1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Luật doanh nghiệp 2014 Những điểm mới cơ bản

5 840 7

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 83 KB
File đính kèm NCKH- Diemmoi Luatdoanhnghiep2014.rar (16 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có 10 chương, 213 điều, tăng 41 điều với nhiều điểm mới tích cực. Những quy định này đã thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh. Bên cạnh giữ lại những quy định còn phù hợp của Luật Doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập đang tồn tại, tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có một số đổi mới cơ bản, cụ thể như sau:

Trang 1

NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

ThS Đoàn Công Thức

Tóm tắt: Chính phủ Việt Nam đã có định hướng đúng đắn và sự quyết tâm của trong

việc cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam Luật Doanh nghiệp 2014 đã tiếp thu những quy định tiến bộ tại Luật Doanh nghiệp 2005 và bổ sung nhiều quy định mới Ngày 26/11/2014, Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, có hiệu lực kể từ 01/7/2015.

Từ khóa: Luật doanh nghiệp 2014, Luật số: 68/2014/QH13.

Abstract: The sound orientation and determination of Vietnam’s government in the

reforms of administrative procedures, especially the ones to improve business environment in Vietnam 2014 Law on Enterprises provides with a number of regulations while adopting adequate provisions of 2005 Law on Enterprises On 26/11/2014, the National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam promulgates the Law on Enterprises, No 68/2014/QH13, with effect from 01/7/2015.

Keyword: Law on Enterprises, Law No 68/2014/QH13.

1 Giới thiệu chung

So với Luật Doanh nghiệp năm

2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có

10 chương, 213 điều, tăng 41 điều với

nhiều điểm mới tích cực Những quy

định này đã thể hiện đúng tinh thần

Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinh

doanh của công dân, của doanh nghiệp,

theo đó, những gì luật pháp không cấm

thì người dân, doanh nghiệp được tự

do đầu tư, kinh doanh Bên cạnh giữ lại

những quy định còn phù hợp của Luật

Doanh nghiệp 2005, Luật doanh

nghiệp 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều

quy định nhằm tháo gỡ những hạn chế,

bất cập đang tồn tại, tạo thuận lợi cho

môi trường đầu tư, kinh doanh thuận

lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế Theo

đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014

có một số đổi mới cơ bản, cụ thể

như sau:

2 Những điểm mới cơ bản của

Luật doanh nghiệp 2014.

2.1 Thời gian cấp Giấy

chứng nhận đăng ký doanh

nghiệp

Theo quy định tại khoản 2 Điều

27 và khoản 3 Điều 31 Luật Doanh

nghiệp 2014, thời hạn để cơ quan

đăng ký kinh doanh xem xét tính hợp

lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) được rút ngắn từ 5 ngày làm việc (theo luật Doanh nghiệp 2005) xuống còn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ

chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ còn 4 nội dung chính (Luật Doanh nghiệp 2005 là 10 nội dung chính) là: Tên doanh nghiệp và

mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin của thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp

Trang 2

Xuất phát từ thực tế cho thấy, cơ

quan nhà nước không thể thống kê và

liệt kê ra hết những ngành nghề được

phép kinh doanh, vì vậy luật Doanh

nghiệp 2014 quy định giấy chứng

nhận đăng kí kinh doanh không bắt

buộc ghi ngành nghề kinh doanh, bãi

bỏ các yêu cầu và điều kiện kinh

doanh tại thời điểm đăng kí thành lập

doanh nghiệp khẳng định quyền tự

do kinh doanh tất cả các ngành nghề

mà pháp luật không cấm theo quy

định tại Hiến pháp 2013 Như vậy

khi có sự thay đổi ngành, nghề kinh

doanh, doanh nghiệp chỉ phải thông

bảo với cơ quan đăng ký kinh doanh

để được bổ sung trong hồ sơ đăng ký

doanh nghiệp mà không phải đăng ký

thay đổi nội dung đăng ký kinh

doanh để được cấp Giấy chứng nhận

đăng ký doanh nghiệp mới như luật

doanh nghiệp 2005 Điều này giúp

cho các doanh nghiệp không phải

mất thời gian và thủ tục để chờ cấp

lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh

nghiệp khi muốn bổ sung ngành nghề

kinh doanh

2.3 Phiếu lý lịch tư

pháp trong hồ sơ đăng ký

doanh nghiệp

Theo quy định tại Khoản 2 Điều

18 quy định: trong một số trường

hợp, khi đăng ký thành lập doanh

nghiệp, Cơ quan Đăng ký kinh doanh

có thể yêu cầu người đăng ký thành

lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý

lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký

kinh doanh Đây là quy định mới của

Luật Doanh nghiệp năm 2014 Tuy

nhiên, về cơ bản phiếu lý lịch tư pháp

không phải là tài liệu bắt buộc trong

Hồ sơ đăng ký thành lập doanh

nghiệp bởi nếu bắt buộc sẽ làm tăng

thêm thời gian thành lập doanh

nghiệp tạo ra gánh nặng chi phí tuân

thủ rất lớn cho cả cơ quan nhà nước

và doanh nghiệp, sẽ có tác động

không thuận lợi cho môi trường đầu

tư, kinh doanh

thông tin

Theo quy định tại Điều 33 Luật Doanh nghiệp 2014, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc khi thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải công bố công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh

https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc

https://bocaodientu.dkkd.gov.vn/egaz ette/Forms/Egazette/DefaultAnnounc ements.aspx?h=9

Ngoài ra, luật doanh nghiệp 2014 còn ghi nhận một số trường hợp ứng dụng công nghệ thông tin như quy định có thể họp trực tuyến, biên bản

có thể ghi âm hoặc ghi và lưu giữ dưới hình thức điện tử khác đã có bước tiến bộ vượt bậc so với quy định cũ là chỉ ghi vào sổ biên bản

2.5 Con dấu của doanh nghiệp

Hiện trên thế giới chỉ còn khoảng

38 nền kinh tế, quốc gia sử dụng con dấu, trong đó có Việt Nam Theo xu hướng phát triển phương thức giao dịch điện tử, thì việc dùng con dấu sẽ không còn ý nghĩa nữa Vì vậy, việc cải cách về con dấu là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới Mặc dù chưa thể bỏ hoàn toàn việc

sử dụng con dấu, nhưng đã có bước cải cách quan trọng

Theo quy định tại điều 44, luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp Thay vì phải đăng ký với cơ quan công an như trước đây, doanh nghiệp chỉ cần thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Quy định này giảm phiền hà, tốn kém về chi phí, thời gian cho doanh nghiệp

Trang 3

2.6 Về góp vốn điều lệ

kinh doanh.

Luật Doanh nghiệp năm 2014

quy định các nguyên tắc để xác định,

đăng ký vốn thực góp của công ty,

giải quyết tình trạng ảo Trong đó

điểm mới nhất là cho phép Công ty

TNHH một thành viên được giảm

vốn điều lệ

Công ty TNHH một thành viên,

công ty cổ phần, công ty TNHH hai

thành viên trở lên nếu không góp đủ

vốn điều lệ trong thời hạn quy định

như đã cam kết khi đăng ký thành lập

doanh nghiệp thì được quyền đăng

ký điều chỉnh giảm vốn bằng giá trị

số vốn thực góp Trong trường hợp

này, chủ sở hữu, thành viên, cổ đông

chưa thanh toán hoặc chưa thanh

toán đủ vốn điều lệ đã đăng ký góp,

số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu

trách nhiệm tương ứng với tổng giá

trị phần vốn góp, mệnh giá cổ phần

đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ

tài chính của công ty phát sinh trong

thời hạn cam kết góp

Trong quá trình hoạt động,

doanh nghiệp cũng có thể điều chỉnh

giảm vốn bằng cách hoàn trả một

phần vốn góp trong vốn điều lệ của

Công ty theo các điều kiện quy định

tại Luật Doanh nghiệp năm 2014

Luật Doanh nghiệp năm 2014

áp dụng thống nhất thời hạn phải

thanh toán đủ phần vốn góp khi

thành lập công ty, quy định thời hạn

góp vốn đối với chủ sở hữu, thành

viên công ty TNHH phải góp đủ và

đúng loại tài sản như đã cam kết khi

đăng ký thành lập doanh nghiệp

trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày

được cấp Giấy chứng nhận đăng ký

doanh nghiệp (điều 48, điều 74, Luật

Doanh nghiệp 2014)

2.7 Người đại diện theo

pháp luật của doanh nghiệp

Nếu như luật Doanh nghiệp 2005

quy định doanh nghiệp chỉ có một

người đại diện theo pháp luật (ngoại

trừ Công ty hợp danh tất cả các thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật của công ty) khoản 2, Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty TNHH và công ty

cổ phần có thể tự quyết định, chỉ định một người hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Ngoài ra theo quy định tại Khoản 7 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án

có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án

Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều lệ công

ty Quy định này tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật

2.8 Về điều kiện tiến hành họp và thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông công ty.

Theo quy định tại Điều 141 Luật Doanh nghiệp 2014, điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông chính thức thay đổi khi giảm tỷ lệ dự họp

từ 65% (luật Doanh nghiệp 2005) xuống còn 51% Các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua khi được số cổ đông đại diện cho

ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp tán thành (Luật Doanh nghiệp năm 2005

là 65%; trường họp thông qua nghị quyết dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản là ít nhất 75%) Các quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành theo đúng kế hoạch của doanh nghiệp, tránh tình trạng phải triệu tập lần thứ 2, lần thứ 3 do không đủ điều kiện

Luật quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập, không tham gia điều hành trực tiếp doanh nghiệp;

Trang 4

bãi bỏ việc Đại hội đồng cổ đông bầu

trực tiếp Chủ tịch hội đồng quản trị

2.9 Về tổ chức lại doanh

nghiệp.

Luật Doanh nghiệp năm 2014

không yêu cầu các công ty cùng loại

mới được hợp nhất, sáp nhập, chia,

tách đồng thời quy định rõ về quyền

lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như

trình tự thủ tục, hồ sơ thực hiện các

loại thủ tục này (Luật Doanh nghiệp

năm 2005 chỉ cho phép các công ty

cùng loại hình mới được hợp nhất

hay sáp nhập) Đây là điểm đổi mới

hết sức quan trọng, điều này sẽ góp

phần thúc đẩy thị trường mua bán,

hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp

2.10 Về thu hồi giấy

chứng nhận đăng ký doanh

nghiệp.

Điều 211 Luật Doanh nghiệp

năm 2014 quy định 5 trường hợp bị

thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký

doanh nghiệp so với 8 trường hợp bị

thu hồi quy định tại khoản 2 điều 165

Luật Doanh nghiệp năm 2005 Đồng

thời Luật Doanh nghiệp năm 2014

cũng có các quy định nhằm giúp

doanh nghiệp rút khỏi thị trường

bằng cách giải thể tự động Theo đó,

theo điều 202, luật doanh nghiệp

2014, trong thời hạn 180 ngày, kể từ

ngày nhận được quyết định giải thể

theo quy định mà không nhận được ý

kiến về việc giải thể từ doanh nghiệp

hoặc phản đối của bên có liên quan

bằng văn bản hoặc trong thời hạn 05

ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ

giải thể, Cơ quan Đăng ký kinh

doanh cập nhật tình trạng pháp lý của

doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu quốc

gia về đăng ký doanh nghiệp

2.11 Về doanh nghiệp xã

hội:

Doanh nghiệp xã hội không phải

là một loại hình doanh nghiệp đặc

thù riêng mà cũng giống như doanh

nghiệp thông thường, vẫn tổ chức và

hoạt động theo một trong các loại

hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…) chỉ phân biệt ở mục đích phân phối và sử dụng lợi nhuận

Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này, mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường

vì lợi ích cộng đồng và sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký

2.12 Về doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước được quy định tại Chương IV Luật Doanh nghiệp 2014 Đây là chương mới hoàn toàn so với Luật Doanh nghiệp năm 2005 Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 8 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014

đã có sự thay đổi so với trước đây, thay vì quy định Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Trong chương này cũng nêu rõ hơn địa vị pháp lý tập đoàn kinh tế, bổ sung quy định rõ hơn về hình thức công ty mẹ - công

ty con; cấm các công ty con trong cùng một nhóm công ty cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau; bổ sung quy định nhằm minh bạch hóa cơ cấu và mối quan hệ giữa các công ty trong tập đoàn kinh tế, như công khai điều lệ hoặc thỏa thuận về quy chế hoạt động chung tập đoàn… Bốn lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh: Cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; Hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; Hoạt dộng

Trang 5

trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên;

Ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn,

tạo động lực cho sự phát triển các

ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế

2.13 Tách riêng thủ tục

thành lập doanh nghiệp với

thủ tục về đầu tư dự án theo

Luật Đầu tư

Cùng với Luật Đầu tư 2014, Luật

Doanh nghiệp năm 2014 đã chính

thức bãi bỏ nội dung Giấy chứng

nhận đăng ký đầu tư có thể đồng thời

là Giấy chứng nhận đăng ký doanh

nghiệp Theo đó, các nhà đầu tư nước

ngoài muốn thành lập doanh nghiệp

tại Việt Nam đều phải được cấp Giấy

chứng nhận đăng ký đầu tư sau đó sẽ

thành lập doanh nghiệp theo quy

định của Luật Doanh nghiệp

3 Kết luận và kiến nghị.

Luật Doanh nghiệp năm 2014

được Quốc hội thông qua là sự kiện

quan trọng đánh dấu những đổi mới

thể hiện được ý chí, nguyện vọng của

đại đa số doanh nghiệp Tuy nhiên để

luật đi vào thực tiễn cuộc sống cần có

các văn bản quy định cụ thể Chính

phủ, các bộ, ngành và các địa

phương, doanh nghiệp đã khẩn

trương phối hợp triển khai xây dựng

các văn bản hướng dẫn và tổ chức

thực hiện

Cho đến nay, một số văn bản

hướng dẫn Luật doanh nghiệp đã

được ban hành, bên cạnh luật doanh

nghiệp 2014, các nhà đầu tư, các

doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các

văn bản hướng dẫn kèm theo luật

này

Nghị định 78/2015/NĐ-CP (ban

hành ngày 14/09/2015, có hiệu lực

thi hành kể từ ngày 01/11/2015)

hướng dẫn đăng kí doanh nghiệp

Nghị định 81/2015/NĐ-CP (ban

hành ngày 18/09/2015 có hiệu lực kể

từ ngày 05/11/2015) về công bố

thông tin của doanh nghiệp nhà nước

Nghị định 96/2015/NĐ-CP (ban hành ngày 19/10/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/12/2015) hướng dẫn về số lượng, hình thức, nội dung mẫu dấu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện; quản lý,

sử dụng con dấu; doanh nghiệp xã hội; hạn chế sở hữu chéo giữa các công ty

Thông tư 127/2015/TT-BTC (ban hành ngày 21/08/2015 có hiệu lực từ ngày 10/10/2015) hướng dẫn về việc cấp mã số doanh nghiệp tự động theo phương thức điện tử và phân công cơ quan thuế quản lý đối với doanh nghiệp

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Kế hoạch và đầu tư, Cổng

thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, https://dangkykinhdoanh.gov.vn/

[2] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI, http://www.vcci.com.vn/

[3] Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/P ages/default.aspx

[4] TS Nguyễn Đình Cung, Con

dấu doanh nghiệp “Sửa” hay bỏ hẳn?

http://nld.com.vn/kinh-te/con-dau- doanh-nghiep-sua-hay-bo-han-20150509222233094.htm

Ngày đăng: 07/04/2016, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w