong nhiều kết quả có thể xảy ra Phạm vi ảnh hưởng của đánh thuế đối với người sản xuất và người tiêu dùng cùng được quyết định bởi độ co giãn của cung và cầu

3.1 Cầu hoàn toàn không co giãn

Một lần nữa chúng ta xem xét trường hợp mà trong đó đánh thuế 0,5 đôla/gallon dầu lửa vào người sản xuất nhưng ở đây đường cầu dầu lửa không co giãn hoàn toàn

Ở điểm cân bằng ban đầu, ta có số lượng Q1 = 100 tỷ gallon ở mức giá P1 = 1,5 đôla Khi thuế đánh vào người sản xuất, điều này làm gia tăng chi phí biên lên 0,5 đôla, khi đó đường cung dịch chuyển từ S1 sang S2, điểm cân bằng bây giờ tại P2 =

2 đôla cao hơn P1 = 1,5 đôla

Trang 7

6

Lúc này, gánh nặng chịu thuế được xác định như sau:

 Người sản xuất: (1,5 – 2) + 0,5 = 0 đôla

 Người tiêu dùng : (2 – 1,5) + 0 = 0,5 đôla

 Như vậy, khi đường cầu không co giãn thì người sản xuất không chịu gánh nặng thuế trong khi đó người tiêu dùng lại chịu hoàn toàn, đây là sự dịch chuyển hoàn toàn thuế vào người tiêu dùng

3.2 Cầu co giãn hoàn toàn

Ta cũng xét tương tự trong thị trường dầu lửa, nhưng trong trường hợp này cầu

co giãn hoàn toàn, ta có phương trình đường cung cầu trong trường hợp này như sau:

QS = 50PS + 25; PD = 1,5

Ban đầu thị trường cân bằng ở mức P1 = 1,5 đôla và Q1 = 100 tỷ đôla dầu lửa Khi đánh thuế 0,5 đôla/gallon, đường cung dịch chuyển từ S1 đến S2 Giá cả cân bằng vẫn ở mức P1 = 1,5 đôla, nhưng số lượng giảm xuống Q2 = 90 tỷ gallon

Trang 8

Kết luận: Khi cầu càng ít co giãn thì gánh nặng thuế của người tiêu dùng càng cao,

gánh nặng thuế của nhà sản xuất càng thấp và ngược lại Khi cầu không co giãn thì

người tiêu dùng gánh chịu thuế hoàn toàn

3.3 Mức co giãn của cung

Mức co giãn của cung cũng ảnh hưởng đến mức độ phân phối của gánh nặng thuế Đường cung co giãn hơn khi người sản xuất có thể sử dụng các nguồn lực đầu vào thay thế hơn

Ví dụ: trong ngắn hạn, nhà máy thép có cung không co giãn, nhà máy không thể

dễ dàng chuyển công nghệ luyện thép sang công nghệ chế tạo nhựa hoặc chế biến

gỗ do chí phí bỏ ra rất cao Ngược lại, đường cung của người bán dạo trên đường phố lại rất co giãn bởi cá nhân người bán dạo có mức đầu tư thấp, nếu như chính phủ đánh thuế họ dễ dàng chuyển sang đầu tư lĩnh vực khác

So sánh phạm vi ảnh hưởng thuế đánh vào nhà máy thép và thuế đánh vào người bán dạo biểu thị qua 2 biểu đồ sau:

Trang 9

8

Qua đó có thể nhận thấy khi cung ít co giãn hơn cầu thì người sản xuất gần như gánh chịu phần thuế lớn hơn Và khi cung co giãn hơn cầu (cầu ít co giãn hơn) thì người tiêu dùng (người bán dạo) gánh chịu phần thuế lớn hơn Do vậy, phạm vi ảnh hưởng của thuế cũng được quyết định bởi độ co giãn của cung,

