1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang

49 537 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 793,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trẻ em dưới 5 tuổi là thời kỳ phát triển đặc biệt, là lứa tuổi phát triểnnhanh, tình trạng dinh dưỡng chịu ảnh hưởng chủ yếu vào sự nuôi dưỡng vàchăm sóc trẻ Suy dinh dưỡng (SDD) ở lứa tuổi này ảnh hưởng rất lớn đến sựphát triển thể chất và tinh thần của trẻ về sau Mặc dù, suy dinh dưỡng ít khi

là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong (trừ trường hợp nạn đói hoành hành)nhưng suy dinh dưỡng được cho là yếu tố liên quan đến tử vong của khoảng54% trẻ em (10,8 triệu) ở các nước đang phát triển [49]

Theo báo cáo của Quỹ nhi đồng của Liên hiệp quốc (UNICEF), trên thếgiới hiện có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân, phần lớn tậptrung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin [44]

Tính đến năm 2010, Việt Nam còn khoảng 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổiSDD thể nhẹ cân, 2,1 triệu trẻ SDD thể thấp còi, hơn 50 nghìn trẻ SDD thểgầy còm và phân bố SDD không đều ở các vùng sinh thái khác nhau [34]

SDD là hậu quả trực tiếp của thiếu ăn và bệnh tật, hậu quả gián tiếp củatình trạng bất an ninh lương thực, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ yếu kém, trình

độ văn hoá thấp…[34]

Hậu quả của SDD là rất lớn Bên cạnh những ảnh hưởng đối với sức khoẻ,SDD còn gây thiệt hại hàng tỷ đôla mỗi năm ở các nước đang phát triển Nếugiải quyết được vấn đề SDD, GDP ở những quốc gia này có thể tăng 2-3% [62]

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em, xác định các yếu tố liên quan công việc thiết yếu quan trọng nhằm xác định thực trạng tình hình SDD củatrẻ, nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp gây SDD cùng các yếu tố liên quan Từ

-đó có giải pháp phù hợp để cải thiện, hạ thấp tỷ lệ SDD trẻ em Đồng thời tìnhtrạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cũng được coi là một trong những chỉtiêu quan trọng phản ánh chất lượng cuộc sống xã hội, sự phát triển của cộngđồng, đánh giá tiềm năng của các nước nghèo cũng như các quốc gia đangphát triển [41]

Có nhiều biện pháp cải thiện, hạ thấp tỉ lệ SDD trẻ em, nhưng can thiệpdinh dưỡng cho trẻ SDD tại cộng đồng là một trong những giải pháp ngắn hạn

Trang 2

nhưng hiệu quả, giúp khắc phục một trong những nguyên nhân trực tiếp gâySDD đó là thiếu ăn

Yên Sơn là huyện của tỉnh miền núi Tuyên Quang, điều kiện kinh tế xãhội còn rất nhiều khó khăn; việc chăm sóc dinh dưỡng - sức khoẻ cho trẻ emdưới 5 tuổi còn nhiều hạn chế

Để góp phần tìm ra giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hộitrong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bànhuyện Yên Sơn, vấn đề đặt ra và cần thiết giải quyết đó là:

- Tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn huyện Yên Sơn năm 2011

là bao nhiêu?

- Những yếu tố liên quan đến tỷ lệ SDD trên địa bàn là gì?

- Can thiệp dinh dưỡng ngắn hạn cho trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn có cảithiện được tình trạng dinh dưỡng của trẻ hay không?

Vì vậy, đề tài "Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sung dinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang" đã được triển khai tại Yên Sơn từ tháng 4 đến tháng 10 năm

2011 Mục tiêu của đề tài là:

1 Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơntỉnh Tuyên Quang năm 2011

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5tuổi tại huyện Yên Sơn

3 Đánh giá kết quả bổ sung dinh dưỡng bằng sữa đậu nành cho trẻ emdưới 5 tuổi sau 6 tháng can thiệp

Trang 3

Chương I TỔNG QUAN

I Tình trạng SDD của trẻ em hiện nay

Suy dinh dưỡng là thuật ngữ được hiểu là cả thiếu dinh dưỡng và thừadinh dưỡng [49] Nhưng trong đề tài này, thuật ngữ suy dinh dưỡng chỉ đề cậpchủ yếu đến vấn đề thiếu dinh dưỡng

1.1 Tình trạng SDD của trẻ em trên thế giới

Mặc dù đã có sự tiến bộ đáng kể trong công tác phòng chống SDD songnhìn chung tỷ lệ SDD trên thế giới còn cao Ước tính khoảng 156 triệu trẻ em

- khoảng 28% tổng số trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị SDD thểthấp còi, riêng các nước thuộc khu vực sa mạc Sahara Châu Phi có 61% số trẻ

và các nước Nam Á có 52% [50], 146 trẻ SDD thể nhẹ cân, khoảng 30 triệutrẻ - khoảng 23,8% tổng số trẻ sơ sinh có cân nặng sơ sinh dưới 2.500 gram[49] Theo UNICEF, hàng năm có hơn 10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trong đó cómột nửa trong giai đoạn chu sinh đã chết vì SDD và các bệnh có thể phòngchống được Trung bình cứ 1 giờ có khoảng 800 trẻ chết vì SDD [43] Vì vậy,

từ những năm 1990, tại Hội nghị Dinh dưỡng quốc tế tại Rome, các nước đãcoi việc thanh toán nạn đói và SDD là một trong những mục tiêu quan trọngnhất của nhân loại

Những năm gần đây, cộng đồng y tế và dinh dưỡng toàn cầu tập trungvào can thiệp tình trạng béo phì và các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng đặchiệu, nhưng thiếu dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em vẫn tiếp tục là gánh nặng chocác quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [35] SDD nhẹ cân, thấp còi vàgầy còm gây ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ và sự phát triển của trẻ [34],[37, [39]

Chương trình lương thực thế giới (WFP) cho biết châu Á là nơi có sốngười sống trong tình trạng nghèo đói đông nhất thế giới và tình trạng trẻ emsuy dinh dưỡng rất đáng báo động [30]

Ngày15/9/2000, tại Hội nghị quốc tế về tình trạng SDD ở bà mẹ và trẻ

em, khai mạc tại thủ đô New Delhi - Ấn Độ, đại diện WFP đã nhấn mạnh tình

Trang 4

trạng SDD đáng báo động ở châu Á, là rào cản lớn nhất đối với tiến trình tạo

ra một lực lượng lao động khoẻ mạnh, có tri thức, làm động lực để đưa nềnkinh tế quốc gia phát triển [36] Theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc, hơn

500 triệu người châu Á không có đủ thực phẩm để đáp ứng nhu cầu dinhdưỡng hàng ngày và theo số liệu thống kê năm 2006-2008 của FAO, toàn thếgiới có tới 850 triệu người (13% dân số thế giới) bị SDD Nhiều trẻ em mớisinh ra chậm phát triển về thể chất là hậu quả của việc thiếu iốt, hoặc bị mùhoặc chết do thiếu vitamin A Nhiều phụ nữ và trẻ em bị suy yếu sức khoẻ dothiếu sắt, [32], [38] Có tới 40% phụ nữ không mang thai và 44,3% trẻ em ởcác nước đang phát triển bị thiếu máu [50]; khoảng 160 triệu trẻ em (60%) bịthiếu vitamin A (retinol huyết thanh thấp), trong đó, khu vực trung nam châu

Á tỷ lệ cao nhất, Tây và Trung châu Phi chiếm tỷ lệ 40%, Trung Nam châu

Mỹ và khu vực Caribe chiếm khoảng 10% Tỷ lệ mắc bệnh bướu cổ do thiếuiốt giao động từ 10-20%, tương đương 700 triệu người bị ảnh hưởng, khoảng1,7 tỷ người bị thiếu iốt (iốt niệu thấp), trong đó, 1,3 tỷ người ở châu Á [50]

Trong báo cáo tình hình trẻ em khu vực châu Á - Thái Bình Dươngnăm 2008, UNICEF cho biết : "Sự phân hoá giàu nghèo đang tăng lên với tốc

độ đáng lo ngại trong các tiểu vùng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương,khiến cho rất nhiều bà mẹ và trẻ em có nguy cơ bị lấn sâu vào đói nghèo vàtiếp tục bị loại trừ khỏi các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu có chất lượng"[45]

Các nước Thái Bình Dương mới chỉ giảm được 22% tỷ lệ tử vong ở trẻdưới 5 tuổi, tức là xuống còn 64 trẻ bị tử vong trên 1.000 trẻ sinh sống - đây

là một tỷ lệ giảm rất nhỏ so với các tỷ lệ dược ghi nhận ở các nơi khác trongkhu vực châu Á - Thái Bình Dương [40] Nhìn chung, mặc dù các nước ĐôngNam Á đã đạt được những thàn tích tốt là giảm một nửa số tử vong ở trẻ em

kể từ năm 1990, song sự khác biệt lớn giữa các nước cho thấy các nước nghèonhất và chậm phát triển vẫn còn đang tụt hậu [45]

1.2 Tình trạng SDD của trẻ em tại Việt Nam

Bảo đảm dinh dưỡng trẻ em có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việcnâng cao sức khoẻ, thể chất con người, chất lượng cuộc sống, chất lượng dân

số và phát triển xã hội Tháng 4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định

Trang 5

số 641/2011/TTg-CP về việc phê duyệt chiến lược nâng cao tầm vóc, thể lựcngười Việt Nam giai đoạn 2011-2030 Theo đó, vấn đề cải thiện tình trạng dinhdưỡng của nhân dân, trong đó trẻ em dưới 5 tuổi được đặc biệt chú trọng [33].

Những năm qua, công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới

5 tuổi ở Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng

Năm 1985 có tới 51,5% trẻ em SDD thể nhẹ cân, trên 60% trẻ em SDDthể thấp còi, 50% bà mẹ mang thai bị thiếu máu, mỗi năm có khoảng 5-7nghìn trẻ em bị mù do thiếu Vitamin A, 94% dân số sống trong vùng bị thiếuiốt, bệnh bướu cổ do thiếu iốt khá phổ biến, bữa ăn của người dân thiếu cả vềchất lượng và số lượng Từ đó đến nay, với nhiều chương trình như: vườn - ao

- chuồng (VAC), bổ sung thực phẩm cho trẻ em, vitaminh A liều cao cho trẻdưới 5 tuổi, bổ sung viên sắt cho phụ nữ có thai, hoạt động phòng chống bướu

cổ … [10], tỷ lệ SDD giảm đều đặn từ 1,5 đến 2% hàng năm Theo báo cáocủa UNICEF, Việt Nam được đánh giá là nước duy nhất trong khu vực châu

Á - Thái Bình Dương đạt được mức giảm SDD nhanh [23]

Tính đến năm 2010, nước ta còn 17,5% trẻ SDD thể nhẹ cân; 29,3% trẻSDD thể thấp còi; 29,2% trẻ, 36,5% phụ nữ có thai, 28,8% phụ nữ ở độ tuổisinh đẻ bị thiếu máu dinh dưỡng; 14,2% trẻ em và 35% bà mẹ cho con bú bịthiếu vitamin A thể tiền lâm sàng (Retinol huyết thanh < 0,7µmol/L) RiêngTuyên Quang, tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân và thấp còi lần lượt là 21,6% và31,7% [32]

Trang 6

Bảng 1.1 Tỷ lệ SDD qua các năm (1985- 2010) [31]

Năm điều tra

Tỷ lệ suy dinh dưỡng (%)Cân nặng/tuổi

(CN/T)

Chiều cao/tuổi(CC/T)

Cân nặng/chiều cao(CN/CC)

Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ SDD có sự chênh lệch giữa các khuvực, tỷ lệ SDD ở miền núi cao hơn ở đồng bằng, ở nông thôn cao hơn thànhthị, ở những vùng nhiều thiên tại như hạn hán, bão lụt cũng có tỷ lệ SDD dinhdưỡng cao [17]

Trang 7

Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ em năm 2010 theo vùng miền [32].

Vùng, miền Tỷ lệ suy dinh dưỡng (%)

II Nguyên nhân SDD

SDD có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhângián tiếp Nguyên nhân trực tiếp có thể kể đến đó là thiếu ăn, thức ăn nghèodinh dưỡng, bệnh tật; nguyên nhân gián tiếp có thể kể đến là tình trạng bất anninh lương thực, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ kém, nghèo đói, vệ sinh môitrường, trình độ văn hoá kém; các nguyên nhân cơ bản như hoạt động của các

cơ quan chuyên môn, sự vào cuộc, phối hợp của các cơ quan, đoàn thể, tổchức chính trị xã hội, cộng đồng trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng; sự

ổn định thể chế chính trị, chính sách phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế đúngđắn…[49], [32]

Theo UNICEF (1990) nguyên nhân SDD có thể chia thành 3 mức độ :trực tiếp, tiềm tàng và cơ bản [12] (Sơ đồ 1)

Trang 8

Thượng tầng tư tưởng và chính trị

Nguồn tiềm năng

Cơ cấu kinh tế

Nguyên nhân cơ bản

Trang 9

2.1 Nguyên nhân trực tiếp

Thiếu ăn là một trong những nguyên nhân trực tiếp của SDD Ngàynay, những nguyên nhân của đói nghèo đã được xác định rõ ràng đó là dogiáo dục kém phát triển, bùng nổ dân số, thất nghiệp, bất ổn về chính trị, thiếu

tư liệu sản xuất, như mất vốn, dụng cụ Trẻ được sinh ra trong gia đình nghèothường có nguy cơ cao đối với bệnh tật vì sống trong môi trường thiếu vệsinh, nhà cửa chật chội, đông đúc, đìều kiện sống nghèo nàn, phơi nhiễm caođối với các yếu tố nguy cơ gây bệnh tật [10] Ở các nước có thu nhập thấp, cứ

3 trẻ em dưới 5 tuổi thì có 1 trẻ bị SDD thấp còi Những ảnh hưởng của SDDtiếp diễn trong suốt cuộc đời của đứa trẻ, làm tăng nguy cơ tử vong, giảm khảnăng học tập, sa sút về trí tuệ và các khía cạnh phát triển xã hội khác [11]

Nguyên nhân trực tiếp thứ hai là các bệnh nhiễm trùng Các bệnhnhiễm trùng ảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng dinh dưỡng, do tiêu tốn nhiềunăng lượng và sự giáng hoá protein, trẻ kém ngon miệng và lượng thức ănvào giảm [1] Điều đó dẫn đến cân bằng năng lượng và nitơ âm làm trẻ tụt cân

và dẫn tới SDD

Nghiên cứu cho thấy, bệnh tật và một số nguyên nhân trực tiếp gópphần gây 54% trẻ SDD và tử vong như sau: Tiêu chảy 15%, nhiễm khuẩnđường hô hấp cấp (ARI) 18%, sốt rét 10%, HIV 4%, sởi 5%, nguyên nhânkhác 25% [49]

2.2 Nguyên nhân tiềm tàng

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạngdinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và chế độ nuôi dưỡng Sau thời kỳ bú sữa,chế độ ăn của trẻ tương đối độc lập, trẻ không còn phụ thuộc vào sữa mẹ nhưtrong giai đoạn trước, do đó việc đảm bảo nhu cầu là rất cần thiết Song dùnhu cầu bữa ăn có đầy đủ nhưng cách nuôi dưỡng không hợp lý kéo dài cũng

có thể là nguyên nhân dẫn đến SDD ở trẻ Bởi vậy cách ăn của trẻ, cách nuôidưỡng trẻ ở độ tuổi này rất quan trọng Đây là giai đoạn trẻ cần được ăn,nhưng cũng là thời điểm trẻ cần được học cách ăn, cần làm quen với nếp ănuống khoa học hợp lý Những sơ suất trong cách nuôi và cách dạy trẻ ăn đều

có ảnh hưởng xấu nhất định đến sự trưởng thành sau này của trẻ [2]

Trang 10

Mặc dù đã có sự cải thiện rõ rệt về thực hành nuôi con bằng sữa mẹnhưng tỷ lệ cho con bú sớm ngay trong giờ đầu còn thấp, một nghiên cứu ởngoại thành Hà Nội cho thấy 28,4% bà mẹ cho con bú sớm sau đẻ [3] Tỷ lệtrẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu dao động từ 2,1% ở ngoại thành

TP Hồ Chí Minh đến 37,5% ở các xã chưa có chương trình phòng chốngSDD can thiệp vào ở ngoại thành Hà Nội [30]

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), sữa mẹ chỉ thoả mãn nhu cầu trẻtrong 6 tháng đầu vì cơ thể trẻ ngày càng lớn lên, nhu cầu cũng tăng lên [2]

Để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ đến một giai đoạn nhất định, trẻ cầnđược bổ sung thức ăn khác ngoài sữa mẹ Thời gian bắt đầu cho trẻ ăn bổsung ngoài sữa mẹ là một yếu tố nguy cơ [2] Ăn bổ sung quá sớm hoặc quámuộn, thức ăn không đạt yêu cầu cả về số lượng và chất lượng đều ảnh hưởngđến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Tỷ lệ ăn bổ sung trước 4 tháng dao động từ19% vùng Đông Nam Bộ đến 39,8% vùng đồng bằng sông Hồng và 41%vùng BẮc Miền Trung Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về thời điểm cho trẻ ăn bổsung chỉ chiếm 21,2% [14]

Ngoài ra thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình, các yếu tố môi trường vàdịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng là yếu tố góp phần làm cho tỷ lệ SDD ở trẻ

em vẫn còn ở mức cao

2.3 Nguyên nhân cơ bản

Nguyên nhân cơ bản bao gồm những vấn đề liên quan đến cơ cấu kinh

tế, các yếu tố chính trị - xã hội và văn hoá của các quốc gia hay mỗi địaphương Đó là sự phân phối không công bằng các nguồn lực, thiếu nhữngchính sách phối hợp, tập quán ăn uống sai lầm đều ảnh hưởng đến tình trạngdinh dưỡng chung đặc biệt là trẻ em

III Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD

3.1 Ảnh hưởng của các vấn đề cung cấp thức ăn cho trẻ chưa hợp lý

Vấn đề sản xuất ra lương thực, thực phẩm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tớiviệc tiêu thụ lương thực, thực phẩm Ở đâu tỷ lệ suy dinh dưỡng cao đồngnghĩa là ở đó sản xuất ra lương thực còn thiếu [29], [30] Ở những vùng có tỷ

lệ SDD trên 60% thì thường có trên 50% số hộ thiếu ăn Nghiên cứu của

Trang 11

nhiều tác giả đều cho thấy khẩu phần thực tế của trẻ em Việt Nam thiếu cả về

số lượng, mất cân đối về chất lượng (khẩu phần chủ yếu là gạo, rau và gầnnhư rất ít thịt, trứng, cá) Hàm lượng protit và năng lượng khẩu phần nhóm trẻSDD thấp hơn nhóm trẻ bình thường, khẩu phần không cân đối [9] Nuôi conhoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng tuổi và tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2tuổi làm giảm bệnh tật trẻ [33] Phần lớn các nghiên cứu cho thấy trẻ dưới 1tuổi không được bú sữa mẹ đầy đủ sẽ nguy cơ mắc bệnh ỉa chảy lớn hơn sovới trẻ được bú mẹ hoàn toàn [23]

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng do người mẹ thiếu kiến thức

Kiến thức của bà mẹ trong việc chăm sóc trẻ có ảnh hưởng rất lớn tớitình trạng dinh dưỡng của trẻ Những nghiên cứu ở cộng đồng cũng thấy trong

số trẻ em SDD, có 71% là con thứ nhất, 60% các bà mẹ không biết cách chocon ăn bổ sung và không biết “tô màu bát bột cho trẻ” [6] Đối với trẻ cònđang bú mẹ, yếu tố nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung đã được nhiều tác giảquan tâm nghiên cứu và cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về trình độ văn hoácũng như kiến thức dinh dưỡng giữa nhóm bà mẹ có con SDD và nhóm bà mẹ

có con khoẻ mạnh [19], [23] Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2002,

tỷ lệ trẻ ăn bổ sung ngay ở tháng tuổi thứ 2 đã là 12,5%, trước 4 tháng tuổi là32,7% [30]

3.3 Các yếu tố do các bệnh nhiễm trùng

SDD và nhiễm trùng đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến trong nhiềunăm qua Bệnh nhiễm khuẩn là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫnđến tăng tỷ lệ trẻ em SDD, đặc biệt là bệnh tiêu chảy và viêm đường hô hấpcấp [28] Các bệnh này gây tăng nhu cầu, giảm ngon miệng, và kém hấp thụ ởtrẻ em Nghiên cứu của Hà Huy Khôi và cộng sự trên 2 lô trẻ dinh dưỡng tốt

và dinh dưỡng kém cho thấy: ở lô dinh dưỡng kém trước khi mắc SDD trẻthường rất lười ăn, ăn ít hay bị ốm vặt, tỷ lệ mắc bệnh ỉa chảy kéo dài và viêmphế quản phổi thường bị tái đi tái lại nhiều lần Như vậy trẻ lười ăn và hay ốmvặt sẽ là hai yếu tố đe dọa dẫn đến SDD nặng [9]

Trang 12

3.4 Ảnh hưởng do thiếu vi chất dinh dưỡng

Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ,miligram hoặc microgram Chúng có vai trò rất quan trọng giúp cơ thể sảnxuất các enzim, hooc môn và các chất thiết yếu khác cho cơ thể phát triển,tăng trưởng, hoạt động một cách bình thường Thiếu vi chất dinh dưỡng sẽgây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với sức khoẻ Thiếu vitamin A gâybệnh khô mắt, quáng gà thậm chí mù loà Trẻ thiếu vitamin A có nguy cơ tăngmắc các bệnh nhiễm trùng như tiêu chảy, sởi Thiếu iốt gây bệnh bướu cổ,ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ, phụ nữ mang thai thiếu iốt trầm trọng có thể

bị sẩy thai, đẻ non … Thiếu sắt, iốt, vitamin A hiện đang là vấn đề sức khoẻcộng đồng toàn cầu, đối tượng bị ảnh hưởng nhiều là trẻ em và phụ nữ, nhất là

ở các nước đang phát triển [54] Hiện nay, trên thế giới nói chung và cácnước đang phát triển nói riêng, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt đang ở mức cao,trong đó đối tượng nguy cơ cao nhất là trẻ em dưới 5 tuổi Ở Việt Nam, thiếumáu thiếu sắt trẻ em < 5 tuổi là 45,6%, nông thôn đồng bằng là 45,8%, thànhthị là 22,9%, miền núi là 53,2% Tỷ lệ thiếu máu khác nhau ở vùng sinh thái,thành phố là 38%, nông thôn là 49,4% [14] Thiếu máu làm giảm phát triển trítuệ, giảm khả năng tập trung trong học tập, kết quả học tập của học sinh bịthiếu máu thấp hơn hẳn so với trẻ bình thường; làm tăng nguy cơ đẻ non, tăng

tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và con Hiện nay, trẻ em dưới 5 tuổi lànhóm nguy cơ cao nhất ở các nước đang phát triển Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ caohơn cả tỷ lệ thiếu máu ở bà mẹ mang thai Nhất là giai đoạn 6-18 tháng tuổi,

vì nhu cầu trong giai đoạn này là cao nhất, cao hơn khoảng gấp 10 lần, tínhtheo trọng lượng cơ thể, so với người đàn ông trưởng thành [2]

Công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ em, vì sức khoẻ của trẻ em phụ thuộc vào sức khoẻ

Trang 13

và thể lực của mẹ Nếu mẹ gầy còm, ốm yếu, thiếu máu khi có thai thì đứa trẻsinh ra sẽ thiếu cân Các tác giả nhận thấy: tình trạng dinh dưỡng của nhómtrẻ ở bà mẹ chỉ số BMI < 18,5 (mẹ gầy) thấp hơn ở nhóm bà mẹ mà chỉ sốBMI > 18,5 [21].

Quy mô hộ gia đình cũng được cho là liên quan đến tỷ lệ SDD trẻ em.Những gia đình có nhiều con ( ≥ 3 con) có tỷ lệ SDD trẻ em cao hơn hẳn Lý

do có thể là đông con dẫn đến hậu quả kinh tế gia đình càng kém và điều kiệnchăm sóc trẻ em cũng kém hơn [7]

Thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, hạn hán, thiếu nước trồng trọt nênnăng suất cây trồng giảm, mất mùa, sản lượng lương thực giảm, ảnh hưởngđến an ninh lương thực, dẫn đến số hộ đói nghèo nguy cơ tăng Đồng thờithiếu nước sinh hoạt không bảo đảm vệ sinh ăn uống cũng dễ làm bệnh dịchphát sinh, phát triển Các yếu tố này đều dẫn đến nguy cơ làm tăng số trẻSDD

IV Hậu quả của tình trạng SDD

Hậu quả của SDD là rất lớn Những năm đầu của cuộc đời nếu trẻ bịSDD thì sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, để lại những hậu quả về phát triển thểchất và tinh thần cho cuộc sống khi trưởng thành

Để phòng chống thiếu cân nặng sơ sinh cho một trẻ, tiêu tốn khoảng

580 đôla; Một người khi trưởng thành thiếu 1% chiều cao, kết quả của việcSDD khi còn nhỏ, sẽ bị mất 1,4% năng xuất lao động Thanh toán được thiếumáu dinh dưỡng sẽ tăng năng xuất lao động lên 5-17% Ở Trung Quốc, béophì làm giảm GDP tới 2% và ở Ấn Độ, giảm năng xuất lao động do còi cọc,thiếu iốt, thiếu máu góp phần giảm 2,95% GDP của nước này Theo Ngânhàng thế giới, SDD trẻ em ở các nước đang phát triển làm thiệt hại hàng tỷđôla mỗi năm, nếu chỉ tính riêng giảm GDP Cải thiện điều kiện dinh dưỡngcủa người dân ở nước đang phát triển, có thể giúp GDP của những nước nàytăng 2-3% [63] Từ đó, có thể thấy SDD ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh

tế - xã hội [26]

Trong tất cả các đối tượng chịu ảnh hưởng của SDD thì trẻ dưới 5 tuổi

là đối tượng mà sự tác động này gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất [19], [27]:

Trang 14

SDD ảnh hưởng đến phát triển hành vi và trí tuệ của trẻ; làm yếu sự đáp ứngmiễn dịch, dẫn đến nhạy cảm với nhiễm trùng (NT) và vòng xoắn SDD - NT-SDD [5]; trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, diễn biến bệnh thường gặp nặng

và nguy cơ dẫn đến tử vong cao hơn trẻ bình thường WHO (2002), phân tích10,4 triệu trường hợp tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triểncho thấy có đến 5,1 triệu trẻ (49%) có liên quan đến SDD [46]

Quan điểm cho rằng phải xoá xong nghèo đói mới có thể nói đến cảithiện tình trạng dinh dưỡng (TTDD) nhưng chính thiếu dinh dưỡng lại ảnhhưởng đến sự phát triển của con người và phát triển xã hội, là nguyên nhâncủa sự nghèo đói Do đó, giải quyết tình trạng SDD là một đòi hỏi cấp bách

và phải được tiến hành đồng thời với phát triển kinh tế xã hội

Sơ đồ 2 mô tả mối liên quan, hậu quả của SDD đối với toàn bộ quátrình phát triển của một người

V Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi

5.1 Các chỉ tiêu đánh giá

Sử dụng các chỉ số nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng làphương pháp được sử dụng rộng rãi để mô tả tình trạng dinh dưỡng của cá thể

và cộng đồng Để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít nhất 3 chỉ số:

- Cân nặng theo tuổi

- Chiều cao theo tuổi

- Cân nặng theo chiều cao

Các chỉ số này sẽ được so sánh với bảng đánh giá tình trạng dinh dưỡngđược Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo áp dụng năm 2005

Ngoài ra, một số chỉ số khác cũng được sử dụng để đánh giá tình trạngdinh dưỡng như số đo vòng đầu, vòng cánh tay… nhưng hiện tại ít dùng dokhông cụ thể, chi tiết và không chính xác vì phụ thuộc vào cách đo, năng lựcthực hành

5.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Trang 15

Sử dụng quần thể tham khảo Havard là phương pháp phân loại tìnhtrạng dinh dưỡng được dùng sớm nhất, dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi.

Bảng 1.3 Phân loại SDD theo quần thể tham khảo Havard

Từ 60-75% của cân nặng chuẩn SDD độ II

Dưới 60% của cân nặng chuẩn SDD độ III

Cách phân loại này không phân biệt giữa Marassmuss và Kwasshiorkorcũng như SDD cấp hay mãn bởi vì cách phân loại này không để ý tới chiều cao

5.3 Phân loại theo Wellcome (1970)

Cách phân loại này của Wellcome phù hợp để phân biệt giữaMarassmuss và Kwashiorkor

Bảng 1.4 Phân loại SDD theo Wellcome

5.4 Phân loại theo Waterlow (1972)

Để khắc phục nhược điểm của cách phân loại Wellcome là không phânbiệt được SDD hiện tại hay quá khứ Phân loại theo Waterlow dùng cả hai chỉ

số chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao để đánh giá 50% percentilequần thể tham chiếu Harvard là điểm tham chiếu Theo đó, cả hai chỉ số đượcbiểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm trung vị như là trong phân loại Wellcome Mốctham chiếu là độ I, độ II, độ III tương ứng với 1SD, 2SD, 3SD của chỉ sốchiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao của quần thể tham chiếuHarvard [53] (xem bảng ???)

Trang 16

Bảng 1.5 Phân loại SDD theo Waterlow

5.5 Phân loại dựa vào độ lệch chuẩn SD scores hoặc Z-scores

SD scores hay Z-scores được tính theo công thức:

SD scores hay Z-scores = (Giá trị được khảo sát – Giá trị trung vị củaquần thể tham chiếu)/độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu) [55]

Trước năm 2005 WHO khuyến cáo dùng quần thể tham chiếu NCHSvới điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) hoặc dưới -2,0Z-Score để coi

là trẻ bị SDD Theo đó nếu:

* Chỉ số cân nặng theo tuổi:

- Dưới -2SD đến -3SD hoặc <-2,0 đến -3,0 Z-Score là SDD thể nhẹ cân vừa

- Dưới -3SD đến -4SD hoặc <-3,0 đến -4,0 Z-Score là SDD thể nhẹ cân nặng

- Dưới -4SD hoặc dưới <-4,0 Z-Score là SDD thể nhẹ cân rất nặng

* Chỉ số cân nặng theo chiều cao : Dưới -2SD hay dưới -2,0 Z-Score làSDD thể gầy còm (wasting)

Chỉ số chiều cao theo tuổi: dưới -2SD hay dưới -2,0 Z-Score là SDDthể còi cọc (stunning)

- Chỉ số cân nặng theo tuổi < -2SD Chỉ số này phản ánh tình trạng thiếuhụt dinh dưỡng nhưng không đánh gía được tình trạng thiếu hụt xảy ra vào

Trang 17

thời gian này hay từ trước Tuy nhiên, đây vẫn là chỉ số dễ áp dụng nhất trongcộng đồng nên vẫn được dùng như một chỉ số để đánh giá tình trạng thiếu hụtdinh dưỡng ở cộng đồng và dùng để phá hiện sớm tình trạng thiếu hụt dinhdưỡng, sau đó kết hợp với các chỉ số còn lại để đánh giá tình trạng SDD.

- SDD cấp: Chỉ số chiều cao teo tuổi bình thường, nhưng cân nặng theochiều cao < - 2SD Điều này phản ánh SDD mới diễn ra và chế độ ăn hiện tạichưa phù hợp với nhu cầu

- Suy dinh dưỡng mãn đã phục hồi: Chiều cao theo tuổi <-2SD nhưngcân nặng theo chiều cao bình thường Phản ảnh sự thiếu dinh dưỡng đã xảy ratrong một thời gian dài, nặng và sớm vì đã gây ảnh hưởng trên sự phát triểntầm vóc của trẻ Nhưng tình trạng dinh dưỡng hiện đã phục hồi, ở những đốitượng này cần thận trọng với nguy cơ béo phì vì chiều cao thấp

- Suy dinh dưỡng mãn tiến triển : Chiều cao theo tuổi < -2SD và cânnặng theo chiều cao cũng <-2SD chứng tỏ tình trạng thiếu dinh dưỡng đã xảy

ra trong quá khứ và tiếp tục tiến triển đến hiện nay

Trong đề tài này, các chỉ số nhân trắc của đối tượng nghiên cứu sẽ được

so sánh với quần thể tham chiếu tiêu chuẩn do WHO (2005) khuyến cáo ápdụng để phân loại, đánh giá tình trạng SDD của trẻ

VI Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi

Nhìn chung, trước khi một biện pháp phòng chống SDD được triểnkhai thực hiện, thì cần làm rõ:

- Những đối tượng nào đang bị SDD cần các biện pháp can thiệp để cảithiện tình trạng dinh dưỡng

- Loại SDD nào là phổ biến và đang hiện hữu

- Mức độ SDD ra sao

- Đối tượng cụ thể cần ưu tiên can thiệp dinh dưỡng

- Can thiệp vào nguyên nhân gây SDD nào

Từ Sơ đồ 1 – Mô hình nguyên nhân SDD và tử vong của trẻ - Unicef

1990, chiến lược phòng chống SDD có thể chia thành một số giải pháp chủyếu: Giải pháp chuyên môn kỹ thuật; giải pháp về chủ trương chính sách; giảipháp về nguồn lực [34]

Trang 18

Giải pháp chuyên môn, kỹ thuật đó là triển khai các chương trình phụchồi dinh dưỡng, bổ sung dinh dưỡng, nâng cao chất lượng khẩu phần ăn vào,các chương trình bổ sung vi chất, đa vi chất dinh dưỡng: vitamin A, sắt, folicacid, iốt, kẽm, canxi…ở tất các các nhóm nguy cơ: trẻ dưới 5 tuổi, thiếu niên,phụ nữ tuổi sinh đẻ [56] Khuyến khích ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau;cân đối giữa thực phẩm ăn vào với hoạt đông thể lực duy trì cân nặng nên có;chọn chế độ ăn có nhiều sản phẩm từ hạt, rau quả; chế độ có số lượng chấtbéo, a xít béo no và cholesterol thấp; chế độ ăn có đường, có lượng muối vàNatri vừa phải.

Thực hiện cho trẻ đẻ ra bú hoàn toàn bằng sữa mẹ 6 tháng đầu; tư vấnnuôi con bằng sữa mẹ đối với các bà mẹ nuôi con bú, nhất là trong 6 thángđầu; Hướng dẫn ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 7 và tiếp tục cho bú mẹ từ 18đến 24 tháng; hướng dẫn bà mẹ chế biến thức ăn bổ sung; chăm sóc, nuôidưỡng trẻ tốt hơn trong và sau khi mắc bệnh; giúp bà mẹ phát hiện, xử trí,chăm sóc sức khỏe trẻ tại nhà, giữ ấm cho trẻ vào mùa đông, chăm sóc y tếnếu cần, cho trẻ mắc tiêu chảy, viêm hô hấp dùng oresol, cho trẻ uống vitamin

A Hướng dẫn bà mẹ tiếp tục cho trẻ bú và ăn tăng trong và sau khi bị ốm,thực hành vệ sinh ở gia đình và phòng chống nhiễm giun, tẩy giun định kỳcho trẻ em theo chỉ định của y tế

Tạo điều kiện có nguồn nước sạch dùng cho ăn uống và sinh hoạt của giađình Giáo dục thực hiện ăn chín, rửa tay trước khi ăn và khi chế biến thức ăncho trẻ [18]

Triển khai công tác truyền thông, nâng cao kiến thức về tầm quan trọngcủa công tác dinh dưỡng đối với sự phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất

và trí tụê của trẻ em với các loại hình, phương thức, nội dung phù hợp từngvùng, miền và từng nhóm đối tượng [34]

Giải pháp chủ trương chính sách bao gồm: Hoàn thiện cơ chế phối hợpliên ngành giữa các cơ quan quản lý nhà nước Có chính sách khuyến khíchcác tổ chức xã hội tự nguyện tham gia công tác phòng chống suy dinh dưỡng

Trang 19

Hoàn thiện các quy định về sản xuất, kinh doanh và sử dụng thức ăn dùng chotrẻ nhỏ, bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm [34].

Giải pháp về nguồn lực: Đào tạo nguồn nhân lực, củng cố, phát triểnđội ngũ cán bộ làm công tác dinh dưỡng cả tuyến trung ương và cơ sở

Xã hội hoá, đa dạng nguồn lực tài chính, quản lý hiệu quả nguồn lực tàichính [34]

Đề tài này thực hiện một giải pháp thuộc nhóm giải pháp chuyên môn

kỹ thuật đó là bổ sung dinh dưỡng Cụ thể, sữa đậu nành được lựa chọn để bổsung cho trẻ

VII Đậu nành và sữa đậu nành

7.1 Đậu nành

Đậu nành hay còn gọi là đậu tương, tên khoa học là glycine max, thuộccây họ đậu, là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế, dễ trồng có hàm lượngprotein cao Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất đa dạng như chếbiến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữađậu nành, bột dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩuphần ăn hàng ngày

Một số nghiên cứu trên lượng lớn dân số cho thấy, tiêu thụ sản phẩm từđậu nành có thể giảm nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới [57],giảm nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ [58] Cơ quan quản lý thuốc và thựcphẩm Hoa Kỳ khuyến cáo: Bổ sung một ngày 25 gam protein từ đậu tương

có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim [59] Nhiều sản phẩm từ đậu tương có lợicho phòng chống bệnh tim mạch và cho sức khoẻ vì chúng có hàm lượng caochất béo không no, chất xơ, vitamin và khoáng chất và hàm lượng thấp chấtbéo no [60] Đậu nành còn chứa nhiều phytic a xít có vai trò như là chấtchống oxy hoá, giảm nguy cơ ung thư [61], tiểu đường [62]

Tuy nhiên, dị ứng với thực phẩm đậu tương cũng đã được phát hiện.Với triệu chứng mẩn đỏ, ngứa (Urticaria) thường xảy ra trong vài phút đến vàigiờ sau khi ăn thực phẩm đậu tương Vì chỉ có một vài nghiên cứu khẳng địnhđậu tương có thể gây dị ứng, do đó rất khó để đánh giá tin cậy tỷ lệ dị ứng vớithực phẩm đậu tương ở cộng đồng

Trang 20

Không dung nạp thực phẩm đậu tương cũng có thể xảy ra khi trẻ đượccho ăn thức ăn chế biến từ đậu tương Triệu chứng có thể gặp là nôn, trớ, tiêuchảy và chấm dứt khi dừng cho trẻ ăn thực phẩm từ đậu tương Tuy nhiên,không dung nạp sản phẩm đậu tương cơ thể có thể tự điều chỉnh và không cònkhi trẻ được 2-3 tuổi (Todder years)[64].

Đậu nành còn có Isoflavone có tên khác là Genistein và Daidzein, cóchức năng như là estrogen, là một trong các nguồn phytoestrogen –Estrogen

từ thức ăn (Dietary estrogen) Nhưng phytoestrogen trong đậu tương có hoạttính yếu do đó ăn uống bình thường, các sản phẩm đậu tương không đủ lượngestrogen gây các phản hồi từ cơ thể [65]

Vì đậu nành có phytoestrogen, do đó một số nghiên cứu đặt vấn đề liệu

ăn đậu tương có ảnh hưởng tới lượng testosterone ở nam giới hay là không.Tuy nhiên, 15 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rằng: Bổ sung thựcphẩm từ đậu tương hoặc isoflavone không thấy có sự thay đổi lượngtestosteron hay là estrogen ở nam giới [66]

Trang 21

Bảng 1.6 Giá trị dinh dưỡng trong 100 g đậu nành

Sữa đậu nành đóng hộp, được sản xuất theo quy trình công nghiệp,cũng rất thơm ngon Chúng có thể có thêm hương vị như vani, sô-cô-la hoặccác hương vị khác

Sữa đậu nành là loại đồ uống an toàn và giá phù hợp, phổ biến ở ViệtNam và nhiều nước trên thế giới [47] Đây là nguồn thức ăn giàu protein và

Trang 22

được ví như “thịt xanh”, có giá trị dinh dưỡng cao và dễ sử dụng [48] (Xem

bảng 7) Nghiên cứu tại Nigieria cho thấy sử dụng sữa đậu nành dưới dạngthức ăn có tên “Soyogi” có tác dụng giảm bệnh tiêu chảy và phòng SDD ở trẻ

em rất hiệu quả [47] Sữa đậu nành còn được dùng làm thức ăn để bồi bổ cơthể, nhất là đối với trẻ em, người bị bệnh đái đường, người làm việc quá sức,thiếu khoáng và làm việc trí óc, người mới ốm dậy, người bị thấp khớp, thốngphong…

Bảng 1.7 Thành phần dinh dưỡng trong 100 mL sữa đậu nành

Trong đề tài này, sữa đậu nành bổ sung cho trẻ là sữa đậu nành Vfresh

do công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk sản xuất, loại hộp giấy có thể tích1L Thành phần dinh dưỡng trong 200mL sữa đậu nành Vfresh như sau:

Bảng 1.8 Thành phần dinh dưỡng trong 200 mL sữa đậu nành Vfresh của Vinamilk

Trang 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu mô tả

- Trẻ em dưới 5 tuổi

- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu can thiệp

Trẻ em từ 7 - 54 tháng tuổi tại thời điểm tham gia nghiên cứu và trướcthời điểm nghiên cứu 2 tuần không mắc bệnh mãn tính hoặc mắc các bệnhnhiễm trùng (Sốt, ho, tiêu chảy, ARI)

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2011

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài có 2 thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Cross-sectional survey) nhằm xác định tỷ

lệ SDD và các yếu tố liên quancủa trẻ dưới 5 tuổi

- Nghiên cứu can thiệp thử nghiệm (bổ sung sữa đậu nành Vfresh củaVinamilk) ngẫu nhiên có nhóm đối chứng (Randomized controlled trial).Đánh giá kết quả can thiệp bằng phương pháp so sánh đối chứng

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu

2.4.1 Cỡ mẫu

- Cỡ mẫu nghiên cứu mô tả: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo tỉ lệ với sai

số không quá 5% và độ tin cậy 95%

p(1- p)

n = z2 (1- α /2)

Trang 24

Chọn p = 0,33 (tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại tỉnhTuyên Quang năm 2010 là 33,0% - Nguồn từ Trung tâm y tế dự phòng tỉnhTuyên Quang và Viện dinh dương quốc gia) từ đó ta có d = 0,033

Z(1- α /2) : Giá trị điểm Z tại mức ý nghĩa α, với α = 0,02 → Z(1- α /2) = 1,96;

Kết quả, số trẻ cần thiết để tham gia nghiên cứu là 780 trẻ

- Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp được tính theo công thức:

n = (Z1- α /2+ Z1- β)2

2 2 1

2 2 1 1

)pp(

qpqp

−+

Trong đó n là số trẻ cần can thiệp

Giá trị Z1- α /2 = 1,96

α là xác suất sai lầm loại I, chọn α = 0,05 tương ứng mức tin cậy 95%Giá trị Z1- β = 1,28

β là xác suất sai lầm loại II, chọn β = 0,1 tương ứng với lực mẫu 90%

p1: Tỷ lệ gặp trước can thiệp

p2: Ước lượng sau can thiệp

p1 = 0,33 (tỷ lệ SDD hiện tại của tỉnh Tuyên Quang 33,0%)

p2 = 0,30 (tỷ lệ SDD mong muốn sau khi can thiệp 30,0%)

Kết quả là cần 221 trẻ tham gia nghiên cứu

Theo công thức tính cỡ mẫu được áp dụng trong đề tài này, số lượng trẻcần thiết để tham gia nghiên cứu mô tả là 780; và số trẻ cần thiết tham gianghiên cứu can thiệp là 221 Do vậy, trong 780 trẻ ở nghiên cứu mô tả đã đápứng được yêu cầu về cỡ mẫu trong nghiên cứu can thiệp Vì thế, trong đề tàinày, công thức chọn mẫu áp dụng để tính cỡ mẫu trong nghiên cứu mô tảđược sử dụng để tính chung cỡ mẫu cho cả hai nghiên cứu

2.4.2 Chọn mẫu

Cách chọn mẫu được tiến hành như sau:

- Bốc thăm chọn các xã triển khai nghiên cứu: Căn cứ vào số trẻ ở từng

xã, bốc thăm ngẫu nhiên để chọn ra một số xã, sao cho tổng số trẻ dưới 5 tuổi

ở các xã được chọn phải đủ 780 trẻ

Ngày đăng: 07/04/2016, 20:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tỷ lệ SDD trẻ em năm 2010 theo vùng miền [32]. - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 1.2. Tỷ lệ SDD trẻ em năm 2010 theo vùng miền [32] (Trang 7)
Sơ đồ 1.1. Mô hình nguyên nhân SDD và tử vong- Unicef, 1990 - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Sơ đồ 1.1. Mô hình nguyên nhân SDD và tử vong- Unicef, 1990 (Trang 8)
Bảng 1.5. Phân loại SDD theo Waterlow - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 1.5. Phân loại SDD theo Waterlow (Trang 16)
Bảng 1.6. Giá trị dinh dưỡng trong 100 g đậu nành - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 1.6. Giá trị dinh dưỡng trong 100 g đậu nành (Trang 21)
Sơ đồ chọn mẫu: - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Sơ đồ ch ọn mẫu: (Trang 26)
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (Trang 31)
SƠ ĐỒ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
SƠ ĐỒ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP (Trang 33)
Bảng 3.10. Liên quan giữa bà mẹ biết sử dụng biểu đồ tăng trưởng và tình  trạng dinh dưỡng của trẻ - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 3.10. Liên quan giữa bà mẹ biết sử dụng biểu đồ tăng trưởng và tình trạng dinh dưỡng của trẻ (Trang 37)
Bảng 3.13. Liên quan giữa bà mẹ biết nhóm muối khoáng với tình trạng dinh dưỡng của trẻ - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 3.13. Liên quan giữa bà mẹ biết nhóm muối khoáng với tình trạng dinh dưỡng của trẻ (Trang 40)
Bảng 15. Liên quan giữa thái độ của bà mẹ về sử dụng sữa đậu nành và tình trạng dinh dưỡng của trẻ - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 15. Liên quan giữa thái độ của bà mẹ về sử dụng sữa đậu nành và tình trạng dinh dưỡng của trẻ (Trang 41)
Bảng 3.16. Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ với thực hành của bà - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 3.16. Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ với thực hành của bà (Trang 42)
Bảng 3.17. Liên quan giữa thời gian cho bú hoàn toàn và tình trạng dinh dưỡng của trẻ - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 3.17. Liên quan giữa thời gian cho bú hoàn toàn và tình trạng dinh dưỡng của trẻ (Trang 43)
Bảng 3. 18. Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với thời gian trẻ bú - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 3. 18. Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với thời gian trẻ bú (Trang 44)
Bảng 3.21. Thay đổi thái độ về sử dụng sữa đậu nành sau can thiệp - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 3.21. Thay đổi thái độ về sử dụng sữa đậu nành sau can thiệp (Trang 46)
Bảng 3.23. Hiệu quả can thiệp về cải thiện KAP (Knowledge Attitude Practice) - Thực trạng suy dinh dưỡng và kết quả của bổ sungdinh dưỡng bằng sữa đậu nành ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Yên Sơn tỉnhTuyên Quang
Bảng 3.23. Hiệu quả can thiệp về cải thiện KAP (Knowledge Attitude Practice) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w