1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng

69 351 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH

NGHIỆP 3

1.3.1 Quy mô doanh nghiệp: 18

1.3.2 Tốc độ tăng trưởng: 19

1.3.3 Tính thanh khoản: 19

1.3.4 Cấu trúc tài sản: 19

1.3.5 Hiệu quả hoạt động: được xem xét trên hai mảng, hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tài chính 19

1.3.6.Rủi ro kinh doanh: 21

1.3.7.Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: 21

3.4 Những kiến nghị về phía Nhà Nước: 63

KẾT LUẬN 65

PHỤ LỤC 67

Trang 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU

BẢNG:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH

NGHIỆP 3 KẾT LUẬN 65 PHỤ LỤC 67

BIỂU ĐỒ:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH

NGHIỆP 3 KẾT LUẬN 65 PHỤ LỤC 67

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đã 5 năm kể từ lúc bùng phát cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế mangtính toàn cầu, tuy nhiên nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫnchưa có nhiều dấu hiệu chuyển biến tích cực Và trong suốt khoảng thời gian này,hầu hết các quan điểm đều cho rằng, để vượt qua khủng hoảng, bên cạnh những vấn

đề vĩ mô thì bản thân mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề phải tái cấu trúc cho phùhợp với tình hình thực tại và trong đó việc “tái cấu trúc tài chính” được xem là mộtvấn đề then chốt Điều này phần nào cũng cho thấy vai trò quan trọng của cấu trúctài chính trong sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Tuy nhiên, phải táicấu trúc như thế nào, phải dựa vào cơ sở nào để có thể tạo nên một cấu trúc tàichính hợp lí nhất cho mỗi doanh nghiệp là một vấn đề không đơn giản để giải quyết.Muốn làm được, phải dựa trên tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp, phải phântích các nhân tố thực sự tác động đến cấu trúc tài chính, phải kết hợp xem xét mụctiêu hoạt động của doanh nghiệp,…Và một vấn đề khá quan trọng, đó là phải xâydựng được cấu trúc tài chính mục tiêu cho doanh nghiệp ở từng giai đoạn phát triển.Vậy, làm thế nào để xây dựng được cấu trúc tài chính mục tiêu, những giải phápnào là hữu hiệu cho thực trạng cấu trúc tài chính của doanh nghiệp,…Đây là nhữngvấn đề mà không chỉ bản thân em, trong suốt gần 4 năm đại học rất đỗi quan tâm

mà còn là nỗi bận tâm của rất nhiều doanh nghiệp Bởi vậy, trong suốt ba thángthực tập tại phòng tài chính kế toán của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng, được phầnnào cọ xát với thực tiễn doanh nghiệp và nhận ra rằng đây cũng là vấn đề mà doanh

nghiệp đang cần giải quyết, em đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Tìm hiểu các vấn đề tổng quan về cấu trúc tài chính, đánh giá thực trạng cấutrúc tài chính hiện tại của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng Từ đó hoàn thiện các mặtkhiếm khuyết trong quản trị cấu trúc tài chính của doanh nghiệp hiện tại và địnhhướng xây dựng cấu trúc tài chính mục tiêu cho tương lai

Trang 4

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp nghiên cứu mô tả,phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp phân tích hồi quy trên dữ liệulịch sử

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ phòng Tài

chính-kế toán, phòng Kinh doanh,…

+ Thu thập số liệu thứ cấp: các bảng báo cáo tài chính của CTCP Nhựa ĐàNẵng qua 3 năm từ 2009 đến 2011 Để xây dựng mô hình cấu trúc tài chính tối ưucòn sử dụng số liệu tài chính từ 31 doanh nghiệp được tập hợp từ hai nhóm ngành

cao su, nhựa-bao bì trên website: cophieu68.com

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu: cấu trúc tài chính của công ty cổ phần Nhựa ĐàNẵng

- Không gian nghiên cứu: tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng, ở phần xâydựng mô hình tính toán cấu trúc tài chính còn nghiên cứu sơ bộ về 31 công ty cùngngành

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 đến năm 2011

5 Kết cấu của đề tài: Gồm 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

- Chương 2: Thực trạng cấu trúc tài chính của công ty CP Nhựa Đà Nẵng

- Chương 3: Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty CP Nhựa Đà Nẵng

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, mặc dù đã nỗ lực hết mình nhưng vẫn không thể tránh khỏi những sai sót Vậy nên em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô nhằm hoàn thiện tốt hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo TS Đinh Bảo Ngọc đã tận tình hướng dẫn em xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài.

Đà Nẵng ngày 10 tháng 12 năm 2012

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính:

Có khá nhiều khái niệm về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, cụ thể mộtsố khái niệm hay được đề cập như sau:

Khái niệm thứ nhất: Cấu trúc tài chính là sự kết hợp giữa nợ phải trả và

vốn chủ sở hữu dùng để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp.

Khái niệm thứ hai, quan niệm về cấu trúc tài chính theo nghĩa rộng hơn, đó

là: cấu trúc tài chính phản ánh cấu trúc nguồn vốn, cấu trúc tài sản và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, có lẻ khái niệm ngắn gọn và súc tích nhất đó là:

Cấu trúc tài chính được hiểu là cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp mình.

Qua khái niệm trên cũng đủ để thấy được, cấu trúc tài chính chỉ ra cách thứcdoanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính thông qua các phương án kết hợp giữa nợ vàvốn chủ sở hữu, đề cập đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là xem xét toàn bộphần nguồn vốn (khoản mục B) của bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Đếnđây, cũng có thể thấy rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm rất hay bị nhầm lẫn là “cấutrúc tài chính” và “cấu trúc vốn” Nếu như cấu trúc tài chính là như những gì đãtrình bày thì cấu trúc vốn là một khái niệm hẹp hơn, chỉ tập trung đến nguồn vốn tàitrợ trong dài hạn của doanh nghiệp, tức cấu trúc vốn chỉ bao gồm: vốn chủ sở hữu

và các khoản nợ dài hạn (bao gồm cả nguồn nợ ngắn hạn thường xuyên)

Để đo lường cấu trúc tài chính thông thường sẽ sử dụng các chỉ số: tỷ suất

nợ (gồm tỷ suất nợ phải trả, tỷ suất nợ ngắn hạn, tỷ suất nợ dài hạn), tỷ suất tự tàitrợ (tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) hay tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu

1.1.2 Các bộ phận cấu thành nên cấu trúc tài chính:

Căn cứ vào nguồn hình thành, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được chialàm hai loại là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Các khái niệm trong phần này sẽ đượctrình bày dựa theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS (được bổ sung năm 2012),ngoài việc trình bày đặc điểm, cách thức phân loại các bộ phận nhỏ hơn, luận văn

Trang 6

còn đề cập đến ưu nhược điểm của việc sử dụng nhằm bổ sung hệ thống những kiếnthức cơ bản cho việc lí giải các quyết định sử dụng vốn ở những phần tìm hiểu bêndưới.

1.1.2.1 Vốn chủ sở hữu:

Khái niệm phân loại:

Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanhnghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt Số vốn này khôngphải là một khoản nợ và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Các thànhphần của vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường.Trong đó, vốn cổ phần thường có hai bộ phận là lợi nhuận giữ lại và vốn cổ phầnđầu tư từ chủ sở hữu Còn vốn cổ phần ưu đãi là cổ phần mà cổ đông sở hữu nó sẽđược nhận cổ tức cố định như đã công bố với thứ tự ưu tiên trước khi lợi nhuậnthuần được phân phối cho các cổ đông nắm giữ cổ phần thường

 Ưu, nhược điểm của việc sử dụng vốn chủ sở hữu

 Ưu điểm:

- Không phải hoàn trả vốn gốc

- Không gây nên áp lực tài chính

Nhược điểm:

- Giá thành (hay chi phí) của nó cao hơn chi phí của nợ

- Tínhchất không được miễn trừ thuế làm cho chi phí vốn càng cao hơn

- Khi vốn chủ sở hữu càng cao, số lượng người chủ sở hữu càng nhiều,thì áp lực về kỳ vọng của nhà đầu tư cũng như sự quản lý, giám sát của họ lên cácnhà điều hành công ty càng lớn

1.1.2.2 Nợ phải trả:

 Khái niệm, phân loại:

Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có tráchnhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế Đó là số tiền vốn mà doanh nghiệp

đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: vốn vay của ngân hàngthương mại, các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, cáckhoản nợ khách hàng chưa thanh toán Có thể chia làm hai loại chính đó là:

Trang 7

 Nợ ngắn hạn: Một khoản nợ phải trả được xếp vào loại nợ ngắn

hạn, khi các khoản nợ này:

- Được dự kiến thanh toán trong một chu kỳ kinh doanh bình thường củadoanh nghiệp; hoặc

- Được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán nămCác khoản nợ ngắn hạn có ba thành phần chính đó là:

- Vay và nợ ngắn hạn: đối tượng cho vay thường là các ngân hàng thươngmại, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi theo hợp đồng vayvốn

- Nợ các nhà cung cấp: khoản nợ này hình thành khi doanh nghiệp muahàng trả chậm, chưa thanh toán cho người bán Đây được xem là khoản nợ khôngtốn chi phí sử dụng vì doanh nghiệp chỉ hoàn trả nợ gốc không kèm lãi Tuy nhiêntrên thực tế các nhà cung cấp khi cung cấp sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho kháchhàng đều đã tính toán cả phần chi phí bị chiếm dụng vốn này vào sản phẩm Vậynên giá mua hàng trả chậm thường cao hơn so với giá hàng trả ngay Và để quyếtđịnh sử dụng nguồn này, doanh nghiệp cần cân nhắc, tính toán cẩn thận chi phí thựctế

- Nợ các đối tượng khác: các đối tượng khác ở đây là Nhà nước (thuế),người lao động (tiền lương),…Tuy nhiên, các khoản này gắn chặt với những nghĩa

vụ của doanh nghiệp và liên quan đến luật pháp nên tuy không tốn chi phí sử dụngvốn nhưng doanh nghiệp ít khi chiếm dụng nguồn này

 Nợ dài hạn: tất cả các khoản nợ phải trả khác ngoài nợ phải trả ngắn hạn

được xếp vào loại nợ phải trả dài hạn Thông thường có hai phương thức huy động

nợ dài hạn là vay ngân hàng và phát hành trái phiếu Tuy nhiên ở Việt Nam việcphát hành trái phiếu còn rất hạn chế Và với đối tượng nghiên cứu của chuyên đề sẽkhông đi sâu vào nghiên cứu hình thức này

Ưu, nhược điểm của việc sử dụng nợ:

 Ưu điểm:

- Lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế Trong khi đóthì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sở hữu phải bị đánh thuế Trên

Trang 8

nguyên tắc mà nói, nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuếdoanh nghiệp phải trả, và vì thế tăng giá trị của doanh nghiệp lên.

- Nợ rẻ hơn vốn chủ sở hữu: Nói đơn giản là lãi suất ngân hàng, hay lãisuất trái phiếu thấp hơn nhiều so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư

- Nợ giúp cho các nhà điều hành thận trọng hơn khi đầu tư

Nhược điểm:

- Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản

- Mức nợ cao còn dẫn đến những nguy cơ mất khách hàng, nhân viên tốt

và nhà cung cấp

- Ngoài ra công ty có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ

và nhà đầu tư khi công ty sắp phải ngừng họat động để trả nợ

1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu cấu trúc tài chính trong quản trị:

Như phần mở đầu đã đề cập, hiện nay cấu trúc tài chính là một trong nhữngchủ đề được các nhà nghiên cứu kinh tế rất mực quan tâm, là vấn đề được chú trọngbậc nhất của các nhà quản trị trong quá trình quản lí doanh nghiệp, nghiên cứu cấutrúc tài chính sẽ giúp giải đáp được các vấn đề sau:

- Xác định cấu trúc tài chính như thế nào là hợp lý và có lợi cho doanh nghiệp?

- Doanh nghiệp đang đứng trước những dự án lớn, vậy nên chọn nguồn vốn đầu tư nào sẽ có tối ưu nhất, có nên vay nợ hay là không?

- Nếu vay nợ, doanh nghiệp gánh chịu rủi ro ở mức độ nào?

Có thể thấy rằng, việc hiểu tường tận về cấu trúc tài chính sẽ giúp các nhàquản trị sẽ tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi ở trên, từ đó đề ra các quyết định tàitrợ đúng đắn nhằm tăng hiệu quả họat động của doanh nghiệp Gia tăng lợi nhuậncho cổ đông nhưng vẫn hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất

1.1.4 Khái niệm cấu trúc tài chính mục tiêu:

Trong hầu hết các bài nghiên cứu trong nước về cấu trúc tài chính hay cấutrúc vốn trước đây đều đề cập đến khái niệm cấu trúc tài chính (vốn) tối ưu Tuynhiên, có thể thấy rõ khái niệm và cách tính toán về giá trị này có ý nghĩa thực tiễnchưa cao Bởi lẻ, có rất nhiều nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính của doanhnghiệp, hơn nữa mục đích hoạt động của doanh nghiệp không chỉ là để tối đa hóa

Trang 9

giá trị cố phiếu vì như đã giải thích trong thực tế, giá cổ phiếu cũng bị rất nhiềunhân tố tác động và với tính bất hảo của thị trường, nó cũng không thể hiện đượchết sức khỏe tài chính thực sự của doanh nghiệp Chính từ những hạn chế ấy, luậnvăn này muốn đưa vào một khái niệm đang dần được xem trọng vì có tính thực tiễnhơn đó chính là khái niệm cấu trúc tài chính mục tiêu ( The target finacialstructure ) Cấu trúc tài chính mục tiêu được hiểu là một cấu trúc tài chính mà saukhi phân tích thận trọng các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanhnghiệp mình, nhà quản lí nhận thấy đấy là cấu trúc hợp lí nhất

Như vậy, cấu trúc tài chính mục tiêu là không bất biến, nó thay đổi tùy theođiều kiện hoạt động của doanh nghiệp (phụ thuộc vào sự thay đổi của các nhân tốtác động đến nó) Tuy nhiên, tại bất kì thời điểm nào các nhà quản lí cũng phải xácđịnh được cấu trúc này để từ đó đưa ra các quyết định về tài chính gắn liền với việchướng cấu trúc tài chính của doanh nghiệp về với mục tiêu Với những đặc tính và ýnghĩa như vậy mà việc xây dựng một mô hình cấu trúc tài chính mục tiêu cho doanhnghiệp là rất cần thiết Đây cũng chính là mục tiêu của chuyên đề này

1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá tính hợp lý của cấu trúc tài chính:

Bên cạnh việc phân tích những nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính, đểđưa ra quyết định cuối cùng về cấu trúc tài chính mục tiêu các doanh nghiệp còncần phải xem xét đánh giá và hiệu chỉnh cho đảm bảo tính hợp lý Các tiêu chí đểđánh giá tính hợp lí của cấu trúc tài chính như sau:

1.1.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá tính tự chủ:

Tính tự chủ về tài chính được thể hiện qua khả năng sử dụng nguồn lực vốn

có của chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động kinh doanh Có thể đánh giá qua các chỉtiêu sau:

Tỷ suất nợ phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản

nợ Cụ thể, sẽ cho biết trong 100 đồng tài sản của doanh nghiệp thì có bao nhiêuđồng được tài trợ bằng nguồn nợ phải trả Vậy nên, tỉ số này càng cao càng thể hiệnmức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, hay nói cách khác tính tựchủ của doanh nghiệp càng thấp

Trang 10

Ngược lại với tỷ suất nợ, tỷ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ về tàichính của doanh nghiệp Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính tự chủcao về tài chính và ít bị sức ép của các chủ nợ Doanh nghiệp càng có nhiều cơ hộitiếp nhận các khoản tín dụng bên ngoài.

Ngoài ra để đánh giá tính tự chủ về tài chính cũng có thể sử dụng chỉ tiêu:

Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu = Nợ phải trả/ Vốn chủ sở hữu

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp có các chỉ tiêu đánh giá tính tự chủcàng cao là càng tốt, bởi có một số trường hợp tỷ lệ nợ thấp là do doanh nghiệp uytín kém, không có khả năng mở rộng, thu hút vốn vay từ các chủ nợ Vậy nên đểđánh giá tính hợp lí còn cần phải kết hợp với nhiều yếu tố khác như: hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp, tính chất đặc trưng của ngành,…

1.1.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá tính ổn định:

Tính ổn định về tài trợ của doanh nghiệp thể hiện mức độ ổn định khi sửdụng các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh Tính ổn định liên quan đến nguồnvốn sử dụng tính chất thường xuyên hay tạm thời Nguồn vốn tạm thời (NVTT) lànguồn vốn có thời gian sử dụng dưới một năm và ngược lại gọi là nguồn vốnthường xuyên (NVTX) Và như vậy các nguồn vốn này sẽ bao gồm những phầnsau:

Nguồn vốn tạm thời = nợ ngắn hạn

Nguồn vốn thường xuyên = nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu

Để đánh giá tính ổn định nguồn vốn sẽ sử dụng hai chỉ tiêu:

Trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, nếu NVTX chiếm càng lớn sẽcho thấy sự ổn định càng cao trong một thời gian nhất định (trên 1 năm) đối vớinguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng Doanh nghiệp sẽ chưa chịu áp lực thanh toánnguồn tài trợ này trong ngắn hạn Ngược lại nếu tỷ suất NVTT càng lớn thể hiện

Trang 11

doanh nghiệp sử dụng nguồn vay nợ ngắn hạn càng nhiều và áp lực thanh toán đốivới doanh nghiệp như vậy sẽ càng cao.

1.1.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá tính cân bằng:

Tính cân bằng được xem xét dựa trên mối quan hệ giữa nguồn vốn với tàisản của doanh nghiệp Xem xét việc doanh nghiệp chọn nguồn vốn ngắn hay dàihạn để đầu tư cho các loại tài sản đã hợp lí chưa Vậy nên, mối quan hệ này sẽ liênquan đến thời gian sử dụng vốn và thời gian quay vòng tài sản của doanh nghiệp

Để đánh giá tính cân bằng trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp phải xem xétcả trong dài hạn và ngắn hạn

Cân bằng tài chính dài hạn thể hiện qua chỉ tiêu vốn lưu động ròng

(VLĐR ):

Có hai trường hợp đánh giá chỉ tiêu này:

- Khi VLĐR < 0: cho thấy nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài

trợ cho tài sản dài hạn, doanh nghiệp phải sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ Điều nàykhá nguy hiểm, bởi khi đầu tư vào tài sản dài hạn đòi hỏi một thời gian khá lâu mới

có thể thu hồi được vốn, trong khi các khoản nợ ngắn hạn lại chỉ trong vòng dưới 1năm doanh nghiệp đã phải thanh toán cho chủ nợ vậy nên đều này sẽ dẫn đến nguy

cơ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi các khoản nợ đến hạn là rất lớn.Trường hợp này được xem là mất cân bằng tài chính trong dài hạn

- Khi VLĐR > 0: thể hiện NVTX đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn và có

thể dư ra một phần tài trợ cho tài sản ngắn hạn Và lúc này, doanh nghiệp được xem

là cân bằng trong dài hạn Nguồn vốn lưu động dôi ra này còn được gọi là vốn luânchuyển

Cân bằng tài chính trong ngắn hạn được xem xét qua chỉ tiêu ngân quỹ

ròng, trên cơ sở xác định nhu cầu vốn lưu động ròng (NCVLĐR) để tính toán

VLĐR = NVTX – Tài sản dài hạn = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

NCVLĐR = hàng tồn kho + nợ phải thu ngắn hạn+ tài sản ngắn hạn khác

– nợ phải trả ngắn hạn (không kể nợ vay)

Trang 12

Chỉ tiêu NCVLĐR thể hiện nhu cầu tài trợ trong ngắn hạn của doanh nghiệp.

Đồng thời qua đây cũng cho thấy, nếu doanh nghiệp biết cách tận dụng các khoản

nợ ngắn hạn như : tín dụng người bán, tín dụng người mua, lương, thuế,…thì sẽgiảm áp lực nhu cầu tài trợ trong ngắn hạn

Chỉ tiêu ngân quỹ ròng thể hiện VLĐR còn lại có đủ tài trợ nhu cầu vốn

trong ngắn hạn hay không Mối quan hệ này dẫn đến hai trường hợp:

- Khi ngân quỹ ròng < 0: doanh nghiệp phải vay ngắn hạn để tài trợ.Trường hợp này được xem là mất cân bằng tài chính trong ngắn hạn

- Khi ngân quỹ ròng >0: VLĐR đủ để tài trợ nhu cầu vốn trong ngắnhạn Phần dôi ra có thể sử dụng đầu tư các chứng khoán có tính thanh khoản caonhằm tăng hiệu quả vốn nhàn rỗi

1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH

Các công trình nghiên cứu, các mô hình tính toán, xây dựng cấu trúc tàichính của doanh nghiệp đều dựa vào những lý thuyết nền tảng về cấu trúc vốn Bởivậy, trước khi đi sâu vào giải quyết các vấn đề đặt ra của chuyên đề, chúng ta sẽ tìmhiểu về các lý thuyết này theo trình tự từ truyền thống đến hiện đại

1.2.1 Quan điểm truyền thống về cấu trúc tài chính:

Theo quan điểm truyền thống về cấu trúc tài chính, khi bắt đầu vay mượndoanh nghiệp sẽ gặp thuận lợi vượt trội hơn so với bất lợi Bởi với ưu điểm tậndụng được lá chắn thuế, việc sử dụng nợ sẽ rẻ hơn so với vốn chủ sở hữu, từ đó làmcho chi phí sử dụng vốn bình quân ( WACC) của doanh nghiệp giảm nếu tỉ lệ sửdụng nợ tăng lên Công thức sau sẽ giải thích cụ thể hơn vấn đề này:

WACC= E*re/(E+D) + D*rd(1-T)/ (E+D)

Trong đó: E: giá trị vốn chủ sở hữu

D: giá trị nợ phải trả

re : chi phí sử dụng vốn cổ phần thường Nếu lợi ích quá rõ ràng như vậy thì sao doanh nghiệp không sử dụng 100%

nợ vay để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp mình? Quan điểm truyền thốngNgân quỹ ròng = Vốn lưu động ròng – NCVLĐR

= tiền và các khoản tương đương tiền + đầu tư ngắn hạn – nợ vay ngắn hạn

Trang 13

cũng đã chỉ ra được rằng khi tỉ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu tăng dần, tác động củarủi ro gia tăng do việc sử dụng nhiều nợ (nguy cơ phá sản cao hơn) sẽ khiến các chủsở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí VCSH tăng), không chỉ vậy tácđộng này còn khiến cho chi phí sử dụng nợ tăng lệ do các nhà cung cấp vốn nhìnnhận được khả năng thanh toán của doanh nghiệp đang ở mức thấp.

Tuy nhiên, quan điểm truyền thống chỉ dừng ở đó mà không có một lý thuyết

cơ sở, một mô hình thể hiện chi phí VCSH nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa nợ vàVCSH hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ Vậy nên sẽ không có

cơ sở nào để các doanh nghiệp có thể dựa vào đó tính toán cơ cấu vốn mục tiêu chodoanh nghiệp mình

1.2.2 Thuyết M&M về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp:

Năm 1958, lý thuyết M&M lấy theo tên của hai nhà kinh tế học nghiên cứu

ra nó là Franco Modigliani and Merton Miller ra đời, đã trở thành một sự kiện quantrọng trong lịch sử phát triển của lĩnh vực tài chính trên thế giới Khắc phục hạn chếcủa quan điểm truyền thống, để đưa ra những luận điểm của mình M&M đã đưa ratừng trường hợp cụ thể với những giả định chặt chẽ để làm nổi bật đối tượng cầnnghiên cứu Lý thuyết M&M dựa vào những giả định quan trọng sau đây:

- Giả định về thuế

- Giả định về chi phí giao dịch

- Giả định về chi phí khốn khó tài chính

- Giả định về thị trường hoàn hảo

Về nội dung, lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng.Mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị công ty Mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sửdụng vốn Các mệnh đề này lần lượt sẽ được xem xét trong hai trường hợp ứng vớihai giả định chính: có thuế và không có thuế

 Lý thuyết M&M trong trường hợp không có thuế:

Trong trường hợp này tất cả các giả định của M&M đều được tuân thủ nhằmđơn giản hóa vấn đề cần nghiên cứu Các giả định này bao gồm:

- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân

- Không có các chi phí giao dịch khi mua và bán chứng khoán

- Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính

Trang 14

- Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau

- Tất cả các doanh nghiệp có cùng rủi ro kinh doanh hay còn gọi là giảđịnh rủi ro đồng nhất

- Thị trường vốn là hoàn hảo:

+ Có đủ số người mua và bán trong thị trường, vì vậy không có một nhàđầu tư riêng lẻ nào có ảnh hưởng lớn đối với giá cả chứng khoán

+ Có sẵn thông tin liên quan cho tất cả các nhà đầu tư và không phảimất tiền

+ Tất cả các nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng lãi suất

+ Tất cả các nhà đầu tư đều có kỳ vọng hợp lý và kỳ vọng đồng nhất vềlợi nhuận doanh nghiệp

Mệnh đề I – giá trị doanh nghiệp: Trong điều kiện không có thuế, giá trị

công ty có vay nợ (V L ) bằng giá trị công ty không vay nợ (V U ), nghĩa là V L = V U Hay nói cách khác trong điều kiện không có thuế giá trị doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn của nó.Giá trị của một doanh nghiệp được xác định bởi tài sản ở cột bên trái của bản cân đối, chứ không phải bởi tỷ lệ của cột chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần do doanh nghiệp phát hành Do đó, không có cơ cấu vốn nào là

tối ưu và doanh nghiệp không thể tăng giá trị của mình bằng cách thay đổi cơ cấuvốn

Có một hình ảnh minh họa khá lí tưởng về phát biểu trên, đó là hình tươnghai chiếc bánh tròn bằng nhau như bên dưới, và với hai chiếc bánh ấy thì dù đượcchia theo cách nào thì giá trị của nó vẫn bằng nhau

Biểu đồ 1 : Minh họa mệnh đề I của M&M

Trang 15

Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn: lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có

quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỉ số nợ Về mặt toán

học mệnh đề này được biểu diễn bằng công thức sau:

Trong đó:

ro : lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kì vọng trên vốn chủ sở hữu

rD: lãi suất vay hay cho phí sử dụng nợ

rE : Chi phí sử dụng vốn nếu doanh nghiệp sử dụng 100% vốn cổ phần

D : Giá trị của nợ hay trái phiếu mà doanh nghiệp phát hành

E : giá trị của vốn cổ phần của doanh nghiệp

Có thể lí giải mệnh đề này như sau, khi tỷ lệ nợ của doanh nghiệp ở mứcthấp thì trái phiếu ít có rủi ro Trong trường hợp này rD độc lập với D/E, và rE tăngtuyến tính khi D/E tăng Khi doanh nghiệp vay nhiều nợ, rủi ro không thực hiệnnghĩa vụ tăng lên và doanh nghiệp phải chịu lãi suất vay nợ cao hơn Khi điều nàyxảy ra, tỷ lệ gia tăng trong rE sẽ chậm lại, doanh nghiệp càng có nhiều nợ, rE càng ítnhạy cảm với các khoản vay thêm MM cho rằng vay nợ làm tăng tỷ suất sinh lợi dựkiến từ đầu tư của các cổ đông Nhưng nó cũng làm gia tăng rủi ro của các cổ phần

của doanh nghiệp MM cho thấy rẳng rủi ro gia tăng vừa đúng bù trừ cho gia tăng trong tỷ suất sinh lợi dự kiến, nên những người nắm giữ vốn cổ phần không được lợi mà cũng không bị thiệt hại Và như vậy, trong điều kiện không có thuế chi phí

sử dụng vốn trung bình không đổi bất chấp cơ cấu vốn như thế nào Có thể minh

họa mệnh đề này bằng hình vẽ bên dưới:

Biểu đồ 2: Minh họa lý huyết M&M trong trường hợp không thuế

ro = rE + ( rD – rE) D/ E

Trang 16

(Nguồn: M&M theory, campus.murraystate.edu)

 Lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế:

Trong thực tế, việc không tồn tại thuế thu nhập doanh nghiệp như ở trườnghợp 1 là chỉ đúng đối với một số ít doanh nghiệp chẳng hạn như doanh nghiệp mớithành lập còn trong thời gian được miễn thuế, hay những doanh nghiệp đang đượchưởng chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích hoạt động sản xuất,…Còn đại đa sốcác công ty đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi hoạt động có lãi Do đó,việc xem xét trường hợp này sẽ giúp cho lý thuyết M&M có tính thực tế hơn

Mệnh đề I : trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị công ty

có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế Về

mặt toán học, có thể biểu diễn mệnh đề này như sau:

Mệnh đề II: trong trường hợp có thuế cũng giống như trường hợp không

thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn chủ sở hữu cũng có quan hệ cùng chiều với mức

độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỉ số nợ nhưng mối quan hệ này được diễn tả bằng công thức:

Có thể minh họa cho trường hợp này bằng hình vẽ bên dưới:

Biểu đồ 3: Minh họa lý thuyết M&M trường hợp có thuế

Hiện giá lá chắn thuế

VL = VU + TCD

ro = rE + ( rD – rE) ( 1 – TC ) D/ E

Trang 17

Thành tựu và hạn chế của lý thuyết M&M

Thành tựu: có thể dễ dàng nhận thấy, các giả định của M&M hầu hết

đều không tồn tại trong thực tế, tuy nhiên thuyết đã chỉ ra tính quan trọng của việcnghiên cứu cấu trúc vốn Và bằng cách áp dụng các phương trình của lý thuyếtM&M, các nhà kinh tế học có thể tìm ra các nhân tố quyết định cấu trúc vốn tối ưu,

và xem xét các nhân tố ấy tác động như thế nào đến cấu trúc vốn tối ưu Thêm mộtthành tựu to lớn nữa, đó là, từ sau khi lý thuyết M&M ra đời cho đến nay, việc cácnhà kinh tế học ra sức nghiên cứu để bác bỏ những lập luận của M&M bằng việctháo gỡ dần các giá định phi thực tế của M&M đã góp phần to lớn vào sự phát triểncủa lĩnh vực tài chính thế giới

Hạn chế : Việc đưa ra các lập luận đi kèm với những giả định về điều

kiện của thị trường hoàn hảo, còn trong thực tế thị trường luôn bất hảo đã khiến choviệc ứng dụng thuyết này vào thực tiễn rất hạn chế và khó khăn

Thuyết đánh đổi về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp đề cập đến việc mỗi doanh nghiệp quyết định cấu trúc tài chính của mình như thế nào, sử dụng bao nhiêu nợ, bao nhiêu vốn chủ sở hữu là dựa trên sự đánh đổi giữa chi phí và lợi ích.

Một doanh nghiệp có cấu trúc tài chính tối ưu được miêu tả như là sự cân bằng củagiá trị từ lợi ích của tấm chắn thuế với những chi phí khác nhau của việc phá sảnhay kiệt quệ tài chính Vậy nên các doanh nghiệp sẽ có thái độ ủng hộ việc đánh đổi

nợ với vốn cổ phần, hay vốn cổ phần với nợ cho đến khi tối đa hóa giá trị doanhnghiệp

Theo lập luận của Masulis, khi một doanh nghiệp đánh đổi nợ cho vốn cổphần thì giá trị cổ phiếu tăng lên và ngược lại khi doanh nghiệp đề nghị đánh đổivốn cổ phần cho nợ thì giá cổ phiếu lại giảm Điều này có thể được giải thích bằngnhiều cách khác nhau nhưng có lẽ do tác động của thuế là cách giải thích khá thuyếtphục Nếu hầu hết tỉ lệ nợ của các doanh nghiệp đang nắm dưới tỉ lệ nợ tối ưu (phíabên trái điểm tối ưu trong hình…) và nếu lợi ích từ tấm chắn thuế mang lại là đáng

kể thì việc đánh đổi nợ cho vốn cổ phần có thể đưa doanh nghiệp tiến gần hơn đếncấu trúc tài chính tối ưu Và ngược lại, sự đánh đổi của vốn cổ phần cho nợ có thểlàm cấu trúc tài chính kém hiệu quả hơn Vậy có thể thấy rằng, lý thuyết đánh đổi

