+ Chi phí gián tiếp: Còn gọi là chí quản lý hoặc chi phí chung Là những chi phí không có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất từng loại sản phẩm; mà có liên quan đến hoạt động chung
Trang 1CHƯƠNG 4 QUẢN TRỊ CHI PHÍ, KẾT QUẢ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
I QUẢN TRỊ CHI PHÍ, KẾT QUẢ
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.Doanh thu và hoạt động doanh thu
1.1.1.1 Doanh thu
a Khái niệm doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong
kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu (Chuẩn mực “ Doanh thu và Thu nhập” – Chuẩn mực kế toán Việt Nam)
Doanh thu được phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận giữa doanh nghiệp và bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi (-) các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại
b Phân loại doanh thu
Hoạt động của doanh nghiệp được chia thành hoạt động SXKD thông thường
và hoạt động khác Thuộc hoạt động SXKD thông thường bao gồm hoạt động sản xuất-tiêu thụ sản phẩm; mua-bán vật tư hàng hoá; thực hiện-cung cấp lao vu dịch
vụ và hoạt động đầu tư tài chính Còn hoạt động khác là những hoạt động thuộc các nghiệp vụ được quan niệm là phát sinh một cách không thường xuyên phổ biến của doanh nghiệp như thanh lý, nhượng bán TSCĐ, vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật, các khoản nợ khó đòi, ghi nhầm, bỏ sót, gian lận trốn lậu thuế
Tương ứng với các hoạt động nêu trên của doanh nghiệp là các loại doanh thu và thu nhập, bao gồm:
Trang 2- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận đựoc chia
- Doanh thu kinh doanh bất động sản
- Thu nhập khác
Căn cứ vào phương thức bán hàng, doanh thu còn được chia thành:
- Doanh thu bán hàng thu tiền ngay
- Doanh thu bán hàng người mua chưa trả
- Doanh thu bán hàng trả góp
- Doanh thu bán hàng đại lý (ký gửi)
- Doanh thu chưa thực hiện (nhận trước)
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản trị doanh nghiệp, doanh thu còn được chia thành: doanh thu bán hàng ra ngoài, doanh thu tiêu thụ nội bộ, doanh thu xuất khẩu
và doanh thu nội địa
1.1.1.2 Hoạt động doanh thu
Hoạt động doanh thu là lĩnh vực hoạt động kinh doanh tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp
- Hoạt động tạo ra doanh thu bao gồm :
+ Hoạt động sản xuất công nghiệp gồm hai nhiệm vụ cụ thể :
• Sản xuất theo catalogue hàng ( tức là sản xuất sản phẩm theo mẫu có sẵn, không
có người đặt hàng trước sau đó mới tìm người mua ) Sản xuất theo catalogue tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm với số lượng lớn, liên tục và ổn định
• Sản xuất theo các đơn đặt hàng trước Doanh nghiệp sản xuất theo địa chỉ của khách hàng vì vậy doanh nghiệp không phải lo việc tiêu thụ sản phẩm: sản xuất đến đâu tiêu thụ đến đó, thu tiền ngay Tuy nhiên cách sản xuất này không ổn định, không liên tục được Muốn sản xuất theo cách trên phải tuỳ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp
Trang 3+ Hoạt động thương mại:
Đây là hoạt động mua, bán hàng hoá (không trải qua quá trình chế biến sản phẩm) Bộ phận này được hạch toán độc lập với hoạt động sản xuất công nghiệp
+ Hoạt động sửa chữa, bảo hành sản phẩm
Đây là hoạt động có thu, có chi, hạch toán độc lập
Cả ba hoạt động trên đều là hoạt động doanh thu vì đều đem lại doanh thu cho doanh nghiệp Mỗi hoạt động đều có hoá đơn thu riêng và số thu được đưa vào quỹ chung của doanh nghiệp
Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần lưu ý:
Hoạt động nào không đem lại doanh thu trực tiếp cho doanh nghiệp thì không thuộc về khái niệm hoạt động doanh thu ở đây
Doanh nghiệp cần xác định tỷ trọng và vị trí từng loại hoạt động
Phân tích xem khả năng hoạt động nào đem lại doanh thu lớn nhất, nhỏ nhất; hoạt động nào lãi, hoạt động nào lỗ
Thông thường hoạt động phải hạch toán riêng biệt, độc lập với nhau, tức là phải phân bổ chi phí, xác định doanh thu không trùng lặp
1.1.2 Thương vụ
Thương vụ là một lĩnh vực hoạt động có phát sinh chi phí trong quá trình tiến hành và mang lại doanh thu cho doanh nghiệp Trong từng hoạt động có một hay nhiều thương vụ khác nhau
Thương vụ được chia làm ba loại:
- Thương vụ trong sổ (là thương vụ mới ký kết), đặc điểm của thương vụ này
là chưa có thu nhập, cũng chưa phải phân bổ bất kỳ chi phí nào cho nó Nếu xoá thương vụ này cũng không gây hậu quả xấu cho doanh nghiệp
- Thương vụ đang thực hiện: là thương vụ bắt đầu phải phân bổ chi phí cho
nó Ví dụ: sản phẩm đang trong quá trình sản xuất, công trình xây dựng cơ bản
Trang 4đang tiến hàng thi công .Nếu thương vụ này không hoàn thành sẽ gây hậu quả đáng kể cho doanh nghiệp
- Thương vụ đã hoàn thành (hoàn tất): là thương vụ không còn bất kỳ một thu nhập hay chi phí nào phân bổ cho nó nữa Nếu lại phân bổ chi chí cho nó sẽ làm sai lệch kết quả hoạt động
1.1.3 Chi phí sản xuất kinh doanh
- Khái niệm: chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí vật chất và lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định
(Hay nó chính là sự tiêu hao những giá trị cần thiết về vật phẩm và dịch vụ để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhất định)
- Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh: gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
+ Chi phí sản xuất kinh doanh trực tiếp: là chi phí có liên quan mật thiết đến
việc chế tạo từng loại sản phẩm, không liên quan đến loại sản phẩm khác, nó được tính thẳng vào giá thành sản phẩm từng loại, thuộc loại này gồm:
• Chi phí nguyên vật liệu (nguyên vật liệu chính, nhiên liệu, vật liệu phụ, động lực công cụ dụng cụ ), các loại chi phí này được tính dựa vào giá mua cộng thêm chi phí vận chuyển, nhập kho
• Chi phí thuê ngoài chế biến
• Chi phí nhân công trực tiếp (chi phí về tiền lương, tiền công sản xuất sản phẩm, BHXH, BHYT, KPCĐ)
+ Chi phí gián tiếp: ( Còn gọi là chí quản lý hoặc chi phí chung )
Là những chi phí không có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất từng loại sản phẩm; mà có liên quan đến hoạt động chung của phân xưởng, của toàn doanh nghiệp Nó được tính vào giá thành sản phẩm một cách gián tiếp, thông qua phương pháp phân bổ phù hợp nhất Thuộc loại này bao gồm: chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý doanh nghiệp cụ thể gồm:
Trang 5• Tiền lương, BHXH của cán bộ quản lý doanh nghiệp, quản lý phân xưởng
• Tiền thuê đất, thuê nhà
• Điện nước, dịch vụ chung
• Chi phí quảng cáo, bưu điện, thông tin, tiếp khách
• Chi phí thuê chuyên gia, cố vấn
• Tiền đào tạo tay nghề cho người lao động
• Các chi phí quản lý khác
• Tiền khấu hao TSCĐ:
Khấu hao là số tiền phải trích hàng năm nhằm mục đích bù đắp nguyên giá TSCĐ Mức khấu hao không liên quan trực tiếp đến sản xuất từng sản phẩm Vì vậy, muốn tính chi phí khấu hao cho từng sản phẩm phải dùng phương pháp phân
bổ thông qua các chìa khoá phân bổ khác nhau
1.1.4 Lợi nhuận
Lợi nhuận thực hiện trong năm của doanh nghiệp là tổng của lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận hoạt động khác
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh bao gồm:
- Chênh lệch giữa doanh thu từ việc bán sản phẩm hàng hoá, cung cấp dịch
vụ với tổng giá thành toàn bộ sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ hoặc chi phí dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
- Chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính với chi phí hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ
- Lợi nhuận hoạt động khác: là chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động khác với chi phí từ hoạt động khác phát sinh trong kỳ
1.2 Quản trị chi phí, kết quả theo phương thức sử dụng các chìa khoá phân bổ truyền thống
Trang 6Chi phí trực tiếp được tính trực tiếp vào giá thành sản phẩm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí tiền lương còn chi phí gián tiếp thì được phân bổ vào giá thành thông qua các chìa khoá phân bổ: chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khấu hao TSCĐ
Các chìa khoá phân bổ thường dùng để phân bổ chi phí chung:
- Phân bổ chi phí chung theo doanh thu
- Phân bổ chi phí chung theo chi phí trực tiếp
- Phân bổ chi phí chung theo giờ công sản xuất
1.2.1 Phân bổ chi phí chung theo doanh thu (K 1 )
- Ý nghĩa: phương pháp này cho thấy doanh thu một sản phẩm chịu bao nhiêu đồng chi phí chung
+ K1i : Chi phí chung phân bổ cho 1 sản phẩm i theo doanh thu
+ CPC: Tổng chi phí chung phát sinh để sản xuất và tiêu thụ các loại sản phẩm cần phân bổ trong kỳ
+ TR: Tổng doanh thu của các loại sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
+ Pi: giá bán 1 sản phẩm i
n
Mà TR = (Pi x Qi)
i=1
+ Qi: số lượng sản phẩm loại i sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
+ i: loại sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Trang 71.2.2 Phân bổ chi phí chung theo chi phí trực tiếp (K 2 )
- Ý nghĩa: phương pháp này cho thấy cứ một đồng chi phí trực tiếp chịu bao
nhiêu đồng chi phí chung
+ K2i : Chi phí chung phân bổ cho 1 sản phẩm i theo chi phí trực tiếp
+ CPTT : Tổng chi phí trực tiếp để sản xuất và tiêu thụ các loại sản phẩm
Qi: Số lượng sản phẩm loại i sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
1.2.3 Phân bổ chi phí chung theo giờ công sản xuất (K3)
- Ý nghĩa: phương pháp này cho thấy giờ công sản xuất một sản phẩm chịu
bao nhiêu đồng chi phí chung
Trang 8+ T :Tổng giờ công để sản xuất các loại sản phẩm trong kỳ
ti: Giờ công để sản xuất 1 sản phẩm i trong kỳ
3 Giá trị 1 giờ công SX ( đ/giờ ) 13.000 13.000 13.000
- Yêu cầu: Tính chi phí chung phân bổ cho một sản phẩm từng loại dựa trên 3
loại chìa khoá phân bổ đã học và tính giá thành, lợi nhuận của một sản phẩm từng loại, tính tổng lợi nhuận của các loại sản phẩm trong doanh nghiệp, sau đó lập bảng tính giá thành, lợi nhuận theo từng cách phân bổ chi phí chung
Trang 9240.000.000
K1 ( B ) = x 90.000 = 15.988,16đ
1.351.000.000
- Tổng chi phí trực tiếp để sản xuất các loại sản phẩm
( 40.000 x 5000 ) + ( 66.000 x 600 0) + ( 103.000 x 3500 ) = 956.500.000đ
- Tính giá thành 1 sản phẩm từng loại
+ 1 sản phẩm A = 40.000 + 10.658,77 = 50.658,77đ + 1 sản phẩm B = 66.000 + 15.988,16 = 81.988,16đ + 1 sản phẩm C = 103.000 + 25.936,34 = 128.936,34đ
- Tính lợi nhuận cho 1 sản phẩm từng loại
+ 1 sản phẩm A = 60.000 - 50.658,77 = 9.341,22đ + 1 sản phẩm B = 90.000 - 81.988,16 = 8.011,84đ
Trang 10 chi phí 1SP ( Z SP - đ )
240.000.000 + K2 (B) = x 66.000 = 16.560,38đ 956.500.000
240.000.000 + K2 (C) = x 103.000 = 25.844,22đ 956.500.000
- Tính giá thành một sản phẩm từng loại
+ 1 sản phẩm A = 40.000 + 10.036,59 = 50.036,59đ + 1 sản phẩm B = 66.000 + 16.560,38 = 82.560,38đ + 1 sản phẩm C = 103.000 + 25.844,22 = 128.844,22đ
Trang 11- Tính lợi nhuận cho 1 sản phẩm từng loại
+ 1 sản phẩm A = 60.000 – 50.036,59 = 9.963,41đ + 1 sản phẩm B = 90.000 – 82.560,38 = 7.439,62đ + 1 sản phẩm C = 146.000 – 128.936,34 = 17.063,66đ
- Tính tổng lợi nhuận của các loại sản phẩm
( 5000 x 9.963,41 ) + ( 6000x 7.439,62 ) + ( 3500x 17.063,66 ) = 154.177.580đ
- Lập bảng giá thành, lợi nhuận cho 1 sản phẩm từng loại
SP
Chi phí trực
tiếp 1 SP (đ)
Chi phí chung phân bổ 1SP(đ)
Tổng CF 1
SP ( đ )
240.000.000 + K3 (B) = x 4 = 16.695,65đ 57.500
240.000.000 + K3 (C) = x 6 = 25.043,48đ 57.500
- Tính giá thành 1 sản phẩm từng loại
Trang 12+ 1 sản phẩm B = 66.000 + 16.695,65 = 82.695,65đ + 1 sản phẩm C = 103.000 + 25.043,48 = 128.043,48đ
- Tính lợi nhuận 1 sản phẩm từng loại
+ 1 sản phẩm A = 60.000 – 50.434,78 = 9.565,22đ + 1 sản phẩm B = 90.000 – 82.695,65 = 7.304,35đ + 1 sản phẩm C = 146.000 – 128.043,48 = 17.956,52đ
- Tính tổng lợi nhuận của các loại sản phẩm
Tổng CF 1
SP ( đ )
Nhận xét: Giá thành và lợi nhuận của một sản phẩm từng loại qua ba cách
phân bổ chi phí chung như trên cho thấy kết quả rất khác nhau, do đó lãnh đạo khó biết được mức lãi đích thực, hơn nữa việc tính toán phức tạp, khối lượng tính toán lớn mà việc phân bổ chi phí chung là để xác định giá thành, trên cơ sở đó xác định giá bán cho sản phẩm Song trong nhiều trường hợp giá bán không phụ thuộc vào giá thành sản phẩm mà phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường Tức là người ta không cần biết giá thành mà vẫn xác định được giá bán
Xuất phát từ tình hình trên, ta thấy cần thiết phải dùng một phương pháp tính lợi nhuận mới phù hợp với cơ chế thị trường hiện nay, để đảm bảo cho giám đốc nắm bắt chính xác lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp là bao nhiêu
Trang 13Nguyên tắc của phương pháp này là gạt chi phí chung sang một bên Như vậy, ba chìa khoá phân bổ trên (K1, K2, K3) sẽ không sử dụng nữa mà dùng một chìa khoá mở, đó là phương pháp tính mức lãi thô
1.3 Quản trị chi phí kết quả theo phương thức mới (phương pháp tính mức lãi thô)
1.3.1 Khái niệm mức lãi thô
Mức lãi thô là phần chênh lệch giữa giá bán sản phẩm và chi phí sản xuất trực tiếp của sản phẩm đó
1.3.2 Các loại mức lãi thô: Mức lãi thô được chia thành 6 loại cơ bản sau :
a Mức lãi thô đơn vị:
- Là phần chênh lệch giữa thu nhập đơn vị sản phẩm và chi phí trực tiếp đơn
- Chi phí trực tiếp đơn vị
b Mức lãi thô đơn hàng
- Là phần chênh lệch giữa thu nhập đơn hàng và chi phí trực tiếp đơn đặt hàng
- Công thức tính:
Mức lãi thô
đơn hàng
= Thu nhập đơn hàng
- Chi phí trực tiếp đơn đặt hàng
c Mức lãi thô thương vụ
- Là phần chênh lệch giữa thu nhập thương vụ và chi phí trực tiếp thương vụ Mức lãi thô
thương vụ
= Thu nhập thương vụ
- Chi phí trực tiếp thương vụ
d Mức lãi thô tổng quát
Trang 14Mức lãi thô
tổng quát
= Tổng mức lãi thô của các hoạt động Hoặc Mức lãi thô tổng quát = Tổng mức lãi thô của các thương vụ Hoặc Mức lãi thô tổng quát = (Mức lãi thô đơn vị X số lượng sản phẩm từng loại)
* Nhận xét: Qua ví dụ ở phần trên ta thấy ở cùng 1 sản phẩm thì lãi (lợi
nhuận) có khác nhau (ví dụ: 1 sản phẩm A thì mức lãi ở 3 cách phân bổ đó là : 9.341,22đ; 9.963,41đ; 9.565,22đ Nhưng nếu lãi thô ở 1 sản phẩm thì chỉ có 1 mức
- Mức lãi thô là chìa khoá mới để xác định lợi nhuận chính xác
- Mỗi sản phẩm đều có mức lãi thô riêng của nó
Vì vậy, chìa khoá mức lãi thô không bị ảnh hưởng của bất kỳ yếu tố ngoại lai nào, nên phản ánh chính xác kết quả hoạt động của doanh nghiệp, tính toán lại đơn giản Đây là vấn đề quan trọng, rất cần thiết đối với người quản lý, người lãnh đạo doanh nghiệp
e Mức lãi thô điểm hoà vốn
- Khái niệm: mức lãi thô điểm hoà vốn là mức lãi thô mà tại đó mức lãi thô tổng quát bằng mức chi phí chung cuả doanh nghiệp
- Chú ý :
+ Doanh nghiệp hoà vốn khi : mức lãi thô tổng quát = chi phí chung
+ Doanh nghiệp có lãi khi : mức lãi thô tổng quát > chi phí chung
+ Doanh nghiệp bị lỗ khi : mức lãi thô tổng quát < chi phí chung
Trang 15- Mức lãi thực :
Mức lãi thực (lợi nhuận)
= Mức lãi thô tổng quát
- Tổng chi phí chung Hoặc:
Mức lãi thực = Tổng
doanh thu -
Tổng chi phí trực tiếp -
Tổng chi phí chung
- Nếu gọi MLT1 là mức lãi thô của hoạt động(1)
- Nếu gọi MLT2 là mức lãi thô của hoạt động(2)
- Nếu gọi MLT3 là mức lãi thô của hoạt động(3)
Ta có thể biểu diễn mức lãi thô ở điểm hoà vốn và mức lãi thực bằng sơ đồ sau:
MLT5 MLT4 MLT3 MLT2
Chi phí SXC CPQLDN MLT1
Chi phí chung Mức lãi thô thể hiện bằng tiền, nó là giá trị kết quả đích thực đưa vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp
- Chú ý: Muốn xác định mức lãi thô tổng quát của doanh nghiệp, phải chuyển kết quả mức lãi thô ở từng thương vụ tổng hợp lại (Có thương vụ có lãi, có thể có thương vụ bị lỗ)
Nếu doanh nghiệp có mức lãi thô tổng quát lớn hơn chi phí chung thì doanh nghiệp lãi và ngược lại Còn chi phí chung cứ để trọn gói không cần phân bổ Lãnh
Mức lãi thô tổng quát
Mức lãi thô hoà vốn Lợi nhuận
Trang 16đạo không cần biết cách phân bổ mà chỉ cần biết giá trị trọn gói và từ đó tìm biện pháp quản lý và giảm từng yếu tố của nó
g Mức lãi thô theo giờ công sản xuất
- Để lãnh đạo có hiệu quả, người ta còn tính mức lãi thô theo giờ công sản xuất
Mức lãi thô Mức lãi thô đơn vị sản phẩm theo =
giờ công SX Giờ công để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm
* Ví dụ tổng hợp: tính mức lãi thô thương vụ, mức lãi thô 1 đơn vị, mức lãi
thô 1 giờ của 1 thương vụ ở 1 doanh nghiệp có số lượng sản phẩm sản xuất là 20.000 sản phẩm, giá bán 110.000đ/1SP, chi phí NVL chính là: 45.000đ/1SP, VL phụ: 4000đ/1SP Giờ công: 3 giờ/1 SP Giá trị giờ công 14.000đ/1giờ
Bài giải
- Mức lãi thô đơn vị sản phẩm = Giá bán - CP trực tiếp Ta có:
+ Chi phí trực tiếp 1 SP = 45.000 + 4.000 + (3 x 14.000) = 91.000đ/1 SP + Mức lãi thô đơn vị sản phẩm = 110.000- 91.000 =19.000đ/1 SP
- Mức lãi thô
1 giờ công sản xuất
= 19.000
3
= 6.333,33đ/giờ
- Mức lãi thô một
thương vụ = 19.000 x 20.000 = 380.000.000đ
Chú ý: Mức lãi thô có thể được doanh nghiệp đặt ra theo kế hoạch, từ đó tìm
biện pháp để thực hiện Mức lãi thô sau này khi đã bù đắp được chi phí chung thì phần còn lại là lợi nhuận Khi có mức lãi thô kế hoạch của một đơn hàng, người ta có thể dựa vào đó để đàm phán giá bán cho sản phẩm Khi doanh nghiệp đã dự kiến được mức lãi thô đơn hàng, dự kiến được chi phí chung thì việc đàm phán giá bán sản phẩm
Trang 17sẽ thuận lợi vì nó đều liên quan đến lợi nhuận của sản phẩm Doanh nghiệp có thể có
sự con người giãn trong đàm phán giá cả sản phẩm với khách hàng Từ mức lãi thô, doanh nghiệp có thể quyết định nên áp dụng giá bán ở mức nào là phù hợp, có lợi nhất Ngược lại khách hàng có thể chấp nhận được giá mà doanh nghiệp nghiệp đàm phán hay không chứng tỏ rằng đơn hàng đó đã được thực hiện
II QUẢN TRỊ CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Quản trị tài chính là một lĩnh vực có tính chất trọng yếu trong quản trị và điều hành kinh doanh trong các doanh nghiệp Đặc biệt, quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý từ cơ chế hiện vật - khép kín sang cơ chế tài chính - mở cửa thì sự giao thoa các hoạt động tài chính doanh nghiệp với nền tài chính quốc gia, quốc tế ngày càng trở nên phức tạp Việc nghiên cứu quản trị tài chính đã trở thành một ngành học lớn cùng với sự phát triển hết sức nhanh chóng của nó
2.1 Khái niệm, vai trò và nội dung của quản trị các chính sách tài chính doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp
- Khái niệm tài chính doanh nghiệp:
Trong các sách viết về quản trị tài chính, người ta đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về tài chính doanh nghiệp Các tác giả đã tìm kiếm khái niệm tài chính doanh nghiệp trên các vấn đề có tính nguyên lý khác nhau của họ, chủ yếu thường tập trung vào 5 vấn đề sau:
+ Cơ cấu nguồn vốn ( giữa vốn tự có và vốn vay)
+ Sự bảo đảm có tính hợp lý lợi ích cho những người bỏ vốn dưới các hình thức khác nhau
+ Khía cạnh thời hạn của các loại vốn
+ Sự diễn giải các khái niệm về vốn như là tổng giá trị của các loại tài sản dưới hai dạng: “vốn trừu tượng” và “vốn cụ thể”
Trang 18+ Chỉ ra các trường hợp thay đổi của vốn trong các trường hợp tăng, giảm và thay đổi cấu trúc của nó
Trên cơ sở nguyên lý các vấn đề nêu trên, có thể hiểu tài chính doanh nghiệp như sau;
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hoá các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc
sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
- Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp là việc nghiên cứu, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, nhằm đưa ra các quyết định điều chỉnh các mối quan hệ tài chính nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất
ở đây, cần phân biệt hai khái niệm quản trị tài chính và quản trị đầu tư Mặc
dù tài chính và đầu tư đều nghiên cứu các quan hệ kinh tế liên quan đến vốn sản xuất, song vì tính chất, phạm vi và quá trình thực hiện chúng, người ta phân biệt:
+ Quản trị tài chính xem xét, quyết định quá trình tạo lập các nguồn vốn (bao gồm các tạo lập ban đầu và tạo lập trong suốt quá trình kinh doanh) và thực trạng tài chính tại các thời điểm nhất định để bảo đảm tốt khả năng thanh toán, hiệu suất vốn kinh doanh và sự ổn định của cơ cấu tài chính tổng thể
+ Đầu tư là việc sử dụng nguồn vốn tạo lập được dưới khía cạnh hoạt động kinh tế - kỹ thuật cụ thể để đảm bảo sự hợp lý, tính kinh tế trong cơ cấu tổng thể của doanh nghiệp
Trong quản trị tài chính doanh nghiệp, người ta phân biệt sự tạo lập các nguồn vốn từ 2 nguồn: Tạo lập từ bên trong và tạo lập từ bên ngoài, phù hợp với thực trạng tài chính tại các thời điểm và hoàn cảnh nhất định của doanh nghiệp
2.1.2 Vai trò
- Một mặt, quản trị tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quyết định trong việc
sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp, trên cơ sở phân tích, hoạch định và kiểm soát trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 19- Mặt khác, quản trị tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho việc phân phối và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nền kinh tế, vì tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành tổng thể nền tài chính quốc gia
2.1.3 Các nội dung chủ yếu của quản trị tài chính doanh nghiệp
Xét một cách toàn diện, các nội dung chủ yếu có thể kể đến là;
- Tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
- Hoạch định và kiểm soát tài chính doanh nghiệp
- Quản trị các nguồn tài trợ
- Chính sách phân phối
- Quản trị hoạt động đầu tư
Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ của các lý thuyết đầu tư nên nó nhanh chóng trở thành một ngành nghiên cứu riêng, bởi vậy khi nghiên cứu quản trị tài chính doanh nghiệp, người ta tập trung vào các nội dung trên và đầu tư được coi như một nội dung song hành
Xuất phát từ mục tiêu và phạm vi nghiên cứu chương này đề cập đến một số chính sách sau :
Trang 20Nền kinh tế thị trường phát triển song hành với một nền tài chính đa dạng, phức tạp Quá trình tích tụ và tập trung tư bản là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hội nhập của tư bản tài chính và tư bản công nghiệp càng làm cho bức tranh tổng thể tài chính phức tạp hơn Một mặt tư bản tài chính tham gia vào lĩnh vực công nghiệp bằng việc góp vốn rồi dẫn đến tự kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác Mặt khác, các tập đoàn công nghiệp lớn cũng tự mình tổ chức ra các công ty tài chính để nhằm ổn định nguồn tài chính cho mình và tiến đến kinh doanh trên cả lĩnh vực tài chính Tuy nhiên, không vì thế mà không thể mô tả một cách mạch lạc các nguồn tài chính cho một doanh nghiệp
Nếu ở cơ chế kinh tế chỉ huy, nguồn tài chính được hình thành duy nhất từ quỹ tài chính tập trung là ngân sách, thì ở cơ chế thị trường nguồn này ngày càng mất dần
ý nghĩa đối với các doanh nghiệp và chỉ đóng vai trò là “nguồn tài chính bao cấp”
Tổng hợp các nguồn tài chính được mô tả theo sơ đồ sau :
Nguồn tài chính
đi vay
Nguồn TC
có được từ doanh thu,
từ giá trị khấu hao,
từ lợi nhuận
Nguồn
TC
từ các biện pháp quản trị tài chính khả thi Các loại nguồn tài chính của
DN
Trang 21Việc xem xét các nguồn tài chính cho phép thấy rõ hơn bức tranh tài chính tổng thể mà doanh nghiệp có thể nghiên cứu để huy động các nguồn cần thiết phù hợp cho quá trình kinh doanh
b Sự tập hợp các loại nguồn tài chính trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
- Các nguồn tài chính doanh nghiệp huy động được phản ánh vào bên phải của bảng cân đối kế toán (nguồn vốn) và được tuân theo nguyên tắc sau:
Tài sản Nguồn vốn
- Việc quyết định huy động nguồn tài chính nào đó đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp và qua đó ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
+ Huy động nguồn vốn chủ sở hữu: Tuy có ích lợi trong việc tự chủ về tài chính song các hình thức huy động lại có tác động rất khác nhau Giả sử phát hành thêm cổ phần thì chi phí phát hành cao, có thể bị chia quyền kiểm soát, phần lợi nhuận tái tích luỹ bị giảm sút, hơn nữa có thể gây tâm lý thụ động
+ Huy động nguồn vốn vay: Trước hết là ảnh hưởng đến quyền tự chủ về tài chính, sau nữa là gánh nặng vì phải trả lãi vay nhất là trong điều kiện kinh doanh khó khăn.Hơn nữa, cơ cấu trong bản thân vốn vay (vay dài hạn và ngắn hạn) sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì dễ có nguy cơ phá sản
Vay ngắn hạn Tài sản
ngắn hạn
Tài sản dài hạn
Vay ngắn hạn Vay dài hạn
Nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn thường xuyên dài hạn
Trang 22Tóm lại, huy động các nguồn tài chính cho doanh nghiệp luôn là một trong những quyết định căn bản của quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung Nó phảI xuất phát từ những phân tích, tính toán xác đáng
c Chính sách huy động các nguồn tài chính cho doanh nghiệp
- Phân tích các nguồn vốn:
+ Trước hết xem xét lại tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm cần huy động bằng việc tính toán lại các chỉ tiêu tài chính cơ bản Đồng thời xác định lại các chỉ tiêu theo các phương án huy động khác nhau Trên cơ sở đó khẳng định mục tiêu, phương án huy động cụ thể
+ Phân tích, nghiên cứu các luận chứng kinh tế kỹ thuật với các khoản tài chính cần huy động, tính toán đến các rủi ro có thể xảy ra: rủi ro về mệnh giá, tỷ suất, tỷ giá
+ Nghiên cứu tỷ mỷ các chủ nợ Nếu đó là các ngân hàng, các tổ chức tài chính thì tiềm lực, sức mạnh kinh doanh của họ là một đảm bảo cần thiết trong trường hợp doanh nghiệp cần kéo dài các khoản nợ vì một lý do nào đó Hơn nữa cũng cần xem xét động cơ tham gia vào nguồn tài chính doanh nghiệp của họ Đối với các trái chủ và cổ chủ thì việc xem xét động cơ, tính trung thành, các động thái, trình độ nhận thức của họ cũng rất có ý nghĩa trong việc làm ổn định và lành mạnh các nguồn tài chính huy động
+ Một quyết định huy động các nguồn tài chính luôn là vấn đề với doanh nghiệp, do vậy trước hết cần tập trung nghiên cứu và khai thác triệt để các biện pháp quản trị khả thi, để có thể hoặc coi đó như một “dự trữ an toàn”, hoặc đó chính là phần nguồn vốn được tính toán khấu trừ trong tổng lượng tài chính cần phải huy động từ các nguồn khác Điều này càng có ý nghĩa to lớn trong các hoàn cảnh hiểm nghèo về tài chính của doanh nghiệp
- Lựa chọn các nguồn huy động vốn
Việc lựa chọn các nguồn vốn có thể dựa vào các chính sách sau:
Trang 23+ Dùng chính sách huy động tập trung nguồn: Tức là doanh nghiệp chỉ tập trung huy động vào một hay một số ít nguồn Trong trường hợp đó, chi phí huy động có thể giảm, song có thể xảy ra các rủi ro sau:
• Phá vỡ cơ cấu tài sản nợ (tài sản) dẫn đến làm thay đổi đột ngột các chỉ số tài chính
• ảnh hưởng đến lợi tức cổ phần( nếu huy động bằng cổ phiếu) hoặc sẽ làm cho doanh nghiệp lệ thuộc hơn vào chủ nợ (nếu là vốn vay)
+ Chính sách huy động phân tán: Tức là việc doanh nghiệp đồng thời huy động từ nhiều nguồn khác nhau Trong trường hợp này, chi phí huy động có thể rất lớn song lại tránh được các rủi ro như trên, làm giảm nguy cơ phá sản của doanh nghiệp
- Chính sách tài trợ vững chắc: Tức là không những cả tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên mà ngay cả một phần của tài sản lưu động biến đổi cũng được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn Chính sách này không những đảm bảo một khả năng thanh toán nhanh vững chắc, mà còn cho phép doanh nghiệp kinh doanh trên phần vốn tạm thời nhàn rỗi bằng việc tham gia vào các hoạt động thương mại, đầu tư chứng khoán có lãi cao Tuy nhiên, cách tài trợ này thường ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh chung vì thông thường chi phí cho việc tài trợ bằng vốn dài hạn cao hơn chi phí cho tài trợ bằng vốn ngắn hạn
Trang 24- Chính sách tài trợ mạo hiểm: Tức là dùng nguồn vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên, thậm chí cho cả tài sản cố định Chính sách này rất dễ đẩy doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng thanh toán, màtrước hết là khả năng thanh toán nhanh Nó có thể được áp dụng đối với doanh nghiệp được nhà cung cấp cho chịu với kỳ hạn dài và số lượng lớn Tuy nhiên cũng vì thế mà doanh nghiệp khó có thể áp dụng chính sách bán chịu, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nói chung
2.2.2 Chính sách mắc nợ của doanh nghiệp
Việc huy động các nguồn vốn dẫn đến thay đổi cơ cấu nguồn vốn và do đó làm thay đổi hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vậy, chính sách mắc nợ được coi như chìa khoá đảm bảo cho doanh nghiệp tránh rủi ro phá sản, đồng thời đạt được hiệu quả kinh doanh thoả đáng
a.Hệ số mắc nợ và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Công thức xác định hệ số mắc nợ của doanh nghiệp:
Hệ số mắc nợ (Hệ số huy động vốn của DN ) =
Vốn vay Vốn chủ sở hữu
Hệ số mắc nợ có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là hiệu quả vốn chủ sở hữu Để biểu diễn mối quan hệ này ta cần đi xác định một số chỉ tiêu sau:
Trong đó: Vốn kinh doanh = Vốn chủ sở hữu + Vốn vay
+ Chỉ số doanh lợi vốn chủ sở hữu:
Trang 25+
Hệ số huy động vốn
x
Chỉ số doanh lợi vốn
-
Lãi suất vay vốn bình quân
Như vậy, chỉ số doanh lợi vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào ba tham số, trong đó:
• Chỉ số doanh lợi vốn là kết quả nỗ lực kinh doanh của toàn doanh nghiệp
• Hệ số huy động vốn là nhân tố nhạy cảm nhất phụ thuộc vào chính sách huy động vốn của doanh nghiệp
• Lãi suất vay vốn bình quân được quyết định bởi rất nhiều yếu tố của nền kinh tế quốc dân, nói cách khác đây là yếu tố khách quan nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp Thông thường lãi suất vay vốn do ngân hàng trung ương quyết định
b Chính sách mắc nợ
Chính sách mắc nợ của doanh nghiệp thực chất là việc điều chỉnh hệ số mắc
nợ nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất cho vốn đầu tư của chủ sở hữu
- Có hai chính sách mắc nợ cần được áp dụng:
+ Chính sách mắc nợ linh hoạt: Là việc điều chỉnh linh hoạt hệ số nợ trong từng thời kỳ Cụ thể nếu doanh lợi vốn đạt cao có thể tăng vốn vay để tăng lợi nhuận Ngược lại, nếu doanh lợi vốn đạt thấp thì giảm vốn vay, tăng vốn chủ sở hữu (phát hành thêm cổ phiếu) sẽ là một sự điều chỉnh đem lại lợi ích hơn cho doanh nghiệp
Điều kiện thực hiện
• Doanh nghiệp phải hường xuyên theo dõi và phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
• Thị trường vốn, thị trường tài chính đã phát triển
• Doanh nghiệp có thể chủ động trong việc huy động hoặc dãn nợ khi cần thiết
Trang 26+ Chính sách mắc nợ ổn định: Là việc doanh nghiệp chủ trương duy trì một
hệ số mắc nợ tương đối ổn định phù hợp với hoạt động kinh doanh, văn hoá kinh doanh cũng như các chủ trương dài hạn của doanh nghiệp
Chính sách này có ưu điểm là tránh được rủi ro mất khả năng thanh toán, vì
hệ số mắc nợ được đặt trong “một khung an toàn nhất định” Song áp dụng chính sách này doanh nghiệp có thể vô tình bỏ lỡ các cơ hội trong kinh doanh trong những thời kỳ nhất định
2.2.3 Chính sách thay thế tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh, để tránh các rủi ro tín dụng do việc huy động vốn vay đem lại Doanh nghiệp có thể sử dụng đến các chính sách tài chính thay thế tín dụng Hiện nay, các doanh nghiệp thường áp dụng hai chính sách thay thế tín dụng chủ yếu sau:
a Chính sách thay thế tín dụng bằng thuê mua
- Khái niệm: Tín dụng thuê mua là việc doanh nghiệp tạo vốn bằng cách thuê các trang thiết bị và tài sản cố định để sử dụng trong kinh doanh
Đây là hình thức tạo vốn khá phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Với hình thức này, doanh nghiệp được sử dụng vốn như chính mình là người sở hữu với giá thuê định trước trong hợp đồng Sau thời hạn hợp đồng thuê mua, doanh nghiệp có thể mua với giá còn lại , trả lại tài sản đã thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản với giá thoả thuận mới
- Các hình thức thuê mua chủ yếu
+ Tín dụng thuê mua truyền thống: Như trình bày ở trên
+ Chuyển nhượng cho thuê: Đây là hình thức mà công ty tài chính thuê mua cho doanh nghiệp trang thiết bị và tài sản cố định căn cứ vào hợp đồng thuê mua Với hình thức này doanh nghiệp là người thứ ba nhưng vẫn có quyền sử dụng, giữ gìn tài sản và có khả năng thanh toán
Trang 27Thực chất của tín dụng thuê mua (hay còn gọi là thuê mua tại chỗ) là doanh nghiệp bán tài sản của mình cho công ty thuê mua, sau đó lại thuê lại tài sản đó của công ty thuê mua để sử dụng
Hình thức thuê mua này mặc dù tạo điều kiện cho doanh nghiệp giải quyết tốt khó khăn về vốn song doanh nghiệp thường xuyên phải chịu giá thuê cao, gây khó khăn trong việc cạnh tranh về giá, mặt khác tổ chức hình thức này rất phức tạp
và khi có sự cố vi phạm hợp đồng doanh nghiệp có thể phá sản rất nhanh do bên cho thuê đòi lại tài sản
Các công ty cho thuê tài chính thường có lợi vì lãi suất cho thuê cao Vì vậy, doanh nghiệp cần lưu ý một số vấn đề sau trong hợp đồng thuê mua:
+ Giá thuê mua: Để có căn cứ xây dựng giá thuê mua, doanh nghiệp phải xác định được giá trị của tài sản thuê mua, doanh thu dự kiến, chi phí trên một đơn vị sản phẩm có sự tham gia của tài sản thuê mua
+ Thời hạn thuê mua: Thời hạn thuê mua là nhân tố tác động trực tiếp tới giá
cả thuê mua Thông thường nếu thời hạn thuê mua ngắn thì giá thuê mua cao và ngược lại
+ Thời điểm tính giá thuê mua: Thời điểm tính giá thuê mua được xác định căn cứ vào hai thời điểm là thời điểm ký kết hợp đồng hoặc thời điểm lắp đặt xong thiết bị
+ Phương thức thanh toán giá thuê mua: Đối với phương thức thanh toán giá thuê mua, doanh nghiệp cần lưu ý một số nội dung sau:
• Thời điểm thanh toán
• Phương tiện thanh toán
• Đồng tiền sử dụng
• Chính sách khấu hao hiện tại của doanh nghiệp: Thông thường nếu doanh nghiệp dùng chính sách khấu hao nhanh thì việc vay mua sẽ có hiệu quả hơn thuê
Trang 28+ Giá trị còn lại của thiết bị thuê mua: doanh nghiệp cần thẩm định giá trị còn lại của thiết bị thuê mua (là giá trị còn lại của thiết bị thuê mua khi hết hợp đồng thuê mua) Trong những trường hợp nhất định, thông thường giá trị còn lại càng nhỏ thì tín dụng thuê mua càng có lợi
- Cách tính giá thuê mua hàng năm của tài sản thuê mua.(GTM)
GTM: Giá thuê mua tài sản hàng năm
GT : Giá tị tài sản thuê
CSC: Chi phí sửa chữa tài sản hàng năm
GC: Giá trị còn lại của tài sản sau thời gian thuê
r: Lãi suất thuê tài sản
n: Số năm thuê tài sản
i: Thứ tự lần chi trả
+ Ví dụ: DN cần thuê TSCĐ trị giá 1 tỷ đồng, dự kiến thuê trong 10 năm, lãi suất thuê là 10% /năm, chi phí sửa chữa hàng năm là 20.000.000 đ Giá trị còn lại sau 10 năm thuê là 100.000.000đ
Như vậy, giá thuê mua hàng năm của TSCĐ sẽ là
1.000.000.000
+ 20.000.000
- 100.000.000
162.866.449,5 + 20.000.000 - 10.000.000 = 172.866.449,5 (đ)
L giá trị hiện tại khoản chi h ng năm của doanh nghiệp do trả lãi vay cho t i sản thuê
Trang 29b Chính sách thay thế tín dụng bằng đáo nợ
- Thực chất của chính sách này là việc doanh nghiệp giảm thiểu các khoản phải thu, phải trả trong bảng cân đối tài chính, nhằm tạo ra một hoàn cảnh tài chính thuận lợi hơn cho sản xuất kinh doanh thông qua một loại công ty tài chính trung gian
- Các khoản phải thu, phải trả phát sinh khi doanh nghiệp mua chịu vật tư, hàng hoá, tài sản và bán chịu sản phẩm, hàng hoá, tài sản Khi đó công ty tài chính trung gian sẽ làm trung gian thanh toán tức thời các khoản phải thu, phải trả và với một tỷ lệ chiết khấu thoả thuận (thông thường cao hơn lãi suất vay tín dụng ngắn hạn)
+ Chính sách này có ưu điểm:
• Doanh nghiệp có ngay các tài sản thanh toán phục vụ cho sản xuất kinh doanh, nhất là với các khoản nợ đến hạn thanh toán
• Do làm giảm các khoản phải thu, phải trả nên giá trị bảng cân đối tài chính giảm xuống, có thể chỉ số doanh lợi vốn thay đổi theo chiều hướng có lợi
• Doanh nghiệp có thể giảm được rủi ro khi khách hàng mất khả năng thanh toán vì các khoản phải thu, phải trả đã giảm
• Giảm chi phí phát sinh khi đòi nợ
+ Nhược điểm:
• Tỷ lệ chiết khấu cao nên giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
• Doanh nghiệp lại phụ thuộc vào 1 đối tác tài chính mới
• Có thể sẽ làm phức tạp thêm tình hình tài chính
- Nội dung của chính sách đáo nợ
+ Doanh nghiệp cần lựa chọn các công ty thay thế tín dụng bằng đáo nợ, trên cơ
sở nắm được tiềm lực tài chính, uy tín và phương thức hoạt động của công ty này
+ So sánh hiệu quả đồng thời giữa việc thực hiện hợp đồng với công ty và các chi phí phát sinh khi thực hiện các khoản phải thu
2.2.4 Chính sách khấu hao
Trang 30Trong quá trình sử dụng tài sản cố định chịu cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Để thu hồi giá trị đã hao mòn cho mục đích tái đầu tư, doanh nghiệp phải thực hiện việc xác định giá trị khấu hao phù hợp Kinh doanh trong cơ chế thị trường nẩy sinh yêu cầu doanh nghiệp phải có chính sách khấu hao thoả mãn hai mục đích sau:
+ Giá trị khấu hao đảm bảo tái đầu tư tài sản cố định
+ Giá trị khấu hao không làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Các phương pháp khấu hao
+ Khấu hao theo thời gian sử dụng (khấu hao bình quân)
+ Khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
+ Khấu hao theo tổng số
+ Khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
a Phương pháp khấu hao theo thời gian sử dụng
Phương pháp này hay còn gọi là phương pháp khấu hao tuyến tính cố định, phương pháp khấu hao đường thẳng, phương pháp khấu hao bình quân
Đây là phương pháp khấu hao giản đơn nhất được sử dụng khá phổ biến để tính khấu hao các loại tài sản cố định có hình thái vật chất và tài sản cố định không
có hình thái vật chất Theo phương pháp này mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao không đổi trong các năm
- Công thức :
NG
MK (năm) =
Nsd Nếu khấu hao TSCĐ theo tháng thì công thức tính như sau:
Trang 31MK (năm)
MK (tháng) =
12 thángTrong đó: MK(năm) : Là mức trích khấu hao bình quân hàng năm của TSCĐ
NG : Nguyên giá tài sản cố định
Nsd : Thời gian sử dụng của TSCĐ ( năm )
Ví dụ: Một TSCĐ có nguyên giá là 30.000.000 đồng, dự kiến sử dụng trong 5 năm Vậy mức khấu hao hàng năm của TSCĐ này là:
Phương pháp này có ưu điểm là dễ tính toán song nó làm cho giá trị tài sản
cố định được thu hồi không tạo điều kiện để tái đầu tư ngay cho những tài sản cố định khác hiện đại hơn và do đó làm giảm quá trình tái đầu tư
b Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Phương pháp này dựa vào giá trị còn lại của tài sản cố định sau mỗi năm khấu hao và tính theo tỷ lệ khấu hao cố định qua các năm
Công thức:
Mức khấu hao từng năm của TSCĐ
=
Giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm cần tính khấu hao
x
Tỷ lệ khấu hao
cố định của TSCĐ
Chú ý:Tỷ lệ khấu hao được tính theo hệ số:
Trang 32Ví dụ: Một tài sản cố có nguyên giá 30.000.000đ , thời gian sử dụng là 4
năm Tỷ lệ khấu hao cố định là 37,5% Hãy tính mức khấu hao từng năm cho tài sản cố định
MỨC KHẤU HAO TSCĐ(Đ)
GIÁ TRỊ CÒN LẠI SAU MỖI NĂM KHẤU HAO(Đ)
c- Phương pháp khấu hao theo tổng số:
Phương pháp này cũng căn cứ vào nguyên giá và số năm sử dụng của tài sản
cố định, nhưng có tác dụng tăng thu khấu hao ở những năm đầu để tái đầu tư, mặt khác có thể khấu hao hết giá trị tài sản cố định mà không bị dư đọng như ở phương pháp tính khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
- Công thức :
MKt = TKt x NG
Trong đó : MKt : Mức khấu hao TSCĐ ở năm thứ t
TKt : Tỷ lệ khấu hao TSCĐ ở năm thứ t
Trang 33NG : Nguyên giá của TSCĐ khi bắt đầu đưa vào sử dụng
Tkt : Tỷ lệ khấu hao TSCĐ ở mỗi năm là tỷ lệ giảm dần được xác định như sau :
2( T - t + 1 )
TKt =
T ( T + 1 ) Trong đó:
T : Thời gian dự kiến sử dụng TSCĐ
t : Thời điểm ( năm ) cần tính khấu hao
Ví dụ: Một TSCĐ có nguyên giá là 20.000.000, dự kiến sử dụng trong 5 năm
Yêu cầu: Tính mức trích khấu hao của TSCĐ ở năm thứ nhất và năm thứ hai :
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là việc tính toán phức tạp nhất là việc xác định tỷ lệ khấu hao từng năm, số khấu hao những năm đầu lớn do vậy doanh nghiệp phải xem xét tới mức chịu đựng của giá thành sản phẩm để vận dụng vào đơn vị mình
d Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
Trang 34Khấu hao theo số lượng sản phẩm được tính dựa vào mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm và số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng (hoặc năm)
- Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công thức dưới đây :
Mức trích khấu hao Số lượng sản Mức trích khấu hao trong tháng của = phẩm sản xuất x bình quân tính cho tài sản cố định trong tháng một đơn vị sản phẩm Trong đó :
Mức trích khấu hao Nguyên giá của tài sản cố định
bình quân tính cho =
một đơn vị sản phẩm
Sản lượng theo công suất thiết kế
- Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng trong năm
Ví dụ: Doanh nghiệp A mua một TSCĐ có nguyên giá là 200.000.000đ sản lượng theo công suất thiết kế là 2.500.000 SP
Thực tế số lượng sản phẩm đạt được bình quân trong một tháng là 20.000 SP Vậy mức trích khấu hao hàng tháng của TSCĐ là:
Trang 35thuật toán dự trữ, mô hình cung ứng đúng thời điểm, song có lẽ, mô hình quản lý
dự trữ có lựa chọn A,B, C là đặc biệt có ý nghĩa với thực trạng quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay, bởi trước hết nó dễ thực hiện, dễ phổ biến, đồng thời từng bước đưa quản lý dự trữ theo hướng hiện đại
Nội dung của mô hình quản lý dự trữ có lựa chọn A, B,C là các loại nguyên vật liệu dự trữ được phân thành 3 nhóm A, B,C theo 2 tiêu thức:
- Giá trị nguyên vật liệu sử dụng hàng năm
- Số loại nguyên vật liệu
Nhóm A gồm những nguyên vật liệu có giá trị từ 70% đến 80%, số chủng loại từ 15 đến 20% so với tổng số nguyên vật liệu dự trữ
Nhóm B: giá trị nguyên vật liệu từ 15 đến 20% song chủng loại từ 25 đến 30%
Nhóm C: giá trị nguyên vật liệu khoảng 5% song số chủng loại chiếm từ 45 đến 55% Có thể mô phỏng đồ thị đường A,B,C như sơ đồ sau:
Trang 36Trục tung là giá trị nguyên vật liệu của các nhóm và trục hoành là số loại nguyên vật liệu của các nhóm
Tác dụng của mô hình quản lý dự trữ có lựa chọn A, B, C trong việc sử dụng vốn lưu động:
- Từ việc phân nhóm nguyên vật liệu kết hợp với việc phân tích tình hình cung ứng và dự trữ, có thể đề ra các chính sách cụ thể đối với từng loại nguyên vật liệu Có thể lập bảng nghiên cứu ung ứng và dự trữ nguyên vật liệu để có các chính sách sử dụng vốn lưu động như sau:
Bảng phân tích chính sách dự trữ và chính sách sử dụng vốn lưu động: Nhóm IV Giá cả Nhà cung
cấp
Thời gian cung ứng
Kỹ thuật
dự trữ
Phân công phụ trách
Các chính sách sử dụng vốn lưu động
Trang 37Ví dụ: Nguyên vật liệu A1 có giá trị ổn định, nhà cung cấp cạnh tranh lại đã quen biết, thới gian cung ứng dài, dự trữ yêu cầu kỹ thuật giản đơn thì cần tận dụng chính sách tín dụng giao hàng trên cơ sở do giám đốc phụ trách để tăng uy tín
- Với từng doanh nghiệp cụ thể, sau khi lập biểu phân tích chi tiết nhóm nguyên vật liệu và các tiêu thức xem xét, có thể có một bảng nghiên cứu chi tiết, trên cơ sở đó có chính sách sử dụng vốn lưu động cụ thể Bảng phân tích này còn là căn cứ để doanh nghiệp lên các cân đối tài chính chung cho hoạt động kinh doanh
- Bằng việc phân nhóm nguyên vật liệu, việc phân công phụ trách theo nhóm nguyên vật liệu ắn với cấp quản lý sẽ tác động trực tiếp đến việc sử dụng vốn lưu động Với nhóm A cấp quản lý ra quyết định cung ứng nên là cấp giám đốc, nó sẽ cho phép hạn chế các tiêu cực phát sinh do giá trị lô hàng lớn nên liên quan đến các
Trang 38cân đối tổ chức toàn doanh nghiệp, nên giám đốc nắm Mặt khác, vì số lượng nhóm
A rất ít nên không vì thế mà ảnh hưởng tới hoạt động quản lý của giám đốc
2.6 Chính sách bán chịu của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy một tâm lý kinh doanh phổ biến là người ta thường thích mua chịu hơn là phải bán chịu Trong cơ chế thị trường bán chịu có thể được coi là một chính sách kinh doanh phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp đã đẩy nhanh việc tiêu thụ
- Nội dung của chính sách bán chịu
+ Xác định mục tiêu bán chịu: nhằm thúc đẩy tăng doanh thu, giải quyết hàng tồn kho, tạo uy tín về năng lực tài chính của doanh nghiệp
+ Xây dựng các điều kiện bán chịu: Thông thường căn cứ vào giá bán, lãi suất vay và thời hạn bán chịu
+ Tính toán hiệu quả bán chịu: Thực chất là so sánh chi phí phát sinh khi bán chịu với lợi nhuận do bán chịu tạo ra
Kinh doanh trong cơ chế thị trường, bán chịu được coi như một trong các biện pháp để đẩy nhanh tiêu thụ Mâu thuẫn ở đây là đẩy nhanh tiêu thụ trong trường hợp này lại làm chậm kỳ luân chuyển vốn, giảm số vòng quay vốn lưu động
Vì vậy, hiệu quả của việc bán chịu được tính như sau:
- Xác định hiệu qủa bán chịu (xác định lợi ích bán chịu)
Trong đó:
LBC: Lãi bán chịu
TNBC = (DT1 – CF1) – (DT0 – CF0)
DT1: Tổng doanh thu do có bán chịu
DT0: Tổng doanh thu do không bán chịu
Trang 39CF1: Tổng chi phí do có bán chịu
CF0: Tổng chi phí do không bán chịu
+ CFBC: Chi phí bán chịu bao gồm:
• CFK: Lãi phải trả cho khoản phải thu do bán chịu (nếu đi vay vốn để thay thế cho khoản bán chịu)
• CFql : Chi phí quản lý do bán chịu: chi phí đi lại, điện thoại, tiền lương
• CFth : Chi phí thu hồi nợ khác
Ví dụ:
Một doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu như sau:
Khi giao sản phẩm cho người mua, người mua phải trả 20% giá trị hàng mua Hết tháng thứ nhất trả 50%, hết tháng thứ 2 trả 20%, tháng thứ 3 trả nốt số còn lại 10% Lãi suất vay vốn hiện tại là 0,9%/tháng Nhờ bán chịu nên doanh thu bán hàng là 4 tỷ(đ) Chi phí bán chịu là 65% trên doanh thu bán hàng Nếu không bán chịu thì doanh thu đạt 3,4 tỷ (đ) Chi phí khi không bán chịu là 70% trên doanh thu Chi phí quản lý khi doanh nghiệp bán chịu là 0,039 tỷ, chi phí thu hồi nợ là 0,0178 tỷ Hãy tính lợi ích của bán chịu cho doanh nghiệp
Trang 40CÂU HỎI CHƯƠNG IV:
1.Nêu các phương pháp phân bổ truyền thống trong việc tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp?
2 So sánh ưu điểm của phương pháp tính mức lãi thô với phương pháp truyền thống?
3 Nêu các ứng dụng của mức lãi thô trong việc ra quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp ? Lấy ví dụ minh hoạ
4 Phân tích vai trò quản trị chi phí trong doanh nghiệp?
5 Làm thế nào để kiểm soát được chi phí trong doanh nghiệp một cách hữu ích và giải pháp thực hiện?
6.Thế nào là chính sách mắc nợ? Hãy phân tích vai trò của chính sách mắc
nợ đối với doanh nghiệp? Theo anh (chị) doanh nghiệp cần duy trì hệ số mắc nợ như thế nào là hợp lý?
7.Thực chất của chính sách thay thế tín dụng Hãy phân tích sự tác động của chính sach thay thế tín dụng đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp?
8 So sánh các phương pháp khấu hao, từ đó rút ra những điều cần lưu
ý khi hoạch định chính sách khấu hao của doanh nghiệp
9 Khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp có thể đánh giá bằng các hệ số nào? Để xác định hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn hiệu quả cần lưu ý đến yếu tố nào?
10 Có những chính sách thay thế tín dụng nào trong doanh nghiệp? Phân tích và so sánh các chính sách đó Thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng các chính sách này?