Thực hiện Nghị định 64 của Chính phủ, Khoán 10 với nguyên tắc “công bằng về ruộng đất để giảm xung đột” là ruộng đất được giao “có ruộng tốt, ruộng xấu, có gần, có xa, có cao, có thấp; t
Trang 1NGUYỄN CỬU LONG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA TRƯỚC VÀ SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ DÂN HÒA, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - 2015
Trang 2
NGUYỄN CỬU LONG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA TRƯỚC VÀ SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ DÂN HÒA, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Cửu Long
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn chính quyền xã Dân Hòa, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, cùng nhân dân xã Dân Hòa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Cửu Long
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Yêu cầu của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Vấn đề manh mún đất đai 4
1.1.2 Chính sách đất nông nghiệp giai đoạn 1981 - 1985 9
1.1.3 Chính sách đất nông nghiệp sau đổi mới cho đến nay 9
1.2 Cở sở pháp lý 12
1.3 Cơ sở thực tiễn 14
1.3.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Á 14
1.3.2 Tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Âu, châu mỹ 16
1.3.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 17
1.4 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa 24
1.4.1 Mục đích, yêu cầu, phạm vi đối tượng, nguyên tắc thực hiện nghiên cứu 24
1.4.2 Nội dung và trình tự thực hiện 28
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
Trang 62.3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội xã Dân Hòa 33
2.3.2 Thực trạng và quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa 33
2.3.3 Đánh giá hiệu quả của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn xã Dân Hòa 34
2.3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa xã Dân Hòa 34
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin số liệu thứ cấp 34
2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin số liệu sơ cấp 34
2.4.3 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 35
2.4.4 Phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu 36
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Dân Hòa 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 37
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 47
3.2 Thực trạng về đất đai và quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa 48
3.2.1 Tình hình quản lý và sử dụng đất xã Dân Hòa 48
3.2.3 Kết quả thực hiện dồn đổi ruộng đất xã Dân Hòa 56
3.3 Đánh giá những tác động chính của dồn điền đổi thửa tại địa bàn nghiên cứu 64
3.3.1 Dồn điền đổi thửa tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai, tăng năng suất, sản lượng cây trồng chính 64
3.3.2 Dồn điền đổi thửa tạo ra lãnh thổ hợp lý cho quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp 66
3.3.3 Dồn điền đổi thửa tạo tâm lý ổn định cho người nông dân yên tâm đầu tư sản xuất, thay đổi cơ cấu thu nhập của nông hộ 68
Trang 73.3.4 Dồn điền đổi thửa góp phần làm tăng hiệu lực trong công tác quản
lý nhà nước về đất đai 69
3.3.5 Đánh giá chung về hiệu quả của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn nghiên cứu 71
3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu của của công tác dồn điền đổi thửa xã Dân Hòa 77
3.4.1 Những tồn tại sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa 77
3.4.2 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu của của công tác dồn điền đổi thửa xã Dân Hòa 79
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Đề nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Dân Hòa năm 2014 49 Bảng 3.2 Biến động sử dụng đất xã Dân Hòa giai đoạn 2010 – 2014 50 Bảng 3.3 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa xã Dân Hòa 57 Bảng 3.4 Thực trạng đất trồng lúa trước khi dồn điền đổi thửa tại xã
nghiên cứu 59 Bảng 3.5 Cơ cấu diện tích đất trồng lúa sau dồn điền đổi thửa tại xã nghiên
cứu 60 Bảng 3.6: Một số kết quả chính của đất trồng lúa sau dồn điền đổi thửa tại
xã nghiên cứu 61 Bảng 3.7: So sánh một số chỉ tiêu đất trồng lúa trước dồn điền đổi thửa tại
xã nghiên cứu 62 Bảng 3.8: So sánh một số chỉ tiêu đất trồng lúa sau dồn điền đổi thửa tại
xã nghiên cứu 62 Bảng 3.9: Quan điểm của nông hộ được phỏng vấn đối với việc DĐĐT 64 Bảng 3.10: Diện tích, năng suất, sản lượng cây lúa trước và sau dồn điền
đổi thửa tại xã nghiên cứu 65 Bảng 3.11: Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau dồn điền đổi
thửa tại xã nghiên cứu 67 Bảng 3.12: Sự thay đổi cơ cấu thu nhập của hộ nông dân trước và sau dồn
điền đổi thửa tại xã nghiên cứu 68 Bảng 3.13: Diện tích quỹ đất II trước và sau dồn điền đổi thửa tại xã Dân
Hòa 70 Bảng 3.14: Giá đất thầu thực tế tính theo Kg thóc/sào trước và sau dồn
điền đổi thửa tại xã nghiên cứu 71 Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa tại xã Dân Hòa (năm
2014) 73 Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một ha đất chuyên lúa tại xã
nghiên cứu 75 Bảng 3.17 So sánh hiệu quả kinh tế bình quân trên một ha đất chuyên lúa
tại xã Dân Hòa 76
Trang 10DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Đồng ruộng sau dồn điền đổi thửa 76Hình 3.2 Giao thông, thủy lợi nội đồng sau dồn điền đổi thửa 76Hình 3.3 Biểu đồ so sánh sự thay đổi cơ cấu thu nhập của hộ nông
dân trước và sau dồn điền đổi thửa tại xã nghiên cứu 69Hình 3.4 So sánh giá đất thầu trước và sau dồn điền đổi thửa 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá, không thể thay thế, có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đất sản xuất nông nghiệp, với các quốc gia đang phát triển chẳng những là tư liệu sản xuất mà nó còn là điều kiện để đảm bảo ổn định xã hội
Ở nước ta, khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường là sự thay đổi về cơ chế chính sách đất đai, được đánh dấu bằng Chỉ thị 100, của Ban Bí thư hay còn gọi là “Khoán 100” năm 1981, với mục đích là khoán sản phẩm đến người lao động Khoán 100 đã tạo ra sự chuyển biến đột phá trong sản xuất nông nghiệp Sau thành tựu đạt được của
“Khoán 100”, năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị “Khoán 10” đã tiếp tục làm thay đổi hoàn toàn cơ chế bao cấp trong sản xuất nông nghiệp Sự thay đổi cơ chế đã đưa năng suất nông nghiệp tăng vượt bậc, chấm dứt tình trạng thiếu lương thực triền miên thời bao cấp, đưa nước ta trở thành một trong các nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên Thế giới Luật Đất đai năm 1993, Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định cho sản xuất nông nghiệp lâu dài Chính sách đất đai đã làm thay đổi toàn diện về quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ ruộng đất, tạo thành động lực cho sự phát triển nông nghiệp Thực hiện Nghị định
64 của Chính phủ, Khoán 10 với nguyên tắc “công bằng về ruộng đất để giảm xung đột” là ruộng đất được giao “có ruộng tốt, ruộng xấu, có gần, có xa, có cao, có thấp; theo chế độ bình quân cả về diện tích lẫn hạng đất” phần nào đã tạo sự công bằng trong việc giao đất cho nông dân sản xuất ổn định lâu dài Nhưng hệ quả là đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình nông dân rất manh mún Theo thống kê, năm 2003, cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân
Trang 12mỗi hộ có 6,8 thửa với khoảng 0,3-0,5 ha/hộ, trong đó đất lúa từ 200m2 đến 400m2/thửa, đất rau màu dưới 100m2/thửa [4]
Trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo của nước ta thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đang là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ toàn cầu hóa thị trường Trong bối cảnh hiện nay, không còn sự lựa chọn nào khác, dồn điền đổi thửa là hướng đi tất yếu để đưa nền nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ thực sự trở thành một ngành sản xuất hàng hoá, quy mô lớn Hơn 10 năm dồn điền đổi thửa, từ ý tưởng manh nha ban đầu rồi trở thành chủ trương lớn, từ nỗ lực vượt qua nhiều quan ngại, đến lúc đạt được những thành quả bước đầu, tạo tiền đề cho
sự xuất hiện của những vùng chuyên canh lớn Tuy vậy, xung quanh nó vẫn còn không ít vấn đề
Tuy nhiên, trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay, công tác dồn điền đổi thửa tuy đã bớt phần manh mún nhưng mới chỉ là bước khởi đầu quy mô diện tích hiện tại chưa đủ để có một nền sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Sau một thời gian thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa đến nay, huyện Thanh Oai chưa có một chuyên đề hoặc công trình hay đề tài nào nghiên cứu cụ thể, chi tiết đánh giá về hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân, quy mô mức độ tích tụ diện tích ở các mô hình sản xuất sau khi dồn điền đổi thửa trên địa bàn Huyện Thanh Oai một cách bài bản và khoa học, để từ đó áp dụng vào thực tế Xuất phát từ những lý do nêu trên được sự đồng ý của Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất trồng lúa trước và sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất trồng lúa trước và sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa Tăng cường công tác quản lý đất trồng lúa, đưa đời sống người nông dân ngày càng ổn định phát triển
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thực trạng và quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa
- Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế - xã hội
- môi trường trên địa bàn xã Dân Hòa
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dồn điền đổi thửa để
nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn xã Dân Hòa
3 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Các chỉ tiêu phải
đảm bảo tính chính xác và hệ thống
- Phản ánh đúng thực trạng dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa huyện Thanh Oai - thành phố Hà Nội, làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất trong
những năm tiếp theo
- Đề xuất được các giải pháp hợp lý và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả dồn điền đổi thửa ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất xã Dân Hòa,
huyện Thanh Oai - thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Vấn đề manh mún đất đai
1.1.1.1 Khái niệm
Manh mún đất đai được hiểu trên hai khía cạnh:
- Một là, sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng
- Hai là, sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác [11]
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, là nguyên nhân của tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả Manh mún đất đai xảy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới và ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất đa dạng: có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý, do sức ép dân số, nhưng cũng có thể là do ý thức của con người như tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả của công tác địa chính,
Ở Việt Nam manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt ở miền Bắc Theo con số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu thửa đất canh tác đã giao cho
9259 hộ gia đình, cá nhân sử dụng, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7-8 mảnh Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt, làm cản trở quá trình dịch chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa cho nên rất
Trang 15nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai, ví
dụ như Kenya, Tanzania, Rwanda, Albania, Bulgaria Việt Nam cũng đang thực hiện chủ trương này trong những năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai Tuy nhiên, mức độ manh mún đất đai cũng mang lại một số lợi ích cho nông dân Do đó ở nhiều nơi nông dân muốn duy trì một mức độ nào đó của tình trạng này
1.1.1.2 nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún
Tình trạng manh mún ruộng đất do các nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là sự phức tạp của địa hình, nhất là các vùng đồi núi, trung du Do địa hình bị chia cắt nên đất đai ở đa số các địa phương hầu như đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp, trũng
- Do mật độ dân số Với diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhất định phải chia đều cho một lượng người quá lớn sẽ làm cho diện tích canh tác bình quân đầu người thấp Ở Việt Nam, bình quân đất sản xuất trên đầu người cũng
có sự phân hóa rất rõ: vùng có mật độ dân số thấp thì diện tích đất canh tác sẽ cao và ngược lại
- Do yếu tố văn hóa (cụ thể là vấn đề thừa kế): Người Việt Nam có tâm
lý muốn chuyển giao toàn bộ tài sản của cha mẹ cho các con khi về già, trong
đó có vấn đề ruộng đất Thực chất, người dân không có quyền sở hữu mà chỉ
có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định với diện tích đất nông nghiệp được phân Vì vậy, họ cũng chỉ chuyển giao cho con cái họ quyền sử dụng đất nông nghiệp Thêm vào đó là đặc điểm điển hình của các hộ nông dân là đông con sẽ làm cho đất đai ngày càng bị phân tán
Trang 16- Do chính sách đất đai và định hướng xã hội Mục tiêu của xã hội Việt Nam hướng tới công bằng cho tất cả mọi người Trong việc phân đất nông nghiệp cho nông dân cũng cần đảm bảo nguyên tắc công bằng chung đó Với một địa bàn nhất định, độ màu mỡ của đất sản xuất là không giống nhau, khoảng cách với khu dân cư cũng có sự khác biệt Do đó, sẽ là không công bằng nếu cá nhân này được canh tác trên thửa ruộng có độ màu mỡ hơn cá nhân khác, hoặc canh tác ở địa điểm gần khu dân cư hơn người khác Vì vậy, mỗi hộ nông dân sẽ nhận được nhiều mảnh ruộng để có thể đảm bảo một cách tương đối về độ màu mỡ, khoảng cách của các thửa ruộng
- Tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các
hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất
- Liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần khi thực hiện Nghị định 64/CP năm 1994 Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa
số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mới thể hiện tính công bằng
+ Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ + Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều đất cho các hộ
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua
do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao đặc biệt là các khu đất gần các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công nghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người
Trang 17đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro"nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng
1.1.1.3 Thực trạng về manh mún ruộng đất tại Đồng bằng sông Hồng
Muốn có được những giải pháp triệt để cho việc khắc phục tình trạng manh mún ở ĐBSH, trước hết phải nghiên cứu những đặc điểm của sự manh mún ruộng đất và những nguyên nhân gây nên tình trạng manh mún này Sự manh mún ruộng đất ở đồng bằng sông Hồng là một hiện tượng mang tính lịch sử Tình trạng manh mún thể hiện trên cả 2 góc độ manh mún về ô thửa
và bình quân quy mô ruộng đất/hộ gia đình nông dân Vào những năm 30 của thế kỷ trước, đồng bằng sông Hồng đã có đến 16,0 triệu mảnh ruộng to nhỏ khác nhau Diện tích trung bình mỗi mảnh ở Bắc ninh lúc bấy giờ là 680 m² (Gourou, 1936) Nếu tính riêng diện tích phải giành ra để làm bờ vùng bờ thửa thì ĐBSH đã mất đi trên 3% diện tích đất canh tác Đến những năm
1997, đồng bằng sông Hồng tình trang manh mún ruộng đất ở ĐBSH vẫn đứng ở vị trí thứ 2 trong 7 vùng sinh thái cả nước, chỉ sau miền núi phía bắc Tình trạng manh mún ruộng đất cấp nông hộ tuy không liên quan nhiều đến chủ đề của nghiên này nhưng chúng tôi vẫn nêu ra ở đây bởi kinh nghiệm
ở nhiều nơi cho thấy rằng thông thường luôn có mối quan hệ tương tác giữa quá trình tập trung ruộng đất ở cấp nông hộ và quá trình tập trung hay chia nhỏ diện tích các mảnh ruộng Nói cách khác quá trình DĐĐT có thể thúc đẩy hoặc hạn chế quá trình tập trung ruộng đất và ngược lại Trong đồng bằng sông Hồng hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ thể hiện ở các đặc điểm như:
- Diện tích canh tác BQ trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng 0,25 ha/hộ)
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1 ha trở lên không đáng kể (chưa đầy15%) đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha
- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu luôn có xu thế giảm
do sự mất đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn
Trang 18Tình trạng manh mún ở ĐBSH cũng như các vùng kinh tế khác trong cả nước tập trung chủ yếu trên các loại đất trồng cây hàng năm và mức độ manh mún thể hiện ở 2 mặt:
Diện tích/thửa: Với cây lúa diện tích/thửa có thể diễn biến từ 200 đến 400
m2, với cây màu thì nhỏ hơn 100-200 m2 đặc biệt với cây rau thì rất nhỏ chỉ
20-50 m2 Tỷ lệ thửa có diện tích < 100 m2 chiếm đến 5-10% tổng số thửa
Số thửa/hộ: Số hộ có từ 7 đến 10 thửa là phổ biến, thậm chí có nơi lên
tới 25 thửa, cá biệt có hộ có 47 thửa (Vĩnh phúc) Về số thửa/hộ giữa các vùng cũng có sự khác nhau Ví dụ: Nam định là 5,7 thửa, Hà nam là 8.3 thửa trong đó Hải dương là 11 thửa
1.1.1.4 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý Nhà nước ở địa phương
Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, dẫn đến không giảm được chi phí lao động đầu vào, ví dụ: xã Ngũ kiên, tỉnh Vĩnh phúc trước DĐĐT do kích thước các mảnh ruộng nhỏ nên chỉ có khoảng 30% diện tích được làm bằng máy, sau DĐĐT kích thước mảnh ruộng tăng và có 80% diện tích được làm bằng máy
Mảnh ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít nghĩ đến việc đầu tư các tiến bộ
kỹ thuật (TBKT) để năng suất tăng Theo họ, có đầu tư TBKT năng suất có thể tăng nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể
Mảnh ruộng đã nhỏ, nhiều mảnh lại phân tán, điều này làm tăng rất nhiều công thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây hàng hoá do phải tăng công bảo vệ Sau khi thực hiện DĐĐT, tại Ngũ kiên tỉnh Vĩnh Phúc số công lao động đầu tư cho 1 sào đã giảm từ 14 công xuống còn 9 công, tại xã Mỹ thọ, tỉnh Hà nam giảm được từ 14,5% xuống 12,5% công lao động so với trước đây
Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm và lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có xu thế giảm (xem phần trên)
Trang 19Nhiều mảnh ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn Tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4 - 4% đất canh tác dùng để đắp bờ vùng, bờ thửa Ví dụ, sau DĐĐT xã Ngũ kiên đã dôi ra gần 30.000m2
do giảm bờ vùng, bờ thửa
Nhà nước cũng tiết kiệm được một khoản tiền khá lớn cho quá trình lập
hồ sơ ruộng đất (nếu ruộng đất manh mún như trước đây chi tăng 35-50%) Khó khăn trong quản lí đất và không phù hợp với sản xuất hàng hoá
1.1.2 Chính sách đất nông nghiệp giai đoạn 1981 - 1985
Ngày 13/01/1981, trên cơ sở đánh giá thực tiễn và rút kinh nghiệm qua các thí điểm, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V đã ra Chỉ thị số 100/CT-
TƯ về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) Chỉ thị 100 đã hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ gia đình và người lao động;
xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên khoán ruộng và hưởng trọn phần vượt khoán Chỉ thị 100 là khâu đột phá mở đầu sự đổi mới đã có tác dụng ngăn chặn sự sa sút và tạo đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Từ đó nền nông nghiệp bước đầu có khởi sắc, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 14,4 triệu tấn năm 1980 tăng lên 18,4 triệu tấn năm 1986, bình quân mỗi năm tăng gần 70 vạn tấn, gấp 3 lần mức tăng trước đó Năng suất 5 tấn lúa/ha của Thái Bình đã có nhiều địa phương vượt qua vươn tới mô hình 10 tấn/ha [1]
1.1.3 Chính sách đất nông nghiệp sau đổi mới cho đến nay
Tháng 12/1986, Đại hội Đảng VI đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là
Trang 20các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu
từ Nghị quyết 10/NQ- TW ngày 05/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành (hay còn gọi “Khoán 10”) Nghị quyết 10 đề ra cơ chế khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình
xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán với hợp tác xã Như vậy, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ và đưa lại nhiều chuyển biến rõ rệt: sản xuất lương thực đã có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tức là tăng thêm 2 triệu tấn trong 1 năm, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục chưa từng có Sản lượng lương thực tăng nhanh không những cung cấp đủ nhu cầu cho nhân dân; tháng 6/1989, với 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên của Việt Nam đã rời cảng Sài Gòn xuất khẩu ra quốc tế, mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực của Việt Nam Tuy nhiên, “Khoán 10" chưa đề cập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác xã mới [2] Về mặt pháp
lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTXNN Cơ chế này làm cho hộ nhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi, từ đó không thấy hấp dẫn để đầu tư tăng năng suất Từ đó Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tìm kiếm những quyết sách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ của hộ xã viên với ruộng đất nhận khoán tạo động lực mới trong nông nghiệp
Luật đất đai 1993 ra đời bước tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ thống các chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta Theo đó, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Các quyền này chỉ có giá trị trong thời hạn giao đất Điểm mới của Luật đất đai năm 1993 đi cùng với việc giao đất ổn định đã quy định cụ thể về nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất của Nhà nước, để người nông dân có quyền tự chủ
cá nhân trong việc canh tác trên mảnh đất được giao, nhờ đó đã có tác dụng khuyến khích nông dân tìm phương thức sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả
Trang 21hơn Luật đất đai năm 1993 được tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, năm 2001, năm 2003, trong đó có quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài
có quyền sử dụng đất đều được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (CNQSD) đất Việc giao đất, cấp giấy CNQSD đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư thâm canh trên diện tích đã được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định Đó là cơ sở để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển [6]
Chủ trương “dồn điền đổi thửa”
Luật Đất đai năm 1993 cũng như các luật sửa đổi sau này mới chú trọng đến vấn đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân sử dụng đất để kinh doanh nông nghiệp mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tập trung đất cho sản xuất nông nghiệp theo quy mô hiệu quả Do diện tích đất nông nghiệp nước ta nhỏ, cách giao đất lại theo kiểu bình quân, có tốt, có xấu, có gần, có
xa dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được phân chia rất manh mún, mỗi hộ
có trên 10 thửa ruộng nhỏ nằm rải rác trên nhiều xứ đồng khác nhau Tình trạng này rất phổ biến, nhất là ở Miền Bắc Các quy định của Luật Đất đai về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, đấu thầu đất là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện từng bước cho tích tụ ruộng đất, nhưng chưa đủ để khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ Do đó “dồn điền đổi thửa” được coi là một trong những việc cần thiết của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước ta trong một số năm gần đây
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Đưa Việt Nam từ nước nhập khẩu gạo trở thành
Trang 22nước xuất khẩu gạo An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề
nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi [2]
1.2 Cở sở pháp lý
- Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XV (nhiệm kỳ 2010- 2015), ngày 29/8/2011, Thành ủy đã ban hành Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011-2015”;
- Căn cứ Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐND ngày 05/4/2012 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khoá XIV, kỳ họp thứ 4, thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016;
- Văn kiện Đại hội Đảng khóa VII, Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VII), Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa VII) và Nghị quyết số 06 của Bộ chính trị năm 1999;
- Đại hội IX của Đảng đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội nước ta 10 năm (2001 - 2010) trong đó nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đặc biệt
- Nghị quyết số 26/NQ-TƯ ngày 12/3/2003 tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về việc tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH
- HĐH) đất nước đã nêu rõ: Khuyến khích tích tụ ruộng đất, sớm khắc phục tình trạng đất sản xuất nông nghiệp manh mún Quá trình tích tụ đất đai cần có
sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước, có quy hoạch, kế hoạch, có bước đi vững chắc trên từng địa bàn, lĩnh vực, gắn với chương trình phát triển nghề, tạo việc làm Tích tụ đất đai thông qua việc nhận chuyển nhượng và nhiều biện pháp khác phù hợp với từng thời kỳ, từng vùng”;
- Quyết định số 68/2002/QĐ-TTg ngày 04/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa IX: “Về đất đai: điều chỉnh các cơ chế,
Trang 23chính sách để tạo điều kiện cho nông dân thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ đối với đất đai như khuyến khích nông dân dồn điền đổi thửa; cho phép nông dân sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh”;
- Chỉ thị số 22/2003/CT-TTg ngày 03/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ
về tiếp tục thúc đẩy thực hiện Nghị quyết Trung ương khóa IX về kinh tế tập thể: “… Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn việc dồn điền, đổi thửa trên nguyên tắc tự nguyên, tự thỏa thuận và các bên cùng có lợi, kết hợp tổ chức quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng đất đai có hiệu quả…”
Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XV (nhiệm kỳ 2010- 2015), ngày 29/8/2011, Thành ủy đã ban hành Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011-2015”;
Căn cứ Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐND ngày 05/4/2012 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khoá XIV, kỳ họp thứ 4, thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016;
Căn cứ Kế hoạch số 68/KH-UBND, ngày 09/5/2012 của UBND Thành phố Hà Nội về thực hiện dồn điền, đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2012-2013;
Căn cứ Hướng dẫn số 29/HD-SNN ngày 14/5/2012 của Sở nông nghiệp
và phát triển nông thôn về Quy trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
Thực hiện quyết định số: 16/2012/QĐ-UBND ngày 06/7/2012 ban hành quy định một số chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp xây dựng hạ tầng nông thôn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016
Trang 24Thực hiện hướng dẫn số 121/HD-UBND ngày 20/8/2012 của UBND huyện Thanh Oai về hướng dẫn quy trình dồn điền đổi thửa sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Huyện
Thực hiện Kế hoạch số 122/KH-UBND ngày 20/8/2012 kế hoạch thực hiện dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Oai giai đoạn 2012-2013
Thực hiện Nghị quyết- Đại hội Đảng bộ xã Dân Hòa lần thứ XXIII về mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015
Căn cứ đề án xây dựng Nông Thôn Mới và quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch vùng chuyển đổi của xã Dân Hòa được cấp có thẩm quyền phê duyệt
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Á
Trên Thế giới, trong quá trình phát triển nông nghiệp, hiện tượng tích tụ ruộng đất diễn ra ở mọi nơi, mọi thời điểm Nhưng đa số quá trình tích tụ ruộng đất thường bùng phát đi kèm với chính sách đất đai của nhà nước Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã tìm hiểu ở một số nước như:
Ở Đài Loan: Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa
ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, hòn đảo này đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29ha/trang trại Đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của
họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được
Trang 25tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai ước tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để
mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất [4]
Ở Nhật Bản: Để chấn hưng nền nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật
Bản đã ban hành chính sách nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra "sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu"
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên không dưới 0,3ha
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết kế xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và từng khu vực để có thể sử dụng máy móc cho thuận lợi
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dầy khoảng 1m
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn + Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng
Công tác dồn điền đổi thửa, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với một số biện pháp như công tác quy hoạch sử dụng đất mới phát huy hiệu quả trong sử dụng đất Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước ở Nhật Bản đã được chuyển đổi Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4 thửa /hộ, sau chuyển đổi bình quân có khoảng 1,8 thửa /hộ
Trang 26Việc chuyển đổi, xử lý đất nông nghiệp đã tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của người nông dân; việc áp dụng máy móc vào sản xuất được thuận tiện và hiệu quả, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trong nông nghiệp Vì vậy cùng với các yếu tố khác, việc chuyển đổi và xử lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3.000kg gạo/ha/năm năm 1960 lên 6.000kg gạo/ha/năm năm 1992 [4]
Ở Indonesia: Đồng bằng Java của Indonesia, ruộng đất cũng bị manh
mún Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5ha chiếm trên 52% trong tổng số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ
có 0,4% loại trang trại có 4 đến 5ha Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản lý Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó
ở Indonesia nói riêng và Đông Nam á nói chung có sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất nhưng ít xẩy ra phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một
số trang trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ Thậm chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các nhóm hộ đều giảm xuống Giá ruộng đất (địa tô) vẫn tăng lên, nhưng lãi từ việc đầu tư thêm lao động giảm xuống, làm thay đổi một loạt các thể chế nông thôn, chủ yếu là gia tăng số hộ cho thuê đất Như vậy thị trường ruộng đất đã không vận hành hoàn toàn theo nguyên lý kinh tế [4]
1.3.2 Tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Âu, châu mỹ
Kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải, thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao Ví dụ ở Pháp năm 1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông hộ có quy mô 14 ha/hộ, đến năm
1993 chỉ còn 800 ngàn nông hộ với quy mô 35 ha/hộ ở Mỹ, năm 1950 cả nước có 5,65 triệu nông hộ với quy mô bình quân 86 ha/hộ, đến năm 1992 chỉ
Trang 27còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9 ha/hộ Nhìn chung, tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 [10]
Ở các nước Âu, Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ
đô thị hóa nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn Tuy nhiên, để tránh tích tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một số nước như Anh, Pháp có biện pháp quản lý thông qua Hội đồng quy hoạch đất đai của từng tỉnh, huyện, với Hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên của Chính phủ (thuộc Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài chính) Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị trường
Ở Pháp, tuy không đề ra các hạn mức cụ thể, nhưng để đề phòng tích tụ ruộng đất quá mức, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trường ruộng đất, thông qua Hội đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bán đất của nông dân, lập quỹ đất dự trữ, điều tiết thị trường bất động sản [10]
1.3.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.3.3.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa và nguyên nhân của việc tiến hành dồn điền đổi thửa tại Việt Nam
Khái niệm dồn điền đổi thửa (Regrouping of lands, trong tiếng Anh, hay Remenbrement, trong tiếng Pháp) là việc tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành các mảnh ruộng nhỏ Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiên dồn điền đổi thửa:
Một là để cho thị trường ruộng đất, và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế nay vận hành tốt hơn;
Trang 28Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địa phương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau
Tính cấp thiết của việc dồn điền đổi thửa tại Việt Nam
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt
là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích và ô thửa Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn [13]
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tùy tiện dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế [12]
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành dồn đổi ruộng đất Để hiểu rõ hơn tại sao phải nhanh chóng tiến hành công tác dồn đổi ruộng đất, chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng manh mún ruộng đất gây trở ngại cho sản xuất, công tác quản lý Nhà nước về đất đai như thế nào?
Tình trạng manh mún ruộng đất do các nguyên nhân sau:
Trang 29- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là sự phức tạp của địa hình, nhất là các vùng đồi núi, trung du Do địa hình bị chia cắt nên đất đai ở đa số các địa phương hầu như đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp, trũng
- Chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con cái ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi ra ở riêng Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ
- Tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các
hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất
- Liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần khi thực hiện Nghị định 64/CP năm 1994 Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa
số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mới thể hiện tính công bằng
+ Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ + Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều đất cho các hộ
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua
do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao đặc biệt là các khu đất gần các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công nghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro"nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng
Trang 30Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý Nhà nước về đất đai
- Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chi phí lao động đầu vào
- Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến bộ
kỹ thuật (TBKT) để tăng năng suất Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp tăng năng suất nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể
- Thửa ruộng đã nhỏ, nhiều thửa lại phân tán làm tăng rất nhiều công thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây hàng hoá do phải tăng công bảo vệ
- Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có sự biến động bất ổn định
- Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn, tính trung bình vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng để đắp bờ vùng, bờ thửa
- Nhà nước cũng tiết kiệm được một khoản tiền khá lớn cho quá trình lập
hồ sơ ruộng đất (ruộng đất manh mún như trước đây chỉ tăng 30 - 50%)
1.3.3.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh trong nước và ở Thanh Oai
* Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh trong nước
- Đã có 18 tỉnh, thành phố, gần 80 huyện và trên 700 xã, phường, thị trấn
tiến hành vận động nhân dân thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa (Tổng cục địa chính , 1997)
- Đã có 11 tỉnh vùng ĐBSH với 50/69 huyện, thành thị (52,1%) với 766/2001 xã, phường thị trấn (38,1%) tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa; ở Phú Thọ đã có 13/13 huyện, thị với 253/274 xã, phường, thị trấn tiến hành dồn
điền đổi thửa (Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003)
Trang 31- Về số thửa: hầu hết ở các địa phương sau thực hiện DĐĐT, số thửa đều
có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, cụ thể: ở Hà Nội (cũ), trước dồn đổi bình quân có 6 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 4,8 thửa/hộ; ở Hà Tây (cũ) chỉ tiêu này
là 9,5 và 4,8; ở thành phố Hà Nội là 9,2 và 3,7 (Bộ nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, 2003)
- Về diện tích mỗi thửa: ở Hà Nội (cũ), trước dồn đổi bình quân diện tích/thửa là 286,9m2, sau dồn đổi là 357m2/thửa; Hà Tây (cũ) chỉ số này là 216m2 và 425m2; thành phố Hà Nội là 283m2 và 684m2; Thái Bình là 320m2
và 960m2 Kết quả trên cho thấy, diện tích thửa đất lớn đã tiết kiệm được diện
tích đắp bờ, chia ranh giới thửa đất (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010)
- DĐĐT đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc như thu hồi nợ đọng của hộ xã viên, giải quyết tình trạng trang chấp, lấn chiếm đất đai, những nghi kỵ, ngờ vực do việc giao đất không công bằng; tạo được không khí hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết trong thôn, xóm, khích lệ sản xuất, làm giàu chính đáng
- DĐĐT đã tạo động lực cho sản xuất phát triển; huy động được nguồn lực kinh tế của hộ nông dân; phát huy tính tự chủ của đơn vị cơ sở, hộ có điều kiện đầu tư thâm canh, bố trí lại cơ cấu sản xuất, thời vụ, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng để tăng vụ, tăng năng suất, lao động, tạo ra nhiều sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao Theo số liệu báo cáo của các địa phương, sau thực hiện dồn điền đổi thửa một vài vụ, năng suất cây trồng tăng từ 15 - 20%, giá trị thu nhập tăng từ 13 triệu đồng/ ha/năm lên
18 triệu đồng/ ha/năm và có nhiều diện tích đạt tới 25 - 30 triệu đồng/ ha/năm Nhiều địa phương sau thực hiện dồn điền đổi thửa đã sắp xếp lại lực lương lao động, rút được lao động dư thừa sang làm ngành nghề khác như sản xuất tiểu
thủ công nghiệp ở Thọ Xuân (Thanh Hoá), Từ Sơn, Tiên Du (Bắc Ninh) (Tổng
cục địa chính, 1997)
- Phần lớn các hộ nông dân sau khi DĐĐT đã tiết kiệm được thời gian lao động, giảm chi phí, giảm công "chạy đồng" trước đây từ nhiều xứ đồng, nhiều thửa ruộng nay tập trung đầu tư cho 2 - 5 thửa thuộc 2 - 3 xứ đồng, có điều kiện để cải tạo đất, làm kỹ hơn các khâu canh tác, chăm sóc đồng ruộng và ứng
Trang 32phó kịp thời để phòng chống thiên tai và những rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp (Tổng cục địa chính, 1998)
* Tình hình dồn điền đổi thửa ở Thanh Oai
Tuy không phải một tiêu chí cụ thể nhưng dồn điền đổi thửa có tác động
và ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết các tiêu chí trong chương trình xây dựng nông thôn mới Xác định rõ tầm quan trọng, huyện Thanh Oai đã tập trung chỉ đạo các chuyên môn và chính quyền các xã, thị trấn bám sát cơ sở hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Hàng tuần, thành viên Ban Chỉ đạo của huyện, của xã và tiểu ban dồn điền đổi thửa tổ chức họp giao ban để kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc đưa ra biện pháp khắc phục Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân, Thanh Oai đã hoàn thành dồn điền đổi thửa trên 8.200 ha Thông qua công tác dồn điền đổi thửa, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đều được quy hoạch lại và hệ thống giao thông nội đồng, kênh mương tưới tiêu cũng được điều chỉnh phù hợp Thực tế, mỗi hộ gia đình trước dồn điền đổi thửa có 7 - 15 thửa ruộng Đến nay, chỉ còn
1 - 2 thửa, thuận lợi cho đầu tư thâm canh, giảm chi phí sản xuất, nâng cao giá trị thu nhập cho nông dân Cũng nhờ dồn điền đổi thửa mà diện tích đất sản xuất nông nghiệp dôi dư do phá vỡ bờ vùng, bờ thửa đưa vào quỹ đất công của các xã
Điểm nhấn sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa đem lại giá trị kinh tế cao Đơn cử như mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở các xã Liên Châu (145 ha), Hồng Dương (90 ha) cho giá trị thu nhập trên 300 triệu/ha/năm; mô hình chăn nuôi tập trung xa khu dân
cư ở xã Tân Ước quy hoạch 15 ha chăn nuôi tập trung thực hiện được 7 ha, xã Kim Thư (15 ha) cho giá trị thu nhập trên 1 tỷ đồng/ha/năm; mô hình trồng cam Canh tại xã Kim An (70 ha), Cao Viên (50 ha) cho giá trị trên 800 triệu -1
tỷ đồng/ha/năm Thống kê, toàn huyện đã chuyển đổi được 1.118 ha, trong đó nuôi trồng thuỷ sản trồng lúa và nuôi cá 680 ha, rau an toàn 108 ha, cây ăn quả
393 ha, chăn nuôi tập trung xa khu dân cư 37 ha Các mô hình chuyển đổi đã cho kết quả cao gấp 4 đến 5 lần so với cấy lúa Ngoài ra, các xã, thị trấn đã
Trang 33thực hiện quy hoạch các vùng sản xuất theo quy hoạch xây dựng nông thôn mới, tạo các vùng sản xuất tập trung với tổng diện tích quy hoạch chuyển đổi đến năm 2020: rau an toàn 337,24 ha, cây ăn quả 348,81 ha, hoa và cây cảnh 69,89
ha, lúa + cá + vịt 312,1 ha, nuôi trồng thủy sản 638,78 ha, chăn nuôi tập trung 131,14 ha và 5.000 ha chuyên trồng lúa hàng hoá Những hộ có nhu cầu sản xuất chuyển đổi được ưu tiên dồn vào các vùng quy hoạch sản xuất tập trung Việc quy hoạch các vùng sản xuất là phù hợp với thực tế sản xuất của các địa phương nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng chuyên canh hàng hoá chất lượng
Phát triển bền vững, nâng cao giá trị
Ngoài cơ chế, chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển nông nghiệp của thành phố, huyện Thanh Oai rất năng động hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi Trong đó, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được tiến hành thường xuyên như hỗ trợ đưa các giống mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hoá Hàng năm, huyện đầu tư hỗ trợ 50% giá giống lúa mới, chất lượng cao, 40% giá giống một số cây trồng vụ đông, hỗ trợ 50% giá một số loại máy như: máy làm đất, máy cấy, máy gặt, máy phun thuốc trừ sâu Trong chăn nuôi, đẩy mạnh việc chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch, ngoài các chương trình hỗ trợ của thành phố, huyện đã đầu tư hỗ trợ kinh phí mua thuốc khử trùng vệ sinh
ở các nơi có nguy cơ cao, các vùng nuôi trồng thuỷ sản chuyển đổi, hỗ trợ công tiêm phòng, kinh phí mở các lớp tập huấn kỹ thuật với kinh phí đầu tư cho nông nghiệp trên 10 tỷ đồng mỗi năm
Có thể nói, chủ trương thực hiện dồn điền đổi thửa gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên địa bàn huyện đã tạo điều kiện quan trọng để thực hiện Chương trình số 02-CTr/TU của Thành uỷ Hà Nội về “Phát triển nông nghiệp xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân” trên địa bàn huyện Sản xuất nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến cả về năng suất, chất lượng, giá trị thu nhập trên đơn vị canh tác tăng qua các năm Nhiều chương trình dự án, những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp giúp người dân giảm chi phí sản xuất, giải phóng sức lao
Trang 34động cho người dân sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập Chương trình cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được đẩy mạnh ứng dụng vào sản xuất: máy cấy, máy làm đất, máy gặt đập liên hoàn… Những diện tích cấy lúa kém hiệu quả đã được chuyển đổi sang các mô hình trang trại phù hợp hơn
để mang lại hiệu quả cao trên đơn vị diện tích canh tác…
Những hiệu quả trong quá trình dồn điền đổi thửa gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đã thực sự góp phần vào sự phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho nhân dân, góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện Thanh Oai
1.4 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Dân Hòa
1.4.1 Mục đích, yêu cầu, phạm vi đối tượng, nguyên tắc thực hiện nghiên cứu
Mục đích
+ Khắc phục cơ bản tình trạng ruộng đất sản xuất nông nghiệp phân tán, manh mún, tạo điều kiện cho việc cải tạo, thiết kế đồng ruộng, thâm canh, tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tiết kiệm sức lao động, giảm giá thành; hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh; tạo thuận lợi cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đạt hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, rà soát điều chỉnh bổ sung các quy hoạch như: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sản xuất nông nghiệp của Thành phố; Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các xã đã được phê duyệt; Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ của các xã để đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới
- Rà soát, tập trung quỹ đất công ích vào các khu vực cụ thể để thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng đất đai và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất công ích ở từng cơ sở bảo đảm theo quy định của pháp luật hiện hành
Trang 35- Tạo sự công bằng, dân chủ trong quần chúng nhân dân, tạo phong trào sôi nổi, cuốn hút toàn thể nhân dân cùng tham gia để thực hiện xây dựng nông thôn mới thành công
- Khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân có tiềm lực kinh tế, có trình độ chuyên môn về khoa học, kỹ thuật nông nghiệp tự nguyện trao đổi ruộng đất
để tập trung đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phát triển kinh tế trang trại, cải tạo các vùng trũng để phát triển mô hình lúa - cá hoặc chuyên nuôi trồng thuỷ sản
- Lập hồ sơ địa chính, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; từng bước nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý đất đai của Nhà nước ở các cấp
Yêu cầu
- Mỗi hộ nông dân sau khi thực hiện xong việc “dồn điền, đổi thửa”, bình quân có từ 1-2 thửa đất (thửa ruộng); khuyến khích các hộ nông dân chuyển đổi có 1 thửa ruộng
- Trong quá trình “dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp” cần kết hợp chặt chẽ và gắn liền với việc xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sản xuất nông nghiệp của Thành phố và của Huyện; Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các thôn đã được phê duyệt; Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ của các thôn, đặc biệt lưu tâm đến quy hoạch xây dựng hệ thống giao thông, thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để quỹ đất công ích thành những khu tập trung sử dụng theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hoá cho thị trường, góp phần tăng thu ngân sách cho địa phương; đảm bảo sự đoàn kết, ổn định chính trị trong thôn xóm, giúp
đỡ lẫn nhau cùng có lợi để thúc đẩy sản xuất và không làm ảnh hưởng tới mùa
vụ sản xuất nông nghiệp
Trang 36- Khi thực hiện “dồn điền, đổi thửa” khuyến khích tập trung cải tạo và
mở rộng diện tích đất có khả năng canh tác để từng bước đưa vào sản xuất nông nghiệp nhất là những diện tích mặt nước hoang hoá (thùng đào, thùng đấu, mương đường không còn sử dụng ) và đất chuyên dùng không còn phù hợp với quy hoạch
- Đảm bảo ổn định tình hình an ninh chính trị, không gây xáo trộn làm ảnh hưởng đến việc sản xuất của nhân dân; Dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp phải triển khai thực hiện đúng theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành và không làm ảnh hưởng đến quyền của người sử dụng đất
- Phấn đấu sau khi dồn điền, đổi thửa thì việc sản xuất được thuận lợi (như
ô thửa lớn, dễ áp dụng khoa hoạc kỹ thuật, giao thông, thuỷ lợi thuận tiện…)
- Tôn trọng quyền lợi các hộ nhận ruộng khoán theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ
Nguyên tắc thực hiện
- Việc dồn điền đổi thửa thực chất là cuộc vận động nhân dân bàn bạc
thống nhất dồn chuyển vị trí đóng góp diện tích Đảm bảo đúng quy định của Luật Đất đai, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi vủa người sử dụng đất đai, giữ vững tình hình ổn định an ninh, chính trị tại địa phương, dồn các thửa nhỏ
từ các khu vực khác nhau thành những thửa lớn, lô thửa phù hợp với vùng sản xuất theo quy hoạch xây dựng nông thôn mới vì vậy phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Trang 37Thứ nhất: Tổ chức thực hiện dồn điền, đổi thửa phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng ủy từ xã đến các ban chi ủy ở thôn, xóm, phố và chính quyền địa phương, sự phối hợp của các nghành, các
tổ chức chính trị xã hội và sự đồng thuận của người dân trong suốt quá trình thực hiện
Thứ hai: Dồn điền đổi thửa là nội dung quan trọng thực hiên đề án xây dựng nông thôn mới, vì vậy phải căn cứ vào quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết giao thông thủy lợi nội đồng, quy hoạch vùng sản xuất và quy hoạch khu trung tâm xã, và các công trình trọng điểm đã được duyệt theo đề án xây dựng nông thôn mới Đất công ích dồn chuyển thành vùng tập trung theo vị trí đã được quy hoạch để xây dựng các công trình công cộng của xã, của thôn, xóm, không để đất công ích đan xen với đất giao ổn định của hộ gia đinh, cá nhân Thứ ba: Phương án dồn điền, đổi thửa phải tuân thủ Luật Đất đai, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Căn cứ mức diện tích đất sản xuất nông nghiệp, được giao ổn định của hộ gia đình, cá nhân theo Nghị định 64/NĐ-CP năm 1993 của chính phủ (xã giao ngày 1/10/1992) Trường hợp diện tích của gia đình đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ kinh phí khi Nhà nước thu hồi để thực hiện các dự án hoặc đã chuyển nhượng tặng cho QSD đất thì phải đối trừ trong tổng diện tích đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình
đó Các hộ gia đình, cá nhân góp một phần diện tích đất nông nghiệp ổn định đang được sử dụng: Theo điều kiện hưởng lợi trong canh tác và tiên dụng của
cơ sở hạ tầng, để thực hiện xây dựng các công trình giao thông thủy lợi nội đồng phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch được duyệt Thứ tư: Đối với trường hợp diện tích đất nông nghiệp đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồngđược Nhà nước hỗ trợ mà phù hợp quy hoạch vùng sản xuất hiện nay thì giữ ổn định không thực hiện dồn điền, đổi thửa nhưng phải góp một phần diện tích đất ruộng để thực hiện quy hoạch giao thông thủy lợi nội đồng nếu không có đất ruộng để đóng góp xây dựng các
Trang 38công trình giao thông thủy lợi thì phải đóng góp bằng tiền tương ứng với diện tích đất ruộng theo quy định
Thứ năm: Trong quá trình dồn điền, đổi thửa có sử dụng hệ số quy đổi giữa các nhóm đất (Các vị trí đất) do các cơ sở thôn, xóm cân đối đưa ra nhân dân bàn bạc và quyết định phải ghi thành nghị quyết họp dân để thực hiện Thứ sáu: Sau khi thực hiện dồn điền, đổi thửa phải thực hiện chỉnh lý biến động đất đai và hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật, dần tiến tới cấp đổi hoặc cấp mới giấy chứng nhận QSD đất nông nghiệp cho hộ gia đình,
cá nhân
1.4.2 Nội dung và trình tự thực hiện
Nội dung
+ Kiểm tra rà soát diện tích của hộ gia đình, các nhân đã được giao đất
ổn định để sản xuất nông nghiệp và diện tích đã mua bán, chuyển nhượng hoặc bị thu hồi (nếu có) để làm cơ sở cho việc dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp phù hợp với tình hình thực tế
+ Xác định các vùng dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp phải đảm bảo không nằm trong khu vực đã có quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500 hoặc 1/2000 được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc có thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án; đặc biệt xác định, khoanh định rõ quy hoạch thuỷ lợi và giao thông nội đồng
+ Sử dụng bản đồ địa chính, bản đồ giải thửa đất nông nghiệp… để phục
vụ việc khoanh định các vùng chuyển đổi và giao thông thuỷ lợi dự kiến quy hoạch trong quá trình dồn điền, đổi thửa
+ Xây dựng phương án dồn điền, đổi thửa
- Việc xây dựng phương án dồn điền, đổi thửa là vấn đề cốt lõi trong quá trình thực hiện dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp, do đó khi xây dựng phương án cần lưu ý việc chuyển đổi ruộng phải tự nguyện, đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tế của từng thôn và các quy định của pháp luật hiện hành
Trang 39- Xác định hệ số chuyển đổi k (nếu có) tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể ở từng nơi và do nhân dân bàn bạc quyết định
- Ban chỉ đạo dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp thông báo các nội dung quy hoạch, phương án dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp để cấp uỷ, chi bộ họp bàn thống nhất ra nghị quyết sau đó tiến hành mở hội nghị quân dân chính, hội nghị hộ gia đình thảo luận họp bàn, thống nhất ra nghị quyết để tổ chức thực hiện
- Niêm yết công khai các bản đồ quy hoạch, phương án dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp tại các nơi công cộng để toàn dân biết, tìm hiểu và góp ý kiến cụ thể
- Tổng hợp các ý kiến góp ý, báo cáo ban chỉ đạo làm cơ sở điều chỉnh, hoàn thiện phương án dồn điền, đổi thửa trình UBND huyện phê duyệt để tổ chức đăng ký nhận ruộng và giao ruộng tại thực địa
- Trong quá trình giao nhận ruộng mới nên có chính sách ưu tiên các hộ nông dân thuộc chính sách, neo đơn không nơi nương tựa, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ có diện tích ít nhất 01 thửa đất tốt phù hợp với điều kiện cụ thể của từng hộ và thực tiễn của địa phương; Khuyến khích các hộ nông dân tự nguyện nhận gọn thửa, gọn khu trên cơ sở đảm bảo số diện tích của mỗi hộ trước đây đã giao
Trình tự thực hiện
+ Thành lập ban chỉ đạo, tổ giúp việc, tổ công tác
- Căn cứ vào Nghị quyết của Huyện uỷ, Kế hoạch của UBND huyện, đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu, tổ chức thực hiện có hiệu quả
- Xây dựng Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng uỷ xã về dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương
- Thành lập ban chỉ đạo, tổ công tác giúp việc, tiểu ban giúp việc chi tiết đến từng thôn trên địa bàn toàn xã:
Trang 40Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã làm trưởng ban, đồng chí Chủ tịch UBND xã làm phó trưởng ban thường trực, các đồng chí Trưởng các ban, ngành của xã, cán bộ địa chính, cán bộ thanh tra xây dựng, cán bộ tư pháp, cán bộ phụ trách nông nghiệp giao thông thuỷ lợi, văn hoá thông tin, đài truyền thanh xã, văn phòng thống kê… làm thành viên
Tổ công tác giúp việc Ban chỉ đạo cấp xã do đồng chí Chủ tịch UBND
xã làm Tổ trưởng, phó chủ tịch UBND xã phụ trách kinh tế làm tổ phó, cán bộ địa chính làm thư ký thường trực, cán bộ phụ trách nông nghiệp giao thông thuỷ lợi, văn phòng thống kê và một số cán bộ khác có uy tín làm tổ viên Tiểu ban giúp việc Ban chỉ đạo cấp xã do đồng chí Bí thư chi bộ làm Trưởng tiểu ban, đồng chí trưởng thôn làm phó tiểu ban và các đồng chí chi
uỷ viên, các ông bà phó thôn, trưởng các chi hội đoàn thể thôn và chủ nhiệm HTXNN thôn là uỷ viên
+ Công tác tuyên truyền
- Đảng uỷ - UBND xã tuyên truyền, chỉ đạo các đồng chí cán bộ, đảng viên và nhân dân cơ bản thống nhất với Nghị quyết- Đại hội Đảng bộ xã Dân Hòa lần thứ XXIII về mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015
- UBND xã tuyên truyền vận động cho cán bộ Đảng viên, ban ngành đoàn thể nhân dân nắm vững chủ trương chính sách và lợi ích của việc dồn điền, đổi thửa từ đó thống nhất tư tưởng và hành động quyết tâm hoàn thành việc dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
- Tiểu ban các thôn họp quán triệt các nghị quyết, kế hoạch chỉ đạo của các cấp, bàn biện pháp cụ thể ở cơ sở mình để triển khai thực hiện
+ Thảo luận và công khai phương án:
- Đảng uỷ xã họp thảo luận, đóng góp vào phương án dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
- Tổ chức hội nghị Đảng bộ, các đoàn thể… đóng góp ý kiến vào phương án
- Tổ chức hội nghị nhân dân ở các thôn để đóng góp ý kiến phương án dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp