Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ.. Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến năng suất, phẩm chất quả c
Trang 1
KIỀU QUỐC PHONG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG VẢI VPH.40
TẠI TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - NĂM 2015
Trang 2
KIỀU QUỐC PHONG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG VẢI VPH.40
TẠI TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số : 62.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Huấn
THÁI NGUYÊN - NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Kiều Quốc Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, tôi đã hoàn thành bản luận văn nghiên cứu khoa học Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới các thầy giáo, cô giáo trong Phòng đào tạo; Khoa Nông Học, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Thế Huấn - Trưởng khoa Nông học - Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã luôn quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và công tâm trong suốt quá trình tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
và hoàn thành luận văn
tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý kiến bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình sự biết ơn sâu sắc nhất
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Học viên
Kiều Quốc Phong
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài: 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc cắt tỉa 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc ứng dụng chất điều tiết sinh trưởng: 4
1.2 Những nghiên cứu về nguồn gốc, phân bố và phân loại giống vải 7
1.2.1 Nguồn gốc, phân bố 7
1.2.2 Tình hình sản xuất vải trên thế giới 8
1.2.3 Những nghiên cứu về tình hình sản xuất và tiêu thụ vải ở Việt Nam 9
1.2.4 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, chế biến và tiêu thụ vải ở tỉnh Phú Thọ: 12
1.3 Yêu cầu sinh thái của cây vải 14
1.4 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái 18
1.4.1 Đặc điểm thực vật học 18
1.4.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây vải 21
1.5 Nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh cây vải 22
1.5.1 Nhu cầu dinh dưỡng và phân bón cho vải 22
1.5.2 Nghiên cứu về sử dụng chất điều hoà sinh trưởng cho vải 24
Trang 61.5.3 Những nghiên cứu về các biện pháp tác động cơ giới 25
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 28
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 28
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu: 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4 Xử lý số liệu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ 34
3.1.1 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến thời gian ra lộc thu của giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ 34
3.1.2 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến khả năng ra lộc thu của giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ 35
3.1.3 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến hình thái lộc thu của giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ 36
3.1.4 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến diện tích lá của giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ 37
3.1.5 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến ra hoa, đậu quả của giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ 38
3.1.6 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến năng suất, phẩm chất quả của giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ 41
3.1.7 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến chất lượng quả vải VPH.40 42
3.2 Ảnh hưởng của GA3 đến khả năng phát triển của giống vải chín sớm VPH.40 43
3.2.1 Ảnh hưởng của GA3 đến khả năng đậu quả: 43
Trang 73.2.2 Ảnh hưởng của GA3 đến khả năng giữ quả vải VPH.40 45
3.2.3 Ảnh hưởng của GA3 đến năng suất quả vải VPH 40 46
3.2.4 Ảnh hưởng của GA3 đến phẩm chất quả vải VPH.40 48
3.3 Ảnh hưởng của Ethrel đến khả năng diệt lộc đông và năng suất, phẩm chất giống vải chín sớm VPH.40 49
3.3.1 Ảnh hưởng của Ethrel đến khả năng diệt lộc đông 49
3.3.2 Ảnh hưởng của Ethrel đến khả năng ra hoa, đậu quả vải VPH.40 50
3.3.3 Ảnh hưởng của Ethrel đến năng suất vải VPH.40 52
3.3.4 Ảnh hưởng của Ethrel đến phẩm chất vải VPH.40 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Đề nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 8NSSVH Năng suất sinh vật học
TIPRI Viện nghiên cứu chính sách lương thực thế giơi
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất vải ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam: 10
Bảng 1.2: Sản lượng các sản phẩm chế biến vải năm 2013 11
Bảng 1.3 Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải năm 2013 12
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng lâu năm 14
Bảng 1.5: Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải tính theo tỷ lệ 22
Bảng 1.6: Lượng phân bón cho vải ở một số nước 23
Bảng 3.1 Thời gian ra lộc thu ở các dạng hình cắt tỉa 34
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến khả năng ra lộc thu 35
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến diện tích lá 38
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến khả năng ra hoa 39
Bảng 3.6 Tỷ lệ đậu quả và động thái rụng quả ở các dạng hình cắt tỉa 40
Bảng 3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống vải VPH.40 41
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các dạng hình cắt tỉa đến chất lượng quả vải VPH.40 43
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của GA3 đến tỷ lệ đậu quả vải VPH.40 44
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 47
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của GA3 đến phẩm chất của giống vải VPH.40 48
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của các liều lượng ethrel đến khả năng diệt lộc đông 50
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của các liều lượng ethrel đến khả năng ra hoa, đậu quả 51
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của các liều lượng ethrel đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 52
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của các liều lượng Ethrel đến phẩm chất 53
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ động thái rụng quả của giống vải VPH40 ở các dạng hình
cắt tỉa từ khi bắt đầu đậu quả đến khi thu hoạch 40 Hình 3.2: Biểu đồ năng suất thực thu của giống vải VPH40 ở các công thức
thí nghiệm 42 Hình 3.3: Biểu đồ khả năng giữ quả vải VPH40 từ khi đậu quả đến khi thu
hoạch 46 Hình 3.4: Biểu đồ năng suât thực thu của giống vải VPH40 thí nghiệm 47 Hình 3.5: Biểu đồ năng suât thực thu của giống vải VPH40 thí nghiệm 53
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Giống vải VPH.40 có nguồn gốc tại xã Phú Lộc, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, đây là giống vải chín sớm có năng suất, sản lượng cao, đang được nghiên cứu thử nghiệm, để nhân rộng, nhằm kéo dài thời gian thu hoạch để tránh tình trạng tiêu thụ sản phẩm quả vải theo kiểu “no dồn đói góp” lâu nay Hiện nay, Trung tâm nghiên cứu rau quả Phú Hộ, tỉnh Phú Thọ đang nghiên cứu lai ghép tạo ra các giống vải chín sớm ưu tú trên gốc có sẵn là giống vải thiều, từng bước thay thế giống chính vụ Trong đó có giống vải chín sớm VPH.40 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chính thức công nhận năm 2015
Giống vải chín sớm VPH.40 đã lai ghép, tuyển chọn thành công, giống đã cho thu hoạch tập trung vào trung tuần tháng 5, sớm hơn giống vải thiều Thanh Hà truyền thống từ 15-20 ngày và có giá trị kinh tế cao Cây sinh trưởng rất tốt, tán cây hình bán cầu, lá hình lòng máng, màu xanh đậm, mép lá phẳng Chùm hoa to hình tháp, cuống hoa có màu nâu đen Quả hình trái tim khi chín có màu đỏ sẫm, gai thưa, nổi Quả to trung bình 43g, năng suất trung bình 80kg/cây
Một trong những biện pháp kéo dài thời gian cung cấp sản phẩm quả vải tươi trên` thị trường và tăng được hiệu quả kinh tế cho người trồng là bố trí cơ cấu giống có thời gian cho thu hoạch khác nhau bao gồm các giống chín sớm, chín chính vụ và chín muộn
Để đáp ứng được yêu cầu này, việc đánh giá được khả năng sinh trưởng, năng suất, phẩm chất và tính thích ứng của các giống vải chín sớm ở các vùng sinh thái khác nhau nhằm chọn tạo ra được một tập đoàn các giống vải trong đó có các giống chín sớm ưu tú
là rất cần thiết Song để đưa nhanh các giống vải chín sớm bổ sung vào cơ cấu giống vải
ở miền Bắc, bên cạnh việc đánh giá các đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các giống để chọn tạo ra được các giống ưu tú, trong quá trình trồng trọt gặp phải một số trở ngại sau:
- Do khả năng sinh trưởng khoẻ nên lộc thu thường thành thục sớm (vào tháng
9, 10) dẫn đến xác xuất ra lộc đông cao làm cho những cây ra lộc đông không ra hoa đậu quả
Trang 12- Thời gian ra hoa, nở hoa sớm nên thường chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết bất lợi (nhiệt độ thấp, mưa phùn ) gây khó khăn cho thụ phấn, thụ tinh làm giảm tỷ lệ đậu quả dẫn đến năng suất thấp
Cùng với việc đánh giá chọn ra các giống vải chín sớm có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao bổ sung vào cơ cấu giống hiện có và tìm ra các đặc điểm cần khắc phục, thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong đó có việc sử dụng các biện pháp cắt tỉa, bổ sung dinh dưỡng qua lá và sử dụng chất điều hoà sinh trưởng nhằm nâng cao khả năng ra hoa, đậu quả cũng như năng suất, phẩm chất, tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng vải đóng vai trò hết sức quan trọng
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu một số kỹ thuật đối với giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ"
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài:
2.1 Mục đích
Đánh giá được một số biện pháp kỹ thuật của giống vải chín sớm, làm cơ sở lựa chọn bổ sung vào cơ cấu giống vải ở miền Bắc, kéo dài thời gian thu hoạch và
áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh
Trên cơ sở tìm hiểu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật cắt tỉa và sử dụng một số chất điều tiết sinh trưởng, dinh dưỡng qua lá, xác định được biện pháp cắt tỉa
và loại chế phẩm cũng như nồng độ thích hợp bổ sung vào quy trình thâm canh nâng cao năng suất, phẩm chất Vải chín sớm
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về khả năng sinh trưởng, phát triển của giống vải chín sớm VPH.40, làm cơ sở cho việc đánh giá nguồn thực liệu, lựa chọn giống tốt và bố trí cơ cấu giống hợp
lý đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất, phẩm chất vải chín sớm VPH.40
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài bổ sung một số giải pháp mới trong thâm canh, chăm sóc cây vải chín sớm như biện pháp cắt tỉa, sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá, góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh vải chín sớm theo hướng tăng hiệu quả cho người trồng vải
- Những kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy cho các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, học sinh, sinh viên, nông dân về đặc tính nông sinh học, kỹ thuật thâm canh cây vải chín sớm
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc cắt tỉa
Sự sinh trưởng tự nhiên của cây ăn quả thường không đáp ứng yêu cầu về cấu trúc tối ưu và thuận lợi cho việc chăm sóc tán cây Người làm vườn cần phải tác động tích cực để tạo dựng hệ thống cành khung, nửa khung và cành nhánh của cây cho phù hợp với cấu trúc của vườn Cắt tỉa nhằm mục đích điều hòa sinh trưởng, ra hoa kết quả của cây Cắt tỉa làm giảm đi chiều dài cành, tỉa bớt cành nhánh, hướng cành ra phía ngoài khiến cho trong tán cây giảm số lượng mầm sinh trưởng dẫn tới việc phân phối lại các chất giữa các cơ quan còn lại làm cho quả phát triển to hơn
Cắt tỉa nâng cao tính hoạt động sinh lý của mô tế bào và hiệu suất thoát hơi nước, trong điều kiện khô hạn Đây là một trong những biện pháp cải thiện chế độ
ẩm cho cây Trong kỹ thuật làm vườn hiện đại, cắt tỉa là khâu kỹ thuật then chốt, cần có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc ứng dụng chất điều tiết sinh trưởng:
Chất điều hòa sinh trưởng thực vật (còn gọi là các hocmon sinh trưởng) là những chất được sinh ra trong cây để điều khiển các quá trình sinh trưởng phát triển của cây Trong suốt đời sống, cây phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển như nảy mầm, lớn lên, ra hoa, kết quả Các chất điều hòa sinh trưởng giúp cây tiến hành các giai đoạn này một cách cân đối hài hòa theo đặc tính và quy luật phát triển của cây với liều lượng rất thấp Mỗi giai đoạn được điều khiển bởi một nhóm chất nhất
định Ở thời kỳ sinh trưởng lớn lên có nhóm chất kích thích sinh trưởng Tới mức
độ nhất định cây tạm ngừng sinh trưởng để chuyển sang thời kỳ phát triển ra hoa,
kết quả thì có nhóm chất ức chế sinh trưởng được hình thành
Nhóm chất kích thích sinh trưởng có các chất Auxin, Gibberellin (GA) và Cytokinin Nhóm chất ức chế sinh trưởng có acid Absicic, Ethylen và các hợp chất Phenol
Trang 15Ngày nay, các chất điều hòa sinh trưởng thực vật tổng hợp được ứng dụng trong nông nghiệp ngày càng phổ biến với rất nhiều mục đích Có thể nêu lên một
số mục đích chính thường được ứng dụng như sau:
- Kích thích hạt giống nẩy mầm nhanh và đều thường dùng các chất Auxin và GA
- Kích thích ra rễ cho cành chiết, cành giâm: Chất có hiệu quả cao là Auxin
- Kích thích nhanh sự sinh trưởng của cây: Với những cây trồng cần tăng
chiều cao như mía, các cây lấy sợi (như đay, gai) thì sử dụng chất GA Đối với lúa, rau, màu, hoa, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm có thể dùng Auxin, GA hoặc Cytokinin
- Kích thích ra hoa: Với nhiều loại cây ăn quả như dứa, nhãn, xoài … muốn
ra hoa sớm và tập trung thường dùng các chất điều hòa sinh trưởng Tùy theo loại cây, có thể dùng nhiều chất như Auxin, GA hoặc Etylen, Paclobutrazol Với mỗi loại cây và mỗi loại chất có cách dùng cụ thể riêng
- Hạn chế rụng hoa, rụng quả: Thường dùng các chất Auxin và GA
- Làm quả mau chín và chín đồng loạt: Chất thường dùng là Ethylen, có thể
áp dụng cho các cây ăn quả như xoài, chuối, dứa, sapô, cà chua, ớt Phun thuốc khi quả đã già hoặc có một vài quả bắt đầu chín Ngược lại, muốn cho quả chậm chín để kéo dài thời gian thu hoạch có thể dùng chất GA Với hoa, muốn tươi lâu có thể dùng chất Cytokinin
- Kích thích tiết nhựa của các cây có mủ: Trong ngành cao su thường dùng
thuốc Ethrel bôi lên miệng cạo để kích thích ra mủ, tăng sản lượng mủ
- Điều khiển sự phát sinh rễ và chồi trong kỹ thuật nuôi cấy mô: Trong môi
trường nuôi cấy thường phải cho một tỷ lệ thích hợp giữa Auxin và Cytokinin để tạo thành một cây hoàn chỉnh, cân đối đủ cả rễ, thân và lá Trong đó, Auxin kích thích ra rễ, còn Cytokinin kích thích ra chồi
Ngoài ra, còn được ứng dụng với nhiều mục đích khác như kích thích hoặc kìm hãm nẩy mầm của củ giống (khoai, hành, tỏi), kích thích ra nhiều hoa đực hoặc hoa cái (dưa, bầu, bí), tạo quả ít hoặc không hạt (nho, cam, chanh, cà chua, dưa), làm rụng lá để dễ thu hoạch (đậu, bông), làm cây thấp lại để tăng mật độ trồng (bông vải), tạo dáng cho cây cảnh…
Trang 16Có thể nói các chất điều tiết sinh trưởng thực vật có tác dụng thật kỳ diệu, điều khiển được cây trồng sinh trưởng phát triển theo ý muốn của con người Tuy vậy, các chất này thường biểu hiện tác dụng ở những liều lượng rất thấp và hiệu quả
có thể thay đổi tùy theo tình hình sinh trưởng cây Vì vậy, khi áp dụng cần thực hiện đúng theo hướng dẫn Cẩn thận hơn, nếu áp dụng lần đầu nên làm trên diện hẹp, sau khi có kết quả và kinh nghiệm mới áp dụng trên diện rộng
GA3 là thuốc kích thích sinh trưởng (Gibberellic acid) Gibberellin có tác dụng kích thích sự phát triển của tế bào theo chiều dọc, kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây theo chiều cao, làm thân vươn dài, giúp hình thành các chồi nách nhiều hơn Tuy nhiên Gibberellin chỉ phát huy tốt tác dụng khi cây trồng có đầy đủ dinh dưỡng
N, P, K Khi sử dụng quá liều lượng, hình dáng bên ngoài của các nông sản (nhất là rau) có thể thay đổi (biến dạng, quăn queo, sần sùi) và làm giảm giá trị thương phẩm Các nhà khoa học tại trường Đại học Durhamcho biết Gibberellin có tác dụng phá vỡ các protein kìm hãm tăng trưởng của cây, kích thích cây tăng trưởng và
làm tăng năng suất cây trồng Theo thông tin từ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp miền Nam, các nhà khoa học tại trường Đại học Durham (Mỹ) cho biết cây
tự làm chậm quá trình phát triển hoặc thậm chí ngừng phát triển hoàn toàn để phản ứng với điều kiện bất lợi, chẳng hạn như tình trạng thiếu nước hoặc hàm lượng muối cao trong đất với mục đích tiết kiệm năng lượng
Cây trồng thực hiện điều đó bằng cách tạo ra prô-tê-in kìm hãm tăng trưởng của chúng Quá trình này được đảo ngược khi cây sản sinh ra một hoóc-môn - được gọi là Gibberellin - phá vỡ các prô-tê-in kìm hãm tăng trưởng Kìm hãm tăng trưởng
có thể là một vấn đề khó giải quyết đối với người nông dân khi cây trồng bị kìm hãm tăng trưởng khiến năng suất giảm sút
Vì vậy, muốn tăng năng suất cây trồng, người nông dân cần sử dụng hợp lý chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin
Etylen là một Cacbuahyđro đơn ở dạng khí, được phát hiện và xếp vào nhóm phytohormones muộn nhất nhưng lại được đưa vào ứng dụng đại trà nhanh nhất, mang lại hiệu quả kinh tế to lớn Khác với các chế phẩm hóa học khác, Etylen không gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng vệ sinh nông sản và môi trường Do đó
Trang 17Etylen là một chất điều tiết sinh trưởng hợp thời được úng dụng rộng rãi trong nông nghiệp Etylen là một ”hoocmon già hóa“, do đó xử lý Ethephon (Ethrel) chất nhả chậm Etylen cho cây trồng đã giúp cho cây ra hoa, kết quả theo ý muốn con người, hạn chế được hiện tượng ra lộc đông Các giống vải chín sớm thường ra lộc đông khá nhiều, kể cả những năm có nền nhiệt độ mùa đông không quá cao, đặc biệt là ở các vườn có điều kiện thâm canh cao, cây vải sinh trưởng khỏe, tích lũy dinh dưỡng nhiều Trong bối cảnh đó, việc sử dụng các biện pháp khống chế lộc đông trở nên rất cấp thiết
Có nhiều biện pháp sử dụng để hạn chế lộc đông trên vườn vải vào các năm thời tiết bất thuận như: sử dụng các biện pháp chăm sóc thích hợp (cắt tỉa, bón phân…) để lộc thu ra và thành thục đúng thời điểm hoặc sử dụng các biện pháp cơ giới (khoanh vỏ, thắt cành, xới bề mặt tán, chắn rễ…) Tuy nhiên, biện pháp sử dụng các loại hoá chất (trong đó có ethrel) tỏ ra có ưu điểm hơn vì chúng dễ sử dụng, chi phí thấp và có khả năng áp dụng trên quy mô lớn một cách nhanh chóng
1.2 Những nghiên cứu về nguồn gốc, phân bố và phân loại giống vải
1.2.1 Nguồn gốc, phân bố
Cây vải có tên khoa học là Litchi Chinenis Sonn (Nephelium Litchi Cambess)
thuộc họ Bồ hòn có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc Hiện nay ở Trung Quốc có những cánh rừng vải dại xanh tốt ở núi Kim Cổ Lĩnh, tỉnh Phúc Kiến có cây vải đã 1.200 tuổi và vẫn cho quả [30 tr 44] Mặc dù lịch sử trồng vải lâu đời như vậy nhưng cho đến cuối thế kỷ 17 vải mới được mang sang Bruma, 100 năm sau mới được đưa sang ấn Độ vào năm 1775 Cây vải được đưa sang trồng ở Hawai năm 1873 bởi một thương gia người Trung Quốc, Florida năm 1883, Califonia năm 1897 và đến Israen năm 1914 Vào khoảng những năm từ 1875 - 1876 cây vải được đưa sang các nước Châu Phi là Madagatca và Morihiuyt [45]
Tại Việt Nam theo các tài liệu cũ, cây vải đã được trồng cách đây 2000 năm (quả thu tài bồi học, 1959 - sách Trung Quốc), sử ghi chép cách đây 10 thế kỷ, lệ chi vải (quả vải) là một trong những cống vật của Việt Nam phải nộp cho Trung Quốc Tài liệu Trung Quốc cũng cho biết khoảng 200 năm sau Công nguyên, vua Nam là Triệu
Đà có mang vải sang cống Theo giáo sư Vũ Công Hậu; khi điều tra cây ăn quả ở một
Trang 18số tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung có gặp một số cây vải dại, vải rừng, ở khu vực chân núi Tam Đảo có nhiều cây vải dại quả giống vải nhà nhưng hương vị kém hơn Do vậy, một số tài liệu nước ngoài cũng cho rằng cây vải cũng có thể có nguồn gốc ở Việt Nam [17 tr 36 - 38]
1.2.2 Tình hình sản xuất vải trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều giống vải được trồng, trong đó Trung Quốc được coi là nơi hiện nay có nhiều giống vải nhất trên thế giới Tuy nhiên trong hơn 200 giống được trồng thì chỉ có 8 giống là có ý nghĩa kinh tế và được phát triển rộng rãi Tỉnh Quảng Đông các giống Baila, Baitangying, Heiye, Fezixiao, Gwiwei, Nuomici và Huazhi được trồng với diện tích khá lớn khoảng hơn 140.000 ha, trong
đó hai giống Gwiwei, Nuomici chiếm hơn 80% diện tích Tỉnh Phúc Kiến trồng chủ yếu giống vải Lanzhu với diện tích khoảng hơn 25.000 ha Các giống vải ở Trung Quốc có hai nhóm chính: đó là nhóm khi chín thì thịt quả thường nhão và ướt còn nhóm kia khi chín thì cùi ráo và khô (Chen and Huang, 2000, pp.19)[36]
Tại Đài Loan, giống vải chủ yếu là giống Hap Ip, chiếm hơn 90% tổng diện tích ngoài ra còn có giống Yuher Pau được trồng ở miền Nam và giống No Mi Tsu được trồng ở miền Trung [35]
Tại Nam Phi giống vải được trồng chủ yếu là Kwaimi nhưng thường được gọi
là "Mauritius" vì giống có nguồn gốc từ hòn đảo này, giống có kích thước quả trung bình, tán cây thấp, chất lượng tốt (Morton,1987)[45]
Các giống vải được trồng ở Ấn Độ hiện nay là: Shadi, Bombai, Rose, China, Seented và Mazaffarpur (Ghosh và cộng sự, 2000, pp.16)[38]
Có hơn 40 giống được trồng ở Australia, các giống trồng phổ biến ở đảo Queesland bao gồm Kwai May Pink, FayZee Siu và Souey Tung, giống Kwai May Pink được trồng ở miền Trung, miền Nam trồng chủ yếu giống Waichee.(Mitra -2005)[49]
Các giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan là các giống Hap Ip, Tai So và Waichee ngoài ra còn có khoảng hơn 30 giống vải khác nhau Các giống vải ở Thái Lan được chia ra làm hai nhóm, nhóm cần có nhiệt độ lạnh trong mùa đông và nhóm yếu cầu nhiệt độ lạnh trong mùa đông ít hơn, nhóm này trồng ở khu vực trung tâm của Thái Lan, còn nhóm kia thì trồng ở các tỉnh phía Bắc (Yapwattanaphun và cộng sự, 2000, pp.24)[50]
Trang 19Ở Nam Mỹ có nhiều giống vải đã được nhập về từ ấn Độ và Trung Quốc nhưng trong 43 giống được nhập nội chỉ có hai giống hiện nay còn tồn tại và được trồng phổ biến đó là Hap Ip và Kwaimi (Morton,1987)[45]
Ở Hawai có 3 giống trồng phổ biến đó là giống Hap Ip, Kwaimi và Brewster Vào năm 1942, Groff tiến hành lai tạo giữa 3 giống vải trên nhằm tìm ra một giống vải tốt nhất và đến năm 1953 đã chọn ra được một giống mang tên Groff Giống này
có tính di truyền ổn định, chín muộn, quả có kích cỡ trung bình, thịt quả trắng và ráo, hương vị thơm ngon, hầu hết các hạt đều bị teo nên rất nhỏ Ở Florida giống vải được trồng chủ yếu là giống (Brewster, pp 22 – 26)[39]
1.2.3 Những nghiên cứu về tình hình sản xuất và tiêu thụ vải ở Việt Nam
1.2.3.1 Tình hình sản xuất vải
Giống vải có thể chia theo thời vụ hoặc theo đặc điểm sinh trưởng và phẩm chất quả Các tác giả đều thống nhất miền Bắc Việt Nam các giống vải được phân chia như sau:
- Theo thời vụ có: Nhóm chín sớm, nhóm chín chính vụ và nhóm chín muộn
- Theo đặc điểm sinh trưởng và phẩm chất quả: Nhóm Vải chua, nhóm vải nhỡ và nhóm vải thiều
- Giống vải chua: mọc khỏe, cây to, phân cành thưa, hạt to, tỷ lệ thịt quả 50 - 60%, chín sớm (cuối tháng 4 đến tháng 5), ra hoa đều, năng suất ổn định, vị chua
- Giống vải nhỡ: cây to hoặc trung bình, tán thẳng đứng, lá to, chín vào tháng 5 đầu tháng 6 Khi quả chín vỏ còn xanh, định quả có màu tím đỏ, có vị ngọt, ít chua
- Giống vải thiều: Tán cây có hình tròn hoặc bán cầu, lúc nhỏ phiến lá dầy bóng, chùm hoa không có lông đen, quả nhỏ hơn vải chua và vải nhỡ Trọng lượng quả trung bình từ 25 - 30g, tỷ lệ thịt quả cao chiếm 70 - 80%, chín giữa tháng 6 đầu tháng 7
Theo kết quả điều tra của Vũ Mạnh Hải (2001)[18 tr 23], tại 13 huyện của 7 tỉnh miền Bắc Việt Nam cho thấy các tỉnh miền Bắc có tập đoàn vải khá phong phú
Đã thu thập được 13 giống tại 13 huyện của các tỉnh, trong đó có 8 giống tuyển chọn có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất, phẩm chất cao và ổn định, có tính chống chịu sâu bệnh khá, có hai giống được công nhận là giống quốc gia là thiều Thanh Hà và Hùng Long, các giống Đường Phèn, Hoa Hồng, Lai Bình Khê, Lai Yên Hưng, Phú Điền và Phúc Hòa đang được tiến hành khảo nghiệm Qua
Trang 20nghiên cứu theo dõi cho thấy các giống vải chín sớm có khả năng sinh trưởng vượt trội so vậy giống vải thiều Thanh Hà về cả chiều cao và đường kính gốc Các giống
có khả năng sinh trưởng tốt hơn cả là Bình Khê, Yên Hưng và Yên Phú, các giống này có năng suất và chất lượng quả tương đưong với nơi nguyên sản
Năm 1991 Việt Nam đã nhập nội một số giống vải từ Trung Quốc và đang được trồng khảo nghiệm là các giống: Quế Vị, Nhu Mê Tu, Hoài Chi, Hắc Diệp, Tâm Nguyệt Hồng, Phi Tử Tiếu, Đại Tào Năm 1991, dự án VIE86- 003 đã nhập một số giống từ Úc về Lục Ngạn như: Waichee, Taiso, Salathit, Kwai Pink nhưng qua theo dõi các giống này đều sinh trưởng kém hơn vải thiều Thanh Hà Năm 1998, Huyện Lục Ngạn nhập giống Bình Đường Anh, năm 2001 tổng công ty rau qủa nhập giống Đại Bi Hồng và trồng tại Lục Ngạn các giống này đang tiếp tục được theo dõi [34 tr 31-33]
Viện nghiên cứu rau, quả Việt Nam đã tập trung tuyển chọn được một số giống vải chín sớm trong đó nổi bật 5 giống có triển vọng là các giống Yên Hưng, Bình Khê, Đường Phèn, Thạch Bình và giống Hùng Long Các giống này đã qua theo dõi, bình tuyển và đánh giá có khả năng chín sớm hơn vải thiều từ 20 - 30 ngày, giá bán gấp 2 - 3 lần, chất lượng gần tương đương vải Thanh Hà [12 tr 97]
Cây vải được trồng ở các tỉnh phía Bắc, tập trung ở vùng Đông Bắc Bắc Bộ:
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất vải ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam:
Chỉ tiêu
Vùng trồng
Diện tích (ha)
Diện tích thu hoạch (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn/ha)
Trang 21Số liệu bảng 1.1 cho thấy, đến năm 2013, diện tích trồng vải của Việt nam đạt
khoảng 97.400 ha với sản lượng 502.157 tấn (chiếm 41,6% diện tích và 23,9% tổng
sản lượng cây ăn quả của miền Bắc)
Ở miền Nam các vùng cao như: Đà Lạt, Buôn Mê Thuật, Kon Tum đang trồng thử và bước đầu đã có kết quả Vùng đồng bằng Sông Cửu Long ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, có trồng vài chục cây vải 40 - 50 tuổi, cây ra hoa, kết quả bình thường nhưng quả nhỏ (6g) chất lượng quả ngon
Theo Vũ Công Hậu năm (1990) Ưu thế lớn nhất của cây vải là: Dễ trồng, chăm sóc đơn giản, chịu được đất chua, đất đồi dốc là loại đất rất phổ biến ở vùng đồi núi phía Bắc, thêm vào đó công tác bảo vệ thực vật đơn giản hơn các cây trồng khác [17 tr 26]
1.2.3.2 Tình hình tiêu thụ vải
Ở Việt Nam, khoảng 75% sản lưọng vải của cả nước được tiêu thụ ngay trong thị trường nội địa, phần còn lại được sơ chế, xuất khẩu tươi và chế biến Các sản phẩm sơ chế và chế biến gồm vải sấy khô, vải lạnh đông, vải nước đường và Purê vải Thị trường xuất khẩu vải tươi còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân như: khả năng bảo quản của quả vải ngắn, chất lượng về sinh an toàn thực phẩm hạn chế, điều kiện vệ sinh cơ sở hạ tầng sau thu hoạch kém
Thị trường xuất khẩu vải của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Sỹ, Mỹ và một số quốc gia khác trong khu vực
và thị trường Châu Âu
Bảng 1.2: Sản lượng các sản phẩm chế biến vải năm 2013
TT Loại sản phẩm Sản lượng
(tấn) Ghi chú
Tổng số 2.160
(Nguồn: Tổng công ty Rau quả Việt Nam - 2013)[15]
Trang 22Thị trường vải tươi chủ yếu ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh, vải sấy khô chủ yếu bán sang Trung Quốc và một phần sang Lào, Campuchia Hầu hết sản phẩm vải của
tư thương tiêu thụ, có rất ít tổ chức đứng ra thu mua vải cho người sản xuất
Bảng 1.3 Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải năm 2013
TT Mặt hàng Nước nhập
khẩu Sản lượng (tấn) Giá trị (USD)
Pháp
17,35 125,84
14.700 116.225
Hàn Quốc
46,00 22,00
51.750 22.810
(Nguồn: Tổng công ty Rau quả Việt Nam - 2013)[15]
1.2.4 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, chế biến và tiêu thụ vải ở tỉnh Phú Thọ:
Phú thọ là tỉnh thuộc Vùng TDMNPB; phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Nam giáp thành phố
Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình Thành phố Việt Trì là trung tâm hành chính của tỉnh, cách thủ đô Hà Nội 80 km và sân bay quốc tế Nội Bài 50 km về phía Tây Bắc Có diện tích tự nhiên là 3.519,56 km2, đất đai của Phú Thọ được chia theo các nhóm sau: đất feralít đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, diện tích 116.266,27 ha chiếm tới 66,79% Đất thường có độ cao trên 100m, độ dốc lớn, tầng đất khá dày, thành phần cơ giới nặng được dùng để trồng rừng Đất đai ở đây có thể trồng cây nguyên liệu phục vụ cho một số ngành công nghiệp chế biến; dân số năm 2014 khoảng 1,36 triệu người.
Phú Thọ nằm ở vị trí tiếp giáp giữa Đồng bằng sông Hồng với Miền núi và trung du phía Bắc, trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đây là những điều kiện thuận lợi cho việc thông thương
và phát triển kinh tế của tỉnh
Trang 23Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy tỉnh thuộc vùng Đông Bắc nhưng do độ cao không lớn nên ngay trong mùa đông thì khí hậu cũng không lạnh lắm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C Số giờ nắng trong năm khá cao (1300 - 1400 giờ/ năm) Lượng mưa trung bình khoảng 1500mm/năm, tập trung vào các tháng 5 - 6 - 7- 8 - 9 Độ ẩm trung bình là 85% Nhìn chung, chế độ nhiệt và
ẩm của Phú Thọ cho phép tỉnh có điều kiện đa dạng hoá nông nghiệp và tăng hệ số
sử dụng đất Có ba sông lớn chảy qua tỉnh Phú Thọ là Sông Thao, sông Lô, sông
Đà, hay còn gọi là vùng Tam Giang với tổng chiều dài 200km Chi lưu sông Hồng phía hữu ngạn gồm sông Bứa từ xứ Mường qua Đồn Vang đến Tứ Mỹ, sông Ngòi Gianh từ núi Đại Thân chảy về Tăng Xá, sông Ngòi Lao chạy từ Nghĩa Lộ đến Bằng Dã Các dòng sông lớn tụ hội ở Việt Trì, tạo nên "thành phố ngã ba sông" với nhiều thuận lợi để trở thành một thành phố công nghiệp
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây luôn đứng ở vị trí thứ 2 trong 14 tỉnh vùng TDMNPB và đứng thứ 30 trong tổng số 63 tỉnh thành của cả nước
Trong vùng TDMNPB, Phú Thọ đóng góp 3,49 % về diện tích, 10,6 % về dân số
và khoảng 9,3% GDP của vùng
Sản phẩm nông nghiệp đóng góp vào sản lượng một số ngành hàng chủ chốt của
cả nước như: Chè (có diện tích đứng thứ 4 cả nước); diện tích cây lương thực có hạt đạt 88,7 ngàn ha, sản lượng 461,9 ngàn tấn, đứng thứ 2 vùng TDMNPB); Bưởi có diện tích đứng thứ nhất và là sản phẩm đặc sản của vùng TDMNPB; Tổng số đàn gia súc, gia cầm của tỉnh khá lớn (Trâu bò 167,7 ngàn con, lợn 777,7 ngàn con, gia cầm 11,4 triệu con), đứng thứ 2 vùng TDMNPB, cung cấp cho thị trường tiêu dùng tại chỗ và một phần cho các tỉnh lân cận Ngoài ra phải kể đến lợi thế về sản phẩm gỗ rừng trồng (gỗ nguyên liệu giấy và gỗ gia dụng), giá trị sản xuất lâm nghiệp đứng thứ 3 vùng TDMNPB
Tỉnh Phú Thọ những năm gần đây rất được trú trọng phát triển cây ăn quả, năm 2014 đạt 11.070 ha, sản lượng 91.779 tấn, cụ thể ở biểu số 1.4
Trang 24Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng lâu năm
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ - năm 2014[26]
1.3 Yêu cầu sinh thái của cây vải
Cây vải yêu cầu rất chặt chẽ đối với các yếu tố khí hậu: nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng… những yếu tố này tác dộng đồng thời, chịu ảnh hưởng lẫn nhau và mức
độ ảnh hưởng có liên quan chặt chẽ đến bản chất các giống
a Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng dinh dưỡng
và sinh trưởng sinh thực cảu cây vải Quan hệ giữa nhiệt độ và sinh trưởng dinh dưỡng đã được Nguyễn Thiên Đường (1984) nghiên cứu cho thấy cây vải sinh
Trang 25trưởng ở vùng có nhiệt độ trung bình năm 21 - 25oC phản ứng tốt: Giống chín muộn
có nguyên nhân bởi nhiệt độ cao [44]
Những nghiên cứu của Vũ Mạnh Hải cho thấy độ các tháng 12 đến tháng 2 năm sau, lượng mưa tháng 11, 12 số giờ nắng tháng 11, 12 có tương quan đến sản lượng [19 tr 74-76]
MenZel, S.V Galan, U.G Minnini [51] nhận thấy sự phân hoá mầm hoa của vải
có quan hệ với sự bất lợi của môi trường và đã đưa ra các yếu tố lý tưởng của điều kiện khí hậu liên quan đến sinh trưởng và phát triển của cây vải hàng năm như sau:
1 Không có sương giá
2 Không có giá khá lớn
3 Ra lộc nhiệt độ từ 26 - 30 oC, độ ẩm tương đối cao, mưa nhiều
4 Giai đoạn phân hoa mầm hoa, nhiệt độ cao nhất trong mùa đông phải dưới 20
oC lượng mưa thấp hơn 50mm/ tháng, trong 3 tháng trước khi xuất hiện mầm hoa
5 Ra hoa nhiệt độ từ 16 - 22 oC, độ ẩm vừa phải
6 Đậu quả nhiệt độ từ 18 - 24 oC, độ ẩm vừa phải
7 Khi quả chín, nhiệt độ từ 24 -28 oC, có mưa, bức xạ lớn, độ ẩm tương đối cao
8 Khi quả chín, nhiệt độ và ẩm độ vừa phải
9 Đất sâu, thoát nước tốt, không mặn, kết cấu và độ phì đất thay đổi tuỳ theo giống vài trồng
Ở Trung Quốc, Nghê Diệu Nguyên cho thấy mùa đông có nhiệt độ thấp thì
có lợi cho phân hoá mầm hoa Nhu cầu về nhiệt độ của các giống vải có khác nhau: Giống chín sớm như Tam Nguyệt Hồng, nhiệt độ tương đối cao cũng có thể hình thành mầm hoa Giống chín muộn như Hoài Chi cho thấy nhiệt độ từ 0
o
C - 10 oC, thời gian đầu có lợi cho phân hoá mầm hoa, những lá nhỏ (ở cụm hoa gốc) bắt hình thành thì teo đi và cụm hoa không có lá, nhiệt độ ừ 11 - 14 oC lá
Trang 26nhỏ và cụm hoa dần dần phát dục thành cụm hoa có giá trị kinh tế Nhiệt độ trên
19 oC không có lợi cho phân hoá mầm hoa, chỉ có lợi cho sinh trưởng Đồng thời tác giả nhận thấy đối với giống Hoài Chi và các giống chín muộn, chỉ cần sinh trưởng của cành cây khoẻ mạnh, cành mẹ mùa thu thành thục, bình quân nhiệt độ tháng 1, 2 là 18 oC thì rất tốt cho hình thành hoa và đậu quả [33 tr 56 - 59]
b Yêu cầu về ánh sáng
Tục ngữ Trung Quốc có câu: “Đương nhật lệ chi Bội nhật long nhãn” (nghĩa là: vải trồng ở nơi có nhiều ánh mặt trời, còn nhãn có thể trồng nơi ánh sáng ít hơn) ánh sáng đầy đủ giúp cho tác động đồng hoá tăng tích lũy hữu cơ, thuận lợi cho phân hoá mầm hoa, làm cho mã quả đẹp, nâng cao chất lượng Cành lá quá dầy bị thiếu ánh sáng, dinh dưỡng tích luỹ ít, khó hình thành hoa bởi vậy thời kỳ ra hoa cần có số giờ nắng chiếu sáng nhiều nhưng không thích ánh sáng mạnh, bởi ánh sáng mạnh làm không khí khô, lượng bốc hơi lớn, bao phần
rễ bị khô, nồng độ mật hoa lớn ảnh hưởng đến thụ phấn thụ tinh Mùa hoa, mưa râm triền miên, hiệu quả quang hợp thấp, dinh dưỡng mất cân đối để dẫn đến rụng quả nhiều Theo kết quả nghiên cứu về giống vài Hắc Diệp: số giờ chiếu sáng nhiều thì lượng hoa cái bình quân một chùm tăng lên tương ứng
c Yêu cầu lượng mưa và độ ẩm
Cây vải ưa độ ẩm cao, tổng lượng mưa có đầy đủ hay không là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng phân hoá mầm hoa và ra hoa quả của vải Mùa hè
là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng lượng mưa tương đối nhiều, thời kỳ sinh trưởng sinh thực lượng mưa tương đối ít Mùa đông ít mưa, đất khô hạn, độ ẩm không khí thấp đã ức chế sinh trưởng của rễ và cành, nâng cao độ dịch trong cây thuận lợi cho phân hoá mầm hoa
Ở huyện Bác Bạch tỉnh Quang Tây - Trung Quốc tháng 11/1981 - 01/1982 lượng mưa chỉ 27,1 mm, thời gian khô hạn dài, năm đó lượng hoa rất nhiều Trái lại mùa đông mưa nhiều, cây dễ nảy lộc đông, không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa nên chất lượng hoa kém [24 – tr 227 - 229]
Thời gian phân hoá mầm hoa, lượng mưa có ảnh hưởng đến tính đực cái của hoa Theo kết quả phân tích mối tương quan: Lượng mưa thượng tuần và hạ tuần tháng 01 có mối quan hệ thật chặt chẽ với hoa cái hệ số tương quan phân biệt là 0,8966** và 0,9766** Tuy nhiên lượng mưa giai đoạn này nói chung có mối tương quan nghịch với tổng số hoa
Trang 27và số hoa đực bình quân 01 chùm Cuối thời kỳ phân hoá hoa tưới nước đầy đủ thì tổng
số hoa và số hoa đực bình quân một chùm hơi giảm, nhưng số hoa cái bình quân một chùm chịu ảnh hưởng không lớn [2 tr 37]
Mưa nhiều ảnh hưởng đến thụ phấn, thụ tinh Thời kỳ quả non mà gặp trời mưa và râm nhiều ngày hiệu quả quang hợp thấp dễ rụng quả Thời kỳ ra hoa cần lượng mưa thích hợp, cách mấy ngày có một trận mưa, nếu khô hạn sẽ trở ngại cho quả sinh trưởng phát triển, dẫn đến rụng quả hàng loạt Thời kỳ quả chín hạn lâu, gặp mưa đột ngột, nước quá nhiều thì phần lớn quả bị nứt Mưa nhiều nước trong đất nhiều, kém thông thoáng ảnh hưởng đến hoạt động của rễ
Ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, có chế độ mưa và ẩm tương đối thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây vải Mùa khô bắt đầu vào tháng 11, 12 và cũng là lúc vải cần điều kiện khô và lạnh để phân hoá mầm hoa, ra hoa Mùa mưa bắt đầu vào tháng 4, 5 là lúc vải cần nhiều nước để nuôi quả đang lớn
d Yêu cầu gió
Gió có tác động điều hoà không khí Mùa hoa ngày nắng, ẩm độ thấp gió có tác dụng hỗ trợ hoa thụ phấn, thụ tinh Trong điều kiện bình thường cây tung phấn ở
độ cao 2,5 - 3,5 m thì phấn hoa chủ yếu là rơi xuống dưới tán và trong phạm vi 10
m xung quanh tán Mùa hoa nở, vải sợ gió Tây Bắc và Đông Nam qua đêm Gió Tây Bắc khô, dễ làm cho đầu nhuỵ khô ảnh hưởng thụ phấn, gió Nam qua đêm độ nóng ẩm ướt rễ làm cho hoa héo dần đến rụng hoa Thời gian quả phát triển, dông bão làm quả rụng, nếu đông bão mạnh làm gẫy đổ cây Bởi thế khi thiết kế chọn vườn cần chọn đất và thiết kế đai rừng chắn gió
e Yêu cầu về đất
Theo FAO: Cây vải ít đòi hỏi về đất đai, không yêu cầu độ sâu về tầng canh tác của đất như cây xoài, cây bơ Vải mọc khá tốt trên đất chỉ có độ sâu tầng canh tác 40 cm, thậm chí còn mọc trên đất vôi ở Flodia (Mỹ)
Loại đất thích hợp nhất cho cây vải là đất phù sa có tầng canh tác dày, chua nhẹ (pH từ 5,5 - 6,5) Có thể trồng vải trên đất đồi dốc thuộc phù sa cổ, sa thạch hoặc sa phiến thạch có tầng canh tác dày, thoát nước tốt Vùng đất trũng cũng trồng được vải, nhưng phải làm thành luống đất cao, rãnh thoát nước Trên đất kiềm (pH
Trang 28= 8,5) cũng có thể trồng vải được nhưng phải bón phân vi lượng cần thiết Để có năng suất cao vải cần nhiều đạm, lân, ka ly, canxi, và các phân vi lượng khác Cây vải có tính thích nghi cao đối với điều kiện đất Các loại đất vùng đồi núi như: Đất đỏ, đất vàng, đất cát pha, đất sỏi… đất đồng bằng như đất thịt nặng, đất phù sa, đất cát ven sông… cây vải đều sinh trưởng tốt và kết quả được
Đất đồi núi, đất đồi địa thế cao, tầng đất dày, tiêu nước tốt, nhưng nghèo chất hữu cơ, độ phì thấp, qua cầy xới sâu cải tạo đất thì bộ rễ ăn sâu và rộng, thế sinh trưởng của cây trung bình, so với cây vải trồng ở đồng bằng thì cây vải trồng ở vùng đồi có tuổi cao hơn, vỏ quả dày hơn, mã quả đỏ tươi, vị ngọt chất lượng khá
Như vậy đất nào cũng có thể trồng vài được thậm chí cả đất đồi chua độ phì kém, vì rễ vải có thể cộng sinh với một loại nấm rễ (Mycorhire) sống ở đất chua (theo tài liệu Trung Quốc) gọi là “địa khuẩn căn” có thể phân giải khoáng trong đất
để hút dinh dưỡng nuôi cấy
1.4 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái
1.4.1 Đặc điểm thực vật học
a Đặc điểm rễ
Cây vải có bộ rễ rất khoẻ gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang, bộ rễ ăn nông, sâu, rộng, hẹp phụ thuộc cách nhân giống, đất trồng, nước, phân bón và chế độ nhiệt trong đất Vải trồng bằng hạt rễ ăn sâu 4 - 5m, trồng bằng cành chiết rễ ăn nông 1,2 - 1,6m Đại bộ phận rễ tập trung ở tầng 60cm, độ lan xa của rễ thường gập 1,5 - 2 lần tán cây,
rễ tơ tập trung trong khu vực hình chiếu của tán và độ sâu 40 cm trở lại Rễ vải có khả năng hấp thu mạnh nên cây có khả năng chịu hạn tốt Rễ vải có nấm cộng sinh tạo thành nội khuẩn căn giúp cho rễ hút được nước, cung cấp dinh dưỡng trong điều kiện khô hạn
b Đặc điểm thân, cành
Cây vải là cây bụi thường xanh, cây trưởng thành thường cao từ 4 - 10m, thân to, vỏ phẳng, nhẵn, mầu nâu xám hoặc nâu đen, gỗ có vân mịn mầu nâu Tán cây hình mâm xôi, hình bán cầu, đường kính tán 7 - 12m cành chính to
Trang 29khoẻ, phân nhánh nhiều, hơi cong, phân bố đều về các phía thế cây tùy thuộc theo giống, các giống vải Nếp, Trần Tử, Lam Trúc tán hơi doãng rộng, các giống Quế vị, Ô Diệp vươn thẳng, các giống Hoài Chi, Lam Trúc cành mọc dày, ngắn, tán khít, các giống thuỷ Đông, Tam Nguyệt Hồng cành thưa, dài Cây vải nhân giống bằng phương pháp chiết hay ghép từ khi trồng đến 3 năm tuổi chủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng Trong thời kỳ này bộ khung tán phát triển mạnh, một năm có thể ra 5 - 6 đợt lộc
c Đặc điểm lá
Thuộc lá kép lông chim gồm 2 - 4 đôi, mọc so le, lá chét cứng, dai có chất sừng Cuống là ngắn, mặt lá xanh đậm, gân nhẵn, không nổi rõ trên lá Mút lá nhọn, gốc lá hơi
tù, lá non khi mới ra mầm tím đỏ, khi thành thục mầu xanh đậm, hình dạng và màu sắc lá
có thể dùng để phân loại các giống khác nhau Tuổi thọ của lá từ 1 - 2 năm, trong cùng một giống lá ra ở các mùa cũng không hoàn thành giống nhau do ảnh hưởng của nhiệt độ, nước, dinh dưỡng
d Đặc điểm hoa
Vải có 3 loại hoa cơ bản: hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính, hoa vải rất bé, không
có cánh, hoa đực có khả năng tung phấn để thụ tinh, hoa cái được thụ tinh sẽ phát triển thành quả Hoa lưỡng tính có thể kết quả được nhưng ít thấy, hoa cái thường có 2 bầu, sau khi thụ tinh xong thì quả phát triển, thường chỉ có một bầu phát triển thành quả
- Hoa cái: hoa cái phát triển hoàn toàn, ba bộ phận bầu nhuỵ, vòi nhuỵ và đầu nhuỵ phân hoá khá rõ Bầu nhuỵ phát triển thường có 2 - 3 tâm bì Bầu nhuỵ có 3 tâm bì thì cả hai đều mọc sóng đôi hàng đều, bầu nhị có 3 tâm bì thì sắp xếp theo hình chân đỉnh Trong bầu nhị có phôi chân mọc ngược có thể thụ tinh kết quả Khi nhuỵ đã chín thì đầu nhuỵ tiết ra dịch dính là thời điểm thụ phấn tốt nhất Chỉ nhị của hoa này rất ngắn khoảng 0,5 cm chỉ cao bằng bầu nhị bao phấn to, thông thường không nứt ra, cho dù có nứt cũng không có phấn ra được
Hoa cái sau khi thụ phấn, thụ tinh sẽ đậu quả Với sản xuất, hoa cái có ý nghĩa quan trọng, nó chiếm khoảng 30% Với các giống khác nhau, tuổi cây khác nhau, ra hoa sớm hoặc muộn, thì tỷ lệ hoa cái cũng khác nhau
Trang 30- Hoa đực: Thường gọi là “hoa giả” bao gồm hoa đực mà nhuỵ này hoàn toàn thoái hoá và nhuỵ cái phát triển không hoàn toàn, nhuỵ thoái hoá chỉ còn dấu vết nhị được mọc trên mầm hoa, phấn nhiều 6 - 8 nhị Chỉ nhị dài, bao phấn to, phấn hoa khi chín có màu vàng, nhị đực thường có hạt phấn tốt, hoa đực tiêu hao dinh dưỡng nhiều, nên cần có biện pháp giảm tỷ lệ hoa đực
- Hoa lưỡng tính: có nhị đực, nhuỵ cái cùng phát triển, nhị có thể tung phấn bình thường, đầu nhuỵ có thể nứt ra để thụ phấn, thụ tinh Đây là loại hoa hoàn toàn
có thể kết thành quả, nhưng số lượng hoa lưỡng tính không nhiều
- Hoa biến thái (hoa dị hình): có bầu nhuỵ, bầu nhuỵ có 1 hoặc nhiều ngăn sắp thành một hàng hay nhiều tầng, đầu nhuỵ tách đôi hoặc tách thành nhiều khía, trong
đó nhuỵ chỉ có một tâm bì phát triển bình thường, còn các tâm bì khác bị thoái hoá
và teo đi Biến thái của nhị cũng biểu hiện đa dạng, có nhị mọc trên chuỗi nhuỵ, gối chỉ thị và bầu nhuỵ hợp làm một, đầu cuối bộ phận hợp sinh này mọc ra bao phấn một ngăn Đoạn cuối bao phấn thành chỉ nhị Số nhị của hoa dị hình dao động rộng
từ 3 - 19 cái
Khả năng ra hoa, tỷ lệ các loại hoa và tỷ lệ đậu quả của các giống khác nhau
có sự khác nhau do tác động của cả hai yếu tố đặc tính giống và điều kiện sinh thái Thông thường cành hoa ngắn, có tỷ lệ đậu quả cao, mật độ quả dầy và đều hơn so với loại hình cành hoa dài
Thông thường trong một chùm hoa, hoa đực và hoa cái không cùng nở một lúc, cho nên nếu chỉ trồng thuần một loại giống thì dễ xảy ra sự thụ phấn không tốt, đậu quả kém Do vậy trong sản xuất cần phải trồng thêm các giống khác nhau, để tăng năng thụ phấn của cây Số lượng hoa vải nhiều nhưng tỷ lệ đậu quả thấp Khi hoa nở gặp ngày nắng ấm, ít mây mù, ít mưa phùn thì việc thụ phấn thuận lợi, tỷ lệ đậu quả cao
e Đặc điểm quả
Có nhiều dạng: Hình trứng, hình bầu dục, hình trái tim, hình cầu,…Tuỳ từng giống, lúc còn xanh quả có màu xanh nhạt, khi chín màu đỏ thẫm tím hoặc xanh tuỳ giống Cùi vải thường chiếm 60 - 70%, vỏ và hạt chiếm 20 - 46% khối lượng quả Cùi vải mầu trắng
vị ngọt pha chua hoặc rất chua tuỳ từng giống Hạt vải bình bầu dục dài, mầu nâu bóng
Trang 311.4.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây vải
a Giai đoạn sinh trưởng
Trên cây đã cho quả một năm có 2 - 3 đợt lộc vào tháng 2, sau thu hoạch tháng 6 - 7 và tháng 9 - 10 Khi cây đã già thì một năm chỉ có 2 đợt lộc vào tháng 3 và tháng 9 Đợt lộc vụ xuân nếu không có hoa thì sẽ thành cành dinh dưỡng, nếu cành mang hoa thì lá cành quả, loại cành này mọc trên cành vụ thu năm trước, bởi vậy phải chăm sóc tốt cành vụ thu thì năm sau mới có nhiều cành cho quả
b Giai đoạn phát triển
Theo Sauco : thời gian từ khi trỗ hoa đến khi quả vải chín kéo dài 3 - 4,5 tháng ở vùng nhiệt đới và từ 4 - 6 tháng ở vùng bán nhiệt đới Cây trồng bằng hạt sau trồng từ 6 năm trở lên mới trổ hoa, cho quả Cây trồng bằng cành chiết thì sau 3 - 4 năm đã cho quả Cây trồng bằng cành ghép có thể ra hoa và cho quả trước cây trồng bằng cành chiết
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đậu hoa ở cây ăn quả tuỳ thuộc vào 2 yếu tố: Tinh bột (Hydrat carbon) và chất kích thích sinh trưởng Sự trỗ hoa của cây vải, tuỳ thuộc bình quân giữa chất khởi điểm tăng trưởng (hay chất ức chế, ngăn trỗ hoa) do các
lá non đang lớn phát sinh và một chất ức chế trổ hoa do đó là già phát sinh
Theo các tác giả Trung Quốc, quả vải phát triển qua 3 giai đoạn và cùng xuất hiện 3 lần rụng quả
- Giai đoạn 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi, vỏ hạt, vỏ quả Sau hoa cái nở 10 ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý đợt 1
- Giai đoạn 2: Hạt lớn nhanh, vỏ quả cứng lại, cùi dần bao cứng hạt Khi cùi bao từ 1/3 - 2/3 hạt, do dinh dưỡng không đầy đủ hoặc nguyên tố kích thích bên trong giảm nên xuất hiện rụng quả lần 2
- Giai đoạn 3: Cùi phát triển nhanh và quả chín Thời gian này dinh dưỡng và chất khoáng tích luỹ nhanh vào quả, vỏ quả đã có một phần chuyển mầu Do cường độ tích luỹ nhanh, nếu gặp thời tiết bất thuận (nắng hạn, mưa to) sẽ làm rụng quả Hiện tượng rụng quả lần 3 thường trước thu hoạch một tuần
Trang 321.5 Nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh cây vải
1.5.1 Nhu cầu dinh dưỡng và phân bón cho vải
Khi tiến hành phân tích đất đai trong nhiều năm và khả năng sinh trưởng phát triển của vải, Menzel.C (2002), đã xác định hàm lượng các chất dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải [42]
Với cây vải trong thời kỳ chưa cho quả, bón phân chủ yếu tập trung nuôi cây và thúc đẩy sự sinh trưởng của thân cành, nguyên tắc bón phân của thời kỳ này là nên bón làm nhiều lần và bón lượng ít cho mỗi lần Năm thứ nhất do bộ rễ hẹp, tán nhỏ nên bón:
20 - 25g Urê, 15 - 20 g KCl và 50 - 70 g Lân Supe Từ những năm sau, lượng bón tăng lên 40 - 60% so với năm thứ nhất tùy thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây, loại phân
và tính chất đất
Bảng 1.5: Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải tính theo tỷ lệ
TT Loại dinh dưỡng Khoảng tối thích
Nguồn: Menzel C.(2002), The lychee crop in Asia and the Pacific, FAO[42]
Kỹ thuật bón phân cho cây được các nước trên thế giới nghiên cứu, áp dụng dựa trên cơ sở phân tích dinh dưỡng đất, phân tích dinh dưỡng lá và năng suất ở vụ quả trước Tỷ lệ các loại phân bón được coi là thích hợp với cây vải ở Trung Quốc là: N: P: K = 1: 0,4: 0,6 - 0,8 hoặc 1: 0,4: 1,6 - 1,8 các loại phân vi lượng như: Mg,
Trang 33Mn, Zn, Bo cũng được áp dụng phun bổ sung lên lá cho cây nhằn tăng khả năng chống chịu cho cây, tăng tỷ lệ đậu quả, giữ quả,chống nứt quả và làm tăng phẩm chất quả
Theo Trần Thế Tục dựa vào thành phần dinh dưỡng trong lá và quả để đưa
ra nhu cầu phân bón: Loại gì, tỷ lệ, liều lượng và thời kỳ bón thích hợp
Cây vải cần rất nhiều kali, sau đó đến đạm và lân Cây vải rất cần đạm nhưng khi sử dụng chú ý liều lượng và thời kỳ bón thích hợp để không làm ảnh hưởng đến quá trình phân hoá mầm hoa Làm giảm năng suất vải Lân ít tương quan đến năng suất miễn là cây không thiếu quá nhiều lần, nếu lân quá nhiều làm cho hàm lượng đạm và kali trong cây giảm Thời kỳ cây vải ra hoa cần rất nhiều kali, hàm lượng kali trong lá lúc thu hoạch tương quan thuận lợi năng suất, vì vậy giữ được hàm
lượng kali trong lá cao là rất ý nghĩa trong sản xuất
Bảng 1.6: Lượng phân bón cho vải ở một số nước Quốc gia
Lượng dinh dưỡng (g/cây/năm)
(Nguồn: Nghê Diệu Nguyên, Ngô Tố Phần – 1991)[24]
Thời gian và số lần bón tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai mà chủ yếu là tính chất vật lý Các nguyên tố vi lượng có thể phun lên lá nhằm kịp thời cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các nguyên tốt vi lượng như Bo, Kẽm, Sắt, Molipden… vì dùng một luợng nhỏ nên bón vào đất ít có hiệu quả so với phun lên lá bởi lượng phân được hấp thụ nhanh và tiết kiệm phân bón đơn Khi tiến hành phân tích hàm lượng các chất khoáng trong lá vải ở một số trang trại vải ở Úc cho thấy yêu cầu dinh dưỡng qua lá
Trang 34vải từ tháng 5 - 8 là: 1,5 1,8%N, 0,14 - 0,22%P, 0,66 - 1%K, 0,3 - 0,5%Mg, 50 - 100mg/g Fe, 100 - 150mgMn, 15 - 30mgZn, 10 - 25mgCu, 25 - 60mg Bo
1.5.2 Nghiên cứu về sử dụng chất điều hoà sinh trưởng cho vải
Các chất điều hòa sinh trưởng còn được gọi là Hormon thực vật, điều khiển quá trình sinh trưởng phát triển của cây Do chức năng điều chỉnh sự hình thành các
cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ Hormon nên có tác dụng quyết định hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc sử lý các chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chất sản phẩm nông nghiệp
Theo Menzel (2002), Auxin tổng hợp đã được sử dụng để điều kiển sinh trưởng và ra hoa vải ở Florida và Hawai vào những năm 1950 - 1960, phun NAA trên cây vải vào mùa thu thúc đẩy quá trình ra hoa [42]
Yee và các cộng sự khi phun GA3 cho vải ở các nồng độ khác nhau từ 50 -
100 ppm có tác dụng làm giảm tỷ lệ nứt quả vải khi thu hoạch [51]
Prasal (1983) khi phun axit Trichlorophenoxy axetic kết hợp với axit α - apthalece axetic đã giảm tỷ lệ rụng quả sinh lý và nâng cao kích thước và trọng tượng quả [47]
Vũ Mạnh Hải và cộng sự (1986) dùng một số hoá chất (bao gồm nguyên tố
vi lượng H3BO3 1% và 5%) kết hợp chất điều hoà sinh trưởng NAA 20 ppm và ure phun vào thời kỳ quả non trên hai giống Thanh Hà và Phú Hộ đã làm tỷ lệ rụng quả, làm tăng năng suất [25 tr 245 - 248]
Theo Phạm Văn Côn (2004), Đào Thanh Vân (2002), phun Ethrel cho vải có tác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả, do vậy làn tăng năng suất rõ rệt Phun chất điều hoà sinh trưởng đơn lẻ hay phối hợp đều làm tăng năng suất vải [9 tr 28]
Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004) khi phun GA3 cho vải thanh Hà ở các nồng độ từ 20 - 100 ppm ở các thời kỳ khác nhau cho thấy: GA3 làm tăng năng suất vải từ 51 - 59%, kéo dài được thời gian thu hoạch nhưng không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, phun GA3 và IAA phối hợp với Ethrel cho vải Hùng Long, Thanh Hà và Phú Hộ cho thấy: Các công thức thí nghiệm phun chất điều hoà sinh
Trang 35trưởng đều có lượng hoa tổng số giảm, tỷ lệ hoa cái tăng, tỷ lệ đậu quả và năng suất tăng một cách rõ rệt trong đó công thức phun GA3 50 ppm kết hợp với Ethrel cho hiệu quả cao nhất [28 tr 106 - 108]
Nguyễn Văn Dũng (2005) khi phun các chất điều hòa sinh trưởng và dinh dũng qua lá cho giống vải sớm Yên Hưng làm nâng cao năng suất và chất lượng quả Công thức phun GA3 50 ppm kết hợp với B 0,1% và ure 0,5% cho khết quả tốt nhất, năng suất cao hơn 90% so với đối chứng [12 tr 65]
Vũ Văn Tùng (2002) khi phun GA3 30 ppm kết hợp IAA 20 ppm đã làm tăng năng suất vải Thanh Hà từ 17 - 24% đối với vải 10 tuổi và từ 19 - 30% ở vải 30 tuổi, nâng cao hiệu quả kinh tế từ 10 -16 triệu đồng/ha Nguyễn Quốc Hùng (2005) khi sử dụng chất điều hoa sinh trưởng Paclobutrazol (PBZ) ở các nồng độ khác nhau phun cho vải chín sớm Bình Khê cho thấy: Tất cả các cây có xử lý PBZ đều không xuất hiện lộc đông, giảm kích thước chùm hoa, giảm tỷ lệ hoa đực, tăng tỷ lệ hoa cái, tăng tỷ lệ đậu quả và năng suất tăng một cách đáng kể trong năm thí nghiệm đầu tiên [32 tr 77]
Trong chương trình ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, Hoàng Chúng Lằm và cộng sự (2005) đã sử dụng GA3 50 ppm, Grow lá xanh 0,25% và SF- 900 phun cho vải chín sớm Hùng Long kết quả cho thấy phun GA3 50 ppm có tác dụng tốt nhất, làm tăng năng suất và cải tiện chất lượng quả
1.5.3 Những nghiên cứu về các biện pháp tác động cơ giới
Tỉa cành, tạo tán là biện pháp kỹ thuật giúp cho cây vải có được bộ khung tán cân đối, tăng khả năng quang hợp, khả năng chống chịu gió bão, bớt sâu bệnh, chóng ra hoa và đậu quả cao
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc: Biện pháp quan trọng
để cho vải năm nào cũng ra hoa là giữ lại lộc thu đúng lúc, khống chế lộc đông Tuy nhiên trong ba loại lộc thu: lộc thu trên cành hè, lộc thu trên cành cắt ngắn, lộc thhu trên càch quả sau thu hoạch cho thấy lộc thu ra trên cành hè cá số quả đậu trên chùm và năng suất chùm quả cao nhất
Tác giả R.A Stern và công sự (2005) cho thấy: Nếu cắt tỉa cho vải sớm từ giữa tháng 10 - 11 thì vải nở hoa, tuy nhiên nếu cắt tỉa muộn vào tháng 12 - 2 làm
Trang 36cho tỷ lệ số cây trong vườn nở hoa giảm đi và năng suất giảm rỗ rệt Điều này chứng tỏ đối với cây vải thời vụ thì kết quả có khi ngược lại [48]
Hiện nay để giảm bớt sức ép trong mùa thu hoạch vải, đang chú trọng đưa vào cơ cấu giống các giống vải chín sớm nhằm góp phần rải vụ thu hoạch cho người trồng vải Các giống vải chín sớm thường có đặc điểm là đợt lộc thu thành thực sớm, do đó xác suất bật lộc đông cao làm cho cây không có quả hoặc có thì năng suất cũng rất thấp Nguyễn Văn Dũng (2005) khi ngiên cứu các biện pháp cắt tỉa thích hợp cho giống chín sớm Yên Hưng cho thấy: Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành sau thu hoạch và cắt tỉa theo quy trình của viện Nghiên cứu rau quả có tác dụng điều chỉnh số lượng lộc hữu hiệu, nâng cao chất lượng lộc thu Cắt tỉa cũng làm tăng tỷ lệ hoa cái, số chùm quả/cây và làm tăng năng suất vải Hoàng Chúng Lằm (2005) khi nghiên cứu về các biện pháp cắ tỉa cho vải Hùng Long cũng có nhân xét là cắt tỉa theo quy trình của Viện Nghiên cứu rau quả có tác động tích cực đến năng suất vải
Tác giả Hoàng lâm và công sự khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn bệnh chết rũ cho cây vải thiều kết luận: Nếu cây vải bị bệnh được cắt tỉa đúng kỹ thuật (cắt nhẹ 1/3 tán đồng thời sử dụng với các biện pháp kỹ thuật khác) thì có tới 90% số cây hồi phục bật lộc thu bình thường và 100% số cây này ra hoa và đậu quả trở lại
Ngô Xuân Bình (2005) khi nghiên cứu về các phương pháp cắt tỉa cho cây vải Thanh Hà cũng cho thấy: Biện pháp kỹ thuật cắt tỉa khoảng 10% số đầu cành sau khi thu hoạch có tác dụng tốt nhất đối với năng suất, năng suất vải đạt 27,74 kg/cây so với đối chứng là 16,92 kg/cây [12 tr 26]
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc đốn phớt cành đến sinh trưởng và năng suất vải Thanh Hà của Nguyễn Khắc Thái Sơn (2006) cho thấy: Đốn phớt cành vải sau khi thu hoạch từ 20 -40 cm có tác dụng tăng đường kính lộc thu tăng
số lượng quả trên chùm và tăng năng suất, thời điểm vải chín chậm lại từ 5 - 7 ngày, điều này rất có ý nghĩa với công tác rải vụ thu hoạch cho vải [29 tr 135 - 137]
Bên cạnh công tác cắt tỉa cho vải thì khoanh vỏ có tác động tích cực đến
sự nở hoa, tăng tỷ lệ hoa cái, giảm tỷ lệ rụng quả Để đạt hiệu quả cao, khoanh
vỏ nên áp dụng vào thời kỳ cuối của lộc thu, tuy nhiên đối với mỗi giống khác
Trang 37nhau phải có nghiên cứu cụ thể Ở Trung Quốc giống Feizixiao được khoanh vỏ vào giữa tháng 10 nhưng giống Nuomici và giống Guiwei lại được khoanh vỏ vào tháng 11 và đầu tháng 12 với cành có đường kính 10 cm nhưng cũng với hai giống vải này người ta lại khoanh vỏ vào tháng 5 với những cành có đường kính
5 cm, vết khoanh vỏ 2 - 4 mm, khoanh làm hai đường xoắn ốc, khoảng cách giữa hai vết khoanh từ 6 - 10 cm khoanh vỏ có tác dụng làm 100% số cây trong vườn
nở hoa so với 75% số cây nở hoa với vườn cây không khoanh vỏ,
Kết luận về phân tích tổng quan
Vải là cây ăn quả yêu cầu khắt khe về điều kiện khí hậu thời tiết Yếu tố khí hậu và điều kiện đất đai vùng trồng trọt là những nguyên nhân chủ yếu tạo nên năng suất và phẩm chất của cây trồng Xã Phú Hộ - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ là một trong những khu vực có khí hậu thích hợp cho sinh trưởng của các cây vải như: Giống vải Phú Hộ, giống vải Hùng Long, giống vải VPH 40 được trồng trên địa bàn
những năm gần đây, do vậy cần có những “nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật
đối với giống vải VPH.40” trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu một số kỹ thuật đối với giống vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ
- Vật liệu nghiên cứu: + Giống vải chín sớm VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ
2.2 Nội dung nghiên cứu:
- Nội dung thứ nhất: Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của vải chín sớm VPH.40:
- Nội dung thứ hai: Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ
- Nội dung thứ ba: Nghiên cứu ảnh hưởng Ethrel đến khả năng sinh trưởng,
ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của vải VPH.40 tại tỉnh Phú Thọ
Thí nghiệm gồm 4 công thức:
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên với 4 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 5 cây (tổng số cây 60 cây) độ tuổi cây từ 8 - 10 tuổi
Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ sau:
4 hàng bảo vệ xung quanh
LN1 CT1 CT2 CT3 CT4
LN2 CT3 CT4 CT1 CT2
LN3 CT2 CT1 CT4 CT3
Trang 39Trong đó:
+ Công thức I (CT1): Cắt tỉa theo quy trình của trung tâm NC&PT Rau hoa quả + Công thức II (CT2): Cắt tỉa theo phương pháp đốn phớt
+ Công thức III (CT3): Cắt tỉa theo quy trình kỹ thuật, chăm sóc và thu
hoạch vải Viện Nghiên cứu rau quả
+ Công thức IV(CT4): Đ/c không cắt tỉa
- Chi tiết các phương pháp cắt tỉa:
+ Cắt tỉa theo quy trình của trung tâm NC&PT Rau hoa quả (chỉ cắt tỉa một
lần sau thu hoạch 10-15 ngày; Cắt tỉa toàn bộ cành trong tán, cành cho quả, cành
tăm vượt)
+ Cắt tỉa theo phương pháp đốn phớt: Cắt tỉa tất cả đầu cành ở các cành (kể
cả cành cho thu hoạch qủa năm trước và không cho thu quả) ở vị trí 1-2 cm từ phần
bé hoặc đỉnh sinh trưởng
+ Cắt tỉa theo quy trình kỹ thuật, chăm sóc và thu hoạch vải Viện Nghiên
cứu rau quả:
++ Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 2 đến giữa tháng 3; cắt
những cành xuân chất lượng kém, cành mang sâu bệnh và những cành mọc lộn
trong tán, những chùm hoa nhỏ, thưa, mọc sâu trong tán, chùm hoa bị sâu bệnh
++ Cắt tỉa vụ hè: Được tiến hành từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5; cắt bỏ
những cành hè mọc nhỏ, yếu, mọc quá xít nhau, cắt tỉa bỏ những chùm quả nhỏ,
sâu bệnh
++ Cắt tỉa vụ thu: Được tiến hành sau khi thu quả vào cuối tháng 6 đến tháng
7; tỉa bỏ các cành khô, cành sâu bệnh và các cành hè mọc quá dài khi lộc thu hình
thành mọc dài khoảng 10cm, tỉa bỏ những mầm yếu, mọc không hợp lý và chọn để
lại 2-3 cành thu trên mỗi cành mẹ
Các chỉ tiêu theo dõi
- Theo dõi thời gian ra lộc:
+ Thời gian bắt đầu ra lộc (10%)
+ Thời gian ra lộc rộ (80%)
+ Thời gian kết thúc lộc (90-100%)
Trang 40+ Thời gian ra lộc (ngày)
- Đặc điểm hình thái lộc thu
+ Chiều dài lộc (cm): Mỗi lần nhắc lấy 5 cây, mỗi cây lấy 25 cành lộc, đo chiều dài của mỗi cành lộc, tính trung bình
+ Đường kính cành lộc (mm): Mỗi lần nhắc lấy 5 cây, mỗi cây lấy 25 cành lộc, đo đường kính của mỗi cành lộc, tính trung bình
+ Số lá trên lộc (lá/lộc): Mỗi lần nhắc lấy 5 cây, mỗi cây lấy 25 lộc, đếm số
lá trên mỗi lộc, tính trung bình
- Tính số hoa đực:Tính bằng tổng số hoa trừ đi tổng số hoa cái
- Tỷ lệ hoa đực/cái: (Tổng số hoa đực/ tổng số hoa cái) x 100