1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luật-môi-trường

27 373 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 64,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của côngtác bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cựccác điều ước quốc tế về đa dạng sinh học như: Công ước về các vù

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam được xem là một trong 16 quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất thếgiới với số lượng các loài sinh vật gồm vi sinh vật, thực vật, động vật trên cạn, sinh vậtbiển phong phú Đáng chú ý, nước ta còn có nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn, là môitrường sống và phát triển của các loài sinh vật, đã và đang đóng góp cho việc bảo tồn đadạng sinh học Tuy nhiên, đa dạng về loài của Việt Nam hiện nay đang bị đe dọa nghiêmtrọng, một số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như các loài voọc mũi hếch, Cát

Bà, cá nóc, bò biển, hổ Đây là điều hết sức đáng lo ngại bởi đa dạng sinh học ở ViệtNam không chỉ đem lại những lợi ích trực tiếp cho con người, đóng góp to lớn cho nềnkinh tế, nhất là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, bảo đảm an ninh lương thựcquốc gia, duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi cây trồng; mà còn có vai trò quan trọngtrong việc điều tiết khí hậu, bảo vệ môi trường Nhận thức được tầm quan trọng của côngtác bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cựccác điều ước quốc tế về đa dạng sinh học như: Công ước về các vùng đất ngập nước cótầm quan trọng quốc tế (RAMSAR), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thựcvật hoang dã nguy cấp (CITES)… Việt Nam cũng ban hành nhiều bộ luật quan trọngtrong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên, trong đó có Luật Đa dạng sinh học cùngvới những chính sách để định hướng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học khác củaĐảng Những chính sách pháp luật có tác động to lớn và tích cực trong việc bảo tồn đadạng sinh học ở nước ta, tuy nhiên khi ban hành bất kì chính sách hay một bộ luật nào,không chỉ phải chú ý đến hiện trạng sinh vật hiện tại của đất nước, tình trạng của môitrường, mà còn phải lưu tâm đến tác động của pháp luật đối với nền kinh tế - xã hội và sựảnh hưởng ngược lại từ kinh tế - xã hội sẽ ra sao đối với pháp luật Bởi kinh tế - xã hội và

đa dạng sinh học, môi trường cùng với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cómối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy mà nhóm em đã tìm hiểu vànghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học gắnvới phát triển kinh tế xã hội”

Trang 3

NỘI DUNG

I Khái quát chung về pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học

1 Quy định của pháp luật về đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học là khái niệm được hiểu khác nhau nếu tiếp cận từ các góc độ khácnhau Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào thì các định nghĩa về đa dạng sinh học đều thừanhận mối liên hệ giữa các giống loài, sự phụ thuộc vào nhau giữa chúng trong quá trìnhtiến hóa và phát triển Đa dạng sinh học cấu thành nền tảng của cuộc sống trên trái đất,cuộc sống của cả con người lẫn các thực thể sống

1.1 Theo Luật quốc tế:

Theo đó, Công ước về đa dạng sinh học 1992 (Việt Nam tham gia ký kết vào ngày

16/11/1994) quy định tại Điều 2: “Đa dạng sinh học có nghĩa là tính đa dạng biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực khác và tập hợp sinh thái mà chúng là một phần Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi loài, giữa các loài và hệ sinh thái.”

1.2 Pháp luật Việt Nam:

Khoản 5 Điều 3 Luật đa dạng sinh học 2008 cũng quy định “Đa dạng sinh học là

sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên”.

