1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN LOẠI DỊCH VỤ TRONG NỀN KINH TẾ SỐ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO

129 274 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh sách W/120 này đã được dùng để hướng dẫn cho việc phân loại các dịch vụ của hầu hết các nước thành viên WTO, bởi vì danh sách W/120 bao gồm một số lượng lớn các dịch vụ tổng hợp man

Trang 1

Tầng 9, Tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam

MÃ HOẠT ĐỘNG: WTO-C2F

Mira Burri Phan Tâm Phạm Mạnh Lâm Nguyễn Thanh Tuyên Trần Tuấn Anh

Báo cáo này được lập với sự hỗ trợ tài chính của Liên minh châu Âu Những quan điểm trình bày trong báo cáo này là quan điểm của các tác giả, không phải ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay Bộ Công Thương

Trang 2

2

Mục lục

Tóm tắt các nội dung chính 4

Danh mục viết tắt 5

Chương I: Dịch vụ công nghệ thông tin, viễn thông và truyền thông mới trong kỷ nguyên hội tụ 7

1 Tổng quan về dịch vụ trong nền kinh tế thông tin 7

2 Tổng quan về khung pháp lý của WTO 8

2.1 Khái niệm “Dịch vụ” 8

2.2 Phương thức cung cấp dịch vụ 9

2.3 Các nguyên tắc 10

2.4 Những giới hạn chung về tự do hóa (các quy định trong nước và các ngoại lệ) 12

2.5 Thỏa thuận thương mại ưu đãi 14

3 Những thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách/quản lý và đàm phán thương mại 17 3.1 Phân loại lỗi thời 17

3.2 Diễn giải theo phương pháp mục đích luận các thuật ngữ phân loại 17

3.3 Về sự giống nhau 18

3.4 Kết luận chương 19

Chương II: Tổng quan về phân loại dịch vụ và vai trò của phân loại dịch vụ 20

1 Các phân loại hiện đang sử dụng 20

1.1 W/120 20

1.2 CPC 20

1.3 OECD 23

1.4 MSITS 24

1.5 EBOPS 25

1.6 BPM6 26

1.7 SNA 26

1.8 ISIC 27

1.9 Đánh giá tạm thời 30

2 Định nghĩa dịch vụ, cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người dùng dịch vụ, phân loại dịch vụ 30

2.1 Dịch vụ 30

2.2 Cung cấp dịch vụ 33

2.3 Nhà cung cấp dịch vụ 35

2.4 Người sử dụng dịch vụ 36

2.5 Phân loại dịch vụ 36

2.6 Sản phẩm số 36

3 Phân loại theo WTO là cơ sở để phát triển các phân loại khác 37

3.1 Danh sách phân loại các dịch vụ theo ngành (W/120) 37

3.2 Phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) 38

3.3 Phân loại trong các PTAs mới 38

3.4 Các phân loại khác 39

4 Các quan điểm về phương pháp luận phân loại dịch vụ 41

4.1 Nguyên tắc cơ bản của phương pháp luận 41

4.2 Phân loại vì mục đích thống kê và quy hoạch ngành /thị trường 43

4.3 Xây dựng quy tắc và chính sách 44

4.4 Đàm phán thương mại dịch vụ 46

Trang 3

3

Chương III: Phân loại dịch vụ CNTT&TT 48

1 Tổng quan về các dịch vụ máy tính và truyền thông 48

2 Phân loại dịch vụ CNTT (liên quan đến máy tính) 50

2.1 Nền tảng 50

2.2 Các tranh luận đang tiếp diễn 51

2.3 Các lựa chọn thay thế trong thời đại hội tụ công nghệ 53

2.4 Tiếp cận ở Việt Nam 55

2.5 Đánh giá sơ bộ 56

3 Phân loại dịch vụ viễn thông 57

3.1 Khung pháp lý 57

3.2 Các đặc điểm riêng của phân loại dịch vụ viễn thông 62

3.3 Những cách phân loại dịch vụ viễn thông đã lỗi thời 68

3.4 Các vấn đề mới và mới nổi lên trong quản lý dịch vụ viễn thông 71

4 Phân loại dịch vụ nghe nhìn 75

4.1 Dịch vụ nghe nhìn: Hiện trạng dịch vụ 76

4.2 Dịch vụ nghe nhìn: Sự tiến triển của các cuộc đàm phán phân loại 80

5 Phương pháp luận phân loại đối với các lĩnh vực khó phân biệt ranh giới 84

5.1 Các phương pháp luận cơ bản trong trường hợp các dịch vụ khó phân biệt ranh giới 84

5.3 Một số trường hợp nghiên cứu cụ thể 107

Chương IV: Kết luận 116

Tài liệu tham khảo 118

Phụ lục: Giải thích rõ quy tắc hạn chế thương mại 124

Trang 4

4

Tóm tắt các nội dung chính

Bản báo cáo này chỉ ra rằng việc phân loại dịch vụ trong nền kinh tế số là một nhiệm vụ khó khăn Vấn đề chính là ở chỗ phân loại dịch vụ trong khuôn khổ của WTO (Hiệp định chung về thương mại dịch vụ - GATS) đã không còn đáp ứng được những yêu cầu của xã hội thông tin phát triển nữa Nhận định này đúng cho cả các nước phát triển lẫn các nước kém phát triển Tuy nhiên các nền kinh

tế đang phát triển gặp phải những khó khăn riêng khi phải điều chỉnh các quy định pháp luật về dịch

vụ điện tử của mình trong một môi trường dễ thay đổi

Vì những lý do chính trị, những cố gắng nhằm xem xét lại các phân loại dịch vụ trong GATS từ năm

1991 đến nay đều không thành công Các tổ chức khác (như OECD và các tổ chức tiêu chuẩn hóa) đang phản ánh những phát triển công nghệ mới vào các phân loại của mình, tuy nhiên việc sử dụng các phân loại ấy có thể gây nên dị biệt giữa nội luật dựa trên những phân loại mới như thế và các cam kết quốc tế (đa phương) không dễ gì vượt qua được

Ý tưởng cơ bản của phân loại là chia nhóm và tổ chức thông tin một cách có ý nghĩa và có hệ thống theo một định dạng chuẩn hữu ích cho việc xác định tính tương đồng của các dịch vụ Các yếu tố cơ bản phục vụ cho phân loại là (i) xác định được các nhu cầu của người sử dụng dịch vụ (ii) các vấn đề tổng quát về khái niệm và (iii) phương pháp thu thập dữ liệu Các vấn đề về khái niệm quan trọng bao gồm: lựa chọn các biến số của phân loại (ví dụ định nghĩa các thuật ngữ chung về dịch vụ), phân loại các đơn vị (ví dụ các giao dịch dịch vụ quan sát được có thể ấn định cho một chủng loại dịch vụ duy nhất), vấn đề các dịch vụ nào sẽ được phân loại và các quy tắc để kết nối giữa các phân loại khác nhau

Bản báo cáo đã chỉ ra rằng, nên đi theo cách tiếp cận được gọi là “gộp lại”, tương ứng với một phạm

vi rộng các cơ hội thương mại Cách tiếp cận “gộp lại” truyền đạt một khái niệm về các lĩnh vực mở rộng vượt ra ngoài các điểm hiện được phản ánh trong các phân loại của WTO Cách tiếp cận như vậy có thể giúp cho các nhà quản lý phân loại và nhóm các dịch vụ theo cách cho phép định rõ hơn các ưu tiên và lợi ích của một quốc gia trong các vòng đàm phán

Một chủ đề thiết yếu trong việc lựa chọn phân loại liên quan đến cách diễn giải theo chức năng hoặc theo mục đích về đặc tính của một dịch vụ nhất định Dựa trên cách đánh giá theo chức năng, các phân loại hiện có cần được đánh giá và cần phải quyết định loại nào có quan hệ gần nhất với chức năng được đánh giá hoặc loại nào có vẻ phù hợp nhất với chức năng được đánh giá Tất nhiên, một giải pháp kiểu “một cỡ phù hợp cho tất cả” không hề có Bởi vì, quản lý vẫn còn có vai trò, và các giá trị và lợi ích văn hóa quốc gia có thể vẫn còn được duy trì

Trang 5

5

Danh mục viết tắt

BOP Balance of Payments - Cán cân thanh toán

BPM6 Balance of Payments and International Investment Position Manual - Sổ tay hướng

dẫn sử dụng cán cân thanh toán và định vị đầu tư nước ngoài http://www.imf.org/external/pubs/ft/bop/2007/bopman6.htm CPC United Nations Central Product Classification, Ver 2 - Phân loại sản phẩm trung tâm

của Liên hợp quốc, bản 2 http://unstats.un.org/unsd/class/intercop/expertgroup/2011/AC234- 15.PDF DDA Doha Development Agenda - Chương trình nghị sự phát triển Doha

EBOPS Extended Balance of Payments Services - Dịch vụ cán cân thanh toán mở rộng

http://www.oecd.org/dataoecd/24/34/2507956.pdf

EC European Community - Cộng đồng châu Âu

ENTs Economic Needs Tests - Kiểm tra nhu cầu kinh tế

EU European Union - Liên minh châu Âu

FATS Foreign Affiliates Trade in Services - Đại lý nước ngoài về thương mại dịch vụ

FMS Fixed to mobile substitution - Thay thế điện thoại cố định bằng điện thoại di động GATS General Agreement on Trade in Services - Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATT General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp định chung về Thuế quan và Thương

mại GPS Global positioning system - Hệ thống định vị toàn cầu

IMF International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế

IP Internet Protocol - Giao thức Internet

ISIC International Standard Industry Classification - Phân loại công nghiệp tiêu chuẩn quốc

tế http://unstats.un.org/unsd/cr/registry/regcst.asp?Cl=17 ITA Information Technology Agreement - Hiệp định công nghệ thông tin

Trang 6

6

MSITS Manual on Statistics of International Trade in Services (of the United Nations) - Sổ tay

hướng dẫn về Thống kê Thương mại Dịch vụ Quốc tế (của Liên Hiệp Quốc) http://unstats.un.or/unsd/tradeserv/TFSITS/msits.htm

NGNs Next Generation Networks - Mạng thế hệ mới

OECD Organisation for Economic Co-operation and Development - Tổ chức Hợp tác và Phát

triển Kinh tế PRC People’s Republic of China - Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

PTA Preferential Trade Agreement - Hiệp định thương mại ưu đãi

SNA System of National Accounts - Hệ thống tài khoản quốc gia

http://unstats.un.org/unsd/nationalaccount/sna2008.asp

TRIPS WTO Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights - Hiệp định

WTO về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ WTO World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới

W/120 Services Sectoral Classification List - Danh sách phân loại dịch vụ theo ngành

http://tsdb.wto.org/Includes/docs/W120_E.doc

Trang 7

7

Chương I: Dịch vụ công nghệ thông tin, viễn thông và truyền thông mới trong

kỷ nguyên hội tụ

1 Tổng quan về dịch vụ trong nền kinh tế thông tin

Trong suốt hai thập kỷ qua, công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) đã phát triển mạnh mẽ đặc biệt là máy tính cá nhân, điện thoại di động và Internet Theo OECD, cùng với vô

số các ứng dụng khác, CNTT&TT đã tác động đến hầu như tất cả các chuẩn mực kinh tế và xã hội.1

 Quy mô kinh tế của CNTT&TT có thể được thấy rõ trong sự chuyển đổi của chuỗi cung cầu cũng như trong chuyển đổi cơ cấu của tổ chức; CNTT&TT có thể làm giảm các rào cản thị trường, chi phí giao dịch và tác động đến vị thế cạnh tranh

 CNTT&TT cũng có ảnh hưởng xã hội; những phương thức ứng xử cá nhân mới đã xuất hiện, bao gồm cả những cách thức giao tiếp và tương tác cá nhân được điều chỉnh hoặc hoàn toàn mới

Hơn nữa, trong hai thập kỷ qua, trong một chừng mực nào đó, giá trị sản xuất tính theo tổng sản phẩm quốc nội căn bản đã chuyển từ khu vực nông nghiệp và khu vực sản xuất hàng hoá sang lĩnh vực dịch vụ Việc cung cấp dịch vụ đang ngày càng trở thành một yếu tố quyết định của mỗi nền kinh tế Sự phát triển này rõ ràng đã được thúc đẩy bởi các dịch vụ CNTT&TT và đặc biệt

ICT Nhu cầu

Trang 8

Cơ quan Phúc thẩm của WTO (WTO Appellate Body) vẫn chưa định nghĩa "dịch vụ" bằng một thuật ngữ trừu tượng, mà đã sử dụng phương pháp tiếp cận thực tiễn bằng cách chỉ ra lĩnh vực nào chịu ảnh hưởng trên cơ sở xử lý từng trường hợp một.5

Như vậy, có thể thấy thuật ngữ "dịch vụ" là rất mơ hồ Vì thế, sẽ phù hợp hơn nếu định nghĩa khái niệm "dịch vụ" thông qua các đặc điểm cụ thể của nó.6

Bởi vì các tiêu chuẩn trừu tượng, ví dụ tính phi vật chất, phi vật thể, và tính vô hình chỉ có thể được xem như là những hướng dẫn mở, trong quá trình đàm phán về GATS, năm 1991, Ban Thư ký GATT đã giới thiệu

"Danh sách phân loại lĩnh vực dịch vụ theo ngành" (gọi là Danh sách W/120); danh sách này

được xây dựng dựa theo “Phân loại sản phẩm trung tâm tạm thời" của Liên Hiệp Quốc (CPC)

Danh sách W/120 này đã được dùng để hướng dẫn cho việc phân loại các dịch vụ của hầu hết các nước thành viên WTO, bởi vì danh sách W/120 bao gồm một số lượng lớn các dịch vụ tổng hợp (manifold services).7

Mặc dù vẫn còn một số hạn chế về phân loại, vấn đề ứng dụng của GATS không chỉ là việc định nghĩa từ "dịch vụ" mà ít nhất còn là cách tiếp cận "chọn - cho" (“positive list”) theo đó chỉ mở cửa các dịch vụ được nêu rõ trong Danh sách các cam kết cụ thể của các nước thành viên được tham chiếu từ Danh sách W/120.8

4

ZACHARIAS, 38

5

Xem Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, Canada - Một số biện pháp ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp ô

tô, WT/DS/139/AB/R (Nhật Bản) và WT/DS/142/AB/R (Cộng đồng Châu Âu), (31 tháng 5 năm 2000), đoạn 152

Trang 9

9

Trong hầu hết trường hợp, có thể khá dễ dàng phân biệt hàng hóa với dịch vụ Một ngoại lệ liên quan đến các sản phẩm kỹ thuật số, là sản phẩm có thể được lưu trữ như dữ liệu, ví dụ như văn bản, chương trình máy tính, âm nhạc hoặc phim Về nguyên tắc, người sử dụng không quan tâm lắm đến vật mang thông tin (ví dụ như CD, DVD), mà họ quan tâm đến nội dung.9

Do đó, dường như xu thế là hướng tới phân loại các sản phẩm kỹ thuật số như các dịch vụ truyền thông.10

Đặc biệt, các dịch vụ thương mại điện tử cho đến nay vẫn chưa có được một vị trí thích hợp trong khung pháp lý WTO, bởi vì thực tế các dịch vụ này đã không được đưa ra thảo luận trong các vòng đàm phán Uruguay (do lưu lượng Internet và các trang web chỉ mới trở nên phổ biến từ giữa những năm chín mươi trở đi) Tháng 5/1998 trong Hội nghị Bộ trưởng tại Geneva,11

các thành viên WTO đã đưa ra Tuyên bố về Thương mại điện tử và (dựa trên quan điểm

“Background Note” của Ban Thư ký WTO);12

Hội đồng (General Council) đã thông qua Chương trình làm việc về thương mại điện tử vào mùa thu năm 1998.13

Sau đó, các cuộc đàm phán dường như đã đạt được một số tiến triển nhất định và nhấn mạnh rằng nhiều lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và phát triển, đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi thương mại trên môi trường Internet Tuy nhiên, ngay cả khi thương mại điện tử vẫn còn nằm trên bàn nghị sự của Uỷ ban thương mại và phát triển, không thể không thấy rằng do sự phức tạp của các vấn đề quản lý và sự trì trệ của vòng đàm phán Doha, một phương pháp tiếp cận toàn diện cho thương mại điện tử không có khả năng thực hiện được trong thời gian ngắn vì những lý

do chính trị.14

Việc tập trung của các cuộc thảo luận đang diễn ra (có khi là tranh cãi) vào các chủ đề thương mại nông nghiệp đã khiến cho tiến trình đàm phán về thương mại điện tử không thể hoàn thành được Kết quả cụ thể duy nhất, mặc dù không phải là cuối cùng, trong thời gian gần đây là việc thông qua quyết định (là một phần của Tuyên bố cấp Bộ trưởng Geneva năm 2009), duy trì việc không áp đặt thuế quan đối với truyền dẫn điện tử.15

2.2 Phương thức cung cấp dịch vụ

“Thương mại dịch vụ” theo GATS bao gồm bốn “Phương thức cung cấp dịch vụ”:16

Phương thức 1, cung cấp qua biên giới: Nhà cung cấp dịch vụ từ một quốc gia thành viên WTO

cung cấp dịch vụ cho một khách hàng cư trú trong một quốc gia thành viên WTO khác, có cam

Trang 10

10

kết tự do hóa thương mại đối với dịch vụ đó (Điều I, khoản 2 a) Như vậy, dịch vụ đó, chứ không phải nhà cung cấp dịch vụ hoặc người sử dụng dịch vụ đi qua biên giới

Ví dụ: Dịch vụ được cung cấp qua biên giới thông qua các kênh viễn thông

(cụ thể là điện thoại hoặc Internet) hoặc dịch vụ gắn với một phương tiện

truyền đạt nào đó có thể vận chuyển đi được (chẳng hạn các tài liệu văn bản

hoặc đĩa máy tính được chuyển giao qua biên giới)

Phương thức 2, tiêu dùng ở nước ngoài: Dịch vụ được một khách hàng sử dụng ở quốc gia xuất

xứ của nhà cung cấp dịch vụ, nhưng khách hàng sử dụng dịch vụ đến từ một quốc gia khác (Điều

I, khoản 2 b) Như vậy, phương thức này dẫn đến sự di chuyển quốc tế của người sử dụng dịch

vụ

Ví dụ: Người sử dụng dịch vụ đi đến quốc gia của nhà cung cấp dịch vụ để

tiếp nhận dịch vụ (Chẳng hạn dịch vụ giáo dục, chữa bệnh, du lịch)

Phương thức 3, hiện diện thương mại: Nhà cung cấp dịch vụ thiết lập một cơ sở trong lãnh thổ

của một nước thành viên WTO có cam kết tự do hóa thương mại các dịch vụ tương ứng và dịch

vụ được phân phối bởi đại diện thương mại này cho khách hàng trong lãnh thổ quốc gia đó (Điều

I, khoản 2 c) Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ di chuyển qua biên giới vào lãnh thổ của người sử dụng dịch vụ

Ví dụ: Nhà cung cấp dịch vụ thiết lập một chi nhánh hoặc văn phòng đại

diện ở nước ngoài nhằm lập ra hiện diện thường trực hoặc có được một

pháp nhân ở nước ngoài

Phương thức 4, hiện diện thể nhân: Nhà cung cấp dịch vụ hiện diện trong lãnh thổ của một nước

thành viên WTO cam kết tự do hóa thương mại các dịch vụ tương ứng và dịch vụ được cung cấp cho khách hàng trong phạm vi lãnh thổ của nước thành viên WTO đó (Điều I, khoản 2 d) Vì vậy, thể nhân đi qua biên giới để cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ nước khác; như thế, thời gian ở lại nước đó của thế nhân bị giới hạn trong thời gian cung cấp dịch vụ

Ví dụ: Một kỹ sư CNTT đi sang một nước thành viên WTO khác để phát

triển một phần mềm cho một doanh nghiệp được thành lập trong lãnh thổ

nước đó và cần đến kiến thức CNTT của kỹ sư đó

2.3 Các nguyên tắc

Tương tự như GATT, GATS cũng có hai “Nghĩa vụ chung", cụ thể là: nghĩa vụ tối huệ quốc (MFN) (Điều II của GATS) và nghĩa vụ minh bạch (Điều III của GATS) Hai nguyên tắc có ý nghĩa sau đây:

Trang 11

11

 Nghĩa vụ tối huệ quốc bắt buộc một thành viên WTO có đối xử thương mại ưu đãi với một nước thành viên WTO thì cũng phải mở rộng đối xử thương mại ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên WTO khác.17

 Nghĩa vụ minh bạch bắt buộc tất cả các thành viên WTO phải thông báo các quy tắc thương mại và tất cả các sửa đổi sau đó đối với các quy tắc này cho Ban Thư ký WTO tại Geneva Ngoài “Các nghĩa vụ chung", GATS cũng quy định các "Cam kết cụ thể" sau:

 Tiếp cận thị trường (Điều XVI của GATS);18

 Đối xử quốc gia (Điều XVII của GATS);19

 Các cam kết bổ sung (Điều XVIII của GATS), ví dụ như các cam kết nêu trong Tài liệu tham khảo về viễn thông (Reference Paper on Telecommunications) được thảo luận dưới đây.20

Các thành viên WTO không bị bắt buộc tham gia vào các cam kết cụ thể của GATS; họ có thể tự nguyện tham gia vào các cam kết trong các ngành và phân ngành dịch vụ cụ thể thông qua văn bản gửi tới WTO Văn bản này liệt kê các cam kết cụ thể và được gọi là Kế hoạch cam kết cụ thể (Schedule of Specific Commitments) Ban Thư ký WTO có những Kế hoạch này của các nước thành viên WTO sẵn sàng cho tham vấn từng trường hợp cụ thể Tất cả các thông tin đó cũng được đăng tải trên cơ sở dữ liệu dịch vụ của WTO.21

Vì mỗi thành viên WTO đưa ra những cam kết liên quan đến đối xử quốc gia/tiếp cận thị trường, học thuyết pháp lý dùng thuật ngữ phương pháp tiếp cận theo "danh sách chọn - cho" (positive list approach – dựa trên việc hiểu rằng một thành viên WTO chỉ cam kết mở cửa đối với những dịch vụ được liệt kê trong danh sách) Ngược lại, thương mại hàng hóa xuyên biên giới do GATT điều chỉnh được xây dựng trên nền tảng của phương pháp tiếp cận theo "danh sách chọn - bỏ" (negative list approach), có nghĩa là về nguyên tắc mỗi thành viên WTO được quyền tiếp cận thị trường đầy đủ trừ khi có một thông báo không mở cửa đối với một loại hàng hóa cụ thể nào đó gửi tới Ban Thư ký WTO

Nhìn vào những nỗ lực mà một thành viên WTO thực hiện, rõ ràng rằng phương pháp tiếp cận

"chọn - cho" trong khuôn khổ GATS có hiệu lực tự do hóa thấp hơn so với phương pháp tiếp cận

"chọn - bỏ" được áp dụng trong khuôn khổ GATT, bởi vì các thành viên WTO phải có hành động tích cực (positive action) để chấp nhận điều cam kết và các dịch vụ mới không được tự động bao gồm vào trong GATS.22

Trong bối cảnh như vậy, cần phải nói rằng nghĩa vụ đối xử

Trang 12

2.4 Những giới hạn chung về tự do hóa (các quy định trong nước và các ngoại lệ)

a) Quy định trong nước

Điều VI GATS quy định nghĩa vụ liên quan đến các biện pháp quản lý trong nước; Điều VI, các khoản từ 1 đến 3 và 6 liên quan đến biện pháp áp dụng, thủ tục hành chính, và việc xem xét lại các biện pháp, và do đó cung cấp các tiêu chuẩn về thủ tục cho các biện pháp quản lý.23

Chỉ có các nghĩa vụ trong Điều VI, các khoản 4 và 5 là có bản chất đặt và định quyền hạn, nhiệm vụ Tầm quan trọng của Điều VI là các nghĩa vụ quy định bổ sung cho các quy định của GATS liên quan đến không phân biệt đối xử và đặc biệt là các quy định về tiếp cận thị trường (Điều XVI).24

Các nghĩa vụ về thủ tục bao gồm yêu cầu về các biện pháp áp dụng hợp lý, bình đẳng và khách quan (Điều VI, khoản 1), khả năng xem xét lại các quyết định hành chính (Điều VI, khoản 2), yêu cầu cung cấp thông tin cho người xin cấp phép, tức là các nhà cung cấp dịch vụ (Điều VI, khoản 3), và các thủ tục để xác minh năng lực chuyên môn (Điều VI, khoản 6) Những quy định này không liên quan nhiều đến các vấn đề phân loại.25

Điều VI, khoản 4 của GATS bao hàm sự ủy quyền đàm phán cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ

để xây dựng các quy tắc về quản lý trong nước nhằm đảm bảo rằng các quy định quản lý đó không tạo nên rào cản không cần thiết đối với thương mại dịch vụ Các cuộc đàm phán như thế

đã diễn ra từ năm 1995 trong các lĩnh vực khác nhau, ví dụ liên quan đến ngành kế toán Các lĩnh vực trong tương lai có thể là các yêu cầu về chất lượng và thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu cấp phép Đặc biệt các tiêu chuẩn kỹ thuật là rất quan trọng trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (gồm các dịch vụ CNTT, viễn thông, dịch vụ nghe nhìn) Mục tiêu của các cuộc đàm phán là nhằm đạt được cam kết tích cực hơn của các thành viên WTO và yêu cầu các thành viên áp dụng một bài sát hạch về tính cần thiết kết hợp với việc triển khai thực hiện các quy định trong nước để không gây tổn hại đến tự do thương mại dịch vụ Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng tiến trình đạt được cam kết trong các cuộc đàm phán là rất chậm.26

Trang 13

Lợi ích công cộng có thể được coi như là cơ sở để biện minh cho miễn trừ Điều XIV, khoản 2 của GATS liệt kê ba loại chính, cụ thể là: các hạn chế cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng hoặc để duy trì trật tự công cộng (khoản a); các hạn chế cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khỏe con người, động vật hoặc thực vật (khoản b); các hạn chế cần thiết để đảm bảo việc tuân thủ luật pháp hoặc quy định không trái với các quy định của GATS (ví dụ như phòng ngừa hành

vi lừa đảo và gian lận và bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân) (khoản c)

Khi diễn giải ý nghĩa của trật tự công cộng và đạo đức công cộng, phán quyết của Hội đồng WTO (WTO Panels) và Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body) trong các vụ kiện như vụ Hoa Kỳ

- trò chơi ăn tiền (US- Gambling) và vụ Trung Quốc - sản phẩm nghe nhìn và xuất bản (China - Publications and Audiovisual Products)28 có thể dùng làm ví dụ để tham khảo Ví dụ, chơi game

trực tuyến có thể được coi là không phù hợp với đạo đức công cộng trong một quốc gia cụ thể Trật tự công cộng và đạo đức công cộng đề cập đến những giá trị cơ bản của xã hội; một khi bối cảnh trong nước đóng một vai trò quan trọng, thì phạm vi hoạt động cho cơ quan lập pháp quốc gia là khá rộng.29

Lý lẽ biện hộ về cuộc sống hay sức khỏe con người, động vật hoặc thực vật có thể là ít thích hợp hơn khi đề cập đến các dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông, mặc dù không nên đánh giá thấp ảnh hưởng xấu có thể có đối với sức khỏe con người của sóng điện từ Liên quan đến sự phù hợp của các quy định và luật pháp với các cam kết của GATS thì vấn đề bảo vệ quyền riêng

tư của cá nhân trong mối liên hệ với các dịch vụ CNTT phải được nghiêm túc tính đến

Ấn phẩm và sản phẩm nghe nhìn), WT/DS363/R (ngày 12 tháng 8, 2009), Báo cáo cơ quan phúc thẩm, Trung Quốc - Các biện pháp ảnh hưởng đến quyền thương mại và phân phối dịch vụ cho một số ấn phẩm

và sản phẩm giải trí nghe nhìn (Trung Quốc - Ấn phẩm và sản phẩm nghe nhìn), WT/DS363/AB /R (ngày

21 tháng 12 năm 2009).

29

Thảo luận kỹ hơn về Điều XIV của GATS được nêu trong Phụ lục của báo cáo này, xem thêm DELIMATSIS, năm 2012, 277 et seq và DELIMATSIS, 2011, 277 et seq

Trang 14

14

Các hạn chế quốc gia về cung cấp dịch vụ qua biên giới phải đáp ứng được yêu cầu của một cuộc đánh giá sự cần thiết của các hạn chế đó Đánh giá này đòi hỏi một quá trình “cân bằng” giữa các lợi ích khác biệt (tự do hóa thương mại dịch vụ đối lại với bảo vệ các lợi ích quốc gia) Các biện pháp mang tầm quốc gia cần phải đóng góp cho việc đạt được các mục tiêu đã đề ra, tuy nhiên sự cần thiết lại là một khái niệm khá linh hoạt, nếu được vận dụng một cách đúng đắn thì nó có thể bảo vệ chứ không phải làm mất đi tính đa dạng của quản lý.30

Cuối cùng, tương tự như Điều XX của GATT, phần mở đầu nêu tại Điều XIV của GATS, được gọi là "mũ" (Chapeau), yêu cầu các cơ quan lập pháp quốc gia hiểu rằng các biện pháp hạn chế không được dẫn đến sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô lý và không trở thành một hạn chế trá hình đối với thương mại dịch vụ Thực tế cho thấy, cho đến nay, bài kiểm tra Chapeau được diễn giải một cách khá nghiêm ngặt để ngăn chặn các biến dạng không cần thiết đối với thương mại.31

2.5 Thỏa thuận thương mại ưu đãi

Do các cuộc đàm phán đa phương trong khuôn khổ của WTO không đạt được nhiều tiến triển và bởi vì các quốc gia có xu hướng đa dạng hóa danh mục đầu tư thương mại, các thỏa thuận thương mại ưu đãi song phương và khu vực (PTA) đang tăng nhanh trên toàn cầu.32

Đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á/Thái Bình Dương đang tham gia tích cực vào đàm phán và ký kết PTAs trong đó có nội dung về dịch vụ.33

Hầu hết các PTAs liên quan đến khu vực Châu Á/ Thái Bình Dương có các quy định về các vấn đề:34

(i) giới thiệu các khái niệm về sản phẩm/dịch vụ kỹ thuật số hoặc truyền dẫn và giao nhận điện tử (electronic delivery); (ii) công nhận việc áp dụng các quy tắc thương mại đối với các dịch vụ cung cấp điện tử (electronic supply); (iii) công nhận việc áp dụng các quy tắc thương mại đối với đặt hàng điện tử (electronic demand) để được cung cấp dịch vụ, (iv) nghĩa vụ không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm kỹ thuật số, (v) nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc (MFN) đối với các sản phẩm kỹ thuật số.35

Đặc biệt, các nội dung sau đây cần chú ý: (i) Việc sử dụng cách tiếp cận liệt kê tiêu cực mở rộng tiếp cận thị trường và làm giảm tình trạng không rõ ràng liên quan đến phương thức cung cấp dịch vụ (PTA Mỹ - Singapore, tại điều 83-87), (ii) Việc bỏ các yêu cầu về sự hiện diện trong nước cho phép thành lập văn phòng đại diện hoặc bất kỳ hình thức nào của doanh nghiệp, và (iii)

Trang 15

Sự

tự do hóa này mở ra theo nhiều hướng, ví dụ hướng tới mở rộng hơn phạm vi các dịch vụ (mở rộng danh sách phân loại) hoặc hướng tới việc chấp nhận phương pháp tiếp cận "chọn - bỏ" (theo GATT) thay cho phương pháp tiếp cận "chọn - cho" (theo GATS)

Trong nhiều PTAs, số lượng rào cản có vẻ khá nhỏ và do cách tiếp cận liệt kê tiêu cực, nhiều dịch vụ hiện tại và tương lai được quy định bởi các nghĩa vụ thương mại tự do39 Một cuộc điều tra theo lĩnh vực cụ thể có thể phát hiện ra các biện pháp không phù hợp (non-conforming measures) về mặt lý thuyết có liên quan thực sự như thế nào Việc đánh giá cần được thực hiện trên cơ sở của PTA liên quan, do đó, không dễ dàng để thực hiện các so sánh thực tế Để làm ví

dụ, danh sách sau đây cho thấy các cam kết trong khu vực châu Á/Thái Bình Dương liên quan đến các dịch vụ thương mại điện tử:40

Hoa Kỳ- Singapore

Singapore- Australia

Thailand- Australia

Thailand- New Zealand

Singapore- New Zealand

Ấn Độ- Singapore

Nhật Bản- Singapore

Hợp tác về thương mại điện

Trang 16

16

(Free flow of information)

Thương mại không

Điều V của GATS cung cấp một ngoại lệ đối với nghĩa vụ chung về đối xử tối huệ quốc nêu tại Điều II của GATS cho các bên tham gia thỏa thuận thương mại khu vực về dịch vụ, tức là các ưu đãi áp dụng giữa các thành viên của thỏa thuận khu vực không phải mở rộng cho các thành viên GATS khác Tuy nhiên, thỏa thuận khu vực về tự do hóa dịch vụ phải tuân theo các điều kiện nêu tại Điều V của GATS và phải được thông báo cho Hội đồng Thương mại dịch vụ

Do vậy, PTAs phải tuân thủ các quy tắc ngoại lệ của hội nhập kinh tế theo Điều V của GATS, bởi vì việc đảm bảo tuân thủ đó thuộc thẩm quyền phán quyết của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Các yêu cầu của Điều V liên quan đến một vấn đề thủ tục, cụ thể là một thông báo về PTA có liên quan gửi tới Hội đồng WTO về Thương mại dịch vụ có thể khởi đầu cho một cuộc xem xét PTA đó, và bốn yếu tố cơ bản được yêu cầu để triển khai một PTA: Các điều khoản của một PTA phải có phạm vi thuộc về lĩnh vực chủ yếu (substantial sectoral coverage), "chủ yếu" không có nghĩa là bao quát toàn bộ mọi lĩnh vực, nhưng ít nhất một phần quan trọng của thị trường cần được đưa vào.Yêu cầu thứ hai liên quan đến việc loại bỏ đáng kể tất cả các biện pháp phân biệt đối xử Yếu tố thứ ba đánh giá mức độ tổng thể của các rào cản thương mại Yếu tố thứ tư liên quan đến đối xử với các bên không tham gia PTA theo quan niệm của quy tắc về nguồn gốc (rule of origin).41

Các điều kiện được tạo thuận lợi bởi một thực tế là chúng phải đáp ứng được những yêu cầu này trên cơ sở một khung thời gian "hợp lý".42

Quan niệm của WTO về phạm vi bao quát toàn bộ các lĩnh vực (universal sectoral coverage) không phải là cực kỳ nghiêm ngặt, tức là không nhất thiết một PTA phải thực sự bao gồm hết tất

cả các lĩnh vực của nền kinh tế Tuy nhiên, một PTA có thể sẽ gặp nguy cơ nằm trong tầm ngắm của Điều V của GATS nếu chỉ có rất ít sản phẩm nằm trong chế độ tự do hóa song phương Việc đánh giá phải được thực hiện trên cơ sở từng trường hợp cụ thể

Các PTA được ký kết trong khu vực châu Á/Thái Bình Dương cho đến nay không gây ra vấn đề

gì lớn khi xét đến sự tuân thủ Điều V của GATS; Một lý do thực tế là không một thành viên WTO nào dám đương đầu với loại PTA như vậy Tuy nhiên, các vấn đề đã được đề cập nên được tính đến khi đàm phán PTA mới, ví dụ như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

41

COTTIER/MOLINUEVO, 130 et seq

42

Các thỏa thuận hội nhập khu vực giữa các nước đang phát triển như MERCOSUR và Cộng đồng Andean

đã thiết lập một khung thời gian 8-10 năm để đạt được “phát triển toàn diện theo ngành "và tự do hóa đầy

đủ thương mại dịch vụ

Trang 17

17

3 Những thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách/quản lý và đàm phán

thương mại

3.1 Phân loại lỗi thời

Một vài ý kiến ngắn đã được đưa ra trong phần mở đầu về phân loại dịch vụ cho thấy rằng vấn

đề quan trọng hiện tại là tìm ra các giải pháp thích hợp để phân loại các dịch vụ mới về viễn thông, CNTT và các dịch vụ nghe nhìn Một mặt, do các phân đoạn thị trường này phát triển nhanh chóng với những thay đổi đáng kể trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ, mặt khác, do WTO gặp phải một số bế tắc từ những vướng mắc của Vòng đàm phán Doha nên vấn đề phân loