1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quy trình công nghệ sản xuất gỉ đường mía

20 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 459,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lượng chất không lên men được trong gỉ đường sẽ tăng do nhiệt độ cao khi xử lý mía.. I.2 SỬ DỤNG GỈ ĐƯỜNG MÍA Gỉ đường mía được dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp lên men để sản xuấ

Trang 1

1

I GỈ ĐƯỜNG MÍA

Trong công nghiệp, đường được sản xuất từ củ cải đường và mía, có khoảng 60%

đường được sản xuất từ mía

Mía là cây ưa ấm, được trồng phổ biến ở các nước châu Á, châu Úc, ở Cuba, đảo Giava, vùng Ha oai Trong quá trình chế biến mía thành đường kính sẽ thu được một loại phế liệu là gỉ đường mía

I.1 SẢN XUẤT GỈ ĐƯỜNG MÍA

Đường mía thô gồm hai hợp phần : các tinh thể đường saccharose và mật bao bọc phía ngoài có chứa đường, các chất phi đường và các chất màu

Sơ đồ thu gỉ đường mía:

Lắng trong bằng vôi cho bão hòa CO2 Lọc và sulfit hóa

Dịch đường non I được ly tâm

Đường thô được tinh luyện

Ly tâm Lắng trong

Thu đường trắng

Gỉ đường còn lại sau cùng

Cặn màu được xử lý 3 lần

để thu đường loại II, III,

IV

Trang 2

2

Trung bình thành phần gỉ đường từ tinh chế đường thô có: 25-40% saccharose, 12-30% đường khử, 0.3%-0.5% nitơ Axit aconitic chiếm phần lớn chất phi đường hữu cơ của gỉ đường khoảng 5% Các chất khử gồm: glucose, fructose, các chất khử không lên men được là caramel và melanoidine (sản phẩm ngưng tụ giữa đường và amino axit), chúng chiếm khoảng 1.7% trọng lượng gỉ đường Lượng chất không lên men được trong gỉ đường sẽ tăng do nhiệt độ cao khi xử lý mía

I.2 SỬ DỤNG GỈ ĐƯỜNG MÍA

Gỉ đường mía được dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp lên men để sản xuất rượu, rượu Rum, các dung môi aceton và butanol, nấm men, axit citric, lactic, aconitic và

glycerin Gỉ đường cũng được dùng một phần làm thức ăn gia súc

Hình 1: Đường mía

I.3 CHẾ BIẾN GỈ ĐƯỜNG MÍA THÀNH RƯỢU

Cơ sở khoa học: Là quá trình lên men đường thành rượu là sự phân giải các chất đường thành rượu và CO2 dưới tác dụng của chất men do nấm men tiết ra

Sự lên men rượu là một quá trình sinh hóa phức tạp, có sự tham gia của nấm men

Saccharomyces, trải qua hàng loạt các phản ứng phức tạp với sự tham gia của nhiều men xúc tác

Phương trình tổng quát của sự lên men rượu

C6H12O6 → 2C2H5OH + 2CO2 + 27Kcal

I.3.1 Các điều kiện chính của quá trình lên men rượu

Trang 3

3

Nấm men chỉ có khả năng lên men monose và disaccharide Với gỉ đường thành phần chủ yếu là monose và disaccharide nên rất thuận lợi cho quá trình lên men

Nồng độ đường: Ảnh hưởng đến hiệu suất lên men Nấm men chỉ có khả năng lên men

đường thành rượu trong khoảng nồng độ đường phụ hợp từ 10 – 15 % nồng độ đường quá cao sẽ ức chế nấm men, và khả năng lên men rượu giảm

Ảnh hưởng của oxy: Nấm men là loại vi sinh vật hô hấp tùy tiện Trong điều kiện yếm

khí nó sẽ lên men đường tạo thành rượu và CO2 Do đó trong sản xuất rượu thì giai đoạn đầu cần điều kiện hiếu khí để nấm men sinh sản tăng sinh khối, phát triển đủ lượng tế bào cần thiết cho quá trình lên men rượu và sau đó phải yếm khí cho quá trình lên men rượu Tiếp đến phải yếm khí tuyệt đối để nấm men chuyển hóa đường thành rượu

Ảnh hưởng của pH : Như trên đã nói, pH có ảnh hưởng lớn đến quá trìn lên men, tạo

sản phẩm chính và phụ khác nhau Nếu pH 4-5 lên men rượu bình thường tạo sản phẩm chính là etanol Đây là điều kiện cần thiết trong quá trình lên men rượu ở các nhà máy rượu hiện nay Để axit hóa môi trường thường dùng H2SO4 hay axit lactic Nếu pH môi trường kiềm – sản phẩm chính là glyxerin - ứng dụng trong lên men glyxerin

Ảnh hưởng nhiệt độ : nhiệt độ là yếu tố cần thiết ảnh hưởng lớn đến nấm men và sự lên

men Thông thường nhiệt độ phù hợp cho lê men là 28o

C - 30oC Nhiệt độ khoảng hơn

50oC và dưới 0oC sự lên men hầu như đình chỉ

Ảnh hưởng nồng độ rượu tạo thành : Rượu tạo ra trong quá trình lên men có ảnh hưởng đến sự lên men Thông thường nấm men lên men đến nồng độ đạt 12 – 14% Một số ít nấm men có thể lên men đạt nồng độ rượu 17 - 20% với nồng độ rượu cao hơn sẽ ức chế nấm men và hầu như kìm hãm lên men rượu

Hiện nay, công nghệ sản xuất cồn từ gỉ đường đã được phổ biến một số nước trên thế giới Sản phẩm cồn được chưng cất này là kết quả của quá trình lên men sử dụng nấm men ép hoặc men gốc thuần khiết

I.3.2 Quá trình lên men rượu

Quá trình lên men rượu được thực hiện theo những bước sau:

Trang 4

4

Dùng các chất tẩy rửa ở nhà máy người ta thường dùng focmalin nồng độ 0,02-0,05%

so với dung tích thùng lên men để vệ sinh thùng lên men, cùng với hơi nóng 55-60oC giữ trong vòng 1-1,5 giờ Sau đó đưa nhiệt của hơi nóng lên 95-100oC và giữ trong 45 phút Sau đó phải làm nguội thùng lên men đến nhiệt độ phòng, xả hết nước ngưng tụ trong thùng lên men đến nhiệt độ phòng, xả hết nước ngưng tụ trong thùng lên men Tiếp đến cho dịch lên men và 10% giống men vào Saccharomyces cerevisae Giai đoạn đầu phải thổi khí để tăng khả năng phát triển của nấm men cho đủ số lượng cần thiết cho quá trình lên men

Khi lượng nấm men vừa đủ cho quá trình lên men, thì không cung cấp khí nữa mà tiến hành lên men yếm khí Nhiệt độ cần thiết cho quá trình lên men 32-34oC Thời gian lên men khoảng 4-5 ngày, sau đó tiến hành chưng cất và tinh luyện

Về lý thuyết, 100 kg đường glucose, sau quá trình lên men sẽ tạo ra 51,11 kg cồn và giải phóng 48,89 kg khí CO2 Trong thực tế, sản xuất chưa bao giờ đạt được trên 95% so với lý thuyết Phản ánh thực tế trong chưng cất cồn từ gỉ đường cho thấy, hiệu suất len men đạt tối đa khoảng 90% và hiệu suất chưng cất cồn đạt từ 95% đến 98% Tuy nhiên, các chỉ số tối đa này cũng hiếm khi đạt được

Hiệu suất chưng cất cồn phụ thuộc nhiều yếu tố, bao gồm chất lượng dịch đường lên men, điều kiện và thời gian bảo quản gỉ đường, quy mô nhà máy và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình lên men

Một sự biến đổi về chất lượng dịch đường có thể trực tiếp ảnh hưởng tới khả năng lên men Đây là vấn đề quan trọng, đặc biệt đối với các nhà máy chưng cất cồn từ gỉ đường, bởi vì, chỉ cần giảm một lượng nhỏ hiệu suất lên men cũng có thể tạo ra sự biến động lớn

về chi phí sản xuất

Bộ môn Ứng dụng Công nghệ Enzyme của Công ty SEB (Specialty Enzymes and

Biochemicals Co.) đã tiến hành nghiên cứu tăng sản lượng cồn trong quy trình chưng cất

rượu từ gỉ đường lên men, kết quả đã sản xuất thành công sản phẩm độc quyền là

Trang 5

5

MOLSEB và M-BOOST Hợp chất này có tác dụng ổn định hiệu suất lên men từ các nguồn gỉ đường khác nhau và có thể tăng sản lượng thu hồi cồn từ 15% đến 40% trên mỗi tấn gỉ đường

Quy trình ứng dụng :

Quy

trình Phương pháp truyền thống

Công nghệ bổ sung MOLSEB

BOOSTER

Quá

trình

nhân

giống

nấm

men

Quá trình gây men được tiến

hành trong thiết bị nhân giống

- Bổ sung 40.000 lít dịch gỉ

đường đã xử lý, với nồng độ là

12.5oBx (tỷ trọng riêng 1.089-1.09)

vào thiết bị nhân giống

- Bổ sung men ép và urê

Toàn bộ quá trình nhân giống kéo

dài khoảng 12 giờ (khi nồng độ

dịch đường giảm xuống còn

10.5oBx

Quá trình gây men được tiến hành trong thiết bị nhân giống

- Cho 40.000 lít dịch gỉ đường đã xử lý với nồng độ là 1

2.5oBx (tỷ trọng riêng 1.089-1.09) vào thiết bị nhân giống

- Bổ sung men ép + 10 ppm MOLSEB BOOSTER

- Duy trì quá trình lên men 5-6 giờ và cho thêm vào 0.04% MOLSEB (% so với dịch đường)

Toàn bộ quá trình nhân giống kéo dài khoảng 12 giờ (khi nồng độ dich đường giảm xuống còn 10.5o

Bx

Tiếp

giống

và lên

Khi nồng độ dịch đường đạt

10.5oBx, chuyển 40.000 lít dịch

men giống sang tank lên men chứa

Chuyển 40.000 lít dịch men giống sang tank lên men chứa 140.000 lít dịch đường nồng độ 240Bx khi dịch men giống giảm

Trang 6

6

men 140.000 lít dịch đường nồng độ

24oBx

Thời gian chuyển men giống là 2

giờ

Quá trình lên men sau đó được

kéo dài cho đến khi nồng độ dịch

đường giảm xuống đến 7.5oBx Sự

tạo bọt diễn ra trong giai đoạn này

và nhiệt độ có thể tăng đến 35°C

Thời gian để nấm men chuyển hóa

dịch đường từ nồng độ 24oBx

xuống 7.5oBx là khoảng 24 giờ

Sau khi đạt 7.5oBx thường thì

nấm men ngừng hoạt động và có

thể tiến hành quá trình chưng cất

cồn

độ đường xuống 10.5o

Bx

Bổ sung thêm MOLSEB với tỷ lệ 0.05%

so với dịch đường

Thời gian chuyển men giống là 2 giờ

Quá trình lên men kết thúc khi nồng độ dịch đường giảm xuống 7.5oBx Sự tạo bọt diễn ra trong giai đoạn này và nhiệt độ

có thể tăng đến 35°C Thời gian lên men (giảm nồng độ dịch đường từ 24oBx xuống 7.5oBx) khoảng từ 19 tới 21 giờ Việc sử dụng thêm MOLSEB và M-BOOST đã rút ngắn thời gian lên men từ

2 đến 3 giờ

Sau khi đạt 7.5oBx thường thì nấm men ngừng hoạt động và có thể tiến hành quá trình chưng cất cồn

TẾ BÀO MEN VÀ KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHÚNG

Tế bào nấm men sử dụng trong quá trình sản xuất rượu cồn chưng cất ở thể đồng nhất

có khả năng lên men nhanh, tạo ra nồng độ rượu cao ở điều kiện nhiệt độ và rải pH rộng Thời gian cần thiết để kết thúc quá trình lên men thay đổi phụ thuộc nhiệt độ, tuy nhiên, ở điều kiện 26 - 28°C, thời gian khoảng 48 đến 72 giờ

Hiệu suất chưng cất cồn chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều điều kiện khác nhau: chất lượng

gỉ đường, thời gian, chế độ bảo quản và thậm chí chất lượng thiết bị sản xuất gỉ đường

Trang 7

7

Yếu tố vô cùng quan trọng là những ức chế ảnh hưởng đến sự hoạt động của các tế bào nấm men:

- Tác động hóa học: Bao gồm nhiệt độ và hàm lượng đường, hợp chất sulfite, natri và các dư lượng hóa chất trong hệ CIP

- Tác động vi sinh từ axit acetic và axit lactic được tạo ra bởi những vi khuẩn làm suy giảm đáng kể độ pH và khả năng tạo cồn Độc tố mycotoxin từ nấm mốc làm ức chế hoạt động của tế bào nấm men

- Ức chế về nguồn dinh dưỡng có thể bao gồm sự thiếu hụt sterol, nitơ, oxi… các

khoáng chất và vitamin

SẢN PHẨM CHƯNG CẤT

Công nghệ bổ sung MOLSEB và

Cồn tinh khiết 10390

lít Cồn tinh khiết 9832 lít

lít Tổng số

10815 lít

Dung môi chưng cất 157728

lít Dung môi chưng cất

163863 lít

Gỉ đường 44.1

tấn Gỉ đường

45.88 tấn Sản lượng cồn/tấn nguyên liệu

gỉ đường 259 lít

Sản lượng cồn/tấn nguyên liệu

gỉ đường

235.7 lít

Trang 8

8

Lượng cồn chưng cất được tăng thêm 23.3 lít/1 tấn gỉ đường nguyên liệu

GỈ ĐƯỜNG

Dịch đường lên men sau khi qua hệ thống cất phân đoạn, thường là quy trình "bốn tháp cất", sẽ cho ra ba loại sản phẩm như sau:

1 Cồn tinh khiết ( R.S)

2 Cồn thô: có thành phần các chất dễ bay hơi như alde-hyde, methanol,

3 Dầu fusel: có thành phần propanol, butanol, furfural

Việc ứng dụng sản phẩm mới MOLSEB và M-BOOST có thể tăng sản lượng cồn

chưng cất khoảng 23.3 lít/1 tấn gỉ đường nguyên liệu Bên cạnh đó, thời gian lên men được rút ngắn từ 3 - 4 giờ Kỹ thuật mới này hoàn toàn có thể áp dụng ở quy mô sản xuất công nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế mà không đòi hỏi thêm nhân công lao động, cũng như chi phí đầu tư lớn trong quá trình sản xuất

Ứng dụng: Từ nguyên liệu gỉ đường thực hiện quá trình lên men rượu được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, đặc biệt là công nghệp thực phẩm Có thể sản xuất rượu để uống, cồn (96o) Ngoài ra cồn còn làm dung môi cho công nghiệp hóa học-y sinh học Dùng làm chất diệt trùng trong các phòng cấy vi sinh hay trong các phòng giải phẩu

II ĐIỀU CHẾ PECTIN TỪ PHẾ LIỆU TÁO

Từ các phế liệu của táo người ta sản xuất ra pectin khô hoặc dịch pectin đặc

a Nguồn gốc và cấu tạo

Pectin là một polysaccharide tồn tại phổ biến trong thực vật, là thành phần tham gia xây dựng cấu trúc tế bào thực vật Ở thực vật pectin tồn tại chủ yếu ở 2 dạng là pectin

Trang 9

9

hòa tan và protopectin không hòa tan Dưới tác dụng của acid, enzyme protopectinaza hoặc khi gia nhiệt thì protopectin chuyển thành pectin

Pectin là hợp chất cao phân tử polygalactoronic có đơn phân tử là galactoronic và rượu metylic Trọng lượng phân tử từ 20.000 - 200.000 đvC Hàm lượng pectin 1% trong dung dịch có độ nhớt cao, nếu bổ sung 60 % đường và điều chỉnh pH môi trường từ 3,1-3,4 sản phẩm sẽ tạo đông

Cấu tạo phân tử pectin là một dẫn suất của acid pectic, acid pectic là một polymer của acid D-galacturonic liên kết với nhau bằng liên kết 1-4-glycozide

Cấu tạo không gian của Pectin

Hợp chất pectin được đặc trưng bởi 2 chỉ số quan trọng là chỉ số methoxyl “MI” biểu hiện cho phần trăm khối lượng nhóm methoxyl –OCH3 có trong phân tử pectin và chỉ số este hóa “DE” thể hiện mức độ este hóa của các phân tử acid galactoronic trong phân tử pectin Dựa trên mức độ methoxy hóa và este hóa, trong thương mại chia pectin thành 2 loại: pectin có độ methoxyl hóa cao và pectin có độ methoxyl hóa thấp

Trang 10

10

- Pectin methoxyl hóa cao (High Methoxyl Pectin – HMP): DE >50 % hay MI > 7% Chất này có thể làm tăng độ nhớt cho sản phẩm Muốn tạo đông cần phải có điều kiện pH = 3,1 – 3,4 và nồng độ đường trên 60 %

- Pectin methoxyl hóa thấp (Low Methoxyl Pectin – LMP): DE < 50 % hay MI < 7% Được sản xuất bằng cách giảm nhóm methoxyl trong phân tử pectin Pectin methoxy thấp có thể tạo đông trong môi trường không có đường Chúng thường được dùng làm màng bao bọc các sản phẩm

Trong quá trình bảo quản có thể bị tách nước hoặc lão hóa Quá trình tạo đông phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nguồn pectin, mức độ methoxy hóa càng cao thì khả năng tạo đông càng cao Khi sử dụng cần phải hòa tan pectin vào nước, khi pectin hút đủ nước thì mới sử

dụng ở

công

đoạn

cuối chế

biến

Các pectin đều là những chất keo háo nước nên có khả năng hydrat hóa cao nhờ sự gắn các phân tử nước vào nhóm hydroxyl của chuỗi polymethyl galacturonic Ngoài ra, trong phân tử pectin có mang điện tích âm nên chúng có khả năng đẩy lẫn nhau có khả năng làm giãn mạch và làm tăng độ nhớt của dung dịch Khi làm giảm độ tích điện và hydrat

Trang 11

11

hóa sẽ làm cho sợi pectin xích lại gần nhau và tương tác với nhau tạo nên một mạng lưới

ba chiều rắn chứa pha lỏng ở bên trong

Sản xuất pectin khô

Bã táo còn tươi thu được khi sản xuất nước táo ép được nghiền và sấy trên máy sấy băng chuyền độ ẩm 8-10% Để sản xuất pectin người ta dùng bã táo non và táo rụng là những phế liệu sản xuất nước táo ép Bã khô được nghiền lần hai và đưa vào thiết bị ly trích có đáy lót lưới, có cánh khuấy (12-15 vòng/phút) Bã trong thiết bị trích ly được hòa với nước (1:2,6), được axit hóa bằng anhydrit sulfure pH 2,5-3,5 được đun nóngđến

85-92oC và giữ ở nhiệt độ này trong một giờ

Dịch chiết axit có chứa pectin, đường và polysaccharide được kiềm hóa bằng Na2CO3 đến pH 4,5-5 và được thủy phân bằng men Để đường hóa tinh bột người ta cho 0,5%

canh trường nấm mốc Aspergillus oryzae nuôi cấy trên cám mì Quá trình thủy phân được

tiến hành ở nhiệt độ 40-50o

C trong 30-60 phút Sau đó thêm vào dịch đường hóa 0,02% kidengua và dịch đường hóa được cho qua vải lọc ở áp suất 2-2,5at của máy lọc ép Dịch lọc được cho vào nồi cô chân không có bề mặt đốt nóng đặt ở ngoài tại nhiệt độ 55-60o

C

để cô đến hàm lượng chất khô là 15% trong đó chứa 3% pectin

Dịch cô đặc được đưa vào thiết bị làm đông tụ và xử lý bằng rượu etylic 95% (1,2 thể tích rượu cho 1 thể tích dịch trích ly) Hỗn hợp được axit hóa bằng axit clohydric 0,3% và đảo trộn trong 8-10 phút Khối dịch được chuyển lên máy lọc ép hoặc máy lọc khung bản

để tách pectin khỏi hỗn hợp rượu, nước ở áp suất 1-1,5at Kết tủa pectin trên máy lọc được rửa bằng rượu etylic 95% với lượng từ 60-70% so với lượng petin Pectin ở dạng bùn nhão được chuyển lên khay đưa vào tủ sấy Rượu thu hồi sau khi tái sinh đem dùng lại Bột nhão pectin được sấy trên máy sấy chân không ở nhiệt độ 60-70oC, sau khi sấy xong pectin được nghiền trên máy nghiền rồi được đóng vào các thùng có dung tích -10kg Để thu 1 tấn pectin phải tiêu tốn:

Nguyên vật liệu Lượng vật chất

Ngày đăng: 07/04/2016, 11:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thu gỉ đường mía: - Quy trình công nghệ sản xuất gỉ đường mía
Sơ đồ thu gỉ đường mía: (Trang 1)
Hình 2: Mầm malt  Hình 3:Sản xuất mầm malt - Quy trình công nghệ sản xuất gỉ đường mía
Hình 2 Mầm malt Hình 3:Sản xuất mầm malt (Trang 16)
Sơ đồ sản xuất các chất ổn định bia từ mầm malt - Quy trình công nghệ sản xuất gỉ đường mía
Sơ đồ s ản xuất các chất ổn định bia từ mầm malt (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w