Từ thời xa xưa, ông cha ta đã có câu “đói ăn rau, đau uống thuốc”, rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng cần thiết đặc biệt là vitamin, acid hữu cơ và muối khoáng cũng như protei
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Cơ khí – Công nghệ
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hoàng Oanh
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thanh Quỳnh Anh
Bộ môn : Quản lý chất lượng thực phẩm
Năm, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Cơ khí – Công nghệ
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hoàng Oanh
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thanh Quỳnh Anh
Bộ môn : Quản lý chất lượng thực phẩm Thời gian thực tập : 01/10/2015 đến 21/01/2016
Năm, 2016
Trang 3MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ 1
Khoa Cơ khí – Công nghệ 1
KHÓA LUẬN 1
TỐT NGHIỆP 1
TÊN ĐỀ TÀI: 1
Bước đầu điều tra thực trạng tiêu thụ Rau an toàn và đề ra một số giải pháp phát triển tiêu thụ Rau an toàn trên địa bàn thành phố Huế 1
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hoàng Oanh 1
Lớp : CNTP 45 1
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thanh Quỳnh Anh 1
Bộ môn : Quản lý chất lượng thực phẩm 1
Năm, 2016 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ 2
Khoa Cơ khí – Công nghệ 2
KHÓA LUẬN 2
TỐT NGHIỆP 2
TÊN ĐỀ TÀI: 2
Bước đầu điều tra thực trạng tiêu thụ Rau an toàn và đề ra một số giải pháp phát triển tiêu thụ Rau an toàn trên địa bàn thành phố Huế 2
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hoàng Oanh 2
Lớp : CNTP 45 2
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thanh Quỳnh Anh 2
Bộ môn : Quản lý chất lượng thực phẩm 2
Thời gian thực tập : 01/10/2015 đến 21/01/2016 2
Năm, 2016 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
Trang 4DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 7
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Giới thiệu về cây rau 3
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố 3
2.1.2 Giá trị của cây rau 4
2.1.2.1 Giá trị về dinh dưỡng 4
2.1.2.2 Giá trị về kinh tế 5
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới và trong nước 7
2.2.1 Trên thế giới 7
2.2.2 Trong nước 9
2.3 RAT và hoạt động sản xuất RAT ở Việt Nam nói chung và tình Thừa Thiên Huế nói riêng 12
2.3.1 Khái niệm về “RAT” 12
2.3.2 Hoạt động sản xuất RAT ở Việt Nam 14
2.3.3 Hoạt động sản xuất RAT tại tỉnh Thừa Thiên Huế 16
2.3.4 Tình hình tiêu thụ RAT ở Việt Nam 18
PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đặc điểm địa bàn thành phố Huế 21
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1.1 Vị trí địa lý 21
3.1.1.2 Thời tiết và khí hậu 21
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 22
3.1.2.1 Dân số, lao động 22
3.1.2.2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của thành phố Huế 24
3.1.2.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của thành phố Huế 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
Trang 53.2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 28
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Thực trạng đời sống người tiêu dụng trên địa bàn nghiên cứu 30
4.1.1 Độ tuổi trung bình của người tiêu dùng 30
4.1.2 Trình độ học vấn của người tiêu dùng trong địa bàn điều tra 30
4.1.3 Tình trạng nghề nghiệp của người tiêu dùng trong địa bàn điều tra 30
4.2 Thực trạng tiêu thụ rau xanh và RAT hằng ngày của người tiêu dùng điều tra 32
4.2.1 Thực trạng tiêu thụ rau xanh 32
4.2.1.1 Chủng loại, số lượng rau xanh tiêu thụ trên địa bàn các phường điều tra 32
4.2.1.2 Các kênh cung ứng rau xanh cho địa bàn thành phố Huế 35
4.2.2 Thực trạng tiêu thụ RAT 36
4.2.3 Các kênh cung ứng RAT 37
4.3 Quan điểm của người tiêu dùng về RAT 38
4.3.1.Tiêu chí quan trọng về sản phẩm rau để quyết định chọn mua 38
4.3.2 Các chỉ tiêu về RAT và rau không an toàn người tiêu dùng nhận định 39
4.3.3 Định hướng của người tiêu dùng trong việc tìm nguồn rau tiêu thụ cho gia đình 40
4.3.4 Quan điểm về giá cả 41
4.3.4 Thông tin về RAT người tiêu dùng muốn biết 41
4.4 Thuận lợi và khó khăn trong việc tiêu thụ RAT 43
4.4.1 Khó khăn 43
4.4.2 Thuận lợi 43
4.5 Giải pháp phát triển RAT ở Thành phố Huế 44
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
Trang 65.2 Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 58
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ RAU AN TOÀN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 59
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng2.1 Số liệu sơ bộ xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm 2015 7
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thế giới giai đoạn 1980 – 2010 8
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng rau của các châu lục năm 2010 8
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam 9
giai đoạn 1980 – 2010 9
Bảng 2.5 Diện tích gieo trồng rau năm 2014 và dự kiến năm 2015 11
(Đv: nghìn ha) 11
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất, sản lượng rau vụ Đông năm các tỉnh phía Bắc 11
Bảng 2.8 Hàm lượng kim loại nặng 13
(ĐVT: mg/kg sản phẩm) 13
Bảng 2.9 Diện tích và chủng loại RAT của tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010 16
Bảng 2.10 Năng suất (tạ/ha/vụ) các loại rau an toàn và rau thường ở xã Quảng Thành và Quảng Thọ[5] 17
Bảng3.1 Lao động và cơ cấu chuyển dịch lao động ở Huế [13] 23
Bảng 3.2 Dân số trung bình thành phố Huế 2005 – 2012 23
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của thành phố Huế 24
từ năm 2008 đến năm 2010 24
Bảng 3.4 Sản xuất nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015 [21] 26
Bảng 3.5 Diện tích gieo trồng các loại cây ở thành phô Huế 27
(ĐVT: ha) 27
Bảng 4.1 Một số thông tin của hộ điều tra trên 6 phường 32
Bảng 4.2 Các loại rau người tiêu dùng thường mua 33
Bảng 4.3 Lý do lựa chọn mua các loại rau của người tiêu dùng 34
Trang 7Bảng 4.4 Địa điểm mua rau của người tiêu dùng được điều tra 35
Bảng4.5 Lý do lựa chọn mua rau của người tiêu dùng thuộc 6 phường điều tra 38
Bảng 4.6 Tiêu chí quan trọng để quyết định chọn mua rau 38
Bảng 4.7 Các chỉ tiêu về RAT 39
Bảng 4.8 Các chỉ số rau không an toàn 39
Bảng 4.9 Định hướng của hộ tiêu dùng về việc tìm địa điểm cung cấp rau 40
Bảng 4.10 Mức giá người tiêu dùng có thể chi trả so với rau thường 41
Bảng 4.11 Yêu cầu thông tin người tiêu dùng muốn biết 42
Bảng 4.12 Yêu cầu địa điểm bán RAT 42
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 Tỉ lệ sử dụng đất năm 2012[13] 26
Biểu đồ 2 Biểu đồ tỷ lệ ngành nghề của hộ điều tra 31
Biểu đồ 3 Lý do lựa chọn mua các loại rau của người tiêu dùng được điều tra 34
Trang 8Lời Cám Ơn
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại Học Nông Lâm Huế.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Trần Thanh Quỳnh Anh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Xin cám ơn các bạn sinh viên cùng nhóm
đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khỏa sát.
Xin dành lòng biết ơn to lớn tới ba mẹ, người thân và bạn bè đã động viên, làm điểm tựa về vật chất và tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại Học Nông Lâm Huế.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện
đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô giáo
để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
2.RAT : Rau an toàn
Trang 10PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, cùng với nguồn thức ăn được cung cấp từ động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người Từ thời
xa xưa, ông cha ta đã có câu “đói ăn rau, đau uống thuốc”, rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng cần thiết đặc biệt là vitamin, acid hữu cơ và muối khoáng cũng như protein và chất xơ…
Khi đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu lương thực và các thức
ăn giàu đạm được bảo đảm thì yêu cầu về sản phẩm rau xanh không chỉ đơn thuần là đủ về số lượng mà cần cả chất lượng
Nước ta là nước nông nghiệp nên sản xuất rau là một trong những ngành sản xuất nông nghiệp truyền thống Qua kinh nghiệm đúc kết nhiều năm, người nông dân đã rút ra nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc, ươm trồng rau xanh Tuy nhiên, bên cạnh sự gia tăng vế số lượng và chủng loại để đáp ứng đủ nhu cầu của người dân ngành sản xuất rau ở nước ta còn có một số mặt hạn chế như:
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao, đất đai thỗ nhưỡng cũng như nguồn nước bị
ô nhiễm làm gia tăng mức độ nguy hiểm của rau xanh
Thực tế hiện nay nhu cầu về sản phẩm rau màu, hoa quả của người dân ngày càng tăng, các sản phẩm rau, hoa quả được bán tràn lan trên thị trường mà không có sự quản lý và kiểm định chất lượng của các nhà khoa học Các cơ sở sản xuất và tiêu thụ RAT đã xuất hiện nhưng còn mang tính nhỏ lẻ và chưa phổ biến một cách rộng rãi Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm với mặt hàng
nông sản, nhất là rau, đang được xã hội đặc biệt quan tâm.
Đứng trước tình hình rau xanh ngày càng bị ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, một số địa phương, tỉnh, thành đã quan tâm đến việc sản xuất RAT, đã có nhiều vùng sản xuất RAT theo quy chuẩn VietGAP Cũng như nhiều tỉnh thành khác, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xuất hiện nhiều vùng trong rau chuyên canh mới, không ngừng đổi mới về kỹ thuật và giống để đáp ứng được nhu cầu cần thiết của người dân Phần lớn lượng RAT sản xuất ra vẫn phải tiêu thụ ngang giá với rau thường chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người sản xuất vì vậy trên thực tế đã có những hợp tác xã trồng RAT trên địa bàn tỉnh không tìm được đầu ra Một trong những trở ngại lớn nhất là sự tin tưởng về chất lượng và giá của RAT chưa phù hợp với đại bộ phận người tiêu dùng.
Trang 11Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn ở trên tôi lựa chọn đề tài
nghiên cứu: “ Bước đầu điều tra thực trạng tiêu thụ Rau an toàn và đề ra một
số giải pháp phát triển tiêu thụ Rau an toàn trên địa bàn thành phố Huế”
Nghiên cứu này được tiến hành ở 6 phường trên địa bàn thành phố Huế
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất RAT trên địa bàn tình Thừa Thiên Huế
- Tìm hiểu thực trạng tiêu thụ RAT ở Thành phố Huế
- Đưa ra một số giải pháp phát triển việc tiêu thụ RAT trên địa bàn thành phố Huế
Trang 12PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu về cây rau
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Rau là cây hoặc phần có thể ăn được và thường mọng nước, ngon và bổ được sử dụng như là món ăn chính hoặc kèm thêm đồ phụ gia để nấu hoặc ăn sống, đa số người Việt Nam chúng ta có thói quen là ăn rau sống trong mỗi bữa
ăn hàng ngày không thể thiếu rau được cho thấy rau đóng một vài trò quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của người Việt[2]
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, với bờ biển dài 3260km và chiều dài khoảng 15 vĩ độ; thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: miền Bắc có đầy đủ bốn mùa xuân hạ thu đông, miền Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô, các sản phẩm rau của Việt Nam rất đa dạng, từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải đến các loại rau xứ lạnh như xu hào, bắp cải, cà rốt Tuy nhiên, cũng có nhiều bất lợi về khí hậu như mưa, lũ, hạn hán xảy ra thất thường Đặc biệt là biến đổi khí hậu một phần ảnh hưởng đến ngành trồng rau của nước ta
Rau rất đa dạng và phong phú, do vậy khái niệm về “rau” phải dựa trên công dụng của nó Theo thống kê, ước tính có 10000 loài thực vật được dùng làm rau trên toàn thế giới, tuy nhiên chỉ có 50 loài rau có giá trị thương mại và khoảng 70 – 80 loại rau được đưa vào sản xuất.[3]
Các loại rau tươi của nước ta rất phong phú Nhìn chung ta có thể chia rau tươi thành nhiều nhóm: nhóm rau xanh như rau cải, rau muống, rau xà lách, rau cần ; nhóm rễ củ như cà rốt, củ cải, su hào, củ đậu ; nhóm cho quả như cà chua, cà bát, cà pháo, dưa chuột ; nhóm hành gồm các loại hành, tỏi,.v.v
Ngày nay qua chọn lọc và thuần hoá lâu đời nước ta đã có nhiều giống cây trồng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu từng vùng riêng biệt, nông dân đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm khá phong phú trong lĩnh vực thuần hoá, chọn và để giống các loại rau Ở xung quanh thành phố và các thị trấn, thị xã hình thành những vùng rau tập trung như vùng rau ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, vùng rau Đà Lạt, [12]
Ở Thừa Thiên Huế thường thì rau được trồng truyền thống ở một số phường, xã thuộc thành phố Huế như Hương Long, Hương Vinh và vùng trồng rau lân cận thành phố Huế như vùng trồng rau Hương Chữ, vùng trồng rau má Quảng Thọ, Quảng Điền hay vùng trồng rau ở xã Quảng Thành, Quảng An và
Trang 13đặc biệt lần đầu tiên có vùng trong rau theo quy chuẩn VietGAP ở vùng trồng RAT Hóa Châu, Kim Thành, Quảng Thành [3].
2.1.2 Giá trị của cây rau
2.1.2.1 Giá trị về dinh dưỡng
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết cho mọi người trong đời sống hằng ngày, rau là loại thực phẩm không thể thay thế được vì cây rau cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của cơ thể con người như:
protein, muối khoáng, nước và các dưỡng chất quan trọng khác Trong rau chứa hàm lượng vitamin và muối khoáng hơn hẳn những cây trồng khác.
Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng Giá trị
dinh dưỡng của cây rau được thể hiện ở nhiều mặt: cung cấp cho cơ thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, Trong rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5-15% là chất khô Trong chất khô lượng cacbon rất cao (cải bắp 60%, dưa chuột 74-75%, cà chua 75-78%, dưa hấu 92%) Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường (chủ yếu đường đơn) chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon Nhờ khả năng hòa tan cao, chúng làm tăng sự hấp thu và lưu thông của máu, tăng tính hoạt hóa trong quá trình oxy hóa năng lượng của các mô tế bào [3].
Vitamin có tác dụng rất lớn trong quá trình phát triển của cơ thể con người Thiếu vitamin chúng ta sẽ mắc nhiều bệnh ví dụ như thiếu vitamin A sẽ làm cơ thể trẻ em chậm lớn, giảm thị lực, mắt mờ và khả năng miễn dịch giảm Vitamin
A thường có trong các loại rau có màu đỏ và vàng da cam như: cà rốt, cà chua,
ớt, bí ngô…bổ sung hàm lượng vitamin A thông qua những loại rau củ này là rất tốt đối với cơ thể con người.[3]
Chất khoáng trong rau chủ yếu là canxi, photpho, sắt… Chúng có tác dụng điều hòa cân bằng kiềm tan trong máu, là những chất cần thiết cho cấu tạo của máu và của xương Chất xơ trong rau chiếm một phần rất lớn chúng không có giá trị về mặt dinh dưỡng song bản thân chúng rất xốp nên có tác dụng nhuận tràng và làm tăng khả năng tiêu hóa.[3]
Rau thuộc nhóm cây trồng hằng năm như: cà, ớt, cà chua, các cây trong họ
bầu bí, đậu cô ve… loại cây 2 năm như: hành, tỏi, cải bắp, su hào…và loại cây thân thảo lâu như: măng được dùng để làm thực phầm.