Trang 18

dường như là một mô tả về hành vi tài chính Cấu truc tài chính của doanh nghiệp

có thể nằm trên hoặc dưới điểm tối ưu, hành vi đánh đổi của doanh nghiệp sẽ cho tabiết nó đang ở tình trạng tích cực hay tiêu cực

Biểu đồ 4: Minh họa lý thuyết đánh đổi

Nếu việc điều chỉnh cấu trúc tài chính không phát sinh nhiều chi phí, doanhnghiệp luôn nên cố gắng dịch chuyển cấu trúc tài chính của doanh nghiệp mình gầnvới cấu trúc mục tiêu

Thành tựu và hạn chế:

Thành tựu : Lý thuyết đánh đổi đã giải thích được vì sao lại có sự khác

biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành, đã đưa ra được các hành vi thích hợp chotình hình thực tại của mỗi doanh nghiệp xoay quanh vấn đề mức độ và cách thứcdoanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ

Hạn chế: Nếu theo huyết này thì có một số hiện tượng vẫn chưa thể

giải thích được Trường hợp thứ nhất, việc tại sao các công ty rất thành công lại trênnền tảng dùng nợ rất ít, nghĩa là họ không chú trọng việc sử dụng tấm chắn thuế

Trang 19

Trường hợp thứ 2, trong thực tế, khi giá cổ phiếu của các công ty đang cao và công

ty đang có nhu cầu tài trợ bên ngoài thì công ty có nhiều khả năng phát hành cổphiếu (hơn là phát hành nợ) Ví dụ, trong nghiên cứu của Marsh đối với các doanhnghiệp Anh, các biến động của giá cổ phiếu của đợt phát hành trước là một trongnhững căn cứ quan trọng nhất của việc lựa chọn giữa nợ vay và vốn cổ phần.Taggart và những nhà nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng các doanh nghiệp của

Mỹ cũng có hành động tương tự Thêm một trường hợp nữa đó là, việc đánh đổigiữa việc sử dụng nợ và vốn cổ phần không chỉ mang thông điệp như thuyết này

đã đưa ra, trong trường hợp giá trị doanh nghiệp tăng thì tỉ lệ nợ/tổng tài sản giảm

và để cân đối lại cấu trúc tài chính của doanh nghiệp thì vẫn có thể xảy ra sự đánhđổi vốn chủ sở cho nợ vay

1.2.4 Thuyết trật tự phân hạng:

Với những thành tựu và hạn chế như vừa tìm hiểu ở trên về thuyết đánh đổicủa cấu trúc tài chính, sự ra đời của thuyết trật tự phân hạng như là một sự bổkhuyết và phát triển thêm nhiều vấn đề thú vị xoay quanh cấu trúc tài chính củadoanh nghiệp

Thuyết này được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984), cho rằng:các công ty nên phát hành nợ trước khi phát hành cổ phiếu nếu nguồn lực tài chínhbên trong không đủ tài trợ cho các dự án Điều này có nghĩa là:

- Về lâu dài, các công ty nên sử dụng nguồn tài chính từ bên trong vìnguồn vốn này sẽ tăng lên mà không mang đến dấu hiệu xấu nào cho doanh nghiệp

- Nếu cần thiết phải có nguổn lực tài chính từ bên ngoài, tuy nhiên công

ty nên ưu tiên phát hành nợ trước và phát hành vón cổ phần là phương án cuối cùng

Thuyết bắt nguồn từ việc có sự bất cân xứng thông tin trên thị trường Và sựbất cân xứng này là thực tế, các giám đốc luôn biết rõ tình trạng sức khỏe của doanhnghiệp mình quản lí hơn các nhà đầu tư bên ngoài Khi ban quản trị tin tưởng rằnggiá trị cổ phiếu doanh nghiệp mình đang được đánh giá cao họ sẽ tiến hành pháthành chứng khoán Bởi các thị trường này thường chấp nhận cổ phiếu được đánhgiá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải những thông tinkhông thuận lợi cho các nhà đầu tư Kết quả là mục tiêu của nhà quản trị bị lệchhướng.Có thể thấy rằng, việc phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu chuyển tải

Trang 20

nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành nợ Điều này dẫn đến trật tự ưutiên trong huy động vốn cua doanh nghiệp.

Tiêu điểm của thuyết này là Myers và Majluf không tập trung vào kết cấu tối

ưu mà vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới, và theo họ không có một cấutúc tà chính tối ưu với các doanh nghiệp

CỦA DOANH NGHIỆP.

Để xây dựng cấu trúc tài chính mục tiêu thì việc tìm hiểu về những nhân tốảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là một khâu rất quan trọng Từnhững kết quả nghiên cứu về cấu trúc tài chính trước và thực tiễn mỗi doanhnghiệp, có thể thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanhnghiệp Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, chuyên đề chỉ tập trung vào nhữngnhân tố được xem là phổ biến, gây tác động mạnh mẽ và đặc biệt là có thể địnhlượng được

1.3.1 Quy mô doanh nghiệp:

Để đánh giá quy mô của một doanh nghiệp người ta thường đo lường bằng tổng tài sản hay tổng doanh thu của doanh nghiệp Có thể thấy, các công ty lớn

thường có rủi ro phá sản thấp, sự bất cân xứng thông tin trên thị trường cũng ít hơn

so với các công ty nhỏ, dòng tiền ít biến động, lại thêm uy tín, vị trí của các doanhnghiệp này trên thị trường là khá lớn nên khả năng thương lượng về nợ cũng tốthơn Tất cả những điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp lớn không chỉ dễ dàngtiếp cận nguồn vốn bên ngoài mà mức chi phí phát hành nợ cũng sẽ thấp hơn Vìvậy, họ sẽ tăng cường sử dụng nợ để hưởng lợi từ lá chắn thuế

Cũng đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm rút ra kết luận về quan hệ tỉ lệthuận giữa quy mô và cấu trúc tài chính như của Wiwattnakantang (1999), Huang

và Song (2002) và Chen (2004) ở các nước đang phát triển và Rajan và Zingales(1995) ở các nước phát triển,… Ở Việt Nam, các doanh nghiệp có quy mô lớnthường là các doanh nghiệp có Nhà nước nắm cổ phần chi phối, bởi vậy nên nhữngdoanh nghiệp này sẽ có nhiều cơ hội huy động các nguồn vốn từ bên ngoài so vớicác doanh nghiệp khác Vậy nên chiều hướng tác động như vậy là phù hợp

Trang 21

1.3.2 Tốc độ tăng trưởng:

Thường được đo lường bởi tốc độ tăng trưởng doanh thu hoặc tốc độ tăngtrưởng tài sản của doanh nghiệp Có thể thấy rõ, với những doanh nghiệp có sự tăngtrưởng tốt luôn cần nguồn tài trợ lớn cho tài sản của mình Trong khi đó, niềm tincủa các nhà đầu tư vào những doanh nghiệp là rất cao, vì vậy khả năng tiếp cận cácnguồn vốn từ bên ngoài là càng lớn Do đó, tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ cùngchiều với cấu trúc tài chính

1.3.3 Tính thanh khoản:

Thường được đo lường bằng khả năng thanh toán hiện hành (tỉ lệ TSNH/ nợNH) Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ vay ngắn hạn của doanh nghiệp được bảođảm từ bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn.Bởi vậy, đây được xem như sự đảm bảo vềkhả năng thanh toán các khoản vay của doanh nghiệp Các nhà đầu tư, các chủ nợ sẽnhìn vào chỉ tiêu này để đánh giá xem có nên đầu tư, hoặc có nên cho vay haykhông Vậy nên nhân tố này sẽ có tác động cùng chiều đến cấu trúc tài chính củadoanh nghiệp

1.3.4 Cấu trúc tài sản:

Được đo lường thông qua chỉ số TSCĐ hữu hình trên tổng tài sản Có thểthấy, tài sản cố định thường chiếm tỉ trọng lớn trong giá trị tài sản của doanhnghiệp, và khi doanh nghiệp đi vay nợ thông thường đều cần phải có tài sản thếchấp, vậy nên trên lí thuyết, TSCĐ hữu hình có mối quan hệ tỷ lệ thuận (+) với đònbẩy tài chính Hơn nữa, giá trị thanh lý của doanh nghiệp cũng tăng lên khi cóTSCĐ hữu hình và làm giảm thiệt hại trong trường hợp công ty phá sản Nghiêncứu của Titman và Wessels (1988), Rajan và Zingales (1995) ở các nước phát triển,Chen (2004) ở Trung Quốc cũng cho thấy mối quan hệ này là tồn tại

1.3.5 Hiệu quả hoạt động: được xem xét trên hai mảng, hiệu quả kinh doanh và

hiệu quả tài chính

Hiệu quả kinh doanh: đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như: khả năng sinh lời trên tài sản ( tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản - ROA), khả năng sinh lời trên doanh thu ( tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu) Ứng dụng lý thuyết trật tự phân hạng tại đây để xem xét

sự tác động của hiệu quả hoạt động lên cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Theo

Trang 22

đó, các nhà quản trị có xu hướng ưu tiên sử dụng các nguồn vốn nội bộ trước rồimới đến các nguồn vốn vay mượn bên ngoài Và như vậy, khi hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp càng tốt hay lợi nhuận kinh doanh càng cao, doanh nghiệp sẽ cónguồn tài trợ nội bộ dồi dào, từ đó dẫn đến việc ít sử dụng thêm nguồn tài trợ bênngoài và tỉ số nợ sẽ giảm Và kết quả dẫn đến việc các công ty có kết quả hoạt độngkinh doanh tốt thường có tỷ lệ nợ thấp Cụ thể các nghiên cứu thực nghiệm củaTitman và Wessels (1988), Rajan và Zingales (1995) ở các nước phát triển, Pendey(2001), Huang và Song (2002) ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, Chen (2004) ởTrung Quốc và ở Việt Nam là của thầy Khôi Nguyên (2006) trên các doanh nghiệpvừa và nhỏ cũng chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉsuất nợ Xét thấy, tại Việt Nam, với nền kinh tế tài chính mới phát triển thì việc bấtđối xứng thông tin càng lớn, vậy nên lập luận về chiều tác động như trên là phùhợp.

Hiệu quả tài chính: phản ánh kết quả hoạt động tài chính của doanh

nghiệp, được đo lương thông qua chỉ tiêu tỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Để xem xét mối quan hệ của nhân tố này đến cấu trúc tài chính của doanhnghiệp ta sẽ sử dụng phương trình Dupont:

ROE = [RE + (RE – I) * D/E] * (1 – T)

Cần giải thích thêm một vài đại lượng trong phương trình trên Sử dụng REthay vì phương trình giữa ROA và ROE bởi RE là khả năng sinh lợi của tài sản đãloại trừ ảnh hưởng của cấu trúc tài chính ( RE = (LNTT + chi phí lãi vay)/ TTS) )

Vì vậy phương trình sẽ chỉ tập trung xem xét mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính(ROE) và cấu trúc tài chính (D/E) Còn I là lãi suất bình quân của việc sử dụng nợvay

Có thể thấy, sự tương quan của ROE với D/E (cấu trúc tài chính) của doanhnghiệp là thuận hay nghịch phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa RE và I Nếu RE > I,hiệu quả kinh doanh thực sự lớn hơn lãi vay, doanh nghiệp sẽ có thể tận dụng đònbẩy tài chính để tăng tỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, vậy nên trường hợp nàyluôn khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nợ, hay hiệu quả tài chính có quan hệcùng chiều với cấu trúc tài chính Ngược lại, nếu RE < I, việc sử dụng càng nhiều

Trang 23

nợ càng gia tăng rủi ro và phần lỗ của doanh nghiệp, vậy nên hiệu quả tài chính cóquan hệ ngược chiều với cấu trúc tài chính Tuy nhiên, các doanh nghiệp niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam phần lớn đều làm ăn hiệu quả, vì nếu doanhnghiệp làm ăn thua lỗ theo quy định số 168/ QĐ _SGDHCM, là trong 2 năm liêntiếp và quy định niêm yết trên sàn HNX là … phải tạm dừng giao dịch chứng khoánniêm yết Vậy nên, trường hợp phổ biến chung ở đây sẽ là RE >I, và việc sử dụng

đòn bẩy tài chính để khuếch đại ROE là có thể phát huy được tác dụng.

1.3.6 Rủi ro kinh doanh:

Rủi ro kinh doanh được hiểu là rủi ro gắn liền với sự không chắcchắn, sự biến thiên về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Rủi ro này có thể xuấtphát từ chính đặc thù ngành nghề kinh doanh hay từ năng lực quản lí của doanhnghiệp Để đo lường rủi ro kinh doanh chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trongnghiên cứu thực nghiệm là chỉ tiêu độ lệch chuẩn của lợi nhuận kinh doanh Có thểthấy rõ, khi rủi ro của doanh nghiệp càng tăng thì niềm tin của các nhà đầu tư, cácchủ nợ vào doanh nghiệp sẽ càng giảm Từ đó, làm hạn chế khả năng vay nợ, khiếncho doanh nghiệp ít có thể sử dụng được nợ Vậy cấu trúc tài chính có quan hệngược chiều với rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.7 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:

Từ đầu chuyên đề đến giờ ta luôn đề cập đến lợi ích lớn nhất của việc sửdụng nợ là việc tận dụng được tấm chắn thuế Vậy cụ thê là như thế nào, việcnghiên cứu tác động của nhân tố này đến cấu trúc tài chính sẽ giúp làm rõ hơn Khi

sử dụng nợ vay, chi phí lãi vay sẽ được tính vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp

và như vậy sẽ được trừ khỏi lợi nhuận tính thuế Do đó, việc sử dụng nợ đã giúpdoanh nghiệp tiết kiệm được một phần khoản thuế phải nộp Với nguyên nhân tácđộng như vậy, mức độ tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp cũng trở nên khácnhau đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành Nếu doanh nghiệp có thuế suất cao sẽ

sử dụng nhiều nợ hơn và những doanh nghiệp nhận được những ưu đãi về thuế thìviệc sử dụng nợ sẽ ít hơn vì lợi ích mang lại không quá đáng kể mà còn khiến chorủi ro của doanh nghiệp tăng lên Và có thể kết luận: thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp có quan hệ cùng chiều với cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

Trang 24

Có thể tóm tắt kết quả của những phân tích ở phần 1.3 qua bảng sau:

Bảng 1: Chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến CTTC

tài sảnNhân tố tốc độ tăng trưởng tốc độ tăng trưởng doanh thu +

tốc độ tăng trưởng tài sảnNhân tố khả năng thanh khoán khả năng thanh toán hiện hành +Nhân tố cấu trúc tài sản tỉ lệ tài sản cố định/tổng tài sản +

-Nhân tố rủi ro hoạt động độ lệch chuẩn của lợi nhuận từ HĐKD Nhân tố thuế thu nhập DN tỉ suất thuế thu nhập doanh nghiệp bình quân +

Trang 25

-CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TÀI CHÍNH & CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG

TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG.

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG:

Tên công ty: Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng:

Tên giao dịch: Danang Plastic joint – stock Company

Trụ sở chính: 371 Trần Cao Vân – Thanh Khê – Đà Nẵng

Do nhu cầu phát triển đòi hỏi xí nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất Đếnnăm 1978, nhà máy được chuyển trụ sở đến 199 – Trần Cao Vân (số cũ ) nay là 371– Trần Cao Vân với cơ sở sản xuất mới được xây dựng với diện tích 17400m2 vàđược đưa vào hoạt động năm 1981

Năm 1993, theo quyết định số 1844/QĐUB ngày 29/11/1993 của UBND tỉnhQNĐN lúc bấy giờ, xí nghiệp chính thức trở thành DN nhà nước với tên gọi là công

Trang 26

Vốn điều lệ tại thời điểm thành lập doanh nghiệp là 15.872.800.000 đồng đượcchia thành 158.872 cổ phần thuộc sở hữu của 406 cổ đông trong đó gồm hai cổ đôngnhà nước chiếm tỷ lệ 31,5%, 274 cổ đông doanh nghiệp chiếm 27,33% và 130 cổđông bên ngoài chiếm chiếm 41,17%.

Ngày 09/11/2001, Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp giấy phép phát hànhchứng khoán ra công chúng cho công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng Loại chứng khoán

mà doanh nghiệp phát hành gồm hai loại: cổ phiếu ghi tên và cổ phiếu không ghi tên.Gần 30 năm hoạt động và không ngừng phát triển, công ty cổ phần nhựa ĐàNẵng đã khắc phục được những khó khăn và từng bước đi lên mở rộng quy mô sảnxuất đáp ứng nhu cầu về sản phẩm nhựa trong địa phương cũng như trong khu vực.Sản phẩm của doanh nghiệp đã dần cạnh tranh và thay thế hàng ngoại nhập, tiến đếnxuất khẩu sang thị trường nước ngoài

Thực tế cho thấy, từ những năm qua nhất là từ khi chuyển sang hình thức cổphần DN, doanh nghiệp đã từng bước nghiên cứu đổi mới mẫu mã, nâng cao chấtlượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, sản lượng vàdoanh thu tăng lên đáng kể qua các năm

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh và chiến lược hoạt động:

Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3203000011 do Sở kế hoạch vàđầu tư thành phố Đà Nẵng cấp ngày 11/12/2000, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày09/06/2008, thì ngành nghề kinh doanh chính của DPC bao gồm:

- Sản xuất kinh doanh sản phẩm từ chất dẻo bao gồm: bao bì nhựa, nhựa giadụng và các sản phẩm nhựa công nghiệp

- Bán buôn, bán lẻ các sản phẩm, vật tư, nguyên liệu và các chất phụ gia ngành nhựa

- Xuất nhập khẩu trực tiếp, kinh doanh các ngành nghề phù hợp với pháp luậtquy định

Nhằm khai thác triệt để những lợi thế về tài sản và thương hiệu cũng như dựa vàođặc điểm của sản phẩm ngành nhựa là cồng kềnh, khó vận chuyển, Công ty đã chọnphương án tập trung đầu tư đa dạng hoá các loại sản phẩm nhằm tạo ra các sản phẩm

có lợi thế cạnh tranh về mặt địa lý, có nhu cầu lớn trong các ngành công, nôngnghiệp, thuỷ sản tại miền Trung và Tây nguyên

Trang 27

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn 2009-2011:

2010/2009 2011/2010

Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 15,818,464,655 17,901,143,639 18,478,805,849 13.17% 3.23%

Trong đó: Chi phí lãi vay 587,840,501 407,125,324 1,374,829,581 -30.74% 237.69%

Trang 28

Nhìn vào bảng kết quả hoạt động của công ty CP Nhựa Đà Nẵng có thể thấy đượcdoanh thu của doanh nghiệp liên tục tăng qua các năm, năm 2009 ở mức 71.47 tỷđồng, sang năm 2010 tăng lên đến 29.62% và năm 2011 vẫn tiếp tục tăng lên nhưngtốc độ chậm hơn với 6.23% Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán trước thuế lại liên tụcgiảm qua ba năm, năm 2010 giảm 6.21% còn 7.097 tỷ đồng, năm 2011 giảm mạnh11.34% còn 6.428 tỷ đồng Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán tăng mạnh qua cácnăm, chi phí tài chính cũng có xu hướng tăng dần mà doanh thu tài chính lại giảm.Tuy nhiên, trong thời kì khủng hoảng chung của nền kinh tế, với tình hình hoạtđộng như vậy là khá tốt, lãi cơ bản trên cổ phiếu công ty vẫn đạt ở mức dương xấp

xỉ 3000 đồng, đây là một con số khá cao trong bối cảnh chung

2.2 THỰC TRẠNG CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CTCP NHỰA ĐÀ NẴNG:

Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp qua ba năm từ năm 2009 đến năm 2011được tổng hợp như sau:

Về giá trị tuyệt đối, ta có bảng sau:

Bảng 2.2 Cấu trúc tài chính của CTCP Nhựa Đà Nẵng

Nợ phải trả 12,218,095,119 13,117,816,227 19,908,588,959 Vốn chủ sở hữu 37,004,968,194 39,216,645,468 39,820,445,362 Tổng nguồn vốn 49,223,063,313 52,334,461,695 59,729,034,321

Có thể thấy rõ trong 3 năm từ năm 2009 đến năm 2011, tổng nguồn vốn củadoanh nghiệp không ngừng gia tăng qua các năm Mà sự gia tăng này chủ yếu là do

sự tăng lên của nguồn nợ phải trả Trong khi đó, nguồn vốn chủ sở hữu cũng có xuhướng tăng lên nhưng khá ít, đặc biệt chậm hơn trong giai đoạn 2010-2011

Và sự thay đổi về lượng khác nhau của từng bộ phận cũng đã khiến cho tỷ lệcủa chúng trong cấu trúc tài chính có sự thay đổi:

Trang 29

Biểu đồ 5: Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp giai đoạn 2009-2011

Biểu đồ trên cho thấy, tỷ trọng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm dần, đặcbiệt giảm mạnh vào giai đoạn 2010-2011 còn tỷ lệ nợ phải trả thì ngược lại Năm

2009, tỷ lệ nợ ở mức gần 25%, năm 2010 dường như tăng lên không đáng kể và đếnnăm 2011 đã tăng lên hơn 33%

Vậy có thể kết luận công ty CP Nhựa Đà Nẵng có cấu trúc tài chính nhìnchung khá ổn định Tuy nhiên, trong giai đoạn gần đây (bắt đầu từ năm 2011) đang

có xu hướng thay đổi nhiều, tăng cường việc sử dụng nợ hơn trước

Việc phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp sẽ không chỉ dừng lại ởnhững thành phần cơ bản của cấu trúc tài chính doanh nghiệp Để hiểu rõ hơn bảnchất của từng phần này và qua đó có cái nhìn sâu rộng hơn về tình hình hoạt động,quan điểm quản trị doanh nghiệp nhằm lý giải một phần thực trạng cấu trúc tàichính của doanh nghiệp, luận văn sẽ tiến hành phân tích chi tiết từng khoản mụctrong mỗi phần

2.2.1 Phân tích cấu trúc vốn chủ sở hữu của CTCP nhựa Đà Nẵng:

Trang 30

Bảng 2.3 Phân tích cấu trúc vốn chủ sở hữu

Trang 31

Từ bảng bên có thể đưa ra những nhận xét như sau:

- Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tăng dần qua các năm, năm 2010tăng hơn 2 tỉ đồng so với năm 2009 và đạt ở mức hơn 39.2 tỉ , sang năm 2011 NVCSHcũng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ nhỏ hơn, chỉ tăng hơn 600 triệu đồng Việc tăng lênnày hoàn toàn là do sự tăng lên của các quỹ, cụ thể là là quỹ đầu tư phát triển và quỹ dựphòng tài chính

- Vốn đầu tư của chủ sở hữu chiếm tỉ trọng giảm dần trong tổng vốn chủsở hữu, từ 60.46% năm 2009, xuống còn 57.05% năm 2010 và ở mức 56.18% vào năm

2011 Việc giảm sút này là do lượng vốn đầu tư của chủ sở hữu không đổi qua 3 năm,trong khi đó các thành phần còn lại của của vốn chủ sở hữu lại thay đổi với xu hướngchung là tăng lên nên làm tăng vốn chủ sở hữu Tham khảo mục 10.b trong bảng thuyếtminh ta sẽ thấy rõ thêm, phần vốn đầu tư của chủ sỏ hữu không chỉ bảo toàn về tổnglượng mà tỉ lệ vốn góp của các nhóm cổ đông cũng không thay đổi Cụ thể: nhà nướcnắm giữ 15%, công ty CP nhựa Bình Minh 29%, các đối tượng khác là 56% Với việcnắm giữ 29% vốn cổ phần của DPC công ty CP nhựa Bình Minh được xem là cổ đôngchiến lược của DPC Và hai công ty này đã đặt vấn đề sáp nhập lại trên phương diệnđôi bên cùng có lợi, cùng phát triển sản phẩm, mở rộng thị trường Vấn đề được đưa ra

từ ngày 7/8/2008 khi DPC ký biên bản ghi nhớ với BMP thoả thuận việc đưa phương

án sáp nhập DPC và BMP vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng cổ đông năm tàichính 2008 của hai bên Tuy nhiên, cho đến nay mọi việc vẫn chưa được thống nhất vàchưa đi đến kết luận cuối cùng Thêm một điểm cần lưu ý đó là, tham khảo mục 10.dcủa bảng thuyết minh cho thấy 100% vốn cổ phần của doanh nghiệp là cổ phần thường,việc doanh nghiệp ko sử dụng cổ phần ưu đãi là trong những thuận lợi giúp đơn giảnhóa quá trình tính toán cấu trúc tài chính mục tiêu sau này mà ko cần giả định

- Tương tự, tỉ lệ của thặng dư vốn cổ phần cũng giảm dần qua 3 năm trongkhi giá trị của mục này vẫn không thay đổi Việc không thay đổi về lượng của mục nàyqua 3 năm cho ta thấy được rằng trong suốt 3 năm qua doanh nghiệp không tiến hànhđợt phát hành thêm cổ phiếu nào kể từ đợt phát hành

- Giá trị cổ phiếu quỹ của doanh nghiệp bằng 0, điều này cho thấy 100%

cổ phiếu của doanh nghiệp đang lưu hành Kết hợp với thặng dư cổ phần trong lần pháthành gần nhất có thể thấy cổ phiếu hay chất lượng của doanh nghiệp được đánh giá khá

Trang 32

cao trên thị trường Và đây cũng là một lợi thế khi nghiên cứu doanh nghiệp, vì với giátrị cổ phiếu quỹ bằng 0 cũng đồng thời góp phần tạo nên sự chính xác hơn cho quá trìnhtính toán cấu trúc tài chính đưa ra sau này mà ko cần giả định cổ phiếu quỹ bằng 0.

- Chênh lệch tỉ giá hối đoái của doanh nghiệp vào năm 2009 gần 1,2 triệuđồng làm giảm giá trị của vốn chủ sở hữu Tuy đây là con số khá nhỏ nhưng doanhnghiệp cũng đã kịp thời thực hiện các biện pháp phòng ngừa cho những hợp đồng giaodịch ngoại tệ sau Bằng chứng cụ thể khoản mục này trong những năm 2010, 2011 đềubằng 0 Đây là một trong những điểm được đánh giá cao

- Việc gia tăng của các quỹ đầu tư và phát triển, quỹ dự phòng cho thấydoanh nghiệp khá thận trọng, các quỹ này sẽ là những nguồn hữu hiệu trong lúc nềnkinh tế khó khăn và những tình huống xấu nhất có thể xảy ra Các quỹ sẽ giúp doanhnghiệp chủ động hơn trong việc sử dụng vốn và đối phó với những vấn đề bất thườngxảy đến

- Lợi nhuận chưa phân phối của doanh nghiệp liên tục giảm mạnh qua cácnăm, từ 7.23 tỉ (19.54%) năm 2009, xuống còn 6.46 tỉ (16.47%) năm 2010, và chỉ còn5.3 tỉ (13.32%) vào năm 2011 Lợi nhuận giảm mạnh là do ảnh hưởng của tình hìnhkhủng hoảng chung của nền kinh tế toàn cầu, mặc dù doanh thu cũng liên tục tăng lênnhưng tốc độ tăng lại không bù đắp được sự tăng nhanh của giá vốn hàng bán (do sựtăng mạnh của giá nguyên vật liệu đầu), thêm vào đó còn có những khoản lỗ từ chi phítài chính và sự tăng lên của hầu hết các khoản chi phí khác

- Việc giá trị của nguồn vốn đầu tư XDCB và các nguồn kinh phí quỹ khác(bao hàm nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ) điều có giá trị bằng 0 Trong khi đó,quan sát sơ qua bảng cân đối kế toán ở khoản mục tài sản cố định hữu hình có thể thấy

đã được khấu hao gần hết Điều này cho thấy, 3 năm qua và trong tương lai gần sắpđến, doanh nghiệp vẫn chưa có những kế hoạch đầu tư mới cơ sở vật chất Qua tìmhiểu, các máy móc thiết bị ở doanh nghiệp tuy đã khấu hao gần hết nhưng chất lượngvẫn còn sử dụng tốt, doanh nghiệp chỉ chú trọng mua sắm đối với những thiết bị thực

sự cần thiết Quả thực, trong thời kì nền kinh tế đang còn thiếu ổn định như thế này,việc đầu tư nhiều vào tài tài sản cố định là rất rủi ro, nên trước mắt khi doanh nghiệpchưa có một kế hoạch kinh doanh mới mang tính chiến lược nào thì đây là một quyếtđịnh sáng suốt

Trang 33

Bảng 2.4 Phân tích cấu trúc nợ phải trả

Trang 34

-Quan sát bảng trên có thể nhận thấy nợ phải trả của doanh nghiệp chủ yếu là nguồn

nợ ngắn hạn, nguồn này chiếm đến 86.86% tổng nợ phải trả vào năm 2009 với giátrị hơn 10.6 tỉ đồng Sang năm 2010, con số này tăng lên hơn 2.1 tỉ đồng, thêm vào

đó nguồn nợ dài hạn giảm đáng kể chỉ còn ít hơn 1/4 giá trị năm 2009, và ở mứcxấp xỉ 340 triệu đồng, đã làm cho chỉ tiêu này tăng vọt lên mức 97.41%, một tỉ lệkhá cao Tuy nhiên, đến năm 2011, lượng tăng lên của nợ ngắn hạn cũng khá ổnđịnh ở mức cũ, nhưng tỉ trọng lại giảm xuống nhanh chóng, chỉ còn 74.94%.Nguyên nhân là do trong năm này nợ dài hạn tăng đột ngột đến gần 15 lần so vớinăm 2010, đạt mức gần 5 tỉ đồng Để thấy rõ nguyên nhân biến động của cấu trúc

nợ phải trả của doanh nghiệp trong giai đoạn này, chúng ta sẽ tiếp tục phân tích cụthể hơn từng khoản mục chi tiết

Về cơ cấu nợ ngắn hạn, nguồn luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất là vay và nợ ngắnhạn, với 66.89% vào năm 2009, 56.79% vào năm 2010 và ở mức 64.68% vào năm

2011 Nhìn chung, giá trị của khoản mục này khá ổn định qua các năm Và trongchính sách sử dụng nợ của doanh nghiệp thì nguồn này chủ yếu chỉ sử dụng choviệc mua nguyên vật liệu sản xuất trong kì

Trong năm 2010, hầu hết giá trị các khoản mục chi tiết của nguồn nợ ngắn hạn đềutăng lên, đáng kể nhất là khoản người mua trả tiền trước, phải trả người lao động vàquỹ khen thưởng phúc lợi Cụ thể:

- Khoản người mua trả tiền trước tăng lên hơn 11 lần so với năm 2009,

có giá trị hơn 1.2 tỉ đồng và vươn lên chiếm 9.56% nguồn nợ ngắn hạn Có sự tănglên nhanh chóng này là do trong thời gian này công ty chú trọng sản xuất các mặthàng mang tính đặc thù, như các ống nhựa lớn dùng trong xây dựng,.…Đây lànhững sản phẩm mà việc sản xuất được thực hiện theo đơn đặt hàng, vậy nên kháchhàng cần ứng trước một khoản tiền

Ngày đăng: 08/04/2016, 14:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến CTTC - Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng
Bảng 1 Chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến CTTC (Trang 24)
Bảng 2.3. Phân tích cấu trúc vốn chủ sở hữu - Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng
Bảng 2.3. Phân tích cấu trúc vốn chủ sở hữu (Trang 30)
Bảng 2.4. Phân tích cấu trúc nợ phải trả - Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng
Bảng 2.4. Phân tích cấu trúc nợ phải trả (Trang 33)
Bảng 2.7.  Các chỉ tiêu đánh giá tính cân bằng - Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng
Bảng 2.7. Các chỉ tiêu đánh giá tính cân bằng (Trang 39)
Bảng 2.8. Mã hóa các biến - Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng
Bảng 2.8. Mã hóa các biến (Trang 42)
Bảng 2.9: Thống kê mô tả các biến - Hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty cổ phần nhựa đà nẵng
Bảng 2.9 Thống kê mô tả các biến (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w