1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

94 809 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên do sản xuất na của Lục Nam đang gặp phải một số vấn đề như: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa theo quy hoạch, hộ nông dân chưa được tổ chức sản xuất chặt chẽ, vẫn còn mang

Trang 1

HOÀNG VĂN TOÁN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

ĐỐI VỚI CÂY NA TẠI HUYỆN LỤC NAM,

TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

HOÀNG VĂN TOÁN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

ĐỐI VỚI CÂY NA TẠI HUYỆN LỤC NAM,

TỈNH BẮC GIANG

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS NGUYỄN VĂN VƯỢNG

2 PGS TS ĐÀO THANH VÂN

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Toán

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan

và gia đình

Trước tiên tôi xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Vượng và PGS.TS Đào Thanh Vân - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo Phòng Đào tạo, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Toán

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây na 4

1.3 Phân loại và các giống na hiện nay đang trồng 5

1.4 Tình hình trồng và nghiên cứu na trên thế giới và ở Việt Nam 8

1.4.1 Tình hình trồng và nghiên cứu na trên thế giới 12

1.4.2 Tình hình trồng và nghiên cứu na ở Việt Nam 14

1.5 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 8

1.5.1 Đặc điểm thực vật học 8

1.5.2 Điều kiện ngoại cảnh 10

1.6 Những nghiên cứu về cây na 15

1.6.1 Gieo hạt 15

1.6.2 Ghép cành 16

1.6.3 Chọn tạo giống 18

1.6.4 Các nghiên cứu về kỹ thuật đốn tỉa 19

1.7 Những nghiên cứu nhằm thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na 21

1.7.1 Nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân 21

Trang 6

1.7.2 Nghiên cứu về các biện pháp điều khiển sinh trưởng phát triển, ra

hoa, đậu quả và tăng năng suất na 23

1.8 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh 25

1.8.1 Các loại sâu hại 25

1.8.2 Các loại bệnh hại 27

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 29

2.1.4 Thời gian nghiên cứu 29

2.2 Nội dung nghiên cứu 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Đánh giá yếu tố hạn chế trong sản xuất na tại Lục Nam 30

2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong thâm canh, tăng năng suất na tại Lục Nam 30

2.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32

2.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý kết quả nghiên cứu 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Nghiên cứu hiện trạng và các yếu tố hạn chế trong sản xuất na tại Lục Nam 34

3.1.1 Hiện trạng sản xuất na tại huyện Lục Nam 34

3.1.2 Hiện trạng về kỹ thuật trồng và chăm sóc na 36

3.2 Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất và chất lượng na ở Lục Nam, Bắc Giang 42

3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến khả năng sinh trưởng cành, ra hoa, đậu quả của na 42

3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến khả năng sinh trưởng cành, thời gian ra hoa đậu quả và năng suất na 48

Trang 7

3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm lấy phấn để thụ phấn bổ sung

đến khả năng đậu quả và năng suất na 52

3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua đến năng suất và phẩm chất na 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Đề nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Chất lượng của na dai so với hai loại quả phổ biến 7

Bảng 1.2 Lượng phân bón cho na theo tuổi cây 23

Bảng 1.3 Thời vụ bón cho na 23

Bảng 3.1: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tỉnh Bắc Giang 34

Bảng 3.2: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tại huyện Lục Nam 35

Bảng 3.3 Tổng hợp các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong thâm canh cây na của các hộ nông dân ở huyện Lục Nam 37

Bảng 3.4: Tổng hợp về thành phần sâu, bệnh hại na và mức độ gây hại 39

Bảng 3.5: Tổng hợp về tình hình trồng na tại huyện Lục Nam 40

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến sinh trưởng, phát triển của cây na tại Lục Nam 42

Bảng 3.7: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến sinh trưởng các đợt lộc của cây na tại Lục Nam 44

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất na 45

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến chất lượng na 46

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến thời gian sinh trưởng, phát triển của cây na 48

Bảng 3.11: Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến sinh trưởng các đợt lộc của na 49

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất na 50

Bảng 3.13: Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến chất lượng na 51

Bảng 3.14: Ảnh hưởng của thời điểm lấy phấn đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất na 53

Bảng 3.15: Ảnh hưởng của thời điểm lấy phấn đến chất lượng na 55

Trang 10

Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế của việc thụ phấn bổ sung cho cây na 56Bảng 3.17: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh trưởng, phát triển

của cây na 58Bảng 3.18: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh trưởng lộc của na 59Bảng 3.19: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến một số yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất na 60Bảng 3.20: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến chất lượng na 61Bảng 3.21: Hiệu quả kinh tế của việc bón phân qua lá cho cây na 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Lục Nam là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, có diện tích đất tự nhiên là 59.816,55ha, diện tích đất trồng lúa là 10.121ha, diện tích cây ăn quả

là 9.179ha (trong đó vải thiều là 6.150ha, na là 1.710ha và các loại cây ăn quả khác) Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện (39%) Trong những năm qua cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Lục Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành chăn nuôi và cây ăn quả Trên địa bàn huyện đã và đang xảy ra tình trạng người nông dân bỏ ruộng không cấy lúa ngày càng lớn; một số diện tích đất đồi bãi và chân đất vàn cao đã chuyển đổi sang trồng cây ăn quả; diện tích

và giá trị trồng cây ăn quả ngày càng tăng Diện tích cây vải thiều mặc dù lớn nhất so với các loại cây ăn quả khác ở địa phương nhưng do năng suất, giá bán hằng năm không ổn định, thị trường tiêu thụ bấp bênh nên đang có xu hướng giảm mạnh Na là cây đặc sản có tiếng của Lục Nam, diện tích trồng

na của huyện đứng thứ 2 sau cây vải, do có hiệu quả kinh tế khá cao và ổn định nên diện tích trồng na được phát triển khá nhanh trong giai đoạn 2006 -

2010 Cây na đã góp phần đáng kể vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm tăng giá trị sử dụng ruộng đất, giúp tăng thêm thu nhập và góp phần xoá đói giảm nghèo cho người nông dân Tuy nhiên do sản xuất na của Lục Nam đang gặp phải một số vấn đề như: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa theo quy hoạch, hộ nông dân chưa được tổ chức sản xuất chặt chẽ, vẫn còn mang tính tự phát, mạnh ai người ấy làm, chưa quản lý được nguồn giống, quả na chín tập trung, quả bé vẹo vọ, không đồng đều, kỹ thuật trồng và chăm sóc na chưa đảm bảo, chủ yếu vẫn làm theo kinh nghiệm, được mùa mất giá, dẫn đến hiệu quả sản xuất chưa cao và chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của loại cây ăn quả này ở địa phương

Trang 12

Để kịp thời tháo gỡ những khó khăn về kỹ thuật trồng na ở huyện Lục Nam hiện nay như: ít quả, quả nhỏ, quả không đều, năng suất thấp, phẩm chất quả chưa cao, mẫu mã quả chưa đẹp, thu hoạch khó khăn, thời gian cho thu hoạch thường ngắn và khá tập trung dẫn đến cung vượt quá cầu do vậy

dễ bị tư thương ép giá Với các lý do trên và để hoàn thiện kỹ thuật trồng

na theo hướng hàng hoá tại địa phương, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang”

1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là cơ sở cho công tác nghiên

cứu các biện pháp kỹ thật thâm canh na hợp lý theo hướng sản xuất hàng hóa

- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở đánh giá khả năng sinh trưởng, ra hoa,

khả năng đậu quả, năng suất, chất lượng, rải vụ thu hoạch của cây na thông qua các biện pháp kỹ thuật đốn tỉa, thụ phấn bổ sung, sử dụng phân bón qua lá

để khuyến cáo bà con nông dân áp dụng, nâng cao hiệu quả sản xuất cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

- Đốn tỉa cành, ngọn cho cây na có vai trò rất quan trọng, vì có ảnh hưởng đến năng suất của cây Mục đích của việc đốn tỉa cành là tạo cho cây

có hình dáng đều đặn, chắc chắn, thông thoáng, hưởng được nhiều ánh sáng, loại bỏ được các cành bị sâu bệnh, cành bị khô chết và các cành vô hiệu; đồng thời đốn tỉa ngọn cũng giúp cho quá trình chăm sóc, thu hoạch thuận lợi hơn Nếu không đốn tỉa ngọn thì cây na sẽ mọc cao, dẫn đến khó khăn trong việc chăm sóc như: phải leo trèo lên cây để thụ phấn bổ sung, vặt bớt quả vẹo, thu hoạch na ; nếu không đốn tỉa cành thì các cành, các tược sẽ mọc dầy, làm cho lòng tán cây bị thiếu ánh sáng, các chồi non không phát triển được, sau vài năm cây na chỉ cho quả ở phía trên và phía ngoài tán nơi có ánh sáng, còn trong lòng tán thì không Như vậy, việc đốn tỉa các cành, ngọn là rất cần thiết

để lòng, tán cây được thông thoáng, có đầy đủ ánh sáng, kích thích các chồi cho trái phát triển nên sẽ cho năng suất cao hơn Tuy nhiên, chúng ta chưa biết đốn tỉa vào thời điểm nào thì phù hợp và phương pháp đốn tỉa như thế nào thì cho năng suất, chất lượng cao nhất Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thời gian đốn tỉa và phương pháp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng na tại Lục Nam

- Cây na ra rất nhiều hoa; na thụ phấn chéo vì nhị đực và nhụy cái thường nở lệch pha nhau Nhụy cái có khả năng nhận hạt phấn 1 - 2 ngày trước khi nhị đực tung phấn nên rất khó tự thụ phấn; nếu có tự thụ phấn được thường là nhờ gió hoặc côn trùng nên tỷ lệ đậu quả thấp, nhiều quả có tỷ lệ múi lép cao do thụ phấn không hoàn toàn Do vậy, thụ phấn bổ sung bằng tay cho na là rất cần thiết để góp phần nâng cao tỷ lệ đậu quả từ đó nâng cao năng suất na Tuy nhiên chúng ta chưa biết lấy phấn ở thời điểm nào để thụ phấn bổ sung cho na thì sẽ cho năng suất và chất lượng cao nhất Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thời điểm lấy phấn để thụ phấn bổ sung cho na ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng na tại Lục Nam

Trang 14

- Theo các nhà khoa học, bón phân qua lá thậm chí còn tốt cho cây hơn

là bón qua rễ, bởi đây là cách nhanh nhất mà chất dĩnh dưỡng được cây hấp thụ Khi bón phân qua lá, các chất dinh dưỡng được dẫn đến các tế bào, mô cây qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón qua lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mg,… các nguyên tố này tuy có hàm lượng rất nhỏ nhưng lại giữ vai trò quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có Do đó, khi bổ sung các chất dinh dưỡng trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng nên tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng Phân bón qua lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng Trong thành phần của phân bón qua lá còn tăng cường điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất, kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, giảm hiện tượng rụng trái non, quả to đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng đề kháng chống chịu sâu bệnh Do mỗi loại phân bốn qua lá có chứa thành phần các chất dinh dưỡng khác nhau và định hướng cho từng giai đoạn phát triển của từng loại cây như: lấy hoa, lấy củ, lấy hạt… vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng na tại Lục Nam

1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây na

Cây na được coi là có nguồn gốc phát sinh từ vùng nhiệt đới châu Mỹ

Từ thế kỷ XVI, các cây họ Na đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới khác,

do có tính thích nghi rộng nên hiện nay na được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa xác định được rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi, nhưng các nhà thực vật học cho rằng nó là cây bản địa của các nước thuộc Trung và Nam Mĩ, song được trồng với quy mô lớn tập trung ở Châu Á và chỉ phổ biến ở các nước nằm trong vĩ độ 20o Bắc - 30o Nam có khí hậu tương đối ẩm và khô nóng Tại

Trang 15

Châu Á na được trồng ở: Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Việt Nam… và rất

ít ở Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, na dai được trồng rộng rãi cả ngoài Bắc

và trong Nam; còn na xiêm chỉ trồng ở trong Nam (ở miền Bắc chỉ mới trồng thí nghiệm) Ở nước ta hiện nay có một số vùng trồng na khá tập trung có tiếng trong nước như: Na ở Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn; Mãng cầu ta ở Bà Đen tỉnh Tây Ninh, Ninh Thuận, Bà Rịa, Vũng Tàu; Na dai ở Lục Nam tỉnh Bắc Giang; Nê thì cả trên thế giới và trong nước chỉ trồng vài cây trong vườn, ăn quả không phải là mục đích chính; còn Bình bát là cây mọc bán hoang dại, (Trần Thế Tục, 2008) [16]

1.3 Phân loại và các giống na hiện nay đang trồng

Cây na thuộc chi Na (Annona), họ na (Annonaceae) Chi na có nhiều loài, ở Việt Nam có bốn loài là Na dai (Annona Squamosa), Na xiêm (Annona Muricata), Nê (Annona reticulata), Bình bát (Annona glabra) Trong đó chỉ

có na dai, na xiêm được trồng tập trung với mục đích kinh doanh, còn nê thì trồng lẻ tẻ vài cây trong vườn, vì quả ăn được nhưng chất lượng kém, quả bình bát cũng ăn được nhưng chất lượng còn kém hơn nữa, chủ yếu là cây mọc dại (Trần Thế Tục, Cao Anh Long, 1998) [14]

Theo yêu cầu sinh thái:

- A Squamosa (na, mãng cầu ta): Khá chịu lạnh, cần khô và được trồng

khá phổ biến ở các nước nhiệt đới ở độ cao 300 - 500m so với mặt nước biển

- A Muricata (mãng cầu xiêm): Ưa nhiệt, ẩm nên chỉ trồng được ở các

vùng nhiệt đới có nhiệt độ, độ ẩm cao

- A Glabra (bình bát): Chịu mặn, ánh sáng nên được trồng ở vùng

duyên hải nhiệt đới để làm cây chắn sóng, giữ đất hoặc làm gốc ghép, chọn tạo giống

- A Reticulata (nê): Được trồng ở vùng nhiệt đới có nhiệt độ không

cao nhưng ẩm; được trồng để làm vật liệu tạo giống Nhiều vùng còn gọi nê là

na núi vì nó trồng ở vùng nhiệt đới cao (Trần Thế Tục, Cao Anh Long, 1998) [14]

Trang 16

Tên gọi Mãng cầu hay Annona ở nước ta có sự khác nhau Ở miền Bắc gọi Annona Squamosa là na, gồm 2 loại là na dai và na bở, gọi Annona Muricata là mãng cầu, Annona glabra là bình bát, Annona reticulata là nê Ở miền Nam chỉ khác là gọi Annona Squamosa là mãng cầu dai và gọi Annona Muricata là mãng cầu xiêm (Võ Văn Chi, Trần Hợp) [20]

Vị trí của cây na trong hệ thống phân loại thực vật:

Tên khoa học: Anona Squamosa

Hiện nay có Khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở châu Phi,

và các loài khác ở châu Á

Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ về giống na ở Việt Nam Việc phân định các giống na thường dựa vào màu vỏ và

độ bở của cùi quả Với mãng cầu xiêm (A Muricata) ở miền Nam thường

phân ra các giống sau:

+ Mãng cầu xanh: loại mãng cầu màu xanh, lá và quả đều màu xanh, khi quả chín vỏ quả có màu xanh nhạt

+ Mãng cầu nâu: loại mãng cầu màu nâu, lá xanh đậm quả màu nâu + Mãng cầu vàng: là loại mãng cầu mà lá và quả có màu vàng nhạt [20]

Ở các tỉnh miền Bắc người ta phân biệt na (A Squamosa) thành hai

loại: Na dai và na bở dựa vào độ bở của cùi quả

+ Na dai: Vỏ mỏng, dễ tách bóc khỏi thịt quả, ít hạt nhiều thịt, thịt chắc, ngọt đậm và thơm ngon Hạt nhỏ và hạt rễ tách khỏi thịt quả Xu hướng hiện nay của người làm vườn là thích trồng loại na dai vì bán được giá cao, quả sau khi hái cất giữ được lâu hơn so với na bở

Trang 17

+ Na bở: Vỏ màu xanh, thịt bở, khó bóc vỏ hơn so với na dai, quả thường hay nứt, hạt khó tách khỏi thịt quả hơn, ăn ngọt song thịt quả không chắc

Bảng 1.1 Chất lượng của na dai so với hai loại quả phổ biến

(Hàm lượng chất dinh dưỡng trong 100g phần ăn được, không tính vỏ, hạt, lõi)

Hàm lượng chất dinh dưỡng Mãng cầu

dai

Mãng cầu xiêm Xoài Chuối sứ

Na là cây nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao (thể hiện qua Bảng 1.1)

(công sự Fassio, 1999) [24], riêng Annona cherimosa là loại na thích hợp ở

vùng cao và hiện không được trồng nhiều, chủ yếu dùng làm vật liệu nghiên cứu trong chọn tạo giống Na là cây được đánh giá cao nhất về mặt chất lượng ngang tầm với cây dứa Tuy là cây nhỏ nhất nhưng na dai lại là cây quan trọng và trồng nhiều nhất trong các loại na và được đánh giá cao về mặt chất

lượng chỉ sau Cherimosa, có hương vị được nhiều người ưa thích vì độ ngọt

cao, hơi có vị chua nên không lạt, lại có hương thơm, giàu sinh tố, giàu chất khoáng (cộng sự Cautin, 1999) [24]

Hiện nay, ở một số nước châu Á (Đài Loan, Thái Lan, Philippin …) đã

và đang phổ biến trồng giống lai giữa A squamosa với A muricata với tên gọi là Cherimosa có quả to, chất lượng quả tốt, ít hạt Việt Nam đã du nhập và

đang trong quá trình khảo nghiệm để đưa ra sản xuất (Trần Thế Tục, Cao Anh Long, 1998) [14]

Trang 18

Ngoài tác dụng trên, na chủ yếu dùng để ăn tươi, làm nước giải khát, làm rượu Rễ, lá, hoa, quả dùng làm thuốc cho người Quả na có vị ngọt, chua, tính ấm giúp hạ khí tiêu đờm, quả xanh dùng để chữa đi lỵ, đái tháo, tiết tinh, làm săn da, tiêu sưng … Lá tác dụng thanh nhiệt, tiêu độc, sát trùng Rễ cầm

ỉa chảy Hạt na chứa 45% tinh dầu dùng làm thuốc trừ sâu, trừ côn trùng, chấy rận … và chế mỹ phẩm

1.4 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu điều kiện ngoại cảnh

1.4.1 Đặc điểm thực vật học

Na thuộc nhóm cây ăn quả rụng lá một phần trong mùa đông, thân gỗ hoặc thân bụi cao từ 3 - 5m, có nhiều cành Cành na nhỏ, mềm, kiểu cành la thường mọc trên cành mẹ (cành của năm trước) trên tán cây, phần từ giữa trở xuống cành cho quả tốt hơn [11;13;14; 16] Lá mỏng hình mũi mác, tù hay nhọn, hơi mốc ở phần dưới, thường dài khoảng 10cm, rộng 4cm, có 6-7 đôi gân phụ (Nguyễn Mạnh Chinh, Nguyễn Đăng Nghĩa, 2006) [3] Lá nguyên mềm, dài, nhẵn, mọc so le (Trần Thế Tục, Nguyễn Ngọc Kính, 2007) [15] Lá mỏng hình thuôn dài hoặc hình trứng, mặt lá mầu xanh lục, lá non có lông thưa đến khi già thì không còn nữa, vò lá có mùi thơm Cuống lá ngắn, có lông nhỏ, chiều dài cuống khoảng 1,5-1,8cm Na thuộc nhóm cây ăn quả rụng

lá vào mùa đông Lá rụng xong trơ cuống lúc đó mới mọc mầm mới (Võ Văn Chi, Trần Hợp) [20] Cây na có bộ rễ phát triển, ăn sâu tuỳ thuộc vào loại đất

và mực nước ngầm Bộ rễ gồm một rễ cọc to, dài và nhiều rễ ngang nhỏ hơn

Hoa mọc đơn hoặc mọc thành chùm 2- 4 hoa trên nách lá hoặc đỉnh cành năm trước hoặc mọc trên đoạn dưới của các lá già Hoa nhỏ, mầu xanh lục, mọc đối với lá, có cuống dài 2- 3cm Chiều dài hoa khoảng 2- 4cm, hoa

bé 1,4- 2cm Hoa thường rũ xuống có ba lá đài mầu lục, cánh hoa xếp hai vòng, mỗi vòng ba cánh, ba cánh hoa ngoài hẹp và dầy, các cánh hoa ở trong rất hẹp hoặc thiếu hẳn

Trang 19

Nhiều nhị và nhiều lá noãn, nhị và nhụy của hoa na mọc trên cùng một hoa Nhị bé nhưng nhiều tạo thành một lớp bọc ở vòng ngoài của nhụy Nhụy cũng rất nhiều, xếp thành hình tròn, nhọn (Võ Văn Chi, Trần Hợp) [20]

Cây na thụ phấn chéo bởi hoa cái có khả năng tiếp nhận hạt phấn trước 1 - 2 ngày lúc hoa đực nở (tung phấn) Thời gian thụ phấn ngắn, cây thụ phấn tốt nhất vào khoảng 9 - 12 giờ hoặc 14 giờ 30 - 17 giờ 30 trong ngày [13;14;16]

Cây na thường ra hoa vào tháng 4- 5 dương lịch, những lứa hoa đầu thường rụng nhiều, sau đó khi bộ lá đã khoẻ, quang hợp đủ thì đậu quả Những lứa hoa cuối vào tháng 7- 8 cũng rụng nhiều, quả tạo thành nhỏ, vì vậy

na thuộc loại trái cây có mùa (Vũ Công Hậu, 1996) [9]

Kinh nghiệm trồng na của nhân dân cho biết nếu hoa nở gặp khô hạn, gió mùa Đông Bắc hay gặp mưa thì việc thụ phấn sẽ gặp khó khăn, đậu quả ít Nếu gặp ngày nắng, không mưa, gió Đông Nam thì việc thụ phấn, thụ tinh thuận lợi, đậu quả sẽ tốt Từ lúc có nụ đến lúc hoa nở khoảng 31- 45 ngày phụ thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây và độ

ẩm không khí, nếu có độ ẩm phù hợp thì hoa cái sẽ nở sớm

Quả thuộc quả kép, do kết hợp nhiều quả nhỏ lại với nhau mà thành Quả hình tim có cuống hơi lõm, mầu xanh mốc, gần như hình cầu, có đường kính từ 80- 90mm, chiều cao từ 60- 75mm, trọng lượng quả từ 100- 250g, vỏ quả xù xì (mắt na), thịt quả mềm màu trắng sữa, khi chín ăn rất ngọt, có mùi thơm đặc biệt, bên trong có nhiều hạt cứng màu đen hoặc màu nâu đen (Võ Văn Chi, Trần Hợp) [20] Thời gian sinh trưởng và phát triển của quả từ khi hoa nở đến khi quả chín khoảng 90-100 ngày (Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, 2005) [11]

Mùa na chín từ tháng 6- 9 dương lịch Miền Nam thu hoạch sớm hơn miền Bắc Quả được thu hoạch làm nhiều đợt, khi quả đã mở mắt, vỏ quả chuyển sang mầu vàng xanh, kẽ mắt na có mầu trắng (Chu Thị Thơm, Phan Thị

Trang 20

Lài, 2005) [11] Dấu hiệu na chín là mầu trắng xuất hiện ở các kẽ ranh giới giữa hai mắt, các kẽ này dày lên, đỉnh múi thấp xuống Đối với giống na bở, kẽ có thể nứt toác Vỏ quả khi vận chuyển nếu bị sát vào nhau dễ thâm lại và nát quả, mã xấu đi (Vũ Công Hậu, 1996) [9]

Cũng vì na dai dễ tính nên ở Việt Nam người ta trồng na dai rất quảng canh: không chọn giống, có khi không dùng vườn ương mà trồng bằng hạt gieo thẳng vào chỗ cố định Ở các nơi đất xấu không trồng được cây gì, thường là đất cát, không tưới nước, bỏ phân rất ít mà vườn na vẫn cho quả Tuy nhiên, quả nhỏ, khi ăn chỉ thấy hạt So sánh quả na dai của ta bán ở chợ, hai bên đường với những quả na bán ở chợ các nước Đông Nam Á thấy ngay trình độ thâm canh na của ta còn thấp Đó cũng là một thiệt thòi lớn cho nghề trồng na vì người tiêu thụ không mua, trong khi nhu cầu tiêu thụ quả tươi của

ta đang tăng lên (Vũ Công Hậu, 2000)[10]

1.4.2 Điều kiện ngoại cảnh

1.4.2.1 Về khí hậu

Na có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên thích hợp với khí hậu ấm áp và khô Tuy vậy, na vẫn sinh trưởng được trong điều kiện nóng ẩm Cây na dai tương đối chịu rét nhưng khả năng chịu rét kém vải và nhãn Cây trưởng thành có thể chịu được nhiệt độ 00C trong thời gian ngắn Người ta thấy ở 40C cây đã có thể bị thiệt hại do nhịêt độ thấp, vì vậy ít thấy na mọc ở các điểm vùng cao của các tỉnh phía Bắc, nơi hàng năm có sương muối Về mùa đông,

ở các tỉnh phía Bắc cây na ngừng sinh trưởng, rụng hết lá, mùa xuân ấm áp lại

ra đợt lá mới, nhờ đó mà na không những được trồng ở miền Bắc mà còn được trồng ở Nam Trung Quốc, Đài Loan, Bắc Ấn Độ (Vũ Công Hậu, 1996) [9]

Nhưng nếu ở các vùng mà nhiệt độ mùa hè quá cao trên 400C, lại bị hạn hoặc khô nóng cũng không thích hợp cho việc thụ phấn, thụ tinh của na và sự phát triển của quả, dễ gây hiện tượng rụng quả sau khi thụ tinh hoặc nếu quả

có phát triển được cũng kém về năng suất và phẩm chất (Trần Thế Tục,

Trang 21

2008)[16] Na sinh trưởng phát triển thích hợp ở nhiệt độ trung bình hàng năm 20- 250C, số giờ chiếu sáng trung bình 2500 giờ/năm (Nguyễn Mạnh Chinh, Nguyễn Đăng Nghĩa, 2006)[3]

Về mặt sinh lý, sinh thái, na dai cùng với nê được coi là loại cây rễ tính nhất trong họ na, trồng được ở các vùng khí hậu nhiệt đới và cả á nhiệt đới như Đài Loan Ở đồng bằng sông Hồng hay sông Cửu Long, đất tốt, đủ ẩm hay ở ven biển Nam Trung Bộ với khí hậu nóng, hạn, trên đất cát gần như bỏ hoang đều có thể trồng được na dai và có sản lượng, duy ở đồng bằng thâm canh thì quả to, sản lượng và chất lượng tốt hơn (Vũ Công Hậu, 2000) [10] Còn một ưu điểm nữa là trong các loài na, na dai là loài ra quả nhanh nhất, đầu tư cho một vườn na chóng thu vốn và đầu tư không nhiều Bệnh cây nguy hại hầu như không có, sâu nguy hiểm nhất chỉ có rệp sáp, rệp mềm và các loài này dễ trị bằng thuốc

1.4.2.2 Đất trồng

Na không kén đất, chịu hạn tốt, ưa đất thoáng, không thích đất úng [9,11,16] Đất cát sỏi, đất thịt nặng, đất có vỏ sò hến, đất đá vôi đều trồng được na (Trần Thế Tục, 2008) [16] Tuy chịu được đất cát xấu nhưng chỉ phát huy được ưu điểm nếu đất nhiều màu và nếu cây na không được bón phân thì chóng già cỗi, nhiều hạt, ít thịt (Vũ Công Hậu, 1996) [9] Dọc đường quốc lộ

ở Phan Giang và Phan Thiết nhiều người đã gặp những vườn na trên đất cát gần như trắng và trong vườn nhà trên đất xấu nhất, miễn là thoát nước, đặt cây na vào cũng có thể cho quả (Vũ Công Hậu, 2000) [10] Tuy nhiên, các loại đất phù sa, đất có tầng dày, đất rừng mới khai phá, đất đồi ven sông suối, đất chân núi đá vôi thoát nước nhiều mùn, giàu dinh dưỡng là thích hợp nhất với na

Độ pH thích hợp là 5,5 - 7,4 (Trần Thế Tục, 2008) [16] Na ưa khô trong mùa đông để rụng lá và sẽ mọc chồi hoa Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận vào mùa khô sau khi thu hoạch quả xong cây na rụng lá một phần

Trang 22

1.5 Tình hình trồng và nghiên cứu na trên thế giới và ở Việt Nam

1.5.1 Tình hình trồng và nghiên cứu na trên thế giới

Cây na dai có nguồn gốc ở vùng Caribê và Nam Mĩ, nó rất được ưa thích và được trồng nhiều nhất ở đây (chưa kể những cây mọc nửa dại) như ở các nước Mehico, Braxin, Cuba (Vũ Công Hậu, 2000) [10] Từ miền nhiệt đới châu Mỹ, cây na được du nhập sang miền nhiệt đới châu Á từ rất sớm Hiện nay cây na được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới của cả Bắc và Nam bán cầu,

thậm chí ở cả vùng á nhiệt đới Florida của nước Mỹ Chi na (Annona) có

khoảng 50 loài khác nhau trong đó có hàng chục loài có trái ăn được nhưng

chỉ có hai loài được trồng phổ biến nhất đó là mãng cầu dai (na dai - Annona squamosa) và mãng cầu xiêm (na xiêm - Annona muricata) [9] Trong các loài na (Annona) thích hợp với khí hậu nhiệt đới đứng đầu bảng là na dai, do

hương vị thích hợp với nhiều người, nhiều dân tộc và cũng do nó khá dễ tính, trồng được cả ở vùng nóng và vùng có mùa đông lạnh nên được trồng nhiều nhất trong các loài na trên phạm vi toàn thế giới (Vũ Công Hậu, 1996) [9]

Na là cây nhiệt đới, thích nghi rộng nên chúng được trồng trên toàn thế giới nhưng chỉ trồng lẻ tẻ trong các vườn, ít trồng tập trung để sản xuất hàng hoá Trước đây, na được coi là loại quả thứ yếu, chưa trở thành một loại quả chính trên thị trường hoa quả thế giới Hiện nay, do nhu cầu thị trường ngày càng cao nên cây na đã được quan tâm và chú trọng hơn Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay vẫn không có số liệu thống kê cụ thể về

na Những nước đánh giá na dai rất cao là Ấn Độ, Cu Ba, Brazil Năm

1986 - 1987, chỉ riêng ở Thái Lan đã trồng được 51.500 ha, sản lượng 188.900 tấn, một con số không nhỏ với một loại quả được coi là thứ yếu (Vũ Công Hậu, 2000) [10] Ở Ấn Độ, na dai được nhập nội từ lâu và được trồng rộng đến mức độ nó trở thành cây dại và có nhiều tác giả đã cho rằng Ấn Độ là đất tổ của na dai Theo Venkataratnam (1963), diện tích trồng na ở Ấn Độ đã đạt 44613 ha (Trần Bá Cừ, Minh Đức, 2007)[4]

Trang 23

Ngay ở Nam Trung Quốc, Đài Loan na dai cũng được đánh giá cao và được trồng rộng rãi với tên gọi là phan lệ chi [4,9]

Tây Ban Nha được coi là nơi sản xuất Cherimoya quan trọng nhất trên thế giới, với diện tích khoảng 3,266 ha năm 1999 (cộng sự Guirado, 2001, dẫn bởi Scheldeman, 2002) [29] Tỉnh Granda là nơi sản xuất chính, chiếm 90% diện tích của Tây Ban Nha, khoảng 3.090 ha, trong đó 99% diện tích được tưới với sản lượng 29.000 tấn (Gomez, 2000- thông tin cá nhân) Pê Ru năm

1998 có khoảng 1975 ha với sản lượng 14.606 tấn Vùng Đông Bắc Mararion

là vùng sản xuất chính, khoảng 665 ha (Vargas, A.L, 2000) Carlos Furche (2000) ghi nhận rằng Chi Lê có khoảng 1.152 ha, Bolovia:1.000 ha, Ecuador:

700 ha Crane & Campbell (1990) & Grossberger (1999) cũng cho biết ở California có khoảng 100 - 120 ha Cherimoya với sản lượng 453 tấn và Thái lan, Dominica & Costa Rica là nước xuất khẩu na quan trọng cho Mỹ (Pinto

& Silva,1996)[28]

Đối với Mãng cầu ta (sugar apple) vẫn đang được coi là cây trồng

vườn và chủ yếu sử dụng nội tiêu Số liệu về sản xuất sugar apple (Mãng cầu ta) trên thế giới rất ít, tuy nhiên những thông tin có được cho thấy Mãng cầu

ta là một loài có tiềm năng thị trường rất lớn của nhiều nước Mãng cầu ta được trồng thương mại ở quần đảo West Indies, Cộng hòa Đô-Mi-Nica, Mỹ (Florida), Trung Đông, Malaysia, Thái lan (Crane & Campbell, 1990) [25]

Ở Philippine theo báo cáo của Cục kinh tế Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp, năm 1978 có khoảng 2.059 ha với 6.262 tấn Ở một số nước khác như Israel, Bồ Đào Nha, Ý cũng có trồng song diện tích và sản lượng không đáng kể

Mặc dù na được trồng phổ biến ở các nước vùng nhiệt đới, song những nghiên cứu về na lại rất ít Chủ yếu tập trung vào việc tuyển lựa giống quả to,

ít hạt, độ đường cao, kỹ thuật nhân giống, bón phân, cắt tỉa nhưng còn rất hạn chế Nhiều nghiên cứu đã cung cấp thông tin về giá trị dinh dưỡng của quả na

Trang 24

dai ở thời kỳ ăn được nhưng chưa thực sự quan tâm đến biến đổi sinh lý, hoá sinh theo tiến trình phát triển của quả na Nghiên cứu về bảo quản, chế biến, thị trường tiêu thụ cũng rất hạn chế, hiện nay chủ yếu vẫn là sử dụng sản phẩm quả tươi và tiêu thụ nội địa

1.5.2 Tình hình trồng và nghiên cứu na ở Việt Nam

Những năm gần đây na được coi là cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao Vùng phân bố của cây na ở nước ta khá rộng, trừ những nơi

có mùa đông lạnh hay sương muối là không trồng được còn hầu hết các tỉnh đều có thể trồng na Ở nước ta na được trồng từ lâu nhưng mới được chú trọng, phát triển mạnh từ năm 1990 trở lại đây

Na có tính thích nghi rộng, sớm cho quả, năng suất cao, ít sâu bệnh, trồng trong vườn nhà cho năng suất cao Hiện nay na dai được coi là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, rất được ưa chuộng trên thị trường, nhiều hộ gia đình đã giàu có nhờ trồng na Ở Tây Ninh 1ha na cho thu hoạch 7 - 8 tấn quả trong 1 năm, cá biệt có hộ thu được 12 tấn/năm nhờ làm thêm vụ quả trái vụ Với 7 - 8 tấn quả/năm/ha có giá bán xô 10.000 - 12.000 đồng/kg thì 1ha na cho thu nhập khoảng 70 - 100 triệu đồng/năm Chi phí đầu tư trung bình 20 triệu đồng/ha, lợi nhuận trung bình từ 50 - 80 triệu đồng/ha Ở vùng đồi gò Hà Tây, 1ha na giá trị sản phẩm đạt được 33 triệu đồng/1năm, thu nhập thuần đạt 23 triệu đồng (Phạm Văn Côn, Phạm Thị Hương, 2004) [5]

Vùng núi đá vôi ở Đồng Mỏ (tỉnh Lạng Sơn) nói riêng và các vùng trồng na khác nói chung, nhiều gia đình làm giàu nhờ trồng na

Vùng phân bố cây na ở nước ta khá rộng, trừ những nơi có mùa đông lạnh và sương muối không trồng được na, còn hầu hết các tỉnh đều có na Phần lớn cây na được trồng lẻ tẻ trong các vườn gia đình với mục đích thu quả để ăn tươi, cải thiện khẩu phần ăn, còn một ít đem ra chợ địa phương bán, không trở thành hàng hoá lớn (Trần Thế Tục, 2008)[16]

Trang 25

Các vùng trồng na tập trung ở miền Bắc: xã Thái Đào, Lạng Giang, Bắc Giang; xã Cương Sơn, Trường Sơn, Lục Sơn, Vô Tranh huyện Lục Nam, Bắc Giang; thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn; các xã Hoà Lạc, Cai Kinh, Đồng Tân huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn Miền Nam: huyện Tân Thành, Châu Đức thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; tỉnh Tây Ninh, ngoài ra còn

ở Ninh Thuận và Đồng Nai (Trần Thế Tục, Nguyễn Ngọc Kính, 2007)[15] Năm 2003 - 2005, Đào Thanh Vân và các cộng sự Khoa Trồng trọt- Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng, tuyển chọn cây ưu tú và xây dựng quy trình thâm canh na ở Chi Lăng- Lạng Sơn Kết quả bước đầu cho thấy: Na là nguồn thu quan trọng của người dân huyện Chi Lăng, song chủ yếu lại được trồng theo lối quảng canh, thiếu đầu tư chăm sóc nên năng suất thấp, sâu bệnh phát triển, có dấu hiệu suy thoái về chất lượng

Áp dụng một số biện pháp kỹ thuật như: bón phân, tỉa cành, sử dụng chất điều hoà sinh trưởng năng suất và chất lượng được cải thiện một cách rõ rệt Kết quả của đề tài đã xác định được 8 cây ưu tú, 42 cây xuất sắc, tuy nhiên do không có sự phối hợp với các cơ quan chỉ đạo kỹ thuật địa phương nên cây tuyển chọn đã không được bảo tồn lưu giữ (Đào Thanh Vân, 2008)[18]

Những nghiên cứu về na ở trong nước cũng rất hạn chế Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ về các giống na Qua điều tra, GS.TS Trần Thế Tục nhận thấy, ở các vùng trồng có những giống na có màu vỏ khác nhau: loại vỏ màu xanh nhạt, loại vỏ màu nâu, loại mầu vàng nhạt; được xếp theo hai nhóm: nhóm na dai và nhóm na bở Xu hướng người dân thích trồng na dai vì bán được giá cao và quả cất giữ được lâu hơn sau thu hoạch (Trần Thế Tục, 2008)[16]

1.6 Những nghiên cứu về cây na

1.6.1 Gieo hạt

Là phương pháp nhân giống hữu tính được người dân sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất hiện nay do cây mọc khoẻ, chống chịu tốt, dễ làm và hệ số nhân giống cao Nếu trồng và chăm sóc tốt sau 2 - 3 năm cây có thể cho thu hoạch

Trang 26

Cách làm như sau: Chọn quả ở cây na sai quả liên tục nhiều năm, quả

ăn ngon, quả to, chọn quả ở ngoài tán, quả chính vụ đem ăn và lấy hạt làm giống Hạt được rửa sạch 2 - 3 lần, hong khô, phun thuốc trừ nấm rồi cất giữ vào nơi lạnh (có thể cất giữ được từ 3 - 5 năm) Trước khi gieo có thể đập nhẹ cho nứt vỏ hoặc trà lẫn cát khô cho thủng vỏ để hạt nhanh nẩy mầm Tốt nhất

là gieo hạt khi mới thu hoạch Sau khi gieo từ 10 - 20 ngày hạt mới nảy mầm, nếu hạt để lâu thì phải tới 120 ngày (Bùi Thanh Hà, 2001) [7]

Trước khi trồng na ra vườn người ta trồng na trong bầu Cách làm này rất phổ biến vì không làm thương tổn đến rễ như cách gieo hạt vào vườn ươm

và khi trồng phải đánh bầu Ươm cây trong bầu nilon và có đục lỗ ở đáy Đường kính bầu khoảng 15cm, chiều cao 18cm, trọng lượng đất và phân trong mỗi bầu từ 1,0 - 1,5kg, trên 1m2 vườn ươm có thể đặt được 30 - 35 bầu Trong mỗi bầu có thể gieo từ 1 - 2 hạt, khi cây mọc chọn cây sinh trưởng khoẻ giữ lại, chăm sóc cho đến đủ tuổi trồng Nói chung cây con từ 3 - 12 tháng tuổi là

có thể đem trồng, nhưng cây 3 tháng tuổi còn bé cao khoảng 15 - 20 cm trồng không tốt bằng cây từ 8 - 12 tháng tuổi Khi trồng chú ý thời vụ trồng Đất trộn bầu có thể dùng đất phù sa, đất bùn ao, cho thêm ít lân, trộn phân chuồng hoai và phân hữu cơ (Vũ Công Hậu, 1996) [8]

Tuy nhiên nhân giống bằng hạt có một số nhược điểm: Có nhiều biến dị

về các chỉ tiêu kinh tế như chậm có quả, số quả trên cây không đồng đều, tỷ lệ đậu quả, tỷ lệ phần ăn được so với quả và hạt, phẩm chất quả vì vậy ngày nay ở nhiều nước người ta đã thay thế phương pháp gieo hạt bằng phương pháp nhân giống vô tính như chiết cành, ghép cành (Trần Thế Tục, Cao Anh Long, 1998) [14]

1.6.2 Ghép cành

Nhiều loại cây trong họ na, do huyết thống gần có thể ghép loại nọ lên loại kia Ở châu Mỹ La tinh có tới 9, 10 loại na có thể kết hợp tốt với nhau thành từng cặp, còn ở Việt Nam chỉ có 4 loại : Na dai, na xiêm, bình bát, nê

Từ các tài liệu và thực tế sản xuất cho biết:

Trang 27

Các loài thuộc chi na đều có thể ghép lên nhau được nhưng nếu muốn

có hiệu quả kinh tế phải chọn cặp ghép tiếp hợp tốt với nhau

Na xiêm ghép lên nê hay na dai không tốt nhưng na xiêm ghép lên bình bát thì tiếp hợp tốt, sinh trưởng, kết trái bình thường và ở miền Nam đã sử

dụng rộng rãi kinh nghiệm này để sản xuất cây na xiêm ghép

Na dai ghép lên bình bát hay na xiêm thì tuy có thể sống nhưng sau đó tiếp hợp không tốt do đường kính gốc ghép và cành ghép khác nhau nhiều, trao đổi nhựa giữa cành ghép và gốc ghép khó sau một thời gian thì cành ghép

chết dần

Na dai ghép lên nê thì tiếp hợp, sinh trưởng phát dục rất tốt nhờ nê có tính thích ứng tốt nhưng chỉ có thể trồng ở đất cao, không úng nước Với na

xiêm, nê, bình bát, chắc chắn nhất là ghép cùng loài

Hiện nay có 2 phương pháp nhân giống vô tính na được sử dụng phổ biến nhất là ghép cành và ghép mắt Ở Việt Nam, ghép mắt mới áp dụng cho ghép na

xiêm lên bình bát, các phương pháp ghép khác ít sử dụng trong sản xuất

- Các phương pháp ghép:

Ghép áp: Gốc ghép trồng trong bầu, được kê hay buộc lên cao gần cành

ghép Cắt hai lát để lộ tượng tầng rồi buộc áp vào nhau Khoảng 2 tháng sau khi ghép có thể cắt dời cành ghép đưa vào vườn ươm chăm sóc tới khi cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn thì đem trồng vườn ăn quả Ở miền Nam, người

ta cải tiến ghép áp bằng cách cắt cụt ngọn gốc ghép rồi cắt hai lát chéo nhau thành hình nêm, ở cành ghép chỉ cắt một lát, xiên từ dưới lên sau đó lùa gốc

đó dùng dây buộc chắc, che kín để nước mưa không thấm vào được, sau 3 tuần mới được mở dây Nếu cành ghép nhú chồi thì cắt ngọn gốc ghép và chờ cho ra lá ổn định mới đem đi trồng

Trang 28

- Thời vụ ghép: Từ đầu mùa mưa tới cuối mùa mưa

Ở Cu Ba nơi có nghề trồng na từ lâu đời và rất được coi trọng, các giống na đều được nhân bằng phương pháp ghép cành hay ghép mắt Dù ghép cành hay ghép mắt người ta đều chủ trương dùng gốc ghép đã cứng cáp, đường kính từ 12 - 15mm hoặc hơn, 12- 24 tháng tuổi để có cây ghép

to, khoẻ đánh đi trồng chóng phục hồi, ra hoa quả nhanh, vườn na đồng đều Chỉ ghép khi na đang trong thời gian nghỉ Thực tế cho thấy ghép cành được ưa chuộng hơn ghép mắt vì cây ghép khoẻ hơn Cành ghép là cành 12 tháng tuổi, đường kính từ 5 - 10mm, dài 15cm, cắt ở chỗ lá đã rụng rồi ngâm 1- 2 phút để khử trùng trong dung dịch CuSO4 60g trong 20 lít nước Gốc ghép đường kính thường phải đạt 15mm trở lên (gốc ghép 18 - 24 tháng tuổi) và cũng có thể ghép trên cây lớn đường kính gốc 15cm và dài hơn, khi đốn đi để đổi giống

Với nhân giống vô tính thì phương pháp ghép cành và ghép mắt là 2 phương pháp ghép hay được sử dụng phổ biến vì cắm cành còn đang nghiên cứu; còn chiết cành theo các tác giả Ấn Độ thì ít có triển vọng thực hiện rộng rãi trong sản xuất (Trần Thế Tục, Đoàn Thế Lư, 1998)[14]

1.6.3 Chọn tạo giống

- Với na dai

Từ xưa tới nay, na được trồng chủ yếu bằng hạt, hơn nữa chúng khá dễ tính và ít được chú trọng nên chúng không giữ được những phẩm chất tốt ban

Trang 29

đầu: quả nhỏ, nhiều hạt, chất lượng kém… Song các nhà nghiên cứu lại nhận định rằng việc cải tiến giống na dễ vì na dai là loại quả ngon lại dễ tính mặc

dù không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới việc cải tiến giống na chưa làm được bao nhiêu Dẫn chứng là trong một cuộc điều tra ở bang Maharashtra, Ấn Độ người ta thấy ở na dai trọng lượng quả từ 130 đến 370g,

số hạt trong một quả từ 14 đến 66, tỷ lệ cùi (phần ăn được) từ 34,4% đến 60,6%, chất hoà tan từ 18,0- 28,2, độ chua từ 0,20%- 0,80% Với những biến thiên lớn như vậy, chỉ cần chọn cây tốt nhân rộng ra Lai tạo ra giống mới cũng nhanh vì dù gieo bằng hạt, na dai cũng chỉ cần từ 2- 3 năm là có quả Canizares cho biết, ở Cu Ba đã có những giống na không hạt nhưng quả nhỏ, sản lượng thấp nên cần phải cải tiến thêm (Trần Thế Tục, Nguyễn Ngọc Kính, 2007)[15]

- Với na xiêm

Cũng như na dai, ở trong nước công tác chọn giống na xiêm chưa làm được nhiều Chưa nói đến dòng vô tính ngay đến vùng chuyên canh cũng chưa có Phải bắt đầu bằng việc chọn những cây mẹ, có những đặc tính như: đậu trái nhiều, hình thù đều đặn (có khả năng thụ phấn tốt), ít xơ, tỷ lệ cơm (phần ăn được) cao, mùi thơm hấp dẫn rồi nhân vô tính, so sánh để tạo ra những dòng vô tính (Trần Thế Tục, Đoàn Thế Lư, 1998) [14]

1.6.4 Các nghiên cứu về kỹ thuật đốn tỉa

Đốn tỉa: Theo cộng sự Castro (1999) dẫn khẳng định của Tustin (1997) rằng đốn tỉa là biện pháp kỹ thuật quan trọng để điều chỉnh tán cây Đốn tỉa ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây thông qua việc điều chỉnh giữa sinh trưởng sinh dưỡng và ra quả (cộng sự Cautin, 1999) [24] Có một vài kiểu đốn tỉa như đốn tạo bóng cây, đốn bảo vệ, đốn trẻ lại (còn gọi là đốn xanh) (Torres & Sanchez, 1992)[30]; (Agustin & Alviter, 1966)[21]; (Pinto & Silva, 1996)[28]; (Nakasone

& Paull, 1998)[27]; (Bonaventure, 1999)[23] Tuy nhiên (cộng sự Ovalla, 1999)[24] cho rằng chỉ có 2 kiểu đốn cơ bản là đốn tạo hình và đốn trong thời kỳ cây cho quả

Trang 30

Đốn tạo hình được tiến hành từ năm thứ nhất đồng thời với việc huấn luyện cây, phụ thuộc vào từng loài và tiếp tục tới năm thứ 5 (Agustin & Alviter, 1966) [21]

Điều này rất cần thiết đối với cherimoya ngay từ khi còn trong vườn ươm (Nakasone & Paull, 1998) [27] Tuy nhiên đối với soursop và sugar apple chúng chỉ có những cành sát mặt đất và có một thân chính thì không cần thiết phải tiến hành sớm như vậy (Pinto & Silva, 1996) [28]

Mục đích của đốn tỉa để: Tạo ra một khung tán cho năng suất tốt nhất; Tiếp nhận không khí và ánh sáng tốt; Tạo điều kiện dễ dàng cho chăm sóc như: thụ phấn, phun thuốc và thu hoạch; Loại bỏ những cành quá thấp, đặc biệt là những cành chạm đất và những cành chen lấn cọ xát với các cành khác (Torres & Sanchez, 1992)[30]; (Pinto & Silva, 1996)[28]; (Nakasone & Paull, 1998) [27]; (Bonaventure, 1999) [23]

Anderson & Richardson, 1992 [22] mô tả kỹ thuật đốn tỉa trong 4 năm đầu bao gồm: Cắt ngọn chỉ để thân chính cao 80 cm để kích thích các cành cấp 1 phát triển Đến mùa xuân năm thứ 2, cắt những cành cấp 1 chỉ để lại độ dài 40 cm để kích thích cành cấp 2 phát triển Tương tự năm thứ 3 và thứ 4 cũng cắt tỉa như vậy, nhưng cành cấp 2 để lại 30 cm, cành cấp 3 để lại 20cm

Agustin & Alviter (1996) mô tả phương pháp cắt tỉa đối với cherimoya

có khác một chút là giữ lại 2 hoặc 3 cành chính ngay từ tháng thứ 4 hoặc thứ

5 sau trồng Hai cành chính được chọn để lại phải là 2 cành khỏe, các cành khác đều phải loại bỏ để 2 cành phát triển theo hình chữ V [21] Nếu tạo bộ khung 3 cành như phương pháp của Nakasone & Paull (1998) thì thân chính cao 90 cm cắt bỏ ngọn để kích thích cành bên mọc tạo thành tam giác giữa các cành với nhau một góc bằng 1200, cành nọ cách cành kia 15-25 cm ở phía trên để tạo bộ khung chắc sau 5 năm trồng (Nakasone & Paull, 1998)[27]

Trang 31

Đốn tỉa giai đoạn cây đã cho quả là việc làm bình thường đối với cherimoya và sugar apple (Agustin & Alviter, 1996)[21]; (Bonaventure, 1999)[23], song đối với soursop lại không được đề cập (Torres & Sanchez, 1992)[30]; (Pinto và Silva, 1996)[28] Lý do giải thích là do vị trí của mầm sinh trưởng của soursop là ở nách lá còn của cherimoya và sugar apple lặn ở chân cuống lá (Nakasone & Paull, 1998)[27]

Đốn tỉa giai đoạn cây cho quả đối với sugar apple là cắt tất cả các cành 1 năm tuổi, mỗi cây chỉ để lại 120 -150 cành với chiều dài 10 cm (Nakasone & Paull, 1998) Hoa sẽ ra ngay ở cuối cành mới bật Ở Trung Quốc, Đài Loan tỉa quả thông thường vào tháng giêng hoặc tháng hai, thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 9 Tuy nhiên nếu đốn tỉa quả vào mùa Hè (tháng 6 - 10) thì thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 3 Sự ra quả mùa Đông cao nhất khi những mầm Hè được cắt tỉa so với những cành quả không cắt tỉa hoặc cắt tỉa cuối tháng 5 (Nakasone & Paull, 1998)[27]

1.7 Những nghiên cứu nhằm thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, ra hoa,

đậu quả và tăng năng suất na

1.7.1 Nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân

Việc bón lót trước khi trồng tùy thuộc vào từng loài và dinh dưỡng của đất trồng Ở Venezuela thường bón cho mỗi hố trồng soursop 250g phân NPK tổng hợp 10-10-15 hoặc 10-15-15 và 5 kg phân hữu cơ (Araque, 1971) Cần điều chỉnh pH đất tới 6,0 bằng bón đô- lô- mit hoặc vôi bột (Trần Thế Tục, 2008) [16]

Ở Ấn Độ phân bón cho cây vào đầu mùa mưa với tỷ lệ 250g N + 125 g

P + 125g K cho 1 cây (Anon, 1981) Việc bón phân cho na căn cứ vào tuổi cây và tùy từng loài Ibar (1979) khuyến cáo bón phân cho cherimoya trong giai đoạn chưa cho quả (1-3 năm tuổi) như sau: cây 1 năm tuổi: 240g N + 120g P + 120 g K; cây 2 năm tuổi: 360 g N + 180g P + 180g K; cây 3 năm tuổi: 480g N + 240g P + 240g K (cho 1 cây/năm) (Trần Thế Tục, 1994) [13]

Trang 32

Ngoài phân tích đất, phân tích lá để bón phân cho na cũng đã được áp dụng ở nhiều nước (Mengel & Kirkby, 1987, Gonzalez & Esteban, 1974, Lapros, 1991) Hàm lượng các nguyên tố đa lượng và vi lượng biểu hiện trong

lá khi đủ dinh dưỡng hoặc thiếu phụ thuộc vào từng loài, ví dụ: Loài cherimoya, hàm lượng các nguyên tố N,P,K trong lá cây bình thường đủ dinh dưỡng là: 1,9 - 0,17 - 2,0%; ở cây thiếu dinh dưỡng là 0,72 - 0,09 - 1,00%; Loài soursop: cây đủ dinh dưỡng là 1,76 - 0,29 - 2,6% và cây thiếu dinh dưỡng là 1,10 - 1,11 - 1,26% Loài sugar apple cây đủ dinh dưỡng N là 2,8 -3,4; P: 0,34 ; K: 0,87 - 2,47%; cây thiếu dinh dưỡng N là 1,9 - 2,8; P: 0,17 - 0,19 và K là 0,75 - 1,66 (Mengel & Kirkby, 1987) [26]

Kích thước quả, màu sắc, hình dạng và vị quả là những đặc điểm chất lượng đều bị ảnh hưởng do thiếu dinh dưỡng (Mengel & Kirkby, 1987) Undurraga et al (1995) báo cáo rằng nếu bón 4,14 - 6,72 kg N (dạng urea)/cây cherimya giống “Concha Lias” ở Colombia thì TSS là thấp nhất, thịt quả cứng

và nhiều a xít Ông khuyến cáo nếu bón 4,14 kg N/cây sẽ làm giảm chất lượng quả khi bảo quản (Mengel & Kirkby, 1987) [26]

Quả na chứa hàm lượng kali rất cao nên để tránh tình trạng thiếu kali ảnh hưởng đến chất lượng quả, thì hàm lượng kali trong lá nên duy trì ở mức 1,0% (Torres & Sanchez, 1992; Pinto & Silva, 1996) [28;30]

Đối với cây trong giai đoạn đã cho quả, người ta đã tính được rằng lượng dinh dưỡng trong đất bị lấy đi từ quả phụ thuộc vào loài, giống và năng suất (Mengel & Kirkby, 1987) Guirado (1999) nghiên cứu vườn cherimoya với mật độ 156 cây/ha và năng suất 89,7 kg/cây, khi phân tích 1kg quả thấy tổng số lượng dinh dưỡng là 6,8g N; 0,3g P; 2,7g K; 0,6g Ca; 1,9g Mg (Mengel & Kirkby, 1987) [26]

Để cây na sớm cho quả và năng suất cao cần bón kết hợp giữa phân hữu cơ và vô cơ đủ số lượng và đáp ứng nhu cầu của cây ở các thời kỳ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong năm, có thể bón theo liều lượng và thời

vụ như sau:

Trang 33

Bảng 1.2 Lượng phân bón cho na theo tuổi cây Tuổi cây

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2004 - Sổ tay trồng và chăm sóc

một số loại cây ăn quả) [1]

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2004 - Sổ tay trồng và chăm sóc

một số loại cây ăn quả)[1]

Cách bón: Cuốc rãnh hoặc hố quanh tán Nếu bón thúc thì cuốc nông

10cm, bón lót cuối năm cuốc rộng 20cm, sâu 30cm, bón xong lấp đất

1.7.2 Nghiên cứu về các biện pháp điều khiển sinh trưởng phát triển,

ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na

1.7.2.1 Điều khiển ra hoa trái vụ cho na

Đây là một yêu cầu của thị trường làm sao để có thể kéo dài thời gian thu hoạch na hàng năm Điều khiển ra hoa trái vụ cũng là một khâu trong quy trình kỹ thuật thâm canh na Đặc điểm của Na là sau khi rụng lá, cành sẽ nảy chồi lá mới, trên đó có mang theo hoa Tùy từng vùng mà có cách xử lý ra hoa rải vụ như sau:

Trang 34

Ở những vùng khô hạn cục bộ trong năm có thể thông qua việc điều tiết nước kết hợp với việc bón phân như kiểu "xiết nước" với vườn quýt ở đồng bằng sông Cửu Long, làm cho cây ra hoa chậm lại (Đường Hồng Dật, 2000) [6]

Để tự nhiên na rụng lá vào tháng 12 - 1, ra hoa, quả vào tháng 5 - 6, chín vào tháng 9 Muốn na ra hoa sớm, kết quả vào tháng 4, thu hoạch vào 5 - 15/8 thì cần thực hiên đồng thời một số biện pháp kỹ thuật sau:

Sau thu hoạch tỉa bỏ cành la, cành vóng, cành sâu bệnh để tán thông thoáng Vào tháng 11 vặt hết lá xanh trên tán Có thể dùng thuốc dấm hoa quả (dung dịch Ethylen 40%), pha 1 lọ 5ml với 3 lít nước, phun ướt tán Sau 10 -

15 ngày thì na sẽ rụng hết lá Vào đầu tháng 2, cần tưới ẩm, bón thúc phân sớm Bón mỗi cây 20 - 30 kg phân chuồng hoai mục và 3 - 10kg NPK (5:10:3) đồng thời giữ ẩm liên tục, cây sẽ ra hoa và kết quả vào tháng 4 như ý muốn, (Trần Thế Tục, 2008) [16]

Kinh nghiệm trồng na ở Thái Lan, người ta còn kết hợp việc cắt tỉa với tuốt lá để làm cho hoa ra muộn hơn Thường cắt tỉa vào tháng 5 chọn cắt những cành non, chỉ để lại đoạn cành bánh tẻ có màu xanh nâu Sau đó tuốt hết lá, cành này sẽ mọc chồi mới có hoa và quả thu hoạch vào tháng 10 - 11 Các biện pháp làm cho na ra quả trái vụ đều có kết hợp với việc bón phân và tưới nước

1.7.2.2 Thu hoạch

Na dai khi đã mở mắt, vỏ quả chuyển màu vàng xanh là quả đã già, cần thu hoạch ngay, mùa thu hoạch bắt đầu vào tháng 6 cho đến tháng 9 - 10 âm lịch Từ khi bắt đầu nở hoa tới khi thu hoạch là 110 - 120 ngày Quả cho thu hoạch sớm hay muộn phụ thuộc nhiệt độ, điều kiện cung cấp nước tưới ở nơi trồng Nhiệt độ cao, nước đầy đủ thì quả to và sớm thu hoạch hơn, (Trần Thế Tục, 2008) [16]

Quả hái lúc đã già: Na mở mắt, khe hở giữa các mắt nông và hạt có màu nâu hoặc nâu đen Dùng kéo cắt sao cho quả mang theo một đoạn cuống Quả na già hái về, bảo quản ở nhiệt độ 25 - 30oC sau 2 - 3 ngày là chín

Trang 35

Với na xiêm: thu hoạch khi vỏ quả từ màu xanh tối, bóng chuyển sang vàng và kém bóng đi một chút, rõ hơn nữa là các gai trên lưng mỗi múi tách nhau ra và trương nước Khác na dai, na xiêm hầu như chín quanh năm, (Trần Thế Tục, 2008) [16]

Thường dùng nhiệt độ thấp để bảo quản, để đảm bảo được cảm quan và chất lượng quả tốt nhất là bảo quản trong nhiệt độ 15 - 20oC, độ ẩm không khí

85 - 90% Trước khi bảo quản cần dùng 0,5 - 1,0 g/lít Benlate xử lí quả trong

5 giây hay 500mg/lít Carbendazin ngâm trong 1 phút để chống nấm bệnh làm thối quả, (Trần Thế Tục, 2008) [16]

1.8 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh

Na được coi là một loại cây ít sâu bệnh nguy hiểm xong nếu trồng tập chung thì vườn cây thường có rất nhiều sâu bệnh hại, ảnh hưởng đáng kể tới năng suất, phẩm chất quả Vì vậy cần thường xuyên theo dõi để kịp thời phát hiện sâu bệnh hại và có biện pháp phòng trừ kịp thời

1.8.1 Các loại sâu hại

1.8.1.1 Sâu hại hoa còn gọi là bọ đục bông, sâu vòi voi

Thuộc bộ cánh cứng Coleoptera Sâu trưởng thành hình bầu dục màu nâu xám Sâu non có màu trắng sữa, đầu màu nâu Sâu trưởng thành hoạt động chủ yếu vào ban ngày, thường tập trung phía trong cánh hoa và đẻ trứng luôn trong đó Sâu non, sâu trưởng thành đều cắn phá cánh hoa

Rệp bông hay còn gọi là rệp sáp giả (Planococcus) là loại sâu đa thực,

cơ thể phủ đầy chất xám màu trắng như bông gòn Chúng gây hại trên lá và trái làm cho lá quăn, trái không lớn được Nếu chúng tấn công vào giai đoạn

Trang 36

trái non thì trái thường bị rụng hoặc khô tóp lại, giai đoạn trái phát triển thì khi chín thịt quả nhạt, có mùi hôi mất giá trị thương phẩm (Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn, 2004) [1]

Cách điều trị:

Khi trồng chú ý bố trí mật độ khoảng cách hợp lí, không trồng quá dày

và tạo cho vườn na được thông thoáng

Thường xuyên cắt tỉa những cành bị sâu bệnh, cành khuất trong tán lá

để vườn được thông thoáng Những quả, cành có quá nhiều rệp thì nên cắt bỏ

và đem đốt để hạn chế sự lây lan của rệp

Rệp di chuyển được là nhờ kiến Để hạn chế sự lây lan này thì cần phải trừ kiến bằng cách: dọn sạch cỏ rác, lá cây mục ở gốc na và có thể dùng Padan, Basudin hoặc Regent hột dải xung quanh gốc

Mật độ rệp cao, có thể dùng các loại thuốc trừ sâu ít độc hại như: Dragon 58EC (10 - 15cc/8lít nước), Sago - Super 20EC (25cc/8lít nước), Dimenat 40EC phun 2 lần liên tiếp cánh nhau 5- 7 ngày, ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 15 - 20 ngày Nếu trong thời gian thu hoạch thì phải hái hết quả già, quả chín rồi mới phun thuốc (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004) [1]

1.8.1.3 Sâu đục quả (Anonaepestis bengalella)

Sâu trưởng thành là loài bướm có màu nâu xám, cánh trước có màu xanh ánh kim Sâu non có màu đen, khi phát triển đầy đủ sâu non dài khoảng

20 - 25mm Sâu non mới nở ra bắt đầu cắn, đục vào bên trong thịt quả Triệu trứng quả bị sâu hại là thấy bên ngoài vỏ quả có phân sâu đùn ra ngoài, thường trên một quả có nhiều sâu phá hại (Nguyễn Danh Vàn, 2002) [17]

* Biện pháp phòng trị:

Thường xuyên kiểm tra để phát hiện và kịp thời thu gom các quả bị hại đem chôn hoặc đốt để hạn chế mật độ sâu ở những đợt kế tiếp

Trang 37

Dùng thuốc hoá học: Xử lí vào thời điểm sâu non nở rộ mà chưa kịp đục vào bên trong quả Dùng Sherzol 205EC (20ml/8lít nước) phun khi quả

cỡ ngón tay út hoặc SecSaigon 25EC, Fenbis 25EC Chú ý phun kĩ vào quả, không phun tràn lan cả vườn để tiết kiệm thuốc, đồng thời duy trì được quần thể thiên địch trong vườn và cần đảm bảo đúng thời gian cách ly (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004) [1]

* Cách phòng trừ:

Phun ngừa lúc quả còn nhỏ đến trước lúc thu hoạch 15- 20 ngày Phun định kì 1 lần/tháng Có thể sử dụng các loại thuốc sau: Bendazol 50WP (100g/8lít nước) hay Carbenzim 500FL (15ml/8lít nước) (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004) [1]

1.8.2.2 Bệnh thối rễ

Do nấm Fusarium solani gây ra Cây bị bệnh sẽ sinh trưởng kém, lá vàng và rụng, quả ít và nhỏ Nấm sống trong đất, phá hại bộ rễ, hạn chế sự hấp thụ nước và chất dinh dưỡng cung cấp cho cây, bị hại lâu ngày bộ rễ có thể bị hư hại hoàn toàn làm cho cây bị chết

Trang 38

* Cách phòng trừ:

Thoát nước cho vườn na, không để nước đọng trong mùa mưa

Hàng năm bón bổ sung vôi và dùng thuốc Boocđô hoặc các loại thuốc

có chứa gốc đồng tưới vào gốc na 2 - 3 lần (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004) [1]

Hiện nay đã có rất nhiều những tiến bộ kỹ thuật mới đã thực hiện thành công trên nhiều đối tượng cây ăn quả, có thể áp dụng cho cây na như: kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp ghép, kỹ thuật cắt tỉa kết hợp với thụ phấn bổ sung, sử dụng phân bón qua lá, phân bón tổng hợp, chất điều hòa sinh trưởng cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác đất dốc và phòng chống sâu bệnh … Những tiến bộ kỹ thuật này có thể lựa chọn áp dụng để nâng cao năng suất, chất lượng cho cây na tại Lục Nam tỉnh Bắc Giang Đây cũng là những nội dung chính mà đề tài đặt ra trong luận văn này

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thí nghiệm được tiến hành trên giống na dai, cây 8 tuổi

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Phân bón qua lá HPC sản phẩm RA HOA BỘT (tên khoa học HP-3) của Công ty TNHH sinh học HPH , loại đóng gói 10gr, thành phần hoạt chất N:10%; P2O5:33%; K2O:20%; MgO:0,3%; B2O3:3000ppm; Zn:500ppm; NAA:800ppm; Vitamin B1; Acid amin và phụ gia đặc biệt

- Phân bón qua lá Botrac của Công ty TNHH Hoá Nông Hợp Trí, loại chai 100ml, thành phần hoạt chất Boron 10,9% (150g/L)

- Phân bón qua lá Atonik 1.8 DD của Công ty TNHH ADC, thành phần hoạt chất Sodium - S - Nitrogualacolate 0,03%, Sodium - O - Nitrophenolate 0,o6%, Sodium - P - Nitrophenolate 0,09%

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Tại vườn na của hộ nông dân ở xã Đông Phú huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang

2.1.4 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015

2.2 Nội dung nghiên cứu

* Đánh giá thực trạng sản xuất và các yếu tố hạn chế trong sản xuất

na tại Lục Nam

* Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong thâm canh, tăng năng suất na tại Lục Nam

Trang 40

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá yếu tố hạn chế trong sản xuất na tại Lục Nam

- Theo phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp từ các cơ quan chức năng của huyện Lục Nam: UBND huyện, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm khuyến nông

- Điều tra hộ nông dân bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân trồng na và bằng phiếu điều tra để xác định yếu tố hạn chế đối với sản xuất cây na

2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong thâm canh, tăng năng suất na tại Lục Nam

2.3.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến khả năng sinh trưởng cành, ra hoa, đậu quả và năng suất na

Thí nghiệm gồm 5 công thức, mỗi công thức 5 cây, 3 lần nhắc lại, bố trí trên vườn trồng sẵn của nông dân theo phương pháp chọn cây đồng đều để bố trí các công thức

Công thức 1: Đốn tỉa vào tháng 10

Công thức 2: Đốn tỉa vào tháng 11

Công thức 3: Đốn tỉa vào tháng 12

Công thức 4 (ĐC): Đốn tỉa vào tháng 01 năm sau

Công thức 5: Đốn tỉa vào tháng 02 năm sau

Các công thức được tiến hành trên nền phân bón cho 1 cây trong 1 năm

là 20 kg phân gà + 1kg phân đạm Ure + 0,5 kg Supe lân + 0,5 kg kali clorua

và được tưới nước, xới xáo, phòng trừ sâu bệnh theo quy trình chăm sóc na tại địa phương

Thời điểm và kỹ thuật đốn: Đốn vào ngày 15 hàng tháng; đốn cành ngọn chỉ để cây cao khoảng 1,8m, để lại các cành có đường kính 1cm trở lên cách chỗ chặt cành 15- 20 cm

Ngày đăng: 07/04/2016, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Chất lượng của na dai so với hai loại quả phổ biến - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.1. Chất lượng của na dai so với hai loại quả phổ biến (Trang 17)
Bảng 3.1: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tỉnh Bắc Giang  Năm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.1 Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tỉnh Bắc Giang Năm (Trang 44)
Bảng 3.5: Tổng hợp về tình hình trồng na tại huyện Lục Nam - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.5 Tổng hợp về tình hình trồng na tại huyện Lục Nam (Trang 50)
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến sinh trưởng, - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến sinh trưởng, (Trang 52)
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến yếu tố - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến yếu tố (Trang 55)
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến một số yếu tố - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến một số yếu tố (Trang 60)
Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế của việc thụ phấn bổ sung cho cây na  Loại phấn  Thu (1000đ)  Chi (1000đ)  Thu - Chi (1000đ) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế của việc thụ phấn bổ sung cho cây na Loại phấn Thu (1000đ) Chi (1000đ) Thu - Chi (1000đ) (Trang 66)
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh trưởng lộc của na - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh trưởng lộc của na (Trang 69)
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến chất lượng na - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến chất lượng na (Trang 71)
1. Hình ảnh công thức để nguyên không đốn tỉa - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
1. Hình ảnh công thức để nguyên không đốn tỉa (Trang 90)
3. Hình ảnh đốn đau: - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
3. Hình ảnh đốn đau: (Trang 91)
4. Hình ảnh thụ phấn: - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
4. Hình ảnh thụ phấn: (Trang 91)
5. Hình ảnh thu hoạch quả na: - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
5. Hình ảnh thu hoạch quả na: (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm