Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng của ngành, đặc biệt là vai trò quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và PTNT, sự phối hợp hiệu quả của các cơ quan thuộc Bộ và sự vào cuộc của
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DỰ THẢO
KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
GIAI ĐOẠN 2016-2020, TẦM NHÌN ĐẾN 2050
HÀ NỘI, 2015
Trang 2
2
Cơ quan chỉ đạo xây dựng Dự thảo:
Cơ quan tư vấn xây dựng Dự thảo:
Nhóm xây dựng dự thảo:
Dự thảo đã được tham vấn tại:
1 Hội thảo tham vấn kỹ thuật tại Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 12/8/2015;
2 Hội thảo tham vấn các Tổ chức phi Chính phủ ở Việt Nam tại Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, ngày 1/10/2015
3 Hội thảo tham vấn các địa phương khu vực miền Trung và một số đơn vị quản lý của ngành ngày 5/10/2015 tại KS Mường Thanh, Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
4 Hội thảo tham vấn các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một số tổ chức quốc tế có hoạt động tại ĐBSCL và tổ chức cộng đồng ngày 20/11/2015 tại KS Á Châu, Châu Văn Liêm, TP Cần Thơ;
5 Tham vấn qua các ý kiến góp ý trực tiếp từ Tổng cục, Cục, Vụ và các Trung tâm thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT tại Công văn số 9221/BNN-KHCN ngày 9/11/2015
Trang 3
3
MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 8
1 Sự cần thiết cập nhật, xây dựng kế hoạch hành động 8
2 Mục tiêu của nhiệm vụ 10
2 Phương pháp thực hiện 10
2.1 Phương pháp tiếp cận 10
2.2 Phương pháp thực hiện 11
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 11
2.2.2 Phương pháp phân tích, xác định các nội dung ứng phó với BĐKH 12
2.3 Các tiêu chí xác định các nội dung ứng phó với BĐKH 14
3 Các căn cứ pháp lý trong cập nhật, xây dựng kế hoạch hành động 15
3.1 Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước 15
3.2 Chủ trương, chính sách và định phương của Chính phủ 16
3.3 Các văn bản, quyết định liên quan của Bộ Nông nghiệp và PTNT 17
Phần I HIỆN TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BĐKH NGÀNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 18
1.1 Hiện trạng xây dựng cơ chế chính sách chung về BĐKH 18
1.1.1 Cấp quốc gia 18
1.1.1.1 Các chính sách về thích ứng chung với BĐKH ở cấp quốc gia 18
1.1.1.2 Các chính sách về giảm thiểu BĐKH ở cấp quốc gia 19
1.1.2 Cấp ngành 20
1.1.2.1 Xây dựng chính sách về thích ứng với BĐKH trong nông nghiệp 20
1.1.2.2 Xây dựng chính sách giảm thiểu BĐKH trong nông nghiệp 21
1.2 Hiện trạng triển khai và lồng ghép các hoạt động ứng phó với BĐKH trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 23
1.2.1 Triển khai kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của ngành 23
1.2.2 Kết quả lồng ghép các nội dung ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 vào các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn 26
1.2.2.1 Đối với lĩnh vực trồng trọt 27
1.2.2.2 Đối với lĩnh vực chăn nuôi 28
1.2.2.3 Đối với lĩnh vực thuỷ sản 30
1.2.2.4 Đối với lĩnh vực lâm nghiệp 32
1.2.2.5 Đối với lĩnh vực thủy lợi 33
1.2.2.6 Đối với lĩnh vực diêm nghiệp 35
1.2.2.7 Đối với lĩnh vực phát triển nông thôn 36
1.3 Một số khó khăn, tồn tại và nguyên nhân trong triển khai và lồng ghép nội dung ứng phó BĐKH trong các lĩnh vực của ngành 37
Trang 4
4
1.3.1 Một số khó khăn và tồn tại 37
1.3.1.1 Đối với lĩnh vực trồng trọt 37
1.3.1.2 Đối với lĩnh vực chăn nuôi 38
1.3.1.3 Đối với lĩnh vực thủy sản 39
1.3.1.4 Đối với lĩnh vực lâm nghiệp 40
1.3.1.5 Đối với lĩnh vực thủy lợi 40
1.3.1.6 Đối với lĩnh vực diêm nghiệp 41
1.3.1.7 Đối với lĩnh vực phát triển nông thôn 42
1.3.2 Một số nguyên nhân của khó khăn tồn tại cần khắc phục 42
1.4 Phân tích bối cảnh và định hướng phát triển ngành nông nghiệp 44
1.4.1 Phân tích bối cảnh 44
1.4.2 Định hướng phát triển ngành nông nghiệp trong bối cảnh BĐKH 45
PHẦN II KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BĐKH NGÀNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2016-2015 VÀ TẦM NHÌN 2050 47
2.1 Quan điểm 47
2.2 Mục tiêu kế hoạch hành động 48
2.2.1 Mục tiêu chung 48
2.2.2 Mục tiêu cụ thể 48
2.3 Nội dung kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050 48
2.3.1 Tăng cường các hoạt động ứng phó chung với BĐKH ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2050 49
2.3.2 Ứng phó với BĐKH đối với từng lĩnh vực cụ thể của ngành trong giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050 51
2.3.2.1 Đối với lĩnh vực Trồng trọt 51
2.3.2.2 Đối với lĩnh vực Chăn nuôi 52
2.3.2.3 Đối với lĩnh vực Thủy sản 53
2.3.2.4 Đối với lĩnh vực Lâm nghiệp 55
2.3.2.5 Đối với lĩnh vực Thủy lợi 56
2.3.2.6 Đối với lĩnh vực Diêm nghiệp 58
2.3.2.7 Đối với lĩnh vực Phát triển nông thôn 59
2.3.3 Tăng cường hợp tác quốc tế về ứng phó với BĐKH trong nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050 60
PHẦN III GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 99
3.1 Giải pháp thực hiện 99
3.1.1 Giải pháp khoa học công nghệ 99
3.1.2 Giải pháp về cơ chế chính sách và và tổ chức quản lý 100
3.1.3 Giải pháp về đào tạo, thông tin tuyên truyền nâng cao năng lực 100
3.1.4 Giải pháp về hợp tác quốc tế 101
3.1.5 Giải pháp về tài chính 102
Trang 5
5
3.1.6 Giải pháp kiểm tra, giám sát và đánh giá 102
3.2 Tổ chức thực hiện 103
3.2.1 Sơ đồ tổ chức thực hiện kế hoạch hành động 103
3.2.2 Phân công tổ chức thực hiện 104
3.2.2.1 Các Vụ, Tổng cục, Cục, Trung tâm thuộc Bộ 104
3.2.2.2 Các Viện, Trường và các đơn vị khác thuộc Bộ 106
3.2.2.3 Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 106
3.2.2.4 Các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân khác và cộng đồng 107
PHẦN IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
4.1 Kết luận 108
4.2 Kiến nghị 108
PHỤ LỤC 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
Trang 6
6
CÁC TỪ VIẾT TẮT
BAU Điều kiện canh tác thông thường
CoC Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
IFES Hệ thống tổng hợp về năng lượng và nông nghiệp
INDC Dự kiến đóng góp do Quốc gia tự xác định
M&E Giám sát và đánh giá
NSCCSLR Kịch bản Quốc gia về biến đổi khí hậu và nước biển dâng
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 7
7
VietGAP Biện pháp thực hành tốt của Việt Nam
Trang 8
8
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết cập nhật, xây dựng kế hoạch hành động
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành một trong những thách thức lớn của thế
kỷ 21, được nhiều quốc gia quan tâm, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều tác động của BĐKH Theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước Biển dâng (NSCCSLR) của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) công bố và được kịch bản cập nhật và công bố năm 2012 với 3 kịch bản là kịch bản thấp (B1), kịch bản trung bình (B2) và kịch bản cao (A2) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) Theo kịch bản trung bình, nhiệt độ vào cuối thế kỷ 21 có thể tăng 2,60C ở Tây Bắc, 2,50C ở Đông Bắc, 2,40C ở đồng bằng Bắc bộ, 2,80C ở Bắc Trung bộ, 1,90C ở Nam Trung bộ, 1,60C ở Tây nguyên và 2,00C ở Nam bộ so với trung bình thời kỳ 1980-1999 Lượng mưa cũng được dự báo tăng vào mùa mưa trong khi lại giảm vào mùa khô ở hầu hết các vùng sinh thái Do có bờ biển dài, với địa hình phức tạp nên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức và tác động do nước biển dâng Theo kịch bản trung bình (B2), mực nước biển sẽ dâng 30cm vào năm 2050 và cuối thế kỷ 21 sẽ dâng khoảng 75cm so với thời kỳ 1980-1999 và gây ra nhiều thách thức cho các vùng sinh thái nông nghiệp ven biển nước ta
BĐKH đang gây nhiều tác động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế, xã hội ở nhiều quốc gia Với điều kiện tự nhiên phức tạp, tỷ lệ dân cư sống dựa vào nông nghiệp và mức độ đói nghèo còn ở mức cao, BĐKH được dự báo tiếp tục có những tác động lớn đến kinh tế tại Việt Nam trong các thập kỷ tiếp theo Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2010) tại 84 quốc gia trong đó có Việt Nam, nếu mực nước biển dâng 1m thì khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và sẽ gây tổn thất khoảng 10% GDP của nước ta
Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn (gồm các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ lợi, thuỷ sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp, nông thôn) không chỉ là ngành gây phát thải lớn lượng khí nhà kính (KNK) trong tổng phát thải KNK quốc gia mà còn là ngành chịu tác động lớn do BĐKH Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Thể, Phạm Quang Hà và cộng sự (2010) cho thấy nếu BĐKH diễn ra theo đúng kịch bản thì GDP nông nghiệp có thể tổn thất khoảng 1,67% do hậu quả của thiên tai; nhiều vùng sản xuất nông nghiệp phải đối mặt với những khó khăn về nước tưới và các hậu quả khác do thiên tai, xâm lấn mặn, hạn hán, xói mòn đất, rửa trôi,… và có nguy cơ mất an ninh lương thực Khi đó, 73% dân số cả nước gồm người nông dân nghèo đang sống ở những vùng dễ bị tổn thương và nương nhờ vào nông nghiệp sẽ là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH do mất nguồn sinh kế và gặp nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt đời sống hàng ngày
Nhận thức được các vấn đề về BĐKH, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và PTNT
Trang 9
9
đã có nhiều hoạt động triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH Bộ Nông nghiệp
và PTNT đã và đang tích cực tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH (Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ), công bố khung Chương trình hành động thích ứng với BĐKH của ngành, giai đoạn 2008-2020 vào ngày 5/9/2008 (Quyết định 2730/QĐ-BNN-KHCN ngày 5/9/2008, Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2008); phê duyệt và thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH theo Quyết định 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23 tháng 3 năm
2011 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011a) và phê duyệt đề án giảm phát thải KNK đến
2020 và tầm nhìn 2030 theo Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN ngày 16 tháng 9 năm 2011 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011b) Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều nỗ lực,
cố gắng của ngành, đặc biệt là vai trò quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và PTNT,
sự phối hợp hiệu quả của các cơ quan thuộc Bộ và sự vào cuộc của các địa phương, nhưng các nội dung trong kế hoạch hành động và đề án giảm phát thải KNK do Bộ ban hành mới được triển khai ở mức độ còn hạn chế, chưa đạt được mục tiêu đề ra và kết quả mong đợi, đặc biệt chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành về ứng phó với BĐKH trong giai đoạn 2011-2015 Theo các nội dung đã được phê duyệt trong kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2050 tại Quyết định số 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/3/2011) đã được triển khai nhưng đến hết giai đoạn 1 (2011-2015), kinh phí được cấp rất thấp so với nhu cầu do đó cần xác định bổ sung và làm rõ các ưu tiên ứng phó BĐKH phù hợp hơn với nguồn lực hiện có Thực tế, trong các nội dung của kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu cho thấy có rất ít các hoạt động giảm thiểu, chưa kết hợp chặt chẽ giảm thiểu và thích ứng Nhiều công nghệ mới
đã được áp dụng thành công trong thực tiễn sản xuất như nông nghiệp thông minh (CSA), hệ thống sản xuất lương thực và năng lượng (IFES), thích ứng dựa vào sinh thái (EbA), canh tác phát thải thấp, và nhiều biện pháp giảm phát thải KNK khác nhưng chưa được cập nhật bổ sung Trong khi, các nội dung hoạt động của Kế hoạch hành động giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2050 còn thiếu sự hỗ trợ, gắn kết giữa các đối tác, địa phương với Bộ trong thực tế triển khai
Trước bối cảnh tái cấu trúc nền kinh tế trong đó có tái cấu trúc ngành nông nghiệp, cùng với diễn biến phức tạp, khó dự đoán hơn của BĐKH, ngành nông nghiệp
và phát triển nông thôn đã có những chuyển biến mạnh mẽ về quy hoạch, chuyển đổi
cơ cấu sản xuất các lĩnh vực theo đinh hướng tăng giá trị gia tăng, hướng đến chất lượng đáp ứng nhu cầu khắt khe của thị trường Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 phê duyệt đề án tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng tăng giá trị gia tăng đã đặt nền nông nghiệp trước nhiều thách thức khi vừa nâng cao sản lượng, xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng xanh, tăng trưởng ổn định, bền vững nhưng phát thải thấp Trước những thực trạng và bối cảnh đã được phân tích ở trên, rõ ràng cần phải có kế hoạch hành động phù hợp để vừa đảm bảo được mục tiêu tăng trưởng, tăng giá trị gia tăng, xoá đói giảm nghèo, hướng đến tăng trưởng xanh và
Trang 10
10
bền vững của ngành nhưng đồng thời phải đảm bảo thích ứng hiệu quả với BĐKH và giảm thiểu phát thải KNK
2 Mục tiêu của nhiệm vụ
Nhiệm vụ này được thực hiện để đạt được các mục tiêu chung là xây dựng được
kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH đẩy mạnh các hoạt động sản xuất nông nghiệp bền vững ứng phó với biến đổi khí hậu
Các mục tiêu cụ thể của nhiệm vụ được xác định bao gồm:
- Rà soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu theo Quyết định 543/QĐ-BNN-KHCN giai đoạn 2011-2015 và một số văn bản khác có liên quan;
- Xác định được các chương trình, nhiệm vụ ưu tiên ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2016 -2020 và tầm nhìn 2050;
- Cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050
2 Phương pháp thực hiện
2.1 Phương pháp tiếp cận
Trong quá trình xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH, nhóm tư vấn đã sử dụng những phương pháp tiếp cận sau:
(i) Tiếp cận có sự kế thừa
Hoạt động xây dựng và hoàn thiện Kế hoạch hành động thích ứng với BĐKH ngành Nông nghiệp và PTNT phù hợp với đề án tái cơ cấu ngành sẽ dựa trên cơ sở kế thừa kế hoạch hành động trước đây, các đề án có liên quan nhằm tránh được những mặt tồn tại và tận dụng được các phương pháp tiên tiến, những bài học kinh nghiệm bổ ích để có thể có được đề án hoàn chỉnh và có tính khả thi cao
(ii) Tiếp cận mang tính hệ thống
Trong rà soát hệ thống văn bản, quy phạm pháp luật, các văn bản pháp luật, quy chuẩn được hệ thống hóa theo các cấp độ khác nhau, trên cơ sở đó so sánh, phân tích
và xác định được thực trạng và đề xuất có hoàn thiện hệ thống Trong lựa chọn các đối tượng đánh giá theo cấp độ, nhiệm vụ và vùng khác nhau nhưng có liên quan mật thiết
và bổ trợ cho nhau để xác định thực trạng và định hướng ưu tiên trên cơ sở tương tác chặt chẽ giữa các đối tượng nghiên cứu
(iii) Tiếp cận liên ngành
Quá trình xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016-2016, tầm nhìn 2050 được thực hiện trên cơ sở tiếp
Trang 11
11
cận liên ngành Ngoài những hoạt động đặc thù cho từng lĩnh vực cụ thể, các nội dung ứng phó còn được xác định cho các lĩnh vực liên ngành để khai thác tối đa tác dụng và hiệu quả của các hoạt động ứng phó
(iv) Tiếp cận liên vùng
Các nội dung trong báo cáo và kế hoạch hành động ứng phó được xác định dựa trên đặc điểm của 7 vùng sinh thái Trên quan điểm này, các nội dung ứng phó mang tính chất liên vùng phù hợp với đặc điểm sinh thái được xây dựng và khuyến nghị triển khai cho nhiều vùng để nâng cao giá trị, lợi ích và hiệu quả của các nội dung trong kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2016 và tầm nhìn 2050
(v) Tiếp cận có sự tham gia
Khi tiến hành điều tra thu thập thông tin liên quan đến kế hoạch hành động của ngành, phương pháp cùng tham gia sẽ được lựa chọn và áp dụng thông qua thảo luận nhóm trong quá trình xây dựng và sắp xếp các nội dung ưu tiên trong kế hoạch ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050 Ngoài ra, trong quá trình xây dựng, bổ sung và cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của ngành cho giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050, các hội thảo tham vấn kỹ thuật và tham vấn rộng rãi các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các tổ chức NGOs được
tổ chức để tiếp thu các ý kiến góp ý và các sáng kiến trong việc hoàn thiện Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050
(vi) Tiếp cận tích hợp
Tiếp cận tích hợp hay còn gọi là tiếp cận “từ đầu nguồn xuống biển” giữa quản
lý lưu vực sông với vùng bờ biển dựa trên mối liên kết sinh thái, thủy văn và kinh tế -
xã hội Phương pháp tiếp cận tích hợp được lồng ghép với tiếp cận liên ngành, liên vùng để xác định các hoạt động ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
2.2 Phương pháp thực hiện
Trên cơ sở các cách tiếp cận nêu trên, dựa trên nguồn lực hiện có và thời gian, nhóm xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050 đã lựa chọn và ứng dụng các phương pháp sau:
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
(i) Các số liệu thứ cấp và các văn bản chính sách có liên quan
Các văn bản quản lý có liên quan được thu thập từ các Bộ/Ngành, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, sắp xếp theo ngành và lĩnh vực
để phân loại vấn đề phục vụ công tác rà soát, đánh giá Các chiến lược, kế hoạch
Trang 12
12
ngành có liên quan được thu thập để rà soát về những định hướng ưu tiên, các mục tiêu
và các nội dung, đánh giá những hạn chế, thiếu sót và bất cập phục vụ cho việc xây dựng các nội dung ưu tiên cho kế hoạch hành động ứng phó BĐKH ngành nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050
Bảng 1 Tổ chức tham vấn qua đường công văn từ các đơn vị liên quan
* Tổng cục, cục, vụ, trung tâm thuộc Bộ 19 19,79
(ii) Thông tin, số liệu về hiện trạng triển khai các kế hoạch hành động
Nội dung điều tra được xác định trong công văn gửi tham vấn ý kiến tập trung vào (i) Đánh giá kết quả triển khai các hoạt động ứng phó, các mô hình thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp thuộc phạm vi quản lý (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, diêm nghiệp và ngành nghề nông thôn) giai đoạn 2010-2015; (ii) Xác định những vấn đề tồn tại, khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách, giải pháp triển khai, năng lực ứng phó biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý giai đoạn 2010-2015; và (iii) Các đề xuất, kiến nghị và nhu cầu về các hoạt động thích ứng, giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong nông nghiệp, nông thôn thuộc phạm vi quản lý của Quý cơ quan cần đưa vào kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016-
2020 và tầm nhìn đến 2050
Công văn do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT gửi các cơ quan liên quan gồm: 28 các đơn vị quản lý thuộc Bộ; các Ban Quản lý dự án và văn phòng quản lý, 23 Viện nghiên cứu và Trường đại học; 63 Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh/thành Kết quả nhóm xây dựng kế hoạch hành động đã thu được 96 văn bản trả lời gồm 19 đơn vị quản lý thuộc Bộ, 6 Ban quản lý dự án, 17 viện/trường, 43 Sở và 11 nhà khoa học tư vấn độc lập
2.2.2 Phương pháp phân tích, xác định các nội dung ứng phó với BĐKH
(i) Phương pháp có sự tham gia (PA):
Phương pháp PA được áp dụng để thu thập các thông tin, kế hoạch hành động
thông qua các hội thảo, làm việc nhóm với các cán bộ địa phương và các nhóm chuyên
Trang 13
13
gia Mỗi tỉnh lựa chọn 10-15 cán bộ gồm Lãnh đạo Sở và đại diện các đơn vị quản lý thuộc Sở (Phòng Trồng trọt, Phòng Chăn nuôi, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Chi cục Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông tỉnh, Chi cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, Chi cục Thủy lợi, các phòng quản lý ) Thảo luận nhóm về các vấn đề liên quan được tổ chức trực tiếp được triển khai trực tiếp tại Trụ sở của Sở Nông nghiệp và PTNT của 14 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái (2 tỉnh/vùng) gồm Thái Nguyên, Bắc Cạn; Thái Bình, Nam Định; Huế, Quảng Trị; Đắc Lắc, Đắc Nông; Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu; Bến Tre và Kiên Giang Tổng số cán bộ cấp tỉnh được tham vấn gồm
101 người đến từ 14 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái
(ii) Phương pháp đánh giá nhu cầu công nghệ (TNA)
Phương pháp TNA được áp dụng để đánh giá nhu cầu về xây dựng kế hoạch
hành động đối với 162 cơ quan thuộc Bộ, Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, các Viện, Trường, một số tổ chức NGOs (SNV, CARE, GIZ, UNDP ) thông qua tham vấn trực tiếp, qua đường công văn và lấy ý kiến chuyên gia tại các Hội thảo
Hình 1 Trình tự các bước triển khai xây dựng kế hoạch hành động
Bộ NN và PTNT, Viện MTNN, OCCA, Hội đồng tư vấn cấp cơ sở, cấp Bộ
Viện MTNN, Vụ KHCN, các đơn vị phối hợp
1 Rà soát, đánh giá kết quả triển khai
KHHD 543 (báo cáo rà soát, triển khai
phó với biến đổi khí hậu đến của ngành
nông nghiệp và phát triển nông thôn
đến năm 2020 và tầm nhìn 2050
Xác định tính cấp thiết, mục tiêu, nội
dung triển khai và sản phẩm cần đạt
Triển khai các nội dung
Đặt hàng,
tư vấn Thực hiện
Viện MTNN, Vụ KHCN và
MT, OCCA, Chuyên gia
Đánh giá, tham vấn
Viện MTNN, Vụ KHCN và
MT, OCCA, địa phương, NGOs, chuyên gia
Khảo sát, tham vấn
Các đơn vụ thuộc Bộ, OCCA, địa phương, chuyên gia, NGOs
Tham vấn
Hoàn thiện bản cập nhật kế hoạch hành
động ứng phó với BĐKH giai đoạn
2016-2020 trình Bộ trưởng phê duyệt
Phổ biến và triển khai thực hiện bản cập nhật kế hoạch
Trang 14
14
(iii) Phương pháp phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức (SWOT)
Phương pháp SWOT được sử dụng để phân tích những điểm mạnh, yếu, hạn
chế, cơ hội và thách thức trong xây dựng kế hoạch hành động cho giai đoạn 2016-2020
và tầm nhìn 2050 Các điểm mạnh được phân tích bao gồm về điều kiện sinh thái phù hợp, tổ chức quản lý sản xuất, năng lực của cán bộ, nông dân, các điều kiện về nguồn lực; các điểm yếu liên quan đến năng lực tổ chức sản xuất, văn hóa, giáo dục, tiếp cận nguồn lực; các cơ hội được xác định liên quan đến nguồn lực sẵn có, khả năng tham gia và nhu cầu thực tế, cơ hội mang lại chuyển biển cho sinh kế nông thôn và những thách thức có thể gặp phải như nguồn lực hạn chế, hiệu quả kinh tế thấp và rủi ro,
Phương pháp thu thập về SWOT đối với nhu cầu thích ứng với BĐKH được thực hiện thông qua các Hội thảo: Hội thảo kỹ thuật tổ chức tại Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 12/8/2015 với 46 đại biểu đại diện cho các lĩnh vực, các nhà khoa học và quản lý thuộc Bộ; 4 buổi thảo luận nhóm kỹ thuật gồm các chuyên gia của Viện Môi trường Nông nghiệp và Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường thuộc Bộ; tham vấn các tổ chức NGO tại Việt Nam (tại Trung tâm Phụ nữ và Phát triển ngày 1/10/2015) với trên 60 đại biểu tham dự; hội thảo tham vấn các các tỉnh miền Trung và các tổ chức NGO đang hoạt động tại miền Trung ngày 5/10/2015 tại Hội An) với 60 đại biểu tham dự; Hội thảo tham vấn các tỉnh đồng bằng sông Hồng và tham vấn các cơ quan của Bộ bằng văn bản
(iv) Phương pháp phân tích nút thắt cổ chai (Bottleneck)
Phương pháp phân tích nút thắt cổ chai được sử dụng để phân tích những vướng
mắc, bất cập trong thực hiện các cơ chế chính sách, các nội dung của kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH dựa trên các đánh giá trực tiếp từ thực địa và tổng hợp từ các báo cáo của các đơn vị gửi Bộ
2.3 Các tiêu chí xác định các nội dung ứng phó với BĐKH
Tiếp tục sử dụng các chỉ tiêu đã được kế hoạch ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2011-2015 sử dụng trong xác định các nội dung ứng phó cho các lĩnh vực Trong bản cập nhật này các chương trình, dự án và nội dung của kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến 2050 được xác định theo thứ tự ưu tiên các lĩnh vực của ngành và đáp ứng được các tiêu chí sau:
- Phù hợp với định hướng ưu tiên trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của quốc gia và của ngành nông nghiệp và PTNT, phù hợp với nhu cầu địa phương về ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến 2050;
- Đặt ra những ưu tiên r ràng cho những hành động ứng phó phù hợp trên cơ
sở kế thừa các nội dung, kết quả của các hoạt động ứng phó đã được xác định trong kế
Trang 15- Đảm bảo tính cụ thể và khả thi về thời gian, phạm vi, lĩnh vực, khu vực triển khai thực hiện, sản phẩm, nguồn lực, kết quả dự kiến trên cơ sở tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Có tính khoa học, độ tin cậy, hợp lý với các hoạt động hiện có, phù hợp với nhu cầu thực tế, trình độ nhận thức của cán bộ địa phương và người dân, trên cơ sở kết hợp tối đa thích ứng và giảm thiểu nhằm nâng cao giá trị gia tăng mang lại thu nhập cho nông dân;
- Phù hợp với khả năng giám sát, kiểm tra, đánh giá và lập báo cáo trong quá trình tổ chức thực hiện với các thông tin, số liệu cụ thể, đầy đủ và có độ tin cậy cao; và
- Bảo đảm cơ chế công khai, r ràng, minh bạch trong suốt quá trình xây dựng, thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050;
- Các nội dung ứng phó với BĐKH khi có đầu tư của nhà nước phải xây dựng
đề cương chi tiết trong đó ưu tiên lồng ghép các vấn đề giới, đảm bảo cân bằng giới, hướng đến người dễ bị tổn thương nhất để đảm bảo công bằng xã hội và phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn
3 Các căn cứ pháp lý trong cập nhật, xây dựng kế hoạch hành động
3.1 Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước
Bản cập nhật kế hoạch hành động này được xây dựng dựa trên các chủ trương, định hướng của Đảng và nhà nước gồm:
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 3/6/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;
- Luật phòng chống thiên tai, ngày 19/6/2013;
- Luật Bảo vệ Môi trường, ngày 23/6/2014
Trang 16
16
3.2 Chủ trương, chính sách và định phương của Chính phủ
- Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 19/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020;
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Quyết định 1474/QĐ-TTg ngày 5 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2020;
- Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013–2020;
- Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn;
- Quyết định số 367/QĐ-TTg ngày 17/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai;
- Quyết định 1393/QĐ-TTG ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh;
- Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ carbon ra thị trường thế giới;
- Quyết định 799/QĐ-TTg ngày 27/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động quốc gia về giảm phát thải KNK thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng carbon rừng giai đoạn 2011-2020;
- Công văn số 990/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 24/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý
Trang 17
17
3.3 Các văn bản, quyết định liên quan của Bộ Nông nghiệp và PTNT
- Quyết định 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Ban hành kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2050;
- Chỉ thị 809/CT-BNN-KHCN ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và PTNT về việc lồng ghép BĐKH vào xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015;
- Quyết định 3119/QĐ-BNN-KHCN ngày 16/12/2011 về việc Phê duyệt Đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020;
- Quyết định số 66/QĐ-BNN-KHCN ngày 11/1/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện kế hoạch hành động quốc gia BĐKH giai đoạn 2012-2020;
- Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ;
- Chỉ thị số 2039/CT-BNN-KH ngày 20/6/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT
về việc triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp;
- Quyết định số 2760/QĐ-BNN-TCCB ngày 22/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt đề án tài cơ cấu ngày thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định 794/QĐ-BNN-TCTL ngày 21/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành thủy lợi;
- Quyết định 984/QĐ-BNN-CN ngày 9/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và PTNT phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và ohats triển bền vững;
- Quyết định số 5508/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Phê duyệt kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH năm 2015
Trang 18Phần I
HIỆN TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BĐKH
NGÀNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.1 Hiện trạng xây dựng cơ chế chính sách chung về BĐKH
BĐKH nói chung và BĐKH đối với các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nói riêng đã nhận được sự quan tâm của Chính phủ và các Bộ/ngành Nhiều chủ trương và chính sách hỗ trợ đã được Chính phủ và các Bộ/Ngành ban hành và tổ chức thực hiện Nhiều chương trình hành động, kế hoạch và các dự án cụ thể đã được Chính phủ, các Bộ/ngành trong đó có Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư và kêu gọi hỗ trợ quốc tế để
triển khai
1.1.1 Cấp quốc gia
1.1.1.1 Các chính sách về thích ứng chung với BĐKH ở cấp quốc gia
Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, sớm nhận ra và tham gia tích cực vào công cuộc chống BĐKH toàn cầu thông qua các hoạt động cụ thể về cả phương diện thể chế và hoạt động thực tiễn Chính phủ Việt Nam tự nguyện tham gia các hoạt động giảm phát thải KNK các lĩnh vực sản xuất trong đó có lĩnh vực nông nghiệp và chủ động tham gia đầy đủ, tích cực các diễn đàn về BĐKH bao gồm cả các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ Việt Nam đã công bố kịch bản BĐKH và nước biển dâng (NSCCSLR) năm 2009 và kịch bản cập nhật năm 2012 (Bộ Tài nguyên và Môi trường,
2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường 2012) và mới đây nhất Việt Nam đã công bố báo cáo đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (iNDC) và đã trình UNFCCC ngày 30/9/2015
Ngoài các định hướng chung của Bộ Chính trị, để ứng phó với BĐKH, Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về BĐKH (CTMTQG) theo Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008 của Thủ tướng với mục tiêu đánh giá tác động và xác định được các giải pháp ứng phó với BĐKH đối với các lĩnh vực ngành nông nghiệp, (Chính phủ, 2008) Cùng với chương trình mục tiêu, Chính phủ cũng
đã phê duyệt chiến lược quốc gia (CLQG) về BĐKH theo Quyết định số TTg ngày 5/11/2011(Chính phủ 2008) Các nhiệm vụ trọng tâm về chủ động ứng phó với thiên tai và giám sát khí hậu; đảm bảo an ninh lương thực và tài nguyên nước trong bối cảnh BĐKH; ứng phó tích cực với nước biển dâng phù hợp với vùng dễ bị tổn thương tại các vùng sinh thái; bảo vệ và phát triển bền vững rừng, tăng cường hấp phụ KNK và bảo tồn đa dạng sinh học, giảm nhẹ phát thải KNK, góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất (như quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi, phát triển khí sinh học, đảm bảo tăng trưởng ngành nông nghiệp 20%, giảm phát thải KNK 20% và xóa đói giảm nghèo 20% trong chu kỳ 10 năm)
Trang 19
19
Dựa vào CLQG về BĐKH, Chính phủ đã ban hành kế hoạch hành động quốc gia (KHHĐQG) về BĐKH giai đoạn 2012-2020 theo Quyết định 1474/QĐ-TTg ngày 5/10/2012 (Chính phủ 2012) Kế hoạch hành động này được xây dựng gồm 65 chương trình, dự án trong đó Bộ Nông nghiệp và PTNT được xác định chủ trì thực hiện 15 chương trình, dự án có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp (Phụ lục 1) Tuy nhiên, đa
số các nhiệm vụ trong chương trình mục tiêu quốc gia tập trung vào các hoạt động thích ứng, phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro là chính, các hoạt động về giảm phát thải KNK còn rất hạn chế, chưa được cụ thể hóa bằng các dự án khả thi trong KHHĐQG
về BĐKH Nhiều nội dung trong kế hoạch chưa được thực hiện theo đúng tiến độ và một số nội dung của các lĩnh vực còn có hạn chế và gặp khó khăn về nguồn lực tài chính trong tổ chức triển khai các nội dung ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015
1.1.1.2 Các chính sách về giảm thiểu BĐKH ở cấp quốc gia
Thực hiện CTMTQG và CLQG về ứng phó với BĐKH, Việt Nam đã đệ trình Thông báo Quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung về BĐKH (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010) và Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam và báo cáo iNDC quốc gia cho UNFCCC (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014) Theo đó, nông nghiệp được đánh giá là ngành gây phát thải KNK lớn so với tổng lượng phát thải KNK quốc gia Theo báo cáo trong BUR1, mặc dù phát thải KNK trong nông nghiệp có giảm về cơ cấu phát thải nhưng nông nghiệp vẫn được dự báo là ngành gây phát thải KNK lớn trong tổng phát thải KNK quốc gia ở những năm tiếp theo Theo kết quả thống kê, tổng lượng phát thải KNK từ nông nghiệp tăng 52,45 triệu tấn CO2e (năm 1994); 65,1 triệu tấn CO2e (năm 2000) lên 88,35 triệu tấn CO2e (năm 2010) Mặc dù cơ cấu phát thải KNK nông nghiệp trong tổng phát thải KNK quốc gia giảm nhưng tổng lượng KNK phát thải vẫn tăng Như vậy, các giải pháp giảm phát thải KNK trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn là những giải pháp quan trọng đóng góp vào giảm phát thải KNK quốc gia và cần có cơ chế chính sách đặc thù, phù hợp để phát triển, mở rộng các giải pháp này trong sản xuất
Mặc dù, Việt Nam là quốc gia không thuộc các quốc gia phải cam kết cắt giảm phát thải KNK theo Phụ lục 1 của Nghị định thư Kyoto nhưng Việt Nam đã chủ động tham gia Nghị định thư Kyoto Chính phủ cũng đã phê đuyệt đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ carbon ra thị trường thế giới theo Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 (Chính phủ 2012) Mục tiêu và nội dung của đề án r ràng và có lộ trình cụ thể nhưng cho đến nay Việt Nam vẫn chưa xây dựng đường phát thải cơ sở cho các ngành, chưa hình thành được khung MRV quốc gia, chưa có các dự án NAMAs được thực hiện trong lĩnh vực nông nghiệp, hệ thống kiểm kê KNK quốc gia chưa được vận hành hiệu quả, thiếu sự phối hợp của các Bộ/Ngành trong mạng lưới kiểm kê KNK quốc gia, nhất là vai trò chủ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT trong kiểm kê và triển khai các giải pháp giảm phát thải
Trang 20
20
KNK trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Hơn nữa, nhiều giải pháp giảm phát thải KNK đưa ra nhưng thiếu số liệu minh chứng để có cơ sở khoa học thuyết phục về tiềm năng giảm phát thải KNK so với đường phát thải cơ sở
Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 trên cơ sở đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Các nhiệm vụ chiến lược và chiến lược hướng tới là: (i) Giai đoạn 2011-2020, giảm cường độ phát thải KNK 8-10% so với mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 1-1,5% mỗi năm; giảm lượng phát thải KNK trong các hoạt động năng lượng từ 10% đến 20% so với phương án phát triển bình thường (BAU), trong đó mức tự nguyện khoảng 10%, còn lại 10% mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc tế; (ii) Định hướng đến năm 2030, giảm mức phát thải KNK mỗi năm ít nhất là 1,5-2%, giảm lượng phát thải KNK trong các hoạt động năng lượng từ 20% đến 30% so với phương
án phát triển bình thường, trong đó mức tự nguyện khoảng 20%, còn lại 10% là mức khi có thêm hỗ trợ quốc tế; và (iii) Định hướng đến 2050, giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm 1,5-2% Chính phủ cũng ban hành kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 với 66 hoạt động thuộc các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực nông nghiệp chỉ có 5 hoạt động (Chính phủ 2012) Như vậy có thể thấy rằng, việc chuyển đổi từ các hoạt động giảm phát thải KNK theo đường cơ sở sang giảm cường
độ phát thải sẽ đặt ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đứng trước nhiều thách thức tromg bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra nghiêm trọng
1.1.2 Cấp ngành
1.1.2.1 Xây dựng chính sách về thích ứng với BĐKH trong nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành KHHĐ ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2050 theo Quyết định số 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/3/2011 hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015, trong đó nhấn mạnh vào mục tiêu là giữ vững mức độ tăng trưởng ngành 20%, giảm tỷ lệ đói nghèo 20% và giảm phát thải KNK 20% trong giai đoạn 10 năm (Bộ Nông nghiệp và PTNT 2011) Tổng
số nhiệm vụ được xác định trong KHHĐ là 54 nhiệm vụ với kinh phí đề xuất là 402 tỷ đồng trong giai đoạn 2011-2015 Để triển khai thực hiện kế hoạch hành động, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Chỉ thị số 809/CT-BNN-KHCN ngày 28/3/2011
về việc tăng cường lồng ghép BĐKH vào xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2011-2015 Kết hợp thích ứng và giảm nhẹ BĐKH có vai trò quan trọng trong ứng phó với BĐKH của ngành nông nghiệp, nông thôn để vừa đảm bảo được mục tiêu phát triển ngành, xóa đói giảm nghèo và giảm phát thải KNK Trong khi, các nhiệm vụ trong KHHĐ ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp thường tách riêng hoạt động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH và chưa có ưu tiên cho các hoạt động giảm thiểu
Trang 21
21
BĐKH Do vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT cần tiến hành rà soát, cập nhật để lựa chọn được các giải pháp phù hợp để ứng phó với BĐKH đối với các lĩnh vực hoạt động của ngành
Bảng 2 Danh mục nội dung trong kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ngành nông
nghiệp và PTNT giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2050
(Nhiệm vụ)
Kinh phí (tỷ đồng)
1 Đánh giá tác động của BĐKH, nước biển dâng đối với từng
lĩnh vực của ngành nông nghiệp và PTNT
16 109,0
2 Xây dựng các chương trình/dự án đối với từng lĩnh vực của
ngành phù hợp với các địa phương cụ thể để ứng phó (giảm
thiểu và thích ứng) với BĐKH và tạo cơ hội phát triển
4 Phát triển nguồn nhân lực của ngành, các lĩnh vực và địa
phương đáp ứng thách thức BĐKH và tạo cơ hội phát triển
4 43,0
5 Lồng ghép các vấn đề BĐKH và nước biển dâng vào kế
hoạch hành động, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và địa phương
12 101,0
6 Hợp tác quốc tế với các chính phủ, các tổ chức quốc tế nhằm
huy động nguồn lực: tri thức, kinh nghiệm và kinh phí để thực
hiện kế hoạch hành động ứng phó BĐKH của ngành
5 35,0
6 Hoạt động giám sát, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch hành động
2 15,0
Nguồn: Quyết định số 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/3/2011
1.1.2.2 Xây dựng chính sách giảm thiểu BĐKH trong nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt đề án giảm phát thải KNK trong nông nghiệp, nông thôn đến 2020 (Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN ngày 16/12/2011,
Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011) Mục tiêu của đề án giảm phát thải KNK bao gồm (i) Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp xanh theo hướng an toàn, ít phát thải, phát triển bền vững, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần giảm nghèo và ứng phó có hiệu quả với BĐKH; và (ii) Đến năm 2020, giảm phát thải 20% lượng KNK trong nông nghiệp, nông thôn (tương đương với 18,87 triệu tấn CO2e); đồng thời đảm bảo mục tiêu tăng trưởng ngành và giảm tỷ lệ đói nghèo theo chiến lược phát triển ngành Nhiệm vụ giảm phát thải KNK trong đề án đã được xác định cho 6 lĩnh vực gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và nông thôn Với mục tiêu
Trang 22
22
đề ra là giảm phát thải KNK 20% mỗi lĩnh vực, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã xác định ngành trồng trọt với cây lúa chiếm tỷ trọng cao chỉ có thể giảm được tối đa 13,34% (tương đương 8,18 triệu tấn CO2e) dựa trên các kỹ thuật canh tác và không thay đổi về
cơ cấu diện tích như quy hoạch; ngành chăn nuôi có tiềm năng giảm cao lên đến 12,31 triệu tấn CO2e (tương đương 51,04%) bởi có nhiều hoạt động có thể cắt giảm KNK thông qua kỹ thuật chăn nuôi, thay đổi khẩu phần thức ăn và quản lý chất thải Ngành thủy sản mặc dù còn thiếu thông tin về mức độ giảm phát thải một số giải pháp giảm phát thải KNK nhưng cũng có thể giảm được 4,62 triệu tấn/năm (tương đương 35,79%) từ nâng cao dịch vụ nghề cá, hiệu quả thức ăn và quản lý tầu thuyền Ngành thủy lợi tương đối ít các hoạt động giảm phát thải KNK khi không tính đến các kỹ thuật tưới và quản lý mặt ruộng nhưng cũng có thể đảm bảo giảm được khoảng 0,17 triệu tấn CO2e (tương đương 20%); nông thôn và ngành nghề nông thôn có tiềm năng giảm 7,25 triệu tấn CO2e (tương đương 39,44%) thông qua các giải pháp chuyển đổi
sử dụng chất đốt và quản lý chất thải (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011, Phụ lục 3)
Bảng 3 Các chương trình, dự án trong đề án giảm phát thải KNK của Bộ Nông nghiệp
và PTNT đến 2020
(nhiệm vụ)
Kinh phí (tỷ đồng)
từ nguồn vốn ODA là 2.200 tỷ đồng Mặc dù có nhiều nhiệm vụ giảm phát thải KNK
đã được Bộ đưa ra nhưng chủ yếu mới tập trung vào tính đơn nhất của nhiệm vụ như các tách riêng tiềm năng giảm phát thải KNK từ các giải pháp kỹ thuật canh tác với sử
Trang 23
23
dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, các hoạt động sản xuất năng lượng chưa được lồng ghép với các giải pháp canh tác sản xuất lương thực, chưa có định hướng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, nông lâm kết hợp thành giải pháp giảm phát thải KNK tổng hợp
1.2 Hiện trạng triển khai và lồng ghép các hoạt động ứng phó với BĐKH trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011-2015
1.2.1 Triển khai kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của ngành
Trong giai đoạn 2010-2015, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thực hiện 21 nhiệm
vụ có liên quan đến các hoạt động ứng phó với BĐKH với tổng kinh phí là 47,18 tỷ đồng (Phụ lục 4) Kết quả triển khai kế hoạch ứng phó với BĐKH ngành nông nghiệp
và phát triển nông thôn thể hiện ở các mặt sau:
- Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình hành động thích ứng với BĐKH (Quyết định số 3665/QĐ-BNN-KHCN ngày 21/11/2007) gồm 14 thành viên và được bổ sung nhân sự theo Quyết định số 314/QĐ-BNN-TCCB ngày 11/02/2009 (nâng lên 20 thành viên) và Quyết định số 214/QĐ-BNN-TCCB ngày 14/02/2011 (nâng lên 22 thành viên) Bộ trưởng Cao Đức Phát là Trưởng ban chỉ đạo
Bộ cũng đã thành lập Văn phòng thường trực giúp việc cho Ban chỉ đạo (OCCA) Văn phòng đặt tại Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, do Phó Vụ trưởng, Uỷ viên Thường trực BCĐ, kiêm Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo;
- Trên cơ sở nội dung ứng phó với BĐKH đã được phê duyệt tại Quyết định số 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/3/2011 và các nội dung giảm thiểu phát thải KNK tại Quyết định 3119/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/12/2011, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã cấp kinh phí triển khai 22 nhiệm vụ với tổng kinh phí là 49,48 tỷ đồng (tương đương với 12,3% tổng nhu cầu về kinh phí) Kết quả triển khai 22 nhiệm vụ này đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực đối với các lĩnh vực hoạt động của ngành trong ứng phó với BĐKH Cụ thể:
+ Trong trồng trọt, mô hình "cánh đồng mẫu lớn" đã góp phần tích cực vào
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững Đến 2013, diện tích sản xuất cánh đồng lớn khoảng 12.575 ha ở phía Bắc và trên 76.559 ha ở phía Nam Bộ cũng đã ra chỉ chỉ thị 1965/CT-BNN-TT ngày 13/6/2013 về việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo mô hình "cánh đồng mẫu lớn" Bộ cũng đã chỉ đạo lồng ghép BĐKH vào Chiến lược phát triển trồng trọt đến 2020, tăng cường chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ tại các vùng sinh thái thích ứng với BĐKH; đẩy mạnh các hoạt động canh tác ít phát thải và có hiệu quả cao như SRI, 3G3T, 1P5G, VietGAP, chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các cây công nghiệp ngắn ngày có mức độ phát thải thấp và hiệu quả kinh tế cao hơn; thu gom, xử lý, tái sử dụng và ngăn chặn đốt rơm rạ nhằm giảm phát thải KNK,… trong canh tác lúa nước
Trang 24
24
+ Trong lâm nghiệp: Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tăng cường thực hiện các
Chương trình/dự án nâng cao chất lượng rừng và năng lực phòng hộ của rừng nhất là phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng ngập mặn, rừng phòng hộ chắn sóng, chắn gió và cát di động ven biển; xây dựng, triển khai kế hoạch quản lý chống phá rừng, cháy rừng, sâu bệnh hại rừng; trồng rừng và làm giàu rừng; triển khai một số mô hình kinh tế sinh-thái ven biển nhằm thích ứng với BĐKH, nước biển dâng; chi trả dịch vụ phí môi trường rừng; cơ chế phát triển sạch (CDM); sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc tạo việc làm cho nông dân, Các hoạt động này đã mang lại nhiều kết quả nhằm tăng khả năng ứng phó với BĐKH và tích trữ carbon từ rừng Cũng với các kết quả nêu trên, giai đoạn 2011-2015, ngành Lâm nghiệp đã xây dựng
và triển khai nhiêu chính sách cũng như chương trình, kế hoạch, dự án nhằm lồng ghép các nhiệm vụ ứng phó với BĐKH, điển hình như chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, chương trình hành động quốc gia về REDD+, đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với BĐKH, đề án trồng rừng thay thế khi chuyển sang mục địch sừ dụng khác, các chương trình, đề án phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng tự nhiên, rừng đặc dụng…
+ Trong lĩnh vực thủy sản: Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai các hoạt
động về đánh giá tác động BĐKH tới diện tích, năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản và nguồn lợi hải sản; cải tiến những công nghệ nuôi, đối tượng nuôi mới và công nghệ khai thác phù hợp với BĐKH; thành lập Quỹ tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp khai thác thuỷ sản ở các vùng nước ven bờ và xa bờ; bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng đến năm 2015, tầm nhìn 2020 với việc thành lập 15 khu bảo vệ các loài thuỷ sinh biển và ven biển giai đoạn 2011-
2015 và 22-30 khu bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm trong giai đoạn tiếp theo 2020; áp dụng GAP trong thuỷ sản để giảm phát thải KNK và nâng cao hiệu quả Các hoạt động đối với lĩnh vực thủy sản đã góp phần tích cực nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH ngành thủy sản
2016-+ Đối với Thủy lợi: Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có nhiều hoạt động ứng phó
với BĐKH đối với lĩnh vực thủy lợi thông qua các giải pháp khoa học công nghệ và công trình như Quy hoạch tổng thể thủy lợi giai đoạn 2012 – 2020 và tầm nhìn 2050 trong điều kiện BĐKH cho ĐBSCL, ĐBSH, miền Trung trên cơ sở kịch bản BĐKH và NBD; quy hoạch chống ngập cho các thành phố lớn như TP HCM, Hà Nội, Cần Thơ,
Cà Mau, Hải phòng Riêng đối với chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam và từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang, nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ mới về vật liệu, kỹ thuật, công nghệ trong xây dựng công trình thủy lợi nhằm giảm chi phí và tăng độ bền công trình, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thủy lợi; nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; nâng cao hiệu hiệu suất của hệ thống trạm bơm tưới, tiêu nhằm tiết kiệm nhiên
Trang 25
25
liệu, giảm phát thải KNK; bảo đảm an ninh nước cho các hệ thống thủy lợi, an toàn hệ thống đê biển và hồ chứa; áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước như tưới phun, tưới nhỏ giọt cho cây trồng hàng năm; tưới nông lộ phơi cho lúa, sử dụng hợp lý năng lượng, nâng cao hiệu suất và hiệu quả hệ thống kênh mương
+ Đối với Diêm nghiệp: So với các lĩnh vực hoạt động khác, quy mô sản xuất
diêm nghiệp nhỏ nhưng Bộ cũng đã có nhiều hoạt động ứng phó với BĐKH như rà soát quy hoạch đầu tư các vùng sản xuất muối tập trung, ứng dụng khoa học công nghệ mới trong sản xuất muối để nâng cao sản lượng, chất lượng, giảm thiểu rủi ro
do tác động của BĐKH; đầu tư hệ thống hạ tầng vùng sản xuất muối Các hoạt động của Bộ được đánh giá đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho diêm dân trong sản xuất muối
+ Đối với phát triển nông thôn: Bộ cũng đã có nhiều hoạt động liên quan đến
lĩnh vực phát triển nông thôn như rà soát quy hoạch phát triển nông thôn, xác định r các khu vực có thể chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH và nước biển dâng; củng cố hạ tầng
cơ sở nông thôn; hỗ trợ đặc biệt cho các vùng dân cư ở các vùng thường xảy ra lũ lụt; xây dựng các phương án phát triển kinh tế xã hội ở vùng khô hạn và bán khô hạn thường xuyên; áp dụng công nghệ sản xuất, chế biến tiên tiến, tiết kiệm năng lượng; Kết quả đã tăng cường được năng lực, nhận thức của cư dân nông thôn về ứng phó với BĐKH
Hình 2 Diễn biến kinh phí, số lượng nhiệm vụ thuộc CTMTQG về BĐKH do Bộ Nông
nghiệp và PTNT thực hiện giai đoạn 2010-2015
Trang 26
26
Cùng với triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH các lĩnh vực, Bộ cũng chủ động đẩy mạnh các hoạt động thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức và nâng cao nhận thức cộng đồng Chủ động và chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ, Ngành lồng ghép BĐKH vào trong các hoạt động tăng trưởng xanh, tái cơ cấu ngành, các quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển các lĩnh vực Tuy nhiên, có thể nói rằng mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng những nội dung triển khai kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 chưa đạt được mục tiêu đề ra, nhiều hoạt động đã được xác định nhưng chưa được triển khai do thiếu và bị động về nguồn lực tài chính Kinh phí có xu hướng giảm mạnh theo các năm, lượng kinh phí bình quân/nhiệm vụ/năm tương đối thấp dưới 1 tỷ đồng/năm, không đủ để nhân rộng các nội dung hoạt động ở quy mô lớn
(Hình 2) Kết quả đạt được còn khiêm tốn so với yêu cầu thực tiễn và tiềm năng của ngành trong thực tiễn ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 Rất ít các hoạt động giảm nhẹ được triển khai thông qua các dự án đầu tư cụ thể đối với các lĩnh vực của ngành, thiếu các hoạt động cụ thể đối với lĩnh vực chăn nuôi trong kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015, mặc dù đây là lĩnh vực ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
1.2.2 Kết quả lồng ghép các nội dung ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 vào các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Nội dung đánh giá tác động của BĐKH đối với từng lĩnh vực đã được nêu rõ trong báo cáo xây dựng kế hoạch hành động theo Quyết định 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT cho giai đoạn 2011-2015 Các kết quả thực hiện các nội dung thuộc chương trình mục tiêu quốc gia ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn được tổng hợp khá đầy đủ trong cuối sách tập 2 thuộc khuân khổ xây dựng nhiệm vụ này Do bản kế hoạch hành động ứng phó BĐKH này dựa trên nguyên tắc cập nhật và đề xuất các nội dung cho giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2050, vì vậy, nhóm nghiên cứu chỉ nêu tóm tắt những tác đông và đi sâu vào phân tích kết quả lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH từ kết quả điều tra thực tế các đơn
vị quản lý thuộc Bộ và các địa phương
Kết quả tổng hợp số liệu chưa đầy đủ từ 96 đơn vị có báo cáo theo yêu cầu của
Bộ cho thấy, tổng số hoạt động ứng phó đã được lồng ghép trong giai đoạn 2011-2015 tại các địa phương là 346 lượt hoạt động, trong đó có 41 hoạt động chung (chiếm 11,36%); 56 hoạt động lĩnh vực trồng trọt (chiếm 16,18%); 37 hoạt động chăn nuôi (10,69%), 51 hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp (chiếm 14,74%); 43 hoạt động lĩnh vực thủy sản (12,43%), 93 hoạt động lĩnh vực thủy lợi (26,88%), 6 hoạt động trong lĩnh vực diêm nghiệp (1,73%) và 19 hoạt động trong lĩnh vực nông thôn (chiếm 5,49%) Chi tiết nội dung các hoạt động của từng lĩnh vực được lồng ghép được mô tả theo các lĩnh vực dưới đây
Trang 27bị ngập và xâm lấn mặn nghiêm trọng Kết quả tính toán theo kịch bản trung bình về BĐKH cho thấy, đến năm 2.100, vựa lúa ĐBSCL có nguy cơ bị giảm sản lượng khoảng 7,6 triệu tấn lúa/năm, tương đương với 40,52% tổng sản lượng lúa của cả vùng
do các tác động tiềm năng của BĐKH (hạn hán, ngập lụt, xâm lấn mặn, thiên tai,…) Trong trường hợp cảnh báo trên diễn ra theo đúng kịch bản, an ninh lương thực nước
ta sẽ bị đe dọa nghiêm trọng nếu không triển khai những giải pháp ứng phó hiệu quả
và kịp thời
Trong triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực trồng trọt, kết quả tổng hợp từ các nhiệm vụ của Bộ, các Sở Nông nghiệp và PTNT, các cơ quan nghiên cứu có liên quan cho thấy theo đánh giá tại Công văn số 1265/TT-KHTC ngày 17/7/2015 của Cục Trồng trọt, giai đoạn 2011-2015, ngành đã chủ động đầu tư nghiên cứu phát triển các giống cây trồng mới có chất lượng cao, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau thuộc chương trình giống cây trồng; đẩy mạnh thực hiện kỹ thuật canh tác 3G3T với 2,3 triệu ha, 1P5G với mục tiêu là giảm chi phí giống, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật nhằm khắc phục tình trạng thiếu nước, hạn chế ô nhiễm môi trường và góp phần vào giảm phát thải KNK Mô hình canh tác SRI tiếp tục thực hiện tại 23 tỉnh miền Bắc và miền Trung với tổng diện tích là 270 ngàn ha và 703 ngàn
hộ nông dân tham gia Ngành trồng trọt và BVTV đã lồng ghép và đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các giống cải tiến, kết hợp tiết kiệm nước; canh tác lúa giảm phát thải KNK; canh tác lúa carbon thấp,… đồng thời chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các vùng sinh thái, chuyển một số diện tích lúa sang cây trồng cạn (ngô và rau màu) ở một
Trang 28
28
số vùng khô hạn, mô hình gắn kết sản xuất và tiêu thụ để phát triển bền vững; cánh đồng lớn; phát triển trồng cỏ, cây thức ăn chăn nuôi mang lại giá trị kinh tế cao và thích ứng với BĐKH Nhiều giống cây trồng có khả năng thích ứng cao, tiết kiệm đầu vào và kỹ thuật canh tác mới đã được đưa vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân Ngoài ra, ngành trồng trọt và BVTV còn đẩy mạnh các hoạt động thu gom, xử lý và tái sử dụng rơm rạ như trồng khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ tại 23 tỉnh với quy mô trên 1000 ha, mở rộng các hoạt động ứng phó với bùng phát dịch bệnh đối với các đối tượng cây trồng, tập huấn quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và lồng ghép tập huấn về BĐKH cho nông dân ở tất cả 63 tỉnh với khoảng 1500 lớp với trên 45 ngàn nông dân tham gia Thông qua các hoạt động này, nhận thức của một bộ phận nông dân về BĐKH đã dần được cải thiện
- Tại các địa phương, thực hiện chủ trương và chỉ đạo sản xuất của Bộ, lĩnh vực
ngành, các địa phương đã lồng ghép và triển khai một số hoạt động ứng phó với BĐKH trong trồng trọt Kết quả tham vấn trực tiếp và tham vấn qua công văn và tham vấn trực tiếp cho thấy các tỉnh đã đẩy mạnh chuyển giao một số giống cây trồng mới (lúa, ngô, đậu tương, lạc, một số giống cây trồng mới) với khả năng thích ứng cao và phù hợp với điều kiện sinh thái tại Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hà Giang, Bắc Kạn, Nam Định,… Một số tỉnh như Hưng Yên, Hòa Bình, Bắc Kạn, Hà Giang, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Tháp, Kiên Giang, Bến Tre, đã thực hiện chuyển đổi một phần diện tích đất lúa không hiệu quả sang trồng các loại cây màu nhằm đối phó với tình trạng thiếu nước và suy thoái chất lượng đất lúa Đa số các tỉnh điều tra đã tiến hành các hoạt động tập huấn, thông tin tuyên truyền nâng cao năng lực, nhận thức về ứng phó với BĐKH trên cơ sở gắn kết với chương trình, dự án khuyến nông và trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng cho thấy, hầu hết các địa phương chưa chủ động các hoạt động ứng phó với BĐKH, chưa
có nguồn kinh phí riêng, chưa có đội ngũ cán bộ chuyên trách về BĐKH, thiếu nguồn kinh phí của địa phương ưu tiên cho ứng phó với BĐKH Mặc dù có một số mô hình giảm thiểu BĐKH đã được triển khai tại các địa phương như mô hình canh tác lúa phát thải thấp, 3G3T, SRI ở các tỉnh nhưng chủ yếu từ chương trình hỗ trợ của Trung ương
mà chưa hình thành được nguồn kinh phí của địa phương cho nhân rộng các mô hình này Sự gắn kết giữa các cơ quan ban ngành của địa phương trong ứng phó với BĐKH lĩnh vực trồng trọt còn rất hạn chế và bị động
1.2.2.2 Đối với lĩnh vực chăn nuôi
Tính đến thời điểm 01/10/2014, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cả nước có 2,5 triệu con trâu, 5,2 triệu con bò (trong đó có 227,6 nghìn con bò sữa), 26,8 triệu con lợn (trong đó có 3,9 triệu con lợn nái); 327,7 triệu con gia cầm; 1,7 triệu con dê, 63,1 nghìn con hươu nai, 960,1 nghìn tổ ong, 66,9 nghìn con ngựa Cơ cấu ngành chăn nuôi trong GDP nông nghiệp chiếm 26,3 tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp và có xu
Trang 29
29
hướng tăng trong những năm gần đây Theo chiến lược và các đề án phát triển của ngành, chăn nuôi sẽ trở thành ngành mũi nhọn và có vai trò quan trọng trong những năm tiếp theo
Kết quả đánh giá cho thấy hiện nay còn tương đối ít các nghiên cứu về đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất chăn nuôi từ Bộ, các Bộ/ngành và các cơ quan nghiên cứu liên quan Tuy nhiên, theo kết quả tổng quan và từ các báo cáo của các cơ quan, đơn vị, những năm qua, trước sự thay đổi và diễn biến bất thường về khí hậu, ngành chăn nuôi phải đối mặt với nhiều khó khăn do gia tăng bùng phát về dịch bệnh như dịch cúm gia cầm (H5N1); dịch lợn tai xanh, lở mồm long móng,… Sự thay đổi về nhiệt độ như nắng nóng, rét hại, rét đậm đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động chăn nuôi nhất là chăn nuôi gia cầm ở các tỉnh đồng bằng và chăn nuôi đại gia súc ở các tỉnh miền núi Theo thống kê của Cục Chăn nuôi, năm 2014, rét đậm, rét hại vụ Đông Xuân 2014-2016 đã làm chết 12.000 con trâu, bò tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc, gây thiệt hại lớn cho nông dân Nắng nóng cũng đang là nguyên nhân tác động lớn đến chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm gia tăng dịch bệnh, tăng chi phí chăm sóc và giảm hiệu quả thức ăn trong chăn nuôi Hậu quả các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán, xói lở, xói mòn làm gia tăng nguy cơ mất đất, thu hẹp diện tích và giảm năng suất đồng cỏ, dẫn đến giảm năng suất ngành chăn nuôi
Thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và đề án giảm phát thải KNK của Bộ, ngành chăn nuôi đã chủ động triển khai lồng ghép nhiều hoạt động ứng phó BĐKH trong giai đoạn 2011-2015 Cụ thể, ngành tiếp tục triển khai Chương trình khí sinh học để tận dụng chất thải chăn nuôi sản xuất năng lượng sạch, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giảm phát thải KNK Đến hết 2014, chương trình khí sinh học đã
hỗ trợ xây dựng được trên 145.000 công trình mang lại lợi ích cho 725.000 nông dân ở nông thôn, đào tạo 1.064 kỹ thuật viên tỉnh và huyện, 1.668 thợ xây khí sinh học và tổ chức 140.000 ngàn hội thảo tuyên truyền và tập huấn cho hàng triệu nông dân sử dụng khí sinh học Từ nguồn vốn ODA, ngành đã chỉ đạo lồng ghép BĐKH vào trong triển khai dự án cạnh tranh chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP), dự án nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học (QSEAP) Đến 2015, các dự án liên quan và hoạt động của ngành chăn nuôi đã xây dựng được gần 1 triệu tín chỉ vàng (GS-VER) và đã bán được 779,92 tín chỉ GS-VER Cùng với các dự án cụ thể, ngành còn chủ động chỉ đạo các địa phương khuyến khích phát triển chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường, xây dựng các văn bản quản lý chăn nuôi, mô hình quản lý chất thải và mô hình chăn nuôi an toàn sinh học tại 63/63 tỉnh thành trên phạm vi cả nước
Thực hiện chỉ đạo của ngành chăn nuôi, kết quả khảo sát cho thấy các địa phương đã chủ động triển khai các mô hình chăn nuôi tiên tiến đối với bò sữa (quy mô lớn và khép kín) như ở Thanh Hóa, Nghệ An nhằm khai thác tốt lợi thế, giảm thiểu rủi
Trang 30
30
ro và tăng hiệu quả kinh tế Chăn nuôi an toàn sinh học bằng đệm lót sinh học, kết hợp chăn nuôi và kiểm soát ô nhiễm môi trường, phòng chống và kiểm soát dịch bệnh để nâng cao năng suất, chất lượng ngành chăn nuôi cũng được nhiều địa phương triển khai Tất cả các tỉnh đều tham gia chương trình khí sinh học, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và thực hiện quy hoạch chăn nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện đất đai và khí hậu để giảm nhẹ tác động của BĐKH và giảm thiểu phát thải KNK trong chăn nuôi Tuy nhiên, có thể thấy từ kết quả điều tra, các địa phương còn tương đối bị động trong quản lý chăn nuôi ứng phó với BĐKH do chưa xác định được các ưu tiên, chưa chủ động lồng ghép mà chủ yếu dựa vào các chương trình hỗ trợ từ các dự án do nhà nước đầu tư Một số địa phương ở miền núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn trong hỗ trợ nông dân chống rét và tạo nguồn thức ăn cho gia súc vào mùa đông lạnh
do thiếu các kết quả nghiên cứu và bị động trong công tác dự báo Các hoạt động tái đàn, quản lý môi trường trong chăn nuôi, tái chế và sử dụng chất thải trong chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn hạn chế do thiếu nguồn lực Nhiều địa phương chưa có giải pháp sử dụng hợp lý, hiệu quả lượng khí sinh học từ các công trình hầm biogas nên vừa gây lãng phí, vừa gây phát thải lớn lượng khí mê-tan và làm gia tăng tiến trình BĐKH từ hoạt động chăn nuôi
1.2.2.3 Đối với lĩnh vực thuỷ sản
Thuỷ sản được đánh giá có vai trò quan trọng trong đề án tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng đến 2020 Theo báo cáo tổng kết của Bộ Nông nghiệp
và PTNT, sản lượng khai thác thủy sản cả năm 2014 đạt 2,91 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 3,39 triệu tấn, đưa tổng sản lượng thuỷ sản nước ta đạt 6,31 triệu tấn Năm 2014, diện tích nuôi cá tra là 5,5 ngàn ha, với sản lượng đạt 1,11 triệu tấn, diện tích nuôi tôm sú là 537 ha, sản lượng 248 ngàn tấn Những năm gần đây, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ngắn đạt tỷ lệ thành công cao và có giá bán cao do có khả năng thích nghi hơn với môi trường, khả năng chống chịu dịch bệnh và thời gian sinh trưởng ngắn hơn Do đó, nhiều hộ nuôi tôm sú đang có xu hướng chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng sau một số vụ tôm sú thua lỗ do tác động tiêu cực của BĐKH và ô nhiễm môi trường
Theo đánh giá của các nhà khoa học, thủy sản được cho là lĩnh vực chịu nhiều tác động của BĐKH trong cả khai thác và nuôi trồng thủy sản, ở cả nước mặn, ngọt và
lợ Theo Tổng cục Thủy sản, mưa trong mùa lũ có thể làm giảm khả năng sinh đẻ, phát tán, phát triển của các loài cá Các yếu tố như thay đổi mực nước biển, nhiệt độ nước,
độ mặn, tốc độ và hướng gió, độ dày trầm tích sẽ ảnh hưởng lớn tới thủy sinh vật, qua
đó tác động đến khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cá Các hiện tượng thời tiết cực đoan như giông bão trên biển có ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất đánh bắt và tính mạng của ngư dân Đối với nuôi trồng thủy sản nhất là nuôi trồng vùng ven bờ, trên biển, đảo chịu tác động thường xuyên của thiên tai và tác động tiêu cực của
Trang 31Thực hiện kế hoạch của Bộ, giai đoạn 2011-2015, ngành thủy sản đã triển khai một số hoạt động ứng phó với BĐKH như đánh giá tác động của BĐKH đến diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản (đã được nêu trong bản kế hoạch hành động giai đoạn 2011-2015); cải tiến công nghệ nuôi, phát triển các đối tượng nuôi mới (tôm thẻ chân trắng, kết hợp nuôi tôm và cá), phát triển những công nghệ khai thác mới phù hợp với điều kiện BĐKH, nước biển dâng; chọn tạo những giống thủy sản mới thích ứng với điều kiện khắc nghiệt và có khả năng kháng bệnh cao Ngành thủy sản cũng đã chỉ đạo các địa phương triển khai mô hình nuôi tôm quảng canh và bán thâm canh thích ứng với BĐKH và hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ cho ngành thủy sản phát triển trong bối cảnh có nhiều diễn biến phức tạp của BĐKH
Kết quả điều tra thực tế tại các địa phương cho thấy trước tình hình dịch bệnh trên đối tượng nuôi ngày càng gia tăng do tác động của BĐKH, nhiều địa phương (Nghệ An, Bình Định, Bạc Liêu, Cần Thơ) đã tiến hành quy hoạch lại hệ thống công trình cấp thoát nước, tiến hành quan trắc cảnh báo ô nhiễm nước trong nuôi trồng thủy sản và tiến hành các hoạt động xử lý ô nhiễm môi trường Công tác quản lý giống thủy sản cũng được nhiều địa phương trú trọng hơn Một số địa phương như Hà Giang, Bắc Kạn, Điện Biên, Lào Cai còn lựa chọn các giống thủy sản có khả năng chịu lạnh tốt để khai thác lợi thế mặt nước miền núi cho nuôi trồng thủy sản để cung cấp dinh dưỡng tại chỗ cho nông dân Một số tỉnh trong công văn trả lời cũng nêu bật các giải pháp như đa dạng giống thủy sản, chuyển đổi từ thâm canh sang quảng canh, nuôi nhiều tầng để giảm thiểu các tác động tiêu cực của BĐKH ở các vùng sinh thái nhạy cảm với BĐKH Tuy nhiên, có thể thấy rằng hiện nay các địa phương nhất là các tỉnh có diện tích nuôi trồng lớn còn gặp nhiều khó khăn trong việc quy hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản, thiếu các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường và ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan do tác động của BĐKH Đa số các địa phương ven biển được điều tra ít đề cập đến kết quả triển khai các biện pháp ứng phó trong đánh bắt thủy sản, cải tiến công nghệ và tổ chức quản lý đánh bắt để giảm thiểu rủi ro do tác động của BĐKH và giảm thiểu phát thải KNK trong nuôi trồng thủy sản
Trang 321.2.2.4 Đối với lĩnh vực lâm nghiệp
Cũng như các lĩnh vực hoạt động khác, BĐKH có tác động mạnh mẽ đến ngành lâm nghiệp Theo đánh giá, BĐKH làm gia tăng nguy cơ cháy rừng ở các vùng sinh thái, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Với vùng Tây Bắc nguy cơ cháy rừng tăng thêm từ 6,1% - 38% ở giai đoạn 2020 – 2100; 7,4 – 35% ở vùng Bắc Trung Bộ và 4,9 – 32% ở vùng Tây Nguyên Theo tính toán, cả nước có khoảng 6 triệu ha rừng dễ cháy trong đó rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn và rừng khộp là những rừng có nguy cơ cháy cao Một số hệ sinh thái tự nhiên (rừng khộp, rừng ngập mặn, rừng kín nửa rụng lá, rừng kín lá rộng thường xanh)
có nguy cơ thay đổi theo vùng phân bố do điều kiện khí hậu thay đổi, trong đó nguy cơ thu hẹp vùng phân bố đối với rừng khộp, rừng ngập mặn và rừng kín nửa rụng lá là khá cao Với rừng khộp, năm 2020, diện tích khí hậu phù hợp với phân bố của rừng khộp là 4,6%, sẽ giảm xuống còn khoảng 1,5% vào năm 2050 Rừng khộp có thể không còn phân bố ở Tây Nguyên, nơi mà diện tích rừng khộp phổ biến và có tỷ lệ diện tích cao vào năm 2100 Rừng ngập mặn sẽ chịu tác động mạnh của nước biển dâng và BĐKH do tác động mạnh của triều cường và sự thay đổi về điều kiện khí hậu Diện tích rừng ngập mặn sẽ bị thu hẹp ở vùng ĐBSH và ĐBSCL do nguy cơ xói lở bờ biển tăng cao và điều kiện môi trường ven biển thay đổi Chế độ triều cường, độ mặn, nhiệt độ thảy đổi dẫn đến một số loài cây ngập mặn không thể thích nghi và tồn tại Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá khá nhạy cảm với thay đổi của khí hậu và có thể vào năm 2050, hệ sinh thái rừng này không còn phân bố ở vùng Bắc Trung Bộ Nguy cơ sâu hại rừng, gồm sâu róm thông và các loài sâu hại rừng trồng mới có xu hướng gia tăng do những thay đổi về điều kiện sinh thái và khí hậu Theo kết quả dự tính, dự báo, sâu róm thông có nguy cơ phát dịch tăng khoảng 10% vào năm 2020, khoảng 13% vào năm 2050 và 31% vào năm 2100 so với năm 2000 BĐKH, đặc biệt là mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái sinh vật biển ở các vùng ven biển, ảnh hưởng lớn đến rạn san hô và rừng ngập mặn, dẫn đến làm giảm năng suất các hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản ven biển, làm tăng nguy cơ xói lở bờ biển và ảnh hưởng lớn đến sinh kế của ngư dân
Ngành lâm nghiệp đã chủ động xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Kết quả triển khai ứng phó với BĐKH, trong giai đoạn 2011-2015, ngành lâm nghiệp tập trung vào đề xuất và áp dụng các biện pháp bảo vệ rừng; trồng và phục hồi rừng; cải thiện các biện pháp quản lý rừng;
áp dụng các biện pháp lâm sinh phù hợp; đầu tư phù hợp cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về rừng; nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn lực về BĐKH và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và đào tạo Ngành đã đẩy mạnh triển khai các hoạt động đánh giá trữ lượng các bon rừng, xây dựng đường phát thải cơ sở thực hiện REDD+ ở Việt Nam và đã cập nhật và nâng cấp hệ thống bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ trữ lượng carbon các năm 1990, 1995,
Trang 33
33
2000, 2005 và 2010; xác định hiện trạng và nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng và trồng rừng cho giai đoạn 1990 – 2010 theo các vùng sinh thái và xác định các vùng ưu tiên thực hiện REDD+ Kết quả tính toán lượng phát thải từ mất rừng, suy thoái rừng
và lượng các bon hấp thụ trong giai đoạn 1990 – 2010 cho thấy lượng phát thải ròng bình quân 1 năm trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 1990 – 2010 là 11,5 triệu tấn CO2, trong đó, tổng lượng phát thải bình quân 1 năm là trên 53,8 triệu tấn CO2, tổng lượng hấp thụ bình quân 1 năm là xấp xỉ 42,3 triệu tấn CO2 Cùng với các kết quả trên, trong giai đoạn 2011-2015, ngành lâm nghiệp còn xây dựng được nhiều giải pháp kỹ thuật tổng hợp để quản lý và phát triển bền vững rừng ngập mặn phòng hộ ven biển nhằm ứng phó với BĐKH (2 mô hình và 3 hướng dẫn kỹ thuật) Ngoài ra, ngành còn tiếp tục triển khai các dự án khác đối với ngành như Chương trình UN-REDD giai đoạn II; Dự
án chuẩn bị sự sẵn sàng cho thực hiện REDD+ ở Việt Nam; Chương trình Rừng và Đồng bằng (VFD); và xây dựng đề án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển ứng phó BĐKH giai đoạn 2014-2020
Được sự chỉ đạo, quán triệt của ngành, các địa phương đã thực hiện tốt các hoạt động ứng phó với BĐKH đối với lĩnh vực lâm nghiệp Các hoạt động khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới rừng được thực hiện theo các chương trình, dự án và quy định pháp luật về bảo vệ rừng Nhiều địa phương như Thừa Thiên Huế, Vũng Tàu, Đồng Nai, Kiên Giang, Cà Mau,… đã làm tốt công tác trồng lại và phục hồi sinh thái rừng ven biển, kết hợp trồng và bảo vệ rừng ngập mặn với nuôi trồng thủy sản, đa dạng sinh
kế từ rừng ở các vùng sinh thái ven biển, đầm phá Các mô hình này đang phát huy hiệu quả và cần được tiếp tục nhân rộng cho các vùng sinh thái khác trong kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2050
1.2.2.5 Đối với lĩnh vực thủy lợi
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy lợi, đến năm 2015, các công trình thủy lợi đang được khai thác gồm 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng; 5.194 trạm bơm điện, cống tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và 3.700 km đê sông, 2.000 km đê biển trên 23.000 km bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh Hệ thống công trình thuỷ lợi hiện có đã đảm bảo tưới cho 7,61 triệu
ha lúa, tiêu nước cho 1,71 triệu ha đất nông nghiệp, ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn, cấp nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp trên 5 tỷ m3 nước/năm
Tuy nhiên, BĐKH cũng đang gây ra nhiều thách thức đối với ngành thủy lợi Bão với cường độ ngày càng mạnh, kèm theo mưa lớn gây lũ lụt, lũ quét, làm thiệt hại nặng
nề hệ thống công trình thủy lợi trong những năm qua như phá hoại các công trình tiêu thoát nước, hệ thống đê điều, hồ chứa Kết quả điều tra cho thấy 33/63 tỉnh thuộc 5 vùng sinh thái (không gồm ĐBSH và ĐBSCL) có nguy cơ xảy ra lũ lụt và đe dọa đến hiệu quả, an toàn hệ thống công trình thủy lợi và hồ chứa Nước biển dâng đã làm cho việc cấp nước ở vùng duyên hải trở nên khó khăn hơn, giảm hiệu quả của hệ thống
Trang 34
34
công trình, hệ thống cống lấy nước kém hiệu quả, vật liệu công trình bị ăn mòn, hệ thống đê biển không thể chịu được mực nước dâng do bão lớn như thiết kế làm gia tăng nguy cơ vỡ đê, gây hậu quả nặng nề cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ven đê
Trong giai đoạn 2011-2015, ngành thủy lợi đã triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực, thích ứng với BĐKH và giảm phát thải KNK Những năm qua, ngành đã dần hoàn hiện hệ thống văn bản pháp luật, quản lý thiên tai như tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, xây dựng kế hoạch và giám sát tổ chức thực hiện kế hoạch phòng chống thiên tai; xây dựng và triển khai các phương án phòng chống bão lũ, lắp đặt hệ thống giám sát hình ảnh đối với 25 hồ đập lớn kết nối về Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai Ngành cũng đã chỉ đạo và được địa phương triển khai tích cực đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đào tạo cho 40 giảng viên cấp Trung ương, 1.132 giảng viên cấp tỉnh, 106 giảng viên cấp huyện và 59 giảng viên cấp xã về phòng chống, giảm nhẹ thiên tai; triển khai quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng đối với 1.677 xã với hàng triệu lượt nông dân được hưởng lợi Ngành thủy lợi cũng đã phát triển hệ thống cảnh báo sớm và phần mềm hỗ trợ ra quyết định VinaWare, xây dựng và thực hiện các quy hoạch thủy lợi đối với các vùng sinh thái Giai đoạn 2011-2015, ngành thủy lợi đã thực hiện 3 chương trình nâng cấp đê sông, đê biển Đối với chương trình đê biển các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam: hết năm
2015 đã đầu tư kinh phí 10,973 tỷ đồng (trong đó 8.265 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương và 1.714 tỷ đồng từ trái phiếu chính phủ và 992,9 tỷ đồng từ ngân sách địa phương; 778 km đê biển, 253 km kè, 561 cống qua đê, 313 ha cây chắn sóng từ Quảng Ninh đến Quảng Nam đã hoàn thành Đối với chương trình nâng cấp đê biển các tỉnh Quảng Ngãi đến Kiên Giang, đến hết 2015, tổng kinh phí đầu tư là 2.885 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương là 1.845 tỷ đồng để nâng cấp 245,3 km đê, 34 km kè,
70 cống qua đê, 31,8 ha cây chắn sóng Ngoài ra, lĩnh vực thủy lợi còn nâng cấp 1.164km đê sông, 332km kè sông, 340 cống qua đê và 484,3 ngàn mũi khoan sâu để phụt vữa gia cố thân đê với tổng kinh phí đầu tư lên đến 16.672 tỷ đồng Đây là những kết quả và nỗ lực vượt bậc của lĩnh vực thủy lợi về triển khai các giải pháp công trình
để ứng phó với BĐKH Ngành thủy lợi đã ban hành 4 hướng dẫn về thực hành tưới tiết kiệm nước cho lúa và cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao và góp phần giảm phát thải KNK
Kết quả điều tra cho thấy các địa phương đã lồng ghép và triển khai nhiều giải pháp ứng phó với BĐKH dựa trên các dự án do Nhà nước đầu tư như các dự án củng
cố, cải tạo hệ thống kênh mương, hồ đập, đê điều, phòng tránh thiên tai và bảo đảm an toàn hồ đập Đa số các địa phương được điều tra đã tiến hành rà soát quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi, xây dựng kịch bản và bản đồ cảnh báo ngập lụt, kịch bản và
Trang 35
35
đề án phòng chống thiên tai, nâng cao năng lực phòng tránh thiên tai dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, các hoạt động ứng phó của địa phương đối với lĩnh vực thủy lợi còn tương đối bị động và chủ yếu dựa vào các kênh đầu tư của nhà nước Các giải pháp ứng phó ưu tiên nhiều cho các giải pháp công trình và thiếu các giải pháp mang tính lồng ghép BĐKH vào trong các hoạt động của lĩnh vực Công tác quản lý, khai thác hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi để tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải KNK chưa được các địa phương quan tâm đúng mức Các công nghệ tưới nước tiết kiệm, san phẳng mặt ruộng và quản lý mặt ruộng phục vụ công tác tưới tiêu còn nhiều hạn chế trong triển khai thực tế tại các địa phương
1.2.2.6 Đối với lĩnh vực diêm nghiệp
Diêm nghiệp là ngành được đánh giá có tiềm năng đối với nước ta do có bờ biển dài và điều kiện sản xuất thuận lợi Theo quy hoạch tổng thể ngành muối đến 2020, Bộ Nông nghiệp và PTNT sẽ duy trì ổn định diện tích sản xuất muối 14.500 ha, với sản lượng 2 triệu tấn muối mỗi năm trong đó có 8.000 ha sản xuất muối công nghiệp với sản lượng 1,31 triệu tấn Những năm qua, sản xuất muối nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, cơ cấu muối công nghiệp bước đầu đã đạt 31,2% và cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong nước về muối công nghiệp Giai đoạn 2011-2015, 34% diện tích muối đã được áp dụng công nghệ sản xuất muối mới như công nghệ sản xuất muối sạch, công nghệ chuyển chạt lọc, công nghệ phân tán
Theo đánh giá của Cục chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối, sản xuất muối cũng như các lĩnh vực sản xuất khác đang chịu nhiều tác động của BĐKH Nước biển dâng làm mất đi nhiều diêm trường, giảm diện tích đồng muối, giảm nồng độ mặn và
có nhiều tác động tiêu cực đến cơ sở hạ tầng sản xuất muối Các hiện tượng thời tiết cực đoan nhất là mưa bất thường, mưa trái mùa, mưa lớn gây ngập lụt đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất muối và đe dọa sinh kế của diêm dân Thu hẹp diện tích sản xuất, giảm sản lượng muối và tăng nguy cơ rủi ro trong sản xuất muối do tác động của BĐKH sẽ làm gia tăng tỷ lệ hộ nghèo trong khu vực diêm nghiệp và tạo sự di chuyển
cư dân diêm nghiệp đến những vùng đất mới để tìm sinh kế mới, gây thêm áp lực cho những vùng cư dân thành thị hoặc nông thôn vốn đã có mật độ cao và/hoặc bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người rất thấp
Giai đoạn 2011-2015, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã triển khai nhiều hoạt động để hỗ trợ diêm dân ứng phó với BĐKH Các hoạt động thông tin, tuyên truyền về BĐKH được thực hiện định kỳ gắn kết với các hoạt động phòng chống
và giảm nhẹ thiên tai Các giải pháp công trình cũng đã từng bước được thực hiện như hoàn thiện và nâng cấp hệ thống cống ngăn mặn và lấy mặn; tăng cường các hoạt động công nghệ về sản xuất muối kết tinh trên bạt HDPE; cơ giới hóa đồng bộ khâu cấp nước biển và thu hoạch muối; rà soát quy hoạch lại hệ thống sản xuất muối có hiệu quả cao, đem lại sinh kế cho nông dân Ngành cũng đã đẩy mạnh các hoạt động nghiên
Trang 36
36
cứu phát triển các công nghệ sản xuất muối mới như thay đổi chạt lọc, dùng bạt che mưa ô kết tinh, công nghệ sản xuất muối sạch, chuyển đổi cơ cấu sản xuất muối từ sản xuất tiêu dùng sang sản xuất muối công nghiệp; cải tiến cơ sở hạ tầng, cánh đồng muối
để vừa nâng chất lượng sản phẩm, nâng tỷ trọng sản xuất muối công nghiệp và thích ứng với BĐKH
Đối với các địa phương, kết quả điều tra cho thấy chỉ có 4/43 tỉnh có báo cáo về sản xuất muối là Ninh Thuận, Nghệ An, Bình Định và Hà Tĩnh Được sự hỗ trợ của Nhà nước, cùng với nguồn lực hiện có tại các địa phương, hoạt động ứng phó trong lĩnh vực diêm nghiệp tập trung vào cải tiến cơ sở hạ tầng và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất muối với mục đích chủ yếu là ứng phó với hiện tượng mưa bất thường
và mưa trái vụ, điều chỉnh hệ thống cống lấy nước để hạn chế tác động của triều cường
và nước biển dâng Để thực hiện được đề án quy hoạch phát triển ngành muối đến
2020, cần phải có nhiều hoạt động hơn nữa để giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH đến sản xuất muối
1.2.2.7 Đối với lĩnh vực phát triển nông thôn
Kết quả điều tra nông thôn cho thấy cả nước có 12,77 triệu hộ nông dân, trong
đó có 9,15 triệu hộ nông nghiệp, 31,6 ngàn hộ lâm nghiệp, 602,9 ngàn hộ thủy sản và 1,01 triệu hộ nông dân công nghiệp nông thôn Theo báo cáo của Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường, cả nước có 3.360 làng nghề, chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc bộ (67,3%), miền trung 20,5%, trong đó nghề cói 281 làng (chiếm 9,5%), mây tre đan 713 làng (chiếm 24%), dệt nhuộm là 432 làng (chiếm 14,5%), chế biến nông sản là 714 làng nghề (chiếm 24,1%) Ngoài ra, cả nước còn có 428,4 nghìn cơ sở chế biến, bình quân 1 xã có 47,2 cơ sở chế biến (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011)
Kết quả đánh giá của các nhà khoa học và quản lý cho thấy hoạt động sản xuất làng nghề, tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt nông thôn cũng đang chịu nhiều tác động tiêu cực của BĐKH Trong những năm gần đây (2013-2014), ngoài tác động gây thiệt hại lớn đến sản xuất, thiên tai đã cướp đi sinh mạng của 313 người, làm bị thương 1.150 người, làm sập 6.400 ngôi nhà, làm hư hại 692 ngàn ngôi nhà khác, gây hư hại hàng trăm km đê kè; 894 km đường giao thông nông thôn, làm gãy đổ khoảng 8.000 cột điện, gây thiệt hại mất trắng đến trên 17.000 ha lúa và trên 20.000 ha hoa màu; làm ngập và gây hư hại đến 117.000 ha lúa, 154.000 ha hoa màu, 102 ngàn ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, sạt lở 17 triệu khối đất đá giao thông,… Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai đối với phát triển nông thôn hàng năm tương đối lớn, trên 30 ngàn tỷ đồng năm 2013 và hàng ngàn tỷ đồng năm 2014 Ngoài các tác động thiệt hại trực tiếp, BĐKH còn gây nhiều rủi ro, tác động đối với phát triển nông thôn như làm giảm nguồn sinh kế bền vững, gia tăng đói nghèo và số người không có nhà cửa sinh sống Ngoài các tác động do BĐKH, hoạt động sản xuất và sinh hoạt nông thôn còn gây phát thải chất thải lớn tới gần 20 triệu tấn chất thải mỗi năm, gây ô nhiễm môi trường
Trang 37
37
nghiêm trọng và phát thải lớn lượng KNK Do vậy, các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ phát thải KNK từ hoạt động nông thôn và làng nghề có vai trò quan trọng để ứng phó với BĐKH
Trong thực tế, ngành phát triển nông thôn đã thực hiện các hoạt động ứng phó như xây dựng các văn bản quản lý, tổ chức thực hiện; bố trí xắp xếp ổn định dân cư cho hơn 5 vạn hộ trong giai đoạn 2011-2015; cải thiện cơ sở hạ tầng với trên 535 km đường giao thông, 76 công trình thủy lợi nhỏ, 150 hệ thống nước sinh hoạt, 316 giếng,
bể chứa nước sinh hoạt, 50 trạm biến áp, 182 km đường dây điện trung và hạ thế, 305 phòng học, 35 công trình văn hóa, 2 trạm y tế và nhiều công trình hạ tầng khác Tuy nhiên, thực tế triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực nông thôn ở các địa phương còn hạn chế Kết quả điều tra các địa phương cho thấy, hoạt động ứng phó của các địa phương với BĐKH lĩnh vực nông thôn chủ yếu tập trung vào các hoạt động cải tạo, nâng cấp hệ thống giao thông, xây dựng phương án bố trí, di rời các hộ dân sống gần nơi có nguy cơ sạt lở và từng bước cải thiện sinh kế cho nông dân
1.3 Một số khó khăn, tồn tại và nguyên nhân trong triển khai và lồng ghép nội dung ứng phó BĐKH trong các lĩnh vực của ngành
1.3.1 Một số khó khăn và tồn tại
Kết quả tổng hợp dữ liệu từ báo cáo của Bộ, các đơn vị thuộc Bộ và các địa phương cho thấy có 177 đánh giá về những khó khăn tồn tại từ 96 báo cáo và 14 cuộc khảo sát thực tế, 11 chuyên gia chuyên sâu và một số nhà quản lý Trong đó những khó khăn chung trong nhận thức về BĐKH là 15 đánh giá (chiếm 8,41%), khó khăn tồn tại về cơ chế chính sách là 64 đánh giá (chiếm 36,16%), về cơ chế tài chính là 53 đánh giá (chiếm 29,94%) và vướng mắc trong tổ chức thực hiện là 45 đánh giá (chiếm 25,42%) Chi tiết những khó khăn, vường mắc trong triển khai kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 đối với các lĩnh vực hoạt động cụ thể như dưới đây
- Năng lực ứng phó với BĐKH của ngành trồng trọt của nông dân và cán bộ quản lý địa phương còn nhiều hạn chế; hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật về BĐKH, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai và các văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách đối với ngành trồng trọt còn thiếu và hạn chế;
Trang 38- Kinh phí cho ứng phó BĐKH ngành trồng trọt còn hạn chế, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức và cộng đồng chưa được đầu tư có bài bản và liên tục;
- Thiếu các kết quả nghiên cứu để tạo ra các giống cây trồng mới, các biện pháp canh tác mới, kỹ thuật xử lý chất thải trồng trọt mới phù hợp, thích nghi với BĐKH; thiếu các giống cây trồng có năng suất, giá trị cao nhưng có khả năng chịu hạn, chịu mặn tốt; chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở hầu hết các địa phương theo hướng gia tăng giá trị nên khả năng thích ứng với BĐKH có chuyển biến chậm;
- Các hoạt động canh tác giảm phát thải KNK chưa được triển khai sâu rộng, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản thiếu chặt chẽ, còn bế tắc lớn trong khâu tìm đầu ra cho các sản phẩm trồng trọt;
- Các chính sách hỗ trợ cho nông dân ở các vùng nhạy cảm với BĐKH còn yếu, thiếu đồng bộ, thiếu quyết tâm nên chưa mang lại kết quả và sự chuyển biến tích cực Đối tượng trong trồng trọt đa dạng, nhưng hoạt động tính toán tiềm năng giảm phát thải KNK chủ yếu dựa vào các cây trồng ngắn ngày, chưa xây dựng được đường cơ sở, chưa đủ cơ sở khoa học xác định và đưa ra các mức giảm phát thải KNK của ngành trồng trọt
1.3.1.2 Đối với lĩnh vực chăn nuôi
Mặc dù ngành chăn nuôi có vai trò đặc biệt quan trong trong triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH nhưng thực tế trong những năm qua (2011-2015) vẫn còn gặp một số khó khăn tồn tại chủ yếu sau:
- Thiếu các cơ chế chính sách khuyến khích sự phối hợp giữa phát triển chăn nuôi với quản lý môi trường, chưa gắn kết hiệu quả quản lý sản xuất với quản lý môi trường và giảm phát thải KNK;
- Thiếu cán bộ chuyên trách, thiếu chính sách khuyến khích đầu tư giải quyết các vấn đề môi trường, phát thải KNK trong chăn nuôi, khai thác hiệu quả chất thải chăn nuôi;
- Nhận thức của người chăn nuôi, cán bộ quản lý chăn nuôi về ứng phó với BĐKH còn nhiều hạn chế, thiếu các hoạt động và giải pháp thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nông dân về ứng phó BĐKH trong chăn nuôi;
Trang 391.3.1.3 Đối với lĩnh vực thủy sản
Trong thời gian qua, ngành thủy sản đã triển khai nhiều hoạt động ứng phó với BĐKH theo kế hoạch của Bộ và thông qua một số hoạt động dự án hỗ trợ nhưng trong thực tế triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực thủy sản vẫn còn một số tồn tại và thách thức cần đặt ra giải quyết trong chu kỳ tới (2016-2020 và tầm nhìn 2050) của kế hoạch hành động gồm:
- Một số chính sách và giải pháp ứng phó với BĐKH đã được xây dựng và triển khai nhưng còn thiếu sự tham gia của khối doanh nghiệp trong các khâu sản xuất thích ứng với BĐKH và giảm phát thải KNK;
- Trong đánh bắt thủy hải sản, tàu cá có số lượng lớn, hầu hết lắp máy bộ đã qua
sử dụng; đóng mới, sửa chữa và trang bị thiết bị khai thác chủ yếu theo kinh nghiệm nên không tối ưu hóa được nhiên liệu trong quá trình vận hành, làm tăng lượng phát thải khí nhà kính;
- Đầu tư tài chính, kỹ thuật và khả năng kết nối thị trường cho các sản phẩm thủy sản còn hạn chế và chưa thu hút được nguồn đầu tư từ các doanh nghiệp, đặc biệt
là khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản;
- Lồng ghép các hoạt động ứng phó với BĐKH vào chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thường xuyên của các đơn vị trong ngành thủy sản vẫn còn hạn chế và chưa có sự nỗ lực cao của ngành và của địa phương trong giai đoạn 2011-2015;
- Nguồn tài chính để triển khai nhân rộng các mô hình nuôi trồng thủy sản thành công trong ứng phó với BĐKH còn rất hạn chế và phó thác cho các doanh nghiệp địa phương;
- Chất lượng con giống trong nuôi trồng thủy sản còn nhiều hạn chế như chưa
có nhiều giống thủy sản có khả năng thích ứng cao, sức chống chịu bệnh tốt, đảm bảo năng suất, chất lượng khi có sự thay đổi về môi trường sống trong bối cảnh BĐKH;
- Nhiều cán bộ có vai trò chính trong các hoạt động phát triển ngành thủy sản nhưng lại chưa nhận thức r tầm quan trọng của công tác phòng chống, ứng phó với BĐKH để lồng ghép vào nhiệm vụ mình đang theo d i;
- Đối với đánh bắt thủy hải sản, công nghệ đánh bắt còn rất lạc hậu, hạn chế các phương tiện, tàu thuyến và ngư cụ đánh bắt xa bờ, thiếu các phương tiện thông tin hiện
Trang 40
40
đại cảnh báo ngư trường và các hiện tượng thời tiết cực đoan
1.3.1.4 Đối với lĩnh vực lâm nghiệp
Những tồn tại và hạn chế trong triển khai và lồng ghép kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực lâm nghiệp trong giai đoạn 2011-2015 chủ yếu là:
- Thiếu các nghiên cứu cơ bản đối với lâm nghiệp như các nghiên cứu sâu về các thay đổi của các hệ sinh thái và thực vật dưới tác động của điều kiện khí hậu và môi trường cho việc đánh giá và dự báo tác động của BĐKH trong lâm nghiệp;
- Các nghiên cứu về chọn tạo giống, loài cây rừng có khả năng thích ứng với các điều kiện bất lợi của khí hậu (khô hạn, ngập lụt, mặn hóa, vv) chưa được quan tâm
và đầu tư đúng mức;
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong việc lồng ghép, xây dựng và ban hành các chính sách, kế hoạch hành động, hướng dẫn kỹ thuật còn nhiều hạn chế đối với lĩnh vực thủy sản;
- Đầu tư cho phát triển công nghệ, thiết bị, nhân lực về công nghệ sinh học trong nghiên cứu chọn tạo giống mới, dự báo và kiểm soát cháy rừng, sâu bệnh hại chưa đáp ứng nhu cầu của ngành;
- Kinh phí đầu tư cho các nhiệm vụ BĐKH đối với lĩnh vực lâm nghiệp còn thấp, định mức kinh phí cho các nhiệm vụ nghiên cứu, các nhiệm vụ triển khai (như xây dựng mô hình) thấp và mang tính hỗ trợ là chính nên chưa tạo ra được các bước đột phá;
- Thiếu sự thống nhất, chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp của các ngành, các cấp trong quản lý nguồn vốn, xây dựng kế hoạch thực hiện, xác định nội dung, phạm vi chuyên ngành và phân công nhiệm vụ trong quản lý chuyên ngành đối với lâm nghiệp
1.3.1.5 Đối với lĩnh vực thủy lợi
Hoạt động ứng phó với BĐKH ngành thủy lợi có vai trò quan trọng, tạo điều kiện cho các ngành sản xuất khác như trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và hoạt động nông thôn có điều kiện thích ứng tốt hơn với BĐKH Tuy nhiên, trong triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH trong giai đoạn 2011-2015 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế và thách thức sau:
- Hoạt động ứng phó với BĐKH của ngành thủy lợi chủ yếu dựa vào đầu tư các công trình từ ngân sách nhà nước, chưa có cơ chế chính sách khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, thiếu các hoạt động để triển khai diện rộng mô hình tưới tiên tiến, tiết kiệm nước;
- Trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, hiện nay mới có chính sách hỗ trợ thiệt hại sau thiên tai, chưa khuyến khích được sự tham gia của các doanh nghiệp đầu tư