Trang 14Với những giá trị về mặt dinh dưỡng cây rau mang lại đã nêu trên thì câu nói “Đói ăn rau, đau uống thuốc” của cha ông ta một lần nữa được khẳng định lại [2].
2.1.2.2 Giá trị về kinh tế
Rau xanh là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng trồng nhiều vụ trong năm và có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau Do đó, rau được coi là loại cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng xóa đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam.Việt Nam là một nước nhiệt đới có thể tiến hành trồng rau quanh năm, ngành rau nước ta đã phát triển từ khá lâu và đóng góp khoảng 3% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp Phát triển rau có ý nghĩa lớn về kinh tế xã hội: tạo việc làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên cho hộ gia đình Rau là cây ngắn ngày, có những loại rau như cải canh, cải củ từ 30-40 ngày đã cho thu hoạch, rau cải bắp 75 – 85 ngày, rau gia vị chỉ 15 – 20 ngày một vụ…cho nên một năm có thể trồng được 2 – 3 vụ, thậm chí 4 – 5 vụ [13].Cây rau còn là cây
dễ trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao
hệ số sử dụng đất
Trồng rau không những tận dụng được đất đai mà còn tận dụng được cả lao động và những tư liệu sản xuất khác Cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, 1 ha trồng rau mang lại thu nhập gấp 2 – 5 lần so với trồng lúa.Vì vậy trồng rau là nguồn tạo ra thu nhập lớn cho hộ [4]
Ở Đài Loan thu nhập tính bằng tiền trên 1 ha rau hơn hẳn so với các loại cây trồng khác Theo thống kê năm 1997 của Mỹ cho thấy tổng giá trị thu được trên 1
ha trồng rau cao hơn so với lúa nước và lúa mì, trong đó trồng cà chua cho thu
hoạch cao hơn gấp 4 lần so với lúa nước và cao hơn gấp 20 lần so với lúa mì[7].
Các loại rau xuất khẩu chính của Việt Nam hiện nay là dưa chuột, cà chua,
cà rốt, hành, ngô rau, đậu rau, ớt cay, nấm…trong đó dưa chuột và cà chua có nhiều triển vọng và chúng có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định Thị trường xuất khẩu rau chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Úc, Singapore, Hàn Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu
Hàng rau quả của Việt Nam xuất khẩu trong tháng 12 năm 2014 đạt 139 triệu USD, tăng 28,5% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2014 lên 1,49 tỷ USD, tăng 38,9% (tương ứng tăng 418 triệu USD)
Trang 15Hàng rau quả của Việt Nam xuất chủ yếu sang Trung Quốc với 436 triệu USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 29,2% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước[22].
Rau quả các loại của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường nước ngoài liên tục tăng trưởng, trong 6 tháng đầu năm 2015 kim ngạch đã đạt 880,93 triệu USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2014; trong đó riêng tháng 6/2015 đạt 188,37 triệu USD, tăng 72,2% so với tháng 5/2015
Thị trường xuất khẩu chính của mặt hàng rau quả Viêt Nam gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Thái Lan, Malaysia, Trong đó, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại rau quả của Việt Nam; 6 tháng đầu năm xuất khẩu sang thị trường này đạt 252,58 triệu USD, tăng 7,5%
so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 28,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này Tiếp đến thị trường Nhật Bản đạt 36,88 triệu USD, chiếm 4,2% tổng kim ngạch, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước Hàn Quốc đạt 35,43 triệu USD, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 4,0% tổng kim ngạch Xét về mức tăng trưởng xuất khẩu rau quả trong 6 tháng đầu năm nay thì thấy hầu hết các thị trường đều đạt mức tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; đáng chú
ý là xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông, tuy kim ngạch chỉ đạt 11,72 triệu USD nhưng có kim ngạch tăng mạnh nhất, tăng tới 120,5% Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng tăng mạnh ở một số thị trường như:Đức (tăng 50,1%); Cô Oét (tăng 45,8%); Anh (tăng 31,3%).[22]
Trang 16Bảng2.1 Số liệu sơ bộ xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm 2015
Trang 17Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thế giới giai đoạn 1980 – 2010
TT Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Sản lượng (nghìn tấn)
Tình hình sản xuất rau ở các châu lục khá là biến động Châu Á là châu lục
có diện tích trồng rau lớn nhất thế giới Năm 2010 toàn bộ châu lục trồng được 14.110.820 ha, chiếm 78,07% diện tích rau trồng của thế giới Châu Phi có diện tích trồng rau lớn thứ 2, đạt 2.747.520 ha, bằng 19,47% diện tích rau của châu
Á Châu Đại Dương có diện tích trồng rau thấp nhất, chỉ có 32.970 ha bằng 0,23% diện tích rau của châu Á
Mặc dù châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất thế giới nhưng năng suất rau đứng hàng thứ 3 trong các châu lục Năm 2010 năng suất rau của châu Á đạt 145,54 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 12,66 tạ/ha Châu Âu
có năng suất rau cao nhất thế giới (168,03 tạ/ha), cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 35,15 tạ/ha và cao hơn năng suất rau của châu Á là 22,49 tạ/ha Châu Phi có năng suất rau thấp nhất thế giới, chỉ đạt 61,39 tạ/ha, bằng 46,2% năng suất rau của thế giới, 42,18% năng suất rau của châu Á
Do có diện tích trồng rau lớn nên sản lượng rau của châu Á cao nhất là 205.368.870 tấn, chiếm 85,51% sản lượng rau của thế giới Châu Phi có sản
Trang 18lượng rau đứng thứ 2 là 16.867.030 tấn, chiếm 7,02% sản lượng rau của thế giới, bằng 8,21% sản lượng rau của châu Á Châu Đại dương mặc dù có năng suất rau cao thứ 2 thế giới nhưng do diện tích gieo trồng ít nên sản lượng thấp nhất là 551.130 ha, chỉ bằng 0,23% sản lượng rau của thế giới, bằng 0,27% sản lượng rau của châu Á.
Vùng Đông Nam Á có diện tích trồng rau khá lớn, năm 2010 toàn vùng trồng được 1.812.370 ha, bằng 12,84% diện tích rau của châu Á, bằng 10,03% diện tích rau của thế giới Năng suất rau của vùng cũng xấp xỉ năng suất bình quân của thế giới, đạt 130,3 tạ/ha, sản lượng đạt 23.615.180 tấn (chiếm 11,5% sản lượng rau của châu Á, chiếm 9,83% sản lượng rau của thế giới).
Hiện nay có 120 chủng loại rau được sản xuất ở khắp các châu lục nhưng chỉ có 12 loại chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau toàn thế giới Loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua 3,17 triệu ha, thứ hai là hành 2,29 triệu ha, thứ
ba là cải bắp 2,07 triệu ha (năm 1998) Còn ở châu Á, loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua, hành, cải bắp, dưa chuột, cà tím; ít nhất là đậu Hà Lan Nhìn chung, các loại rau như cà chua, dưa chuột, hành, cải bắp đều được trồng nhiều
ở châu á và trên thế giới [18]
Thái Lan có tổng diện tích là 51,4 triệu ha, trong đó diện tích sử dụng vào nông nghiệp là 19,84 triệu ha Diện tích trồng rau và hoa năm 1992 là 449 nghìn
ha với sản lượng là 4,68 triệu tấn và năng suất bình quân 104,1 tạ/ha Thái Lan
có thể trồng được cả rau nhiệt đới và ôn đới Hiện nay có trên 100 loại rau được trồng ở Thái Lan trong đó có 45 loại được trồng phổ biến
Thái Lan xuất khẩu cả rau an toàn và rau chế biến Năm 1998 xuất khẩu 162.116 tấn, đến năm 2002 tăng lên 238.201 tấn Rau chế biến xuất khẩu chủ yếu là rau đóng hộp Thị trường xuất khẩu rau an toàn chủ yếu của Thái Lan là thị trường châu Á Tuy xuất khẩu rau nhưng Thái Lan cũng có nhập khẩu rau, năm 1998 lượng nhập khẩu là 18.233 tấn [17]
2.2.2 Trong nước
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT( Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn) năm 2014 thì Diện tích gieo trồng trên cả nước đạt 873 ngàn ha, năng suất bình quân đạt xấp xỉ 175 tạ/ha, sản lượng ước đạt 15,3 triệu tấn; so với năm trước diện tích tăng 25,8 ngàn ha (tương đương 3%); năng suất tăng 2,3 tạ/ha (1,3%), sản lượng tăng gần 650 ngàn tấn (4,4%).
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam
giai đoạn 1980 – 2010
Trang 19TT Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Về năng suất rau của nước ta có xu hướng biến động gần giống năng suất rau của thế giới Năm 1980 năng suất rau chỉ đạt 98,84 tạ/ha, năm 1990 đạt 112,35 tạ/ha và năm 2000 năng suất rau đạt cao nhất là 124,36 tạ/ha Giai đoạn
2006 – 2010 năng suất rau biến động thất thường, năm 2008 có năng suất rau
thấp nhất là 117,06 tạ/ha, năm 2010 năng suất ra tăng lên được 212,64 tạ/ha nhưng vẫn thấp hơn 1,83 tạ/ha so với năm 2007, thấp hơn 2,72 tạ/ha so với năm 2000.
Sản lượng rau của nước ta tăng lên đáng kể qua các giai đoạn Năm 1980
cả nước thu được 2.164.800,0 tấn, năm 1990 là 2.933.458,5 tấn tăng 768.658,5
tấn so với năm 1980 (trung bình tăng 76.865,85 tấn/năm) Năm 2000 sản lượng rau đạt 5.632.264,4, tăng 2.698.805,9 so với năm 1990 (trung bình tăng 269.880,59 tấn/năm), tăng 3467464.4 tấn so với năm 1980 Năm 2010 sản lượng rau của nước ta cao nhất, đạt 6.732.774,0 tấn, tăng 1.100.509,6 tấn so với năm 2000 (trung bình tăng 110.050,96 tấn/năm, thấp hơn giai đoạn 1990 - 2000).
Diện tích rau năm 2015 dự kiến đạt 860 nghìn ha (giảm 2,4% so với năm 2014), năng suất dự kiến 176 tạ/ha (tăng 1% với năm 2014), sản lượng dự kiến đạt 15,1 triệu tấn (giảm 2% so với năm 2014); trong đó miền Bắc diện tích dự kiến đạt 390 nghìn ha, năng suất dự kiến 161,0 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 6,27 triệu tấn; miền Nam diện tích dự kiến đạt 470 nghìn ha, năng suất dự kiến 188
Trang 20tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 8,83 triệu tấn.
Bảng 2.5 Diện tích gieo trồng rau năm 2014 và dự kiến năm 2015
(Đv: nghìn ha)
Các tỉnh Đến tháng
7/2014 Năm 2014
Đến tháng 7/2015
Dự kiến năm 2015
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất, sản lượng rau vụ Đông năm các tỉnh phía Bắc
núi phía Bắc ĐBSH BTB
Toàn miền
Trang 212.3 RAT và hoạt động sản xuất RAT ở Việt Nam nói chung và tình Thừa Thiên Huế nói riêng
2.3.1 Khái niệm về “RAT”
RAT được định nghĩa như sau: “Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ ô nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm gọi tắt là RAT” (Quyết định số 67-1998/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/4/1998 của bộ NN & PTNT)
Gọi là rau an toàn vì trong quá trình sản xuất rau, người ta vẫn sử dụng phân bón nguồn gốc vô cơ và chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên với liều lượng hạn chế hơn, thời điểm phù hợp hơn và chỉ sử dụng các chất bảo vệ thực vật trong danh mục cho phép Trong rau an toàn vẫn tồn tại dư lượng nhất định các chất độc hại, nhưng không đến mức ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu dùng
Trong đời sống hàng ngày, tau an toàn thường được gọi là rau sạch Để phân biệt một cách chính xác hơn, khái niệm rau sạch nên sử dụng để chỉ các loại rau được sản xuất theo các quy trình canh tác sạch đặc biệt, như thuỷ canh, rau “hữu cơ”… Mức độ đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của rau sạch cao hơn nhiều so với rau an toàn Sản lượng rau sạch được sản xuất ở nước ta hiện nay là không đáng kể (phần lớn giới hạn trong phạm vi các dự án khoa học – sản xuất) Rau sạch là rau không chứa các độc tố và các tác nhân gây bệnh, an toàn cho người và gia súc Sản phẩm rau xem là sạch khi đáp ứng được các yêu cầu sau: hấp dẫn về hình thức, tươi sạch, không bụi bẩn và lẫn tạp chất, thu đúng độ chín khi có chất lượng cao nhất, có bao bì hấp dẫn
Khái niệm rau “sạch” bao hàm rau có chất lượng tốt với dư lượng các hoá chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng (Cu, Pb, Cd, As), nitrat cũng như các vi sinh vật có hại đối với sức khoẻ của con người ở dưới mức các tiêu chuẩn cho phép theo tiêu chuẩn ViệtGAP.[15]
Theo tổ chức y tế thế giới WHO tổ chức nông lương và lương thực của liên hợp quốc FAO thì RAT phải đảm bảo các yếu tố sau:
•Rau đảm bảo phẩm cấp chất lượng không bị hư hại, dập nát, héo, và không ủ bằng hóa chất độc hại
•Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hàm lượng Nitrat và kim loại nặng dưới mức cho phép
Trang 22•Rau không bị bệnh không, có vi sinh vật gây hại cho con người và gia súc.Theo các nhà nghiên cứu hàm lượng các yếu tố gây ô nhiễm trên các sản phẩm rau như hàm lượng nitơ rát, kim loại nặng, hóa chất BVTV(Bảo vệ thực vật), vi sinh vật có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm Do đó, sản phẩm rau đươc xem là an toàn khi đáp ứng được các thông số kỹ thuật cho phép của các cơ quan giám định và ở mỗi quốc gia đều xây dựng các chỉ tiêu phù hợp Theo tổ chức Y tế thế giới, dư lượng cho phép trong sản phẩm rau đối với các yếu tố ô nhiễm như sau:
Bảng 2.7 Ngưỡng cho phép dư lượng nitrat trong một số loại rau
RAT của Việt Nam được nói tới chủ yếu để phân biệt với rau được canh tác bằng các kỹ thuật thông thường, họ kiểm soát trên góc độ VSATTP( vệ sinh an toàn thực phẩm) Ở các nước phát triển với quy trình công nghệ sản xuất rau
Trang 23chuẩn, với sử dụng phân bón, thuốc BVTV kiểm soát được, vấn đề RAT về cơ bản đã được giải quyết.
Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm VSATTP của sản phẩm rau đặt ra như sau:
Về hình thái: sản phẩm thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu cầu của từng loại rau, đúng độ chín kỹ thuật (hay thương phẩm), không dập nát, hư thối, không lẫn tạp, không sâu bệnh và có bao gói thích hợp
Về nội chất phải đảm bảo mức quy định cho phép
+ Dư lượng các loại hóa chất BVTV trong sản phẩm rau
+ Hàm lượng NO3 tích lũy trong sản phẩm rau
+ Hàm lượng tích lũy của một số kim loại nặng chủ yếu như: chì, thủy ngân, asen, cadimin, đồng
+ Mức độ ô nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh ( ecoli, sanmollela, trứng giun, sán…)
Sản phẩm RAT chỉ được coi là đảm bảo VSATTP, khi hàm lượng tồn dư các chỉ tiêu trên không vượt quá giới hạn quy định
Theo quan điểm của các nhà khoa học cho rằng: RAT là rau được sản xuất theo 1 quy trình kỹ thuật đáp ứng nhu cầu sau:
- RAT là rau đảm bảo phẩm cấp, chất lượng, không bị gây hại, dập nát, héo úa
- Dư lượng thuốc trừ sâu, BVTV hàm lượng NO3 và hàm lượng kim loại nặng nằm trong ngưỡng cho phép
- Không bị sâu bệnh, không có vi sinh vật gây hại cho người và gia súc
2.3.2 Hoạt động sản xuất RAT ở Việt Nam
Sản xuất RAT có vai trò và ý nghĩa rất to lớn trong nhiều mặt của đời sống,
cụ thể là[18]:
- Về sức khỏe con người, sản xuất và sử dụng RAT có tác dụng tốt đến sức
khỏe con người, giúp con người hấp thu đầy đủ các vitamin và dưỡng chất trong rau mà không phải lo lắng về vấn đề ngộ độc thực phẩm hay những ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe Mặt khác, sản xuất RAT còn góp phần bảo vệ sức khỏe của người sản xuất do giảm thiểu việc tiếp xúc với hóa chất độc hại
- Về môi trường, bằng việc áp dụng những biện pháp canh tác đảm bảo cho
cây rau hấp thu tốt nhất chất dinh dưỡng, nước mà không để lại tồn dư trong sản phẩm, sản xuất RAT đã làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và thực sự trở
Trang 24nên thân thiện với môi trường góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
- Về kinh tế, thực tế tại nhiều vùng trồng RAT đã khẳng định trồng RAT
cho hiệu quả kinh tế cao gấp 3 lần trồng lúa và gấp 1,5 – 2 lần so với trồng rau theo phương pháp cũ
- Về hiệu quả xã hội, khác với trồng lúa hay một số cây trồng khác, mọi
thành viên trong gia đình đều có thể tham gia trồng rau nói chung hay RAT nói riêng Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải quyết lao động ở nông thôn Mặt khác do có hiệu quả kinh tế cao, trồng RAT làm tăng thu nhập cho người dân, cải thiện cuộc sống của họ qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội
Với một nước nông nghiệp như Việt Nam, lúa là một trong những loại cây trồng mang lại hiệu quả xuất khẩu cho nước ta bên cạnh đó rau quả là mặt hàng đóng góp không nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu của nước ta, sản xuất rau đã góp phần giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập cho nhiều hộ nông dân Với đời sống càng ngày càng tiến bộ như hiện nay nhu cầu về thực phẩm của người dân một tăng cao Trong bữa ăn hằng ngày, việc đòi hỏi cao về rau sạch và rau chất lượng cao là điều thiết yếu, yêu cầu về an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe và nghiêm ngặt
Người tiêu dùng đã ý thức về các sản phẩm RAT và tính quan trọng của sản phẩm này đối với sức khỏe trong tình hình sản xuất rau không đảm bảo nhất
là dân cư ở các khu vực thành thị
Cả nước hiện có 880.000 ha rau cung ứng cho người tiêu dùng Tuy nhiên, diện tích RAT, rau VietGap chỉ chiếm dưới 10% Con số này cho thấy người tiêu dùng vẫn phải sử dụng các loại rau chưa đạt chất lượng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến sức khỏe[27]
Tại thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều thuận lợi trong việc trồng và phát triển RAT; là một trong những thành phố lớn của cả nước nơi tập trung đông dân cư vấn đề an toàn thực phẩm trong rau quả càng được chú trọng hơn Chính
vì vậy trong những năm gần đây diện tích và năng suất sản xuất RAT càng ngày càng tăng Thành phố có 102 xã, phường có sản xuất rau với diện tích canh tác 3.637 ha, diện tích gieo trồng 14.456 ha, tập trung tại các huyện Củ Chi, huyện Bình Chánh, huyện Hóc Môn và quận 12
Tính đến nay, trên địa bàn thành phố đã có 329 tổ chức, cá nhânđược chứng nhận VietGAP (gồm HTX Ngã 3 Giòng, HTX Thỏ Việt, HTX Phước
An, Liên tổ Tân Trung, ), với tổng diện tích 145,7 ha (tương đương 650 ha
Trang 25diện tích gieo trồng); sản lượng được chứng nhận VietGAP ước đạt 15.637 tấn/năm[24].
Tại Hà Nội: đầu năm 2015 đến nay Hà Nội đã mở rộng được thêm 200 ha RAT, nâng tổng diện tích sản xuất RAT được quản lý, chỉ đạo và cấp giấy chứng nhận lên 5.200 ha, phân bố ở 118 xã trọng điểm trồng rau Trước đó, các địa phương đã lập 31 dự án xây dựng vùng RAT tập trung, với tổng diện tích gần 2.200 ha Trong đó, 10 dự án đã được phê duyệt đầu tư và đang thi công, 18
dự án đã được thành phố chấp thuận cho phép thực hiện chuẩn bị đầu tư và 3 dự
án đang ở bước 1 xin chủ trương đầu tư Chi cục cũng tiến hành hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương xây dựng 4 cơ sở sơ chế RAT gắn với vùng RAT tập trung
có công suất lớn từ 2-5 tấn/ngày Trong đó có 1 cơ sở tại xã Văn Đức (Gia Lâm); 3 cơ sở sơ chế xây dựng theo dự án tại các xã Yên Mỹ, Duyên Hà (Thanh Trì), Thanh Đa (Phúc Thọ), 9 dự án đã được phê duyệt đều được hỗ trợ xây dựng nhà sơ chế[25]
2.3.3 Hoạt động sản xuất RAT tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong những năm gần đât tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thành phố Huế nói riêng đã hình thành và phát triển các vùng sản xuất RAT Từ năm 2005 -2007 tỉnh đã quy hoạch phát triển các vùng RAT để cung ứng cho người dân thành phố Huế Một số địa phương được quy hoạch trồng rau bao gồm HTX Kim Thành và HTX Quảng Thọ, huyện Quảng Điền; HTX Hương An và HTX Hương Chữ huyện Hương Trà và HTX Hương Long thành phố Huế
Bảng 2.9 Diện tích và chủng loại RAT của tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010
1 HTX Kim Thành, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền 5,6
Cải bẹ xanh, Cải cúc, Xà lách, Rau thơm, Ngò rí, Ớt xanh cao sản, Rau dền…
2 HTX Quảng Thọ 2, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền 1,8 Rau má, Mướp đắng
3 HTX Hương An, xã Hương An, huyện Hương Trà 0,98 Cải bẹ xanh, hành lá, xà lách, kiệu, rau thơm
4 HTX Hương Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà 1,1 Xà lách, hành hoa, kiệu, dền đỏ, rau thơm
5 HTX Hương Long, TP Huế 1,43 Cải xanh, xà lách, đậu cove, ớt
(Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế, 2010).
Việc trồng RAT tại tỉnh Thừa Thiên Huế gặp rất nhiều bất trắc, trở ngại mà điển hình nhất là việc tìm đầu ra cũng như hiểu biết của người tiêu dùng về RAT
Trang 26còn rất hạn chế nên diện tích trồng RAT tại tỉnh đã bị thu hẹp đáng kể HTX Kim Thành và HXT Quảng Thọ là 2 địa điểm duy trì sản xuất RAT với diện tích
là 2,5 ha và 1,8 ha[5]
Hiệu quả sản xuất RAT được đánh giá thông qua việc tìm hiểu chênh lệch năng suất, chi phí, lợi nhuận của các chủng loại RAT với rau thường Kết quả tìm hiểu năng suất các chủng loại RAT ở 2 HTX Quảng Thành và Quảng Thọ trong năm 2010 được trình bày ở bảng dưới đây Do sản xuất theo quy trình VietGAP nên năng suất của hầu hết các loại RAT ở 2 xã nghiên cứu thấp hơn từ 15 đến 30% so với rau thường vì rau nhạy cảm với thời tiết, khí hậu và có nhiều sâu, bệnh phá hoại nên áp dụng qui trình VietGAP sâu bệnh hại rất nhiều Bên cạnh đó hạt giống rau thường được người dân mua qua trung gian nên không đảm bảo chất lượng Đó là hai yếu
tố chính làm cho năng suất của RAT ở địa bàn nghiên cứu không cao[5]
Bảng 2.10 Năng suất (tạ/ha/vụ) các loại rau an toàn và rau thường ở xã
Quảng Thành và Quảng Thọ[5]
Quảng Thành Quảng Thọ Quảng Thành Quảng Thọ
Trang 27cho người mua có thể yên tâm, trong khi người sản xuất cũng thấy vui và tự hào
vì tên mình được tôn trọng Đây là một địa điểm được rất nhiều người dân trong thành phố biết đến[9]
2.3.4 Tình hình tiêu thụ RAT ở Việt Nam
Hầu hết người tiêu dùng muốn chọn mua RAT nhưng khó tìm địa điểm và chưa đủ niềm tin liệu đó có phải là RAT hay không… Đó là những hạn chế khiến RAT khó tiêu thụ
Trong hai năm (2011-2012) vừa qua, Vinastas đã tiến hành điều tra trên diện rộng tại hơn 10 thành phố, thị xã phía Bắc, kết quả, có đến 88% người tiêu dùng tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Giang… không phân biệt được RAT với các loại rau thường
Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, so với các hệ thống tiêu thụ rau củ quả thông thường, hệ thống tiêu thụ RAT tại các tỉnh chỉ chiếm số lượng nhỏ Ngoài
ra, không ít điểm bán RAT hoạt động kém hiệu quả, thậm chí phải đóng cửa do sức mua thấp Đặc biệt, trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng rau còn thiếu; việc quản lý mới chỉ dừng ở mức chứng nhận vùng, cơ sở
đủ điều kiện sản xuất, sơ chế, kinh doanh Vì vậy, Bộ NN&PTNT yêu cầu, các địa phương cần đẩy mạnh xây dựng và phát triển mạng lưới tiêu thụ RAT tại trung tâm thành phố, tuyên truyền, xúc tiến thương mại dưới nhiều hình thức nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng rau củ quả an toàn[8]
Các hình thức tiêu thụ RAT nhìn chung như sau:
- Người sản xuất sau khi thu hoạch, tự mang đi tiêu thụ tại các chợ.
- Bán buôn cả ruộng: tư thương chủ động đến thu hoạch và mang đi tiêu thụ tại các chợ đầu mối Hình thức này người sản xuất bán cho tư thương thấp hơn giá bán lẻ tại chợ 20 - 30%
- Bán buôn cho người thu gom: một số chủ đại lý trong vùng đứng ra thu gom sản phẩm sau thu hoạch để tiêu thụ ở đại phương và các tỉnh lân cận
Ngoài ra một số tỉnh còn có hình thức tiêu thụ như:
- Tiêu thụ rau thông qua ký kết hợp đồng: Các Hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ liên kết … ký hợp đồng thu mua rau để tiêu thụ tại các siêu thị, cửa hàng
- Tiêu thụ thông qua các mối tiêu thụ ổn định: bếp ăn công nghiệp, bếp ăn nhà trẻ, trường học
+ Về công tác quản lý RAT tại chợ đầu mối
Hiện nay theo báo cáo có 10/32 tỉnh có chợ đầu mối tiêu thụ rau, RAT
Trang 28(Quảng Trị, Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu, Hà Nội, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bạc Liêu).
Sở Nông nghiệp và PTNT một số tỉnh, thành (Hồ Chí Minh, Hà Nội,…) hàng năm phối hợp với Ban quản lý các chợ đầu mối tổ chức các đợt kiểm tra, lấy mẫu rau để kiểm tra chất luợng Nếu phát hiện mẫu có dư lượng thuốc BVTV hoặc hàm lượng Nitrat vượt ngưỡng theo quy định sẽ ra văn bản thông báo để Ban quản lý chợ có biện pháp quản lý tốt hơn nguồn gốc rau
Tuy nhiên công tác quản lý chất lượng rau tại các chợ được triển khai nhưng chưa phổ biến, chưa được chú trọng trên cả nước, chủ yếu là các tư thương tự tìm nguồn hàng, thu mua ở các nơi khác về tiêu thụ Bên cạnh đó, việc sản xuất RAT cũng mới bắt đầu bằng việc chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sản lượng rau được sản xuất từ các vùng này chưa tạo thành khối lượng hàng hoá lớn
+Về Giá cả
Một số nơi RAT có giá cao hơn giá rau thông thường từ 10-20% nên đem lại thu nhập cao cho người dân và cao hơn nhiều lần sản xuất lúa, ngô và một số cây ngắn ngày khác (một số vùng sản xuất RAT tập trung, tổng thu trung bình từ 400-500 triệu đồng/ha/năm, cao đạt 700-800 triệu đồng/ha/năm ) Phần lớn giá bán các sản phẩm RAT và rau thông thường chưa có sự khác biệt nhiều và thường không ổn định, giá thường cao vào đầu và cuối vụ sản xuất (cao gấp 1,5
- 2 lần) so với giá bán giữa vụ[19]
Theo nhiều ý kiến, RAT được bán ngang với giá rau thường nên chưa kích thích người trồng Ngoài ra, giá bán các sản phẩm rau không ổn định, chưa có nhãn mác thương hiệu, chưa có nhà sơ chế đúng quy định, quầy bán RAT bố trí
tại các chợ còn lẻ tẻ.[10].
Theo khảo sát thì mới chỉ có 15% - 20% lượng RAT được tiêu thụ qua các bếp ăn, siêu thị, cửa hàng Còn lại phần lớn được tiêu thụ tại các tỉnh lẻ, chợ lân cận, giá bán chỉ tương đương với rau sản xuất đại trà Vì vậy, người dân ở nhiều vùng RAT hiện nay tỏ ra không hào hứng với RAT nữa Nguyên nhân là do hiện nay người tiêu dùng không thể phân biệt được đâu là RAT, đâu là rau thường,
“rau sạch”, “rau bẩn” khác nhau thế nào Vẫn theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, có tới 90% người tiêu dùng trả lời không thể phân biệt được RAT và rau không an toàn bằng mắt thường[10]
Trong khi đó, cho tới nay chúng ta vẫn chưa có một chứng nhận đủ mạnh
từ các cơ quan kiểm soát để giúp cả người tiêu dùng lẫn nhà sản xuất đưa ra phân biệt về RAT, vùng RAT Vì thế, lợi dụng nhu cầu RAT ngày càng tăng, giá
Trang 29RAT cao hơn nên nhiều cơ sở kinh doanh, trồng trọt đã cố tình lập lờ gian lận, đánh tráo để lừa người tiêu dùng Những năm qua, cơ quan chức năng cũng đã phát hiện nhiều vụ trà trộn, hoặc cố tình gắn nhãn mác RAT cho rau thường để kiếm lời Chính sự nhập nhèm giữa RAT và rau đại trà đã khiến người tiêu dùng mất niềm tin vào độ “an toàn” của RAT[11].
Hiện nay, ở Việt Nam việc sản xuất RAT đang được khuyến cáo nhằm phát triển nhanh và mạnh trong thời gian tới bằng một số mô hình công nghệ khác nhau như thuỷ canh cách ly, nhà lưới cách ly, canh tác hữu cơ Công nghệ nhà kính kết hợp với canh tác hữu cơ cho phép cách ly một phần với sâu bệnh bên ngoài, giảm lượng phân bón và sử dụngc các chế phẩm sinh học tạo ra sản phẩm đạt chất lượng tốt Thị trường tiêu thụ nói chung và thị trường RAT nói riêng vẫn tập trung trong những hoạt động kinh tế mạnh ở những thành phố lớn và khu công nghiệp Tiềm năng của thị trường trong nước còn rất lớn nhưng mức tiêu thụ hiện nay vẫn còn rất hạn chế, khả năng thu mua thấp, việc buôn bán RAT trong cửa hàng và siêu thị phát triển [6]
Tiêu dùng RAT còn phụ thuộc vào yếu tố thu nhập, tâm lý, tập quán, thói quen người tiêu dùng Xu hướng phát triển ở nước ta hiện nay nhu cầu tiêu dùng đang tăng nhanh tạo ra thị trường tiêu thụ RAT phát triển cả về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm
Trang 30PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn thành phố Huế
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 107o31‘45‘‘-107o38' kinh Ðông và
16o30'‘45‘‘-16o24' vĩ Bắc Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc - Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gần tuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á Cách
Hà Nội 675 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ với các trung tâm kinh tế đang phát triển nhanh và có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối dễ dàng với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước.Thành phố Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú và diện mạo Riêng tạo nên một không gian hấp dẫn, được xây dựng trong không gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An Vọng Cảnh, Thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ, tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên, đô thị, văn hoá lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival và các hoạt động du lịch thể thao khác nhau
Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyền thống đặc sắc với du lịch mà không một Thành phố, địa danh nào ở nước ta có được và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia Huế nằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng) và gần với các Thành phố cố đô của các nước trong khu vực [23]
3.1.1.2 Thời tiết và khí hậu
Khí hậu thành phố Huế thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta
Chế độ nhiệt: Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt
độ trung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C - 25°C
+ Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C - 29°C, tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C
Trang 31+ Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng là 20°C - 22°C.
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30% lượng mưa cả năm
- Độ ẩm trung bình 85%-86%
- Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn
do đó dễ gây lũ lụt, xói lở
- Gió bão: Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài
+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt
+ Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 -10 Gió bão làm cho cây cối, rau màu bị hư hại nặng, các vùng trồng rau bị sập đổ Chính vì điều này đã gây khó khăn cho việc sản xuất rau trên địa bàn[23]
Với nền nhiệt độ cao, độ ẩm và số giờ nắng cao là điều kiện thích hợp cho việc sản xuất nhiều loại rau và có thể bố trí mùa vụ quanh năm, cung ứng được nhiều loại rau cho người tiêu dùng Mặt khác, hạn hán và lũ lụt cũng gây không
ít khó khăn trong quá trình sản xuất vì vậy việc bố trí thời vụ thích hợp và trồng cây trái vụ là việc cấp bách cần thực hiện để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số, lao động
Dân số và lao động là một trong những nhân tố không thể thiếu trong phát triển nền kinh tế Nước ta là một nước đông dân số, với nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn, nhưng đồng thời vấn đề dân số cũng gây trở ngại cho phát triển kinh tế cũng như ổn định đời sống dân cư Lao động chủ yếu của nước ta nói chung và thành phố Huế nói riêng là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp với trình độ dân trí còn thấp, chủ yếu là sức lao động
Trang 32Bảng3.1 Lao động và cơ cấu chuyển dịch lao động ở Huế [13]
Tổng số (người)
Cơ cấu (%)
Tổng số (người)
Cơ cấu (%)
Công nghiệp, xây dựng 31.070 27,64 19.188 15,34
Thành phố Huế có nguồn lao động khá dồi dào Số lao động trong các ngành kinh tế vào năm 2011 là khoảng 198.480 người, chiếm 57,9% dân số Thời gian qua, cơ cấu kinh tế và lao động chuyển dịch nhanh theo hướng tăng về
du lịch, dịch vụ và giảm dần về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp Tỷ trọng lao động khu vực dịch vụ tăng từ 55,05% năm 2005 lên 72,23% năm 2011, trong khi nhân công ở khu vực nông nghiệp giảm nhanh từ 17,3% năm 2005 xuống còn 12,43% năm 2011 Bên cạnh đó lao động khu vực công nghiệp, xây dựng cũng giảm từ 27,64% xuống còn 15,34% Các con số này cho thấy vai trò chủ đạo, quyết định của khu vực dịch vụ đối với quá trình phát triển của thành phố trong thời gian tới Huế là một trong những thành phố phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch tuy nhiên tỷ trọng nông nghiệp là rất thấp Rau xanh là một loại nông sản thực phẩm chịu tác động rất lớn của thị trường, biến động giá cả là quanh năm nhưng rất ít hộ nông dân căn cứ vào nhu cầu rau của thị trường để điều chỉnh thời vụ trồng rau cho hợp lý[13]
Bảng 3.2 Dân số trung bình thành phố Huế 2005 – 2012
(Nguồn: Niên giám thống kế, 2012)
Dân số của thành phố Huế những năm trên có xu hướng gia tăng nhưng không đáng kể Dân số càng đông càng phản ánh về nhu cầu sản lượng rau được tiêu thụ trong địa bàn thành phố Huế cao Mặt khác, Huế là một thành phố di sản, hằng năm đón được một lượng khách tham quan đến Huế rất đông cộng thêm hàng nghìn sinh viên ngoại tỉnh ra vào Huế để học nên lượng rau tiêu thụ còn lớn hơn rất nhiều so với lượng rau tiêu thụ của người dân thành phố
Trang 33Tình hình lao động của thành phố Huế chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, du lịch, dịch vụ, xây dựng và kinh doanh; một phần nhỏ lao động tham gia vào các ngành nông - lâm - ngư nghiệp Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu nằm ở vùng ven thành phố; ngành nghề trồng rau đòi hỏi công chăm sóc nhiều nên thành phần lao động chủ yếu là phụ nữ trung niên
và người lớn tuổi, thanh niên là hầu như rất ít
3.1.2.2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của thành phố Huế
Thành phố Huế là một thành phố văn hóa, du lịch bảng dưới đây cho thấy được một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà thành phố đã đạt được trong 3 năm
GDP bình quân đầu người USD 954,8 1.098,4 1.350
Tổng lượng khách tham quan Người 1.388.610 1.296.100 1.451.600
- Khách trong nước Người 684.714 734.530 842.670
- Khách nước ngoài Người 703.896 561.570 608.930Thương mại bán lẻ hàng hóa,
dịch vụ triệu đồng 6.384.600 7.680.000 10.383.000
((Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Huế, 2010)
Qua bảng trên ta thấy tốc độ tăng tưởng kinh tế của thành phố Huế trong những năm 2008 – 2010 là khá cao và năm sau cao hơn năm trước GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt được là 1.350 USD cao hơn năm 2008 là 395.2 USD Thương mại bán lẻ hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng điều đó cho thấy Huế đang dần dần trở thành 1 trong những thành phố du lịch, công nghiệp lớn của cả nước Qua trên cũng cho thấy đời sống người dân thành phố Huế ngày một cải thiện, mức tiêu dùng càng ngày càng cao, nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày một tăng và là một khắc khe cho ngành thực phẩm đặc biệt là rau tươi một món ăn không thể thiếu trong mỗi măm cơm của người Việt càng ngày càng đòi
Trang 34hỏi về chất lượng lẫn cả số lượng.
Qua các chỉ tiêu thu nhập cho thấy mức sống của người dân thành phố Huế còn thấp so với các tỉnh thành khác trên cả nước Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng tổng sản phẩm sản xuất vẫn đang ở mức trung bình Qua bảng cũng cho thấy Huế là thành phố tiềm năng về du lịch, dịch vụ hơn so với ngành nông nghiệp Hằng năm vẫn thu hút rất nhiều khách du lịch trong lẫn ngoài nước đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây Huế thường tổ chức Festival vào các năm chẵn và Festival nghề truyền thống vào các năm lẻ Đây là hoạt động thu hút rất nhiều khách tham quan cả trong lẫn ngoài nước
Việc quy hoạch phát triển ngành rau phụ thuộc rất nhiều vào lượng khách tham quan du lịch đến Huế Hằng năm lượng khách du lịch đến Huế là rất đông
và hầu như năm sau đều cao hơn năm trước cụ thể như đến đầu tháng 11/2015, Huế đã đón được 2,6 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 1,1 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu du lịch đạt gần 3.000 tỷ đồng, tăng xấp xỉ 10% so với cùng
kỳ năm 2014 và tăng rất nhiều so với năm 2009( 1.296.100 người) Việc gia tặng lượng khách du lịch đến Huế cũng là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy ngành trồng RAT tại địa phương này [26]
3.1.2.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của thành phố Huế
Theo báo cáo công bố kết quả kiểm kê đất đai năm 2012 của thành phố Huế, diện tích đất tự nhiên của toàn thành phố hiện có 7.099 ha Trong đó, đất nông nghiệp 1908,7 ha chiếm 26,6% tổng diện tích tự nhiên của toàn thành phố đã khai thác đưa vào sử dụng; đất phi nông nghiệp 5135,6 ha, chiếm 71,6%; đất chưa sử dụng là 24,2 ha, chiếm 1,73% tổng diện tích tự nhiên của toàn thành phố
Từ năm 2011 đến năm 2012, đất nông nghiệp trên toàn thành phố giảm 40,94 ha Trong đó, đất trồng lúa giảm 39,64 ha do chuyển sang các loại đất ở và đất có mục đích công cộng khi triển khai thực hiện các dự án khu quy hoạch An Vân Dương (phường An Đông) và quy hoạch tái định cư An Hoà Riêng đất phi nông nghiệp, diện tích đất ở trong kỳ thống kê tăng 5,78 ha do các loại đất khác chuyển sang như: đất lúa 5,04 ha, đất trồng cây hàng năm 0,03 ha, và đất trồng cây lâu năm 0,66 ha Đồng thời, đất ở giảm 2,4 ha và chuyển sang đất giao thông, do giải toả mở đường ở Sông Ngự Hà, mở rộng đường Điện Biên Phủ Ngoài ra, 0,06 ha đất ở cũng được chuyển sang đất cơ sở sản xuất kinh doanh
Trang 35số này thấp hơn rất nhiều so với các huyện trong tỉnh qua đó cũng cho thấy thành phố Huế hướng đến là thành phố văn hóa, du lịch, dịch vụ và rất ít chú trọng đến sản xuất nông nghiệp (Niên giám thống kê thành phố Huế, 2012).
Bảng 3.4 Sản xuất nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015 [21]
Thực hiện tháng 11/2014
Thực hiện tháng 11/2015
Năm sau so với năm trước (%)
Diện tích thu
Diện tích gieo trồng các loại cây vụ đông
Trang 36trồng các loại rau phục vụ cho người dân địa phương cũng như khách tham quan
du lịch
Theo báo cáo thống kê kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015 thì: Diện tích cây hàng năm khác năm 2015 đạt 23,618 ha, giảm 0,9% so với năm trước, giảm chủ yếu do không chủ động nguồn nước tưới và tác động của nắng hạn từ đầu vụ hè thu, ngoài ra một số diện tích chuyển sang trồng lúa Trong đó, cây ngô đạt 1,612 ha, tăng 1,7% so năm trước; cây lấy củ có chất bột 11,056 ha, giảm 0,3%; cây mía 178 ha, tăng 1,7%; cây có hạt chứa dầu 3,560 ha, giảm 2,2%; cây rau các loại 4,401 ha, giảm 1,2%, cây đậu các loại 1,822 ha, giảm 3,8%; hoa, cây cảnh 394 ha, tăng 1,6%
Đối với các loại cây hàng năm chủ yếu khác ước thực hiện năm 2015 như sau: Cây ngô sản lượng đạt 6.336 tấn, tăng 2,7% so năm trước; khoai lang 15.353 tấn, giảm 2,2%; cây sắn 131.347 tấn, tăng 2,4%; cây lạc 7.650 tấn, tăng 21,2%; cây rau các loại 45.813 tấn, tăng 0,3%; cây đậu các loại 1.157 tấn, tăng 3,6% [21]
Bảng 3.5 Diện tích gieo trồng các loại cây ở thành phô Huế
((Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Huế,2012)
Theo bảng số liệu trên ta thấy cây lúa vẫn là cây trồng chủ lực trong cơ cấu cây trồng của thành phố Huế Vào năm 2009 đất trồng lúa chiếm 1,918 ha cao
Trang 37hơn rất nhiều so với các loại cây trồng khác; diện tích cây màu và cây thực phẩm cũng chiếm diện tích không nhỏ trong tổng diện tích cây trồng hằng năm Tuy nhiên diện tích cây màu có xu hướng giảm dần theo hằng năm nguyên nhân chủ yếu là do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp làm đất thổ cư và sản xuất công nghiệp.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những hộ dân trên đia bàn 6 phường ( vì thời gian làm quán ngắn nên tôi xin chọn ngẫu nhiên 6 phường trên địa bàn TP Huế) sau đây: Phường Tây Lộc, phường Phú Hòa, phường Thuận Hòa, phường Phú Hội, phường Vỹ Dạ, phường Vĩnh Ninh để khảo sát người đang sử dụng trực tiếp các loại rau trên thị trường Từ đó cho thấy mức độ sử dụng RAT của họ, cách thức, hiểu biết và tiêu dùng RAT của họ Việc chọn vùng nghiên cứu dựa trên các tiêu chí sau:
- Điểm nghiên cứu tập trung đông dân cư, hoạt động thương mại phát triển,
là nơi tập trung các chợ loại 1 của thành phố Huế và nhiều chợ lớn nhỏ hoạt động đông đúc khác
- Thuận lợi cho việc điều tra, thu thập số liệu trong quá trình điều tra
3.2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Vùng nghiên cứu: 6 phường thuộc địa bàn thành phố Huế
- Các điểm cung ứng RAT trên địa bàn thành phố: 44 Hai Bà Trưng thành phố Huế, các siêu thị trong địa bàn thành phố
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập thông tin thứ cấp: các báo cáo liên quan đến tình hình sản xuất
và tiêu thụ rau trên địa bàn thành phố Huế từ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế
- Thu thập thông tin sơ cấp:
Phỏng vấn người tiêu dùng bằng bảng hỏi
Phỏng vấn sâu những địa điểm cung ứng RAT Nội dung phỏng vấn tập trung vào khối lượng và chủng loại rau tiêu thụ trên địa bàn thành phố cũng như tìm hiểu các nguồn cung cấp rau chính trên địa bàn
Nội dung điều tra, phỏng vấn hộ tập trung vào nhu cầu về rau xanh và RAT