Trước khi Luật Đa dạng sinh học 2008 ra đời thì Luật bảo vệ môi trường năm 2005 quy định như sau: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài

sinh vật và hệ sinh thái” (Khoản 16, Điều 3)

Đa dạng sinh học được thể hiện ở ba cấp độ: đa dạng di truyền, đa dạng vềloài và đa dạng về hệ sinh thái.Trong khi đa dạng di truyền được cho là sự khác biệtcủa các đặc tính di truyền giữa các xuất xứ, quần thể và giữa các cá thể trong mộtloài hay một quần thể thì đa dạng loài chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặcloài phụ trên quả đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc gia hay trong một sinh cảnhnào đó Về đa dạng hệ sinh thái, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa và phân loạithống nhất nào ở mức toàn cầu Đa dạng hệ sinh thái thường được đánh giá thôngqua tính đa dạng của các loài thành viên; nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phongphú tương đối của các loài khác nhau cũng như các kiểu dạng của loài

2 Bảo tồn đa dạng sinh học:

2.1 Luật quốc tế:

Trang 4

Công ước đa dạng sinh học: Là công ước toàn cầu về ĐDSH đã được thông qua

tại Nairobi ngày 22/05/1992 Công ước được thoả thuận vào ngày 05/06/1992 tại Hộinghị LHQ về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro vào năm 1992 Việt nam thamgia ký kết vào ngày 16/11/1994 Nội dung của công ước là bảo tồn các dạng tài nguyênsinh học, sử dụng một cách hợp lý các thành phần của ĐDSH và chia sẻ một cách đúngđắn, hợp lý và công bằng lợi nhuận thu được do sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền,việc chuyển giao kỷ thuật tiên tiến một cách thích hợp, lưu ý đến các quyền sở hữu về cáctài nguyên đó và các kỷ thuật và có nguồn kinh phí thích hợp Để thực hiện nội dung củacông ước, yêu cầu các bên ký kết công ước thực hiện các công việc: thành lập các khubảo tồn thiên nhiên; hồi phục các HST bị suy thoái; bảo vệ các loài có nguy cơ bị tiêudiệt bằng pháp luật; hạn chế và quản lý các hành động gây nguy hại đến ĐDSH; ban hànhcông tác đánh giá tác động môi trường; xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển quốcgia, kế hoạch hành động về bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên ĐDSHtrong và ngoài các khu bảo tồn

Công ước Ramsar (Công ước về các vùng Đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của chim nước) Là công ước về các khu ĐNN quan

trọng được xác định dựa theo Chỉ tiêu Ramsar, dựa trên tính đặc biệt và những giá trị vềĐDSH Ban đầu Công ước Ramsar tập trung và bảo tồn và sử dụng khôn ngoan các khuĐNN là sinh cảnh của các loài chim nước quan trọng Trọng tâm này ngày càng được mởrộng và hiện nay ĐNN đã được xác định là HST rất quan trọng cho bảo tồn ĐDSH nóichung và cho sự tồn tại của con người Công ước Ramsar được bắt đầu thực hiện từ năm

1975 và tính tới ngày 04/04/2002, đã có 131 thành viên tham gia ký kết vào Công ước vàbảo vệ 1150 khu ĐNN trên thế giới Công ước này được bổ sung bằng một Nghị định thưtại Paris năm 1982 Việt Nam đã tham gia vào Công ước này từ 20/9/1988 và đã thànhlập một Khu bảo tồn Đất ngập nước Xuân Thuỷ và khu này đã được đưa vào ‘Danh sáchcác khu Đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế’ để bảo vệ các loài chim di cư, trong

đó có loài cò thìa (Platalea minor)

Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật thực vật hoang dã đang bị nguy cấp (CITES).Công ước CITES được hoàn thành vào ngày 03/03/1973 tại Washington

với 13 thành viên ban đầu và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1975 Hiện nay có 158 quốc giatham gia vào Công ước CITES Đây là một công cụ để hỗ trợ các nước ngặn chặn nạnbuôn bán quốc tế bấp hợp pháp và không bền vững động thực vật hoang dã Khi nhậnthức được là “mỗi nhà nước chính là người bảo vệ tốt nhất động thực vật hoang dã củachính nước mình”,Việt Nam đã tham gia vào Công ước CITES và trở thành thành viênchính thức (số 121) vào ngày 20/01/1994 Công ước CITES và thừa nhận rằng:

Trang 5

- Các loài động, thực vật hoang dã là một bộ phận không gì thay thế được của hệthống sinh thái tự nhiên trên trái đất và phải được bảo vệ cho hôm nay và cho cả ngàymai;

- Các loài động, thực vật hoang dã có giá trị khoa học, văn hóa, giải trí và kinh tế ngàycàng cao;

- Nhân dân và Chính phủ các nước là, và phải là những người bảo vệ tốt nhất các loàiđộng, thực vật hoang dã có ở các nước;

- Hợp tác quốc tế là một yếu tố quan trọng trong công tác bảo vệ một số loài động,thực vật hoang dã nhất định khỏi bị khai thác quá mức vì buôn bán quốc tế

2.2 Pháp luật Việt Nam:

2.2.1 Quy định về quản lý:

Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

khóa XII thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Luật đa dạng sinh học có hiệu lực thihàng từ ngày 01 tháng 07 năm 2009

Khoản 1 Điều 3 Luật đa dạng sinh học 2008 quy định, “Bảo tồn đa dạng sinh học là

việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền”

Luật Đa dạng sinh học quy định về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học(hệ sinh thái, các loài sinh vật, tài nguyên di truyền); quyền và trách nhiệm của cơ quannhà nước, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát triểnbền vững đa dạng sinh học

Luật bảo vệ môi trường 2014được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014,

chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 Tại chương III, Luật quy định rõ vềviệc bảo vệ môi trường trong khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên: bảo vệ môitrường trong điều tra, đáng giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đa dạngsinh học; bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: Luật bắt đầu có hiệu lực từ

01/04/2005 Theo đó, những hành vi săn, bắt, bắn, bẫy, nuôi, giết mổ động vật rừng tráiphép bị nghiêm cấm Đồng thời, Luật cũng quy định việc khai thác, động vật rừng phảiđược phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật

về bảo tồn động vật hoang dã Việc kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạmnhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phải tuân theoquy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gianhập

Trang 6

Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Nghị định đã phân chia động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 02 nhóm tùy theomức độ nguy cấp và sự bảo vệ của pháp luật đối với các loài đó Trong đó:

• Nhóm IB: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

• Nhóm IIB: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt

động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm

Nghị định quy định trình tự, thủ tục cụ thể hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, táixuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấynhân tạo các loài động vật, thực vật (kể cả loài lai) hoang dã nguy cấp, quý, hiếm,bao gồm:

• Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã quy định tại các Phụ lục I, II và IIIcủa Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp(CITES)

• Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam

Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

Nghị định quy định hệ thống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD đưavào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Theo đó, loài đượcđưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nếu (i) Số lượng

cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng và (ii) Là loài đặc hữu có một trongcác giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường vàvăn hóa – lịch sử

Nghị định cũng quy định nguyên tắc bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ và cơ chế chặt chẽ để quản lý việc khai thác; trao đổi, muabán, tặng cho, thuê, lưu giữ, vận chuyển mẫu vật; nuôi trồng và cứu hộ loài thuộcDanh mục loài được ưu tiên bảo vệ

Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.

Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển và Danh mục những đối tượng bị cấm khai thác theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Trang 7

Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển được ban hành kèm theo Quyết định

82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 về việc công bố Danh mục các loài thủy sinh quýhiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển Theo

đó, Danh mục áp dụng các tiêu chuẩn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN(Phiên bản 2.2, 1994) và Sách đỏ Việt Nam 2007 để đánh giá mức độ quý hiếm của loàithủy sinh theo các bậc: Tuyệt chủng (EX); Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW); Rấtnguy cấp (CR); Nguy cấp (EN); Sẽ nguy cấp (VU)

Danh mục những đối tượng bị cấm khai thác (thủy sản) được ban hành kèm

theo Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 sửa đổi, bổ sung một số nội dung củaThông tư số 02/2006/TT- BTS ngày 20 tháng 03 năm 2006 của bộ Thủy sản hướng dẫnthị hành Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về Điều kiện sảnxuất kinh doanh một số ngành nghề thủy sản

Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường

Ngày 25/09/2012, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường Thông

47/2012/TT-tư này liệt kê 160 loài động vật rừng thông thường được phép khai thác và nhân nuôi vìmục đích thương mại, theo các quy định đưa ra trong thông tư

Chỉ đạo số 16315/QLD-MP của Cục quản lý dược về tăng cường bảo vệ động vật thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm

Ngày 28/08/2015, Bộ Y Tế đã ban hành Chỉ đạo số 16315/QLD-MP của Cục quản

lý dược về tăng cường bảo vệ động vật thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm Theo Chỉđạo này, cá nhân, tổ chức công bố sản phẩm mỹ phẩm trong công thức sản phẩm có thànhphần liên quan đến động vật, thực vật thuộc Danh mục động vật, thực vật hoang dã, nguycấp, quý, hiếm cần được bảo vệ phải cam kết các thành phần này không phải là đối tượng

bị cấm khai thác thương mại theo quy định của pháp luật

2.2.2 Quy định xử lý vi phạm

Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã có quy định về Tội vi phạm các quy định vềbảo vệ động vật hoang dã quý hiếm tại Điều 190 Khi Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổsung năm 2009, Điều 190 được sửa đổi thành Tội vi phạm các quy định về bảo vệ độngvật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Theo đó, các hành visăn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt trái phép động vật hoang dã nguy cấp,

Trang 8

quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm, bộ phận

cơ thể của của loại động vật đó có thể bị phạt lên tới 7 năm tù giam

Thông tư Liên tịch TANDTC ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-Thông tư liên tịch này hướng dẫn thực hiện Điều 190 Bộ luật Hình sự 1999 về Tội

vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý, hiếm Theo đó, những loài độngvật quý hiếm là những loài thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP Đồng thờithông tư cũng hướng dẫn cụ thể căn cứ để đánh giá hành vi vi phạm là gây hậu quảnghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để áp dụng tình tiết định khungtăng nặng Cụ thể, Thông tư ban hành Phụ lục về việc xác định số lượng cá thể động vậtrừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB để làm căn cứ xác định Ví dụ, hành vi vi phạm liênquan đến gấu, 1 cá thể là gây hậu quả nghiêm trọng, 2 đến 3 cá thể là hậu quả rất nghiêmtrọng, từ 4 cá thể trở lên là đặc biệt nghiêm trọng; trong khi chỉ cần vi phạm đối với 1 cáthể hổ là đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản

Nghị định 103/2013/NĐ-CP quy định các hành vi khai thác, mua bán, thu gom,

nuôi, lưu giữ, sơ chế, chế biến các loài thủy sinh nguy cấp quý hiếm hoặc khai thác, thu

gom, sơ chế, bảo quản, vận chuyển các loài thủy sản trong danh mục cấm khai thác sẽ bị

xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tối đa lên đến 100 triệu đồng tùy thuộc vàokhối lượng của loài thủy sinh hoặc thủy sản

Toàn bộ số thủy sinh quý hiếm/ thủy sản sẽ bị tịch thu và thả lại môi trường sốngcủa chúng (nếu còn sống) hoặc chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý (nếu đãchết)

Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/1/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính quản lý rừng, bảo vệ rừng và phát triển rừng và phát triển lâm sảnđây là văn bản quy định mức độ xử phạt hành chính đối với các vi phạm trong hoạt

động quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (trong đó có ĐVHD).Theo đó,căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà các hành visăn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động vật rừng; giết động vật rừng; vậnchuyển lâm sản trái pháp luật hoặc mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sảnkhông có hồ sơ hợp pháp hoặc có hồ sơ hợp pháp nhưng lâm sản không đúng nội dung

hồ sơ … sẽ bị xử phạt đến 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỉ đồng đối với tổ chức

Trang 9

Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Nghị định 179/2013/NĐ-CP là văn bản quy định mức độ xử phạt hành chính đối vớicác vi phạm trong lĩnh vực môi trường Trong đó, tại điều 42 đến Điều 48 liên quan đếnbảo tồn đa dạng sinh học

II Mối quan hệ giữa quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học với phát triển kinh tế xã hội

1.Tác động của quy định của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học tới phát triển kinh tế- xã hội:

1.1.Tích cực

Thứ nhất, quy định PL về Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên từ

Điều 16 đến Điều 36 của Luật đa dạng sinh học năm 2008

Về các khu bảo tồn,việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn là bước đi rất quan trọngtrong việc bảo tồn các loài, quần xã sinh vật và hệ sinh thái

Luật quy định cụ thể những loại khu bảo tồn của Việt Nam, phân cấp khu bảo tồngồm vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài sinh cảnh, khu bảo vệ cảnhquan Căn cứ vào mức độ đa dạng sinh học, giá trị đa dạng sinh học , quy mô diện tích,khu bảo tồn được phân thành cấp quốc gia và cấp tỉnh để có chính sách quản lý, đầu tưphù hợp (Điều 16) Và đưa ra những tiêu chí cụ thể cho vườn quốc gia (Điều 17), khu dựtrữ thiên nhiên (Điều 18), khu bảo tồn loài - sinh cảnh (Điều 19), khu bảo vệ cảnhquan(Điều 20) Từ những quy định đó mà nhà nước khoanh vùng khu cần bảo tồn, phâncấp khu bảo tồn cụ thể như khu bảo tồn vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Cát Tiên,Cúc Phương, U Minh Hạ, Tràm Chim,…… và các khu bảo tồn này phải có đầy đủ cáctiêu chí theo quy định của luật

Từ đó cho ta biết những nơi có sự phong phú của hệ sinh thái tự nhiên quan trọng,đặc thù hoặc đại diện để bảo vệ, nuôi trồng, chăm sóc các loài thuộc danh mục loài nguycấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các vật mẫu di truyền từ

đó tạo điều kiện bảo vệ và phát triển các nguồn gen quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng,phát triển và làm phong phú, đa dạng về nguồn gen, tạo ra các loại giống mang lại hiệuquả kinh tế cao Góp phần để nghiên cứu khoa học về đa dạng sinh học về các loài quýhiếm, các loài mới, cũng như các loài mà con người chúng ta chưa tìm hiểu hết, tạo ra cáckhu thực nghiệm nghiên cứu khoa học mang tầm quy mô lớn … từ đó có những bước tiếnmới và quan trọng trong lĩnh vực khoa học

Theo như số liệu thống kê chưa đầy đủ thì hiện nước ta có khoảng 10.000 loàithực vật có mạch, trong đó có đến 1/3 số loài cây cỏ đã và đang sử để làm thuốc chữa

Trang 10

bệnh Ngoài ra từ nguồn thuốc phong phú và quý hiếm này giúp ta sáng chế ra các loạithuốc chữa bệnh cho con người hiệu quả Từ đó góp phần đẩy mạnh nền y học cổ truyềncủa nước ta.

Cũng từ việc hình thành các khu bảo tồn đã góp phần bảo vệ môi trường trongsạch hơn, điều hòa khí hậu và từ đó giúp hạn chế sự tác động của những thiên tai, sự biếnđổi khí hậu đến cuộc sống của con người, giảm thiểu đi sự tác động gây ảnh hưởng vàthiệt hại sự phát triển của nền kinh tế, đưa nền kinh tế - xã hội phát triển một cách bềnvững hơn theo xu hướng hiện nay

Không những thế khu bao tồn này cũng là một địa diểm nghỉ dưỡng và du lịch khá

lý tưởng góp phần phát triển du lịch sinh thái tự nhiên, nghỉ dưỡng góp phần tăng trưởngkinh tế-xã hội Cũng như những từ đó chúng ta có thể vừa bảo vệ để nhằm giảm thiểu đi

sự suy giảm của đa dạng sinh học vừa khai thác cũng như phát triển để mang lại giá trịkinh tế cao hơn, nâng cao hơn đời sống của con người và mang lại giá trị giáo dục chonước nhà

Khu bảo tồn còn phát triển cộng đồng dân cư xung quanh khu bảo tồn ,giải quyếtviệc làm xóa đói giảm nghèo Như là các sản phẩm,nguyên liệu,dịch vụ từ du lịch sinhthái, từ đa dạng sinh học Cung cấp và điều tiết nguồn tài nguyên nước cho con người,góp phần phát triển nông nghiệp, công nghiệp, phát triển nuôi trồng thủy sản ở khu vựcnước mặn, nước lợ hoặc khai thác các nguồn đa dang sinh học sẵn có

Những hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháo trong khu bảo tồn, tổ chức cá nhân hoạtđộng hợp pháp trong khu bảo tồn Luật quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình,

cá nhân sống hợp pháp trong khu bảo tồn tại Điều 30, Điều 31và Điều 32 về quả lý vùngđệm Từ những quy định trên đã tạo điều kiện cho người dân ổn định cuộc sống lâu dàitrong vùng đệm, cũng như giúp người dân và các tổ chức cá nhân khác có ý thức rõ ràng

về bảo tồn đa dạng sinh học góp phần phát triển và ổn định kinh tế xã – hội ở khu vực địaphương Không những thế người nông dân Việt Nam không những là người gìn giữ màcòn là người gây dựng nên những hiểu biết về tài nguyên di truyền thực vật mà họ còn sửdụng và lưu giữ, bảo quản và phát triển tài nguyên di truyền thực vật và các kiến thứcnày Từ đó có thể cho chúng ta thấy được rằng việc pháp luật quy định về vùng đệm là rấtcần thiết và có tác động mạnh mẽ tới kinh tế - xã hội

Phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên được quy định tại các Điều 34, 35, 36Luật đa dạng sinh học Từ những quy định ở luật đã cụ thể hóa hơn đối với việc khôngnhững bảo tồn các hệ sinh thái mà chúng ta cũng cần phải phát triển một cách bền vữngcác hệ sinh thái từ đó góp phần phát triển mạnh mẽ hơn về kinh- tế xã hội một cách bềnvững cùng với đa dạng sinh học

Thứ hai, quy định PL về Bảo tồn và phát tiển bền vững tài nguyên di truyền quy định

từ điều 55 đến điều 68 của luật đa dạng sinh học

Trang 11

Quản lý, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen Điều 55 Quản lýnguồn gen Điều 56 Quyền và nghĩa vụ cua tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quản

lý nguồn gen Điều 57 Trình tự thủ tục tiếp cận nguồn gen Điều 60 Quyền và nghĩa vụcủa tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen Điều 61 Chia

sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen Từ những quy định của pháp luật về quản lý, tiếpcận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen đã góp phần tích cực cho nhà nước trongviệc ban hành các chính sách, chiền lược phát triển kinh tế phù hợp với quản lý, tiếp cậnnguồn gen làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế- xã hội một cách vững chắc và hài hòa.Nhờ các quy định này của pháp luật mà giúp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có cơ

sở để tiếp cận cũng như chia sẻ lợi ích từ nguồn gen một cách hợp pháp từ đó tăng thêmthu nhập từ nguồn gen cho các chủ thể này

Việc tiếp cận các nguồn gen cũng giúp tăng năng suất, giảm chi phí và tăng hiệuquả trong trồng chọt, chăn nuôi đảm bảo cho nông nghiệp phát triển góp phần trong việcphát triển toàn diện nền kinh tế Đảm bảo nguồn lương thực phục vụ cho phát triển kinhtế- xã hội

Lưu giữ, bảo quản mẫu vật di truyền; đánh giá nguồn gen; quản lý thông tin vềnguồn gen; bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen Điều 62 Lưu giữ và bảo quảnmẫu vật di truyền Điều 63 Điều tra, thu thập, đánh giá, cung cấp, quản lý thông tin vềnguồn gen Điều 64 Bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen Việc quy định nhưvậy đã tạo tiền đề thúc đẩy các tổ chức, cá nhân trong việc phát hiện, nghiên cứu và bảotồn các nguồn gen Góp phần phát hiện nhiều nguồn gen quý, phục vụ cho việc phát triểncác loài đọng thực vật mới, có năng suất cũng như khả năng thích ứng cao làm cơ sở choviệc phát triển kinh tế- xã hội

Quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gengây ra với đa dạng sinh học Điều 65 Trách nhiệm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổigen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học Điều 66.Lập, thẩm định báo cáo đánh giá rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền củasinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học; cấp giấy chứng nhận an toàn củasinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen đối với đa dạng sinhhọc Điều 67 Công khai thông tin về mức độ rủi ro và biện pháp quản lý rủi ro do sinhvật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinhhọc Điều 68 Quản lý cơ sở dữ liệu về sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinhvật biến đổi gen liên quan đến đa dạng sinh học Những quy định này của pháp luật chothấy nhà nước quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biếnđổi gen gây ra với đa dạng sinh học nhằm hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của các loại genxấu đến môi trường, đến các loài sinh vật, đến nền nông nghiệp cũng như đến sự pháttriển chung của nền kinh tế Ngoài ra nhà nước cũng sẽ cấp giấy chứng nhận an toàn cho

Trang 12

sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen đối với đa dạng sinhhọc, đây là cơ sở pháp lý thúc đẩy các tổ chức cá nhân nghiên cứu phát triển các loài sinhvật biến đổi gen có lợi cho việc phát triển kinh tế- xã hội, nhưng vẫn đảm bảo sự pháttriển đa dạng sinh học.

Thứ ba, Vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật được quy định cụ thể

từ Điều 37 tới Điều 54 Luật Đa dạng sinh học 2008 và được Chính phủ hướng dẫn cụ thểtại Điều 12,13,14,15 Nghị định 65/2010

Quy định pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật gồm ba nộidung chính: bảo vệ loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;phát triển bền vững các loài sinh vật; kiểm soát loài ngoại lai xâm hại

Đối với những quy định về bảo vệ loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ, đây là những loài sinh vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học,môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng Tuy nhiênhiện nay tình trạng khai thác, tàng trữ, sử dụng, mua bán quá mức, trái phép những loàinày đang diễn ra ở nhiều vùng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Điều đó thểhiện rõ vai trò và tính cấp thiết cần phải bảo tồn, bảo vệ những loài sinh vật này Điều 37Luật Đa dạng sinh học 2008 quy định chung về các loài được xem xét đưa vào Danh mụcloài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Bên cạnh đó Điều 38, 39, 40 còn quy định

về thủ tục đề nghị, thẩm định hồ sơ đề nghị, quyết định loài được đưa vào hoặc đưa rakhỏi Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Và Danh mục này định kỳ

3 năm một lần hoặc khi có nhu cầu thì phải được điều tra, đánh giá quần thể để sửa đổi

bổ sung Quy định này thể hiện sự quản lý chặt chẽ, hợp lý, góp phần giúp Nhà nước đưa

ra những chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với hiện trạng các loài sinh vật,ngăn chặn, hạn chế sự khai thác, tàng trữ, mua bán quá mức và trái phép, bảo tồn kịp thời

và bền vững những loài nguy cấp, quý, hiếm, giảm sự mất cân bằng hệ sinh thái đồngthời tiết kiệm, không phải tốn kinh phí vào những loài không còn đủ tiêu chí để đượcxem là loài cần ưu tiên bảo vệ Điều quan trọng nữa, cần quy định cụ thể về việc bảo tồnloài cần ưu tiên bảo vệ Không phải chỉ cần đưa những loài đó vào Danh mục là xong, màcần có kế hoạch bảo tồn cụ thể, phải lập khu bảo tồn, đưa loài thuộc Danh mục loài nguycấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ vào nuôi, trồng tại cơ sở bảo tồn hay thả chúng vàonơi sinh sống tự nhiên theo đúng quy định của pháp luật

Bảo vệ loài sinh vật chỉ là một góc độ nhỏ, mang tính hiện tại, không thể hoàntoàn giữ vững cân bằng hệ sinh thái, bảo toàn nguồn lợi cho môi trường Đi đôi với việcbảo vệ, phải có quy định đảm bảo sự phát triển bền vững các loài sinh vật Đây mới làđiều kiện giúp những loài này tồn tại lâu dài Điều 42 Luật Đa dạng sinh học 2008 quyđịnh cụ thể về việc thành lập các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học nhằm phục vụ mục đíchphát triển bền vững các loài sinh vật cùng với những điều kiện chặt chẽ nhằm bảo đảm

Trang 13

các cơ sở hoạt động tốt Việc quy định những điều kiện mà các cơ sở cần phải đáp ứng đểđược cấp giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học là hợp lý bởi tính cần thiết,quan trọng của việc phát triển bền vững các loài sinh vật Bên cạnh đó, Điều 43 quy định

cụ thể về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học.Đây là cơ sở pháp lý để các tổ chức, cá nhân dựa vào đó mà thực hiện hoạt động cho cơ

sở bảo tồn đa dạng sinh học

Việc cấm khai thác và hạn chế khai thác những loài hoang dã trong tự nhiên; việcnuôi trồng loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; việc traođổi, xuất nhập khẩu, mua bán, tặng cho, lưu giữ, vận chuyện các loài này và mẫu vật ditruyền, sản phẩm của chúng cũng được quy định chặt chẽ tại Điều 44,45,46, tất cả đềuphải được tuân theo Luật này và theo quy định cụ thể của Chính phủ

Bên cạnh đó còn có quy định riêng về việc cứu hộ loài được ưu tiên bảo vệ Đây làquy định cần thiết nhằm bảo vệ kịp thời các loài sinh vật khỏi nguy cơ mất nơi sinh sốnghoặc nguy cơ chết do bị thương, bị bệnh

Bảo tồn, phát triển bền vững các loài sinh vật không chỉ được thực hiện bên trong,

mà còn phải được tiến hành từ bên ngoài Việc quy định về kiểm soát loài ngoại lai xâmhại (từ Điều 50 tới Điều 54) có tác động ngăn ngừa sự xâm hại của những loài sinh vậtkhông có lợi ích kinh tế, thậm chí là gây hại cho đa dạng sinh học trong nước

Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy những quy định của pháp luật về bảotồn, phát triển bền vững các loài sinh vật có tác động tích cực lớn đến kinh tế - xã hội củađất nước Cụ thể:

Tác động đối với kinh tế:

Việc đánh giá nền kinh tế phát triển hay không, phát triển như thế nào cần phảidựa vào rất nhiều yếu tố mới có thể đánh giá chính xác Nhưng sự thay đổi về kinh tếcũng phần nào chịu ảnh hưởng do tác động từ chính sách, pháp luật về đa dạng sinh học

mà Nhà nước quy định

Đầu tiên, việc pháp luật quy định những loài sinh vật nào là loài thuộc Danh mụcloài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, quy định về cấm khai thác, hạn chế khaithác chúng trực tiếp tác động lên hành vi ứng xử của người sản xuất, người khai thác,người tiêu dùng các loài sinh vật, ảnh hưởng tới thị trường đầu vào (chi phí sản xuất củacác doanh nghiệp sản xuất, khai thác), thị trường đầu ra cho sản phẩm Đây xem như làtác động đến kinh tế ở tầm vi mô

Nhìn vào tầm vĩ mô, cơ cấu thuế, tổng thuế, tổng chi tiêu của Chính phủ, cơ cấuđầu tư, cơ câu tiêu dùng, xuất khẩu, nhập khẩu, lãi từ doanh thu xuất nhập khẩu các loàisinh vật cũng thay đổi, GDP từ đó cũng chịu ảnh hưởng mà thay đổi

Ngày đăng: 07/04/2016, 18:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w