Kết luận: Khi cung càng ít co giãn thì gánh nặng thuế của nhà sản xuất càng cao,

gánh nặng thuế của người tiêu dùng càng thấp và ngược lại Khi cung không co

giãn thì nhà sản xuất gánh chịu thuế hoàn toàn

II MỞ RỘNG PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ

1 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất

Sự phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất giống như trong thị trường hàng hóa tiêu dùng Chỉ có điểm khác biệt đó là người tiêu dùng các yếu tố sản xuất là các doanh nghiệp và người cung cấp các yếu tố sản xuất là các cá nhân (lao động)

Để hiểu rõ hơn về phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường này, ta sẽ xem xét các ví dụ cụ thể trong hai trường hợp:

 Không có trở ngại đối với điều chỉnh tiền lương (không có quy định mức lương tối thiểu phải trả cho người lao động)

 Có trở ngại đối với điều chỉnh tiền lương (quy định mức lương tối thiểu phải trả cho người lao động)

1.1 Không có trở ngại đối với điều chỉnh tiền lương

Giả sử có thị trường lao động với đường cung (S1) và đường cầu (D1) Thị trường cân bằng ban đầu, trước thuế, với tiền lương W1 = 5,15 đôla/giờ lao động tại điểm A

1.1.1 Thuế đánh vào người lao động

Giả sử chính phủ đánh thuế tiền lương: 1 đôla/giờ trên tất cả người lao động Thuế làm giảm thấp thu nhập lao động 1 đôla Kết quả là, người lao động yêu cầu phải gia tăng thêm 1 đôla tiền lương bù vào tiền thuế để sẵn lòng làm việc

Trang 10

9

Hình II.1.1.1

Hình II.1.1.1 cho thấy khi đó, cung lao động sẽ dịch chuyển từ S1 đến S2 Đường cầu không dịch chuyển, dẫn đến tiền lương cân bằng tại điểm B: W2 = 5,65 đôla (cao hơn W1) Phạm vi ảnh hưởng của thuế được chia sẻ bởi người lao động

và công ty phù hợp với độ co giãn của đường cung và đường cầu Trong ví dụ này,

độ co dãn của cung và cầu bằng nhau nên gánh nặng thuế được chia sẻ như nhau: tiền lương gia tăng lên 5,65 đôla/1 giờ và những người lao động sẽ nhận được 4,65 đôla/1 giờ sau khi nộp thuế 1 đôla Công ty và người lao động mỗi người gánh chịu

50 cent của 1 đôla thuế thể hiện trong như trong hình Công ty trả tiền lương cao hơn 50 cent (5,65 đôla), nhưng bởi vì phải nộp thuế 1 đôla, nên người lao động nhận ít hơn 50 cent tiền lương sau thuế (4,65 đôla) Tổng tiền lương trong thị trường gia tăng đến 5,65 đôla, nhưng tiền lương sau thuế giảm xuống còn 4,65 đôla

1.1.2 Thuế đánh vào công ty

Tiếp theo ta xét ảnh hưởng đến thị trường lao động khi đánh thuế tiền lương,

công ty chịu trách nhiệm nộp thuế thay vì người lao động nộp thuế Hình II.1.1.2

cho thấy trong trường hợp này, đường cung lao động S1 không dịch chuyển và bởi

vì thuế đánh vào người tiêu dùng (công ty), đường cầu lao động giảm xuống và dịch chuyển từ D1 đến D2 Điểm cân bằng dịch chuyển xuống vị trí mới tại điểm C với tiền lương cân bằng mới W3 = 4,65 đôla (thấp hơn tiền lương cân bằng ban đầu) và gánh nặng thuế không thay đổi

Công ty gánh chịu gánh nặng 50 cent như trước đó; tuy nhiên không phải trả tiền lương cao hơn 50 cent, bây giờ họ trả tiền lương (4,65 đôla) thấp hơn 50 cent

Trang 11

Hình II.1.1.2

Như vậy, khi không có trở ngại đối với sự điều chỉnh tiền lương tối thiểu phạm

vi ảnh hưởng của thuế đánh vào tiền lương cho thấy không có sự khác biệt: thuế

tiền lương (để tài trợ cho an sinh xã hội) đánh vào cả người lao động và vào công

ty, không đánh 100% vào người lao động hoặc công ty Nguyên tắc thứ hai của phạm vi ảnh hưởng thuế nói lên rằng dù quyết định gánh nặng của thuế tiền lương

là tổng quy mô thuế (tổng góc thuế), nhưng không nói lên thuế được phân phối như thế nào giữa người lao động (cung) và công ty (cầu)

1.2 Có trở ngại đối với điều chỉnh tiền lương

Giả sử mức tiền lương tối thiểu bắt buộc mà tất cả người lao động được thanh toán cho mỗi giờ lao động là 5,15 đôla

Xét trường hợp tiền lương đánh vào người lao động Trong trường hợp này, tiền lương tối thiểu không có ảnh hưởng đến phân tích phạm vi ảnh hưởng do khi đánh thuế, tiền lương mà công ty phải trả là 5,65 đô la (giống như trường hợp 1.1.1), mức lương này cao hơn mức lương tối thiểu bắt buộc

Trang 12

11

Xét trường hợp thuế tiền lương đánh vào công ty (Hình II.1.2) Trong trường hợp này, đường cung S1 không dịch chuyển và đường cầu dịch chuyển từ D1 đến D2 Tuy nhiên, công ty không thể hạ thấp tiền lương đến mức 4,65 đôla (điểm C), bởi vì thấp hơn mức tiền lương pháp lý Tiền lương phải duy trì ở mức 5,15 đôla; công ty phải gánh chịu toàn gánh nặng thuế và nộp thuế cho chính phủ Mức tiền lương công ty phải trả là 6,15 đôla Đường cầu mới D2 cắt đường tiền lương tối thiểu (điểm C’)

Hình II.1.2

Như vậy, khi có trở ngại đối với sự điều chỉnh tiền lương tối thiểu phạm vi ảnh

hưởng của thuế đánh vào tiền lương cho thấy có sự khác biệt khi đánh thuế vào

người lao động hay công ty

2 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

Trong phần này chúng ta nghiên cứu thị trường độc quyền - một thị trường chỉ

có một người cung cấp hàng hóa

2.1 Cân bằng thị trường độc quyền

Những nhà độc quyền tối đa hóa lợi nhuận như các công ty cạnh tranh đã làm:

họ sản xuất hàng hóa mãi đến khi chi phí biên bằng thu nhập biên kiếm được Trong thị trường cạnh tranh, thu nhập biên là giá cả thị trường, vì vậy các công ty cạnh tranh thiết lập chi phí biên bằng giá Tuy nhiên, bởi vì nhà độc quyền là người

“làm giá cả” (price makers) chứ không phải là người “chấp nhận giá cả” (price takers) nên thu nhập biên không phải là giá cả được quyết trong thị trường mà là

Ngày đăng: 09/04/2016, 23:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình II.1.1.1 - Tiểu luận môn chính sách thuế phạm vi ảnh hưởng của thuế
nh II.1.1.1 (Trang 10)
Hình II.1.1.2 - Tiểu luận môn chính sách thuế phạm vi ảnh hưởng của thuế
nh II.1.1.2 (Trang 11)
Hình II.1.2 - Tiểu luận môn chính sách thuế phạm vi ảnh hưởng của thuế
nh II.1.2 (Trang 12)
Hình trên cho thấy sự quyết định cân bằng trong thị trường độc quyền. Nhà độc  quyền có đường chi phí biên dốc đi lên và đường cầu dốc đi xuống - Tiểu luận môn chính sách thuế phạm vi ảnh hưởng của thuế
Hình tr ên cho thấy sự quyết định cân bằng trong thị trường độc quyền. Nhà độc quyền có đường chi phí biên dốc đi lên và đường cầu dốc đi xuống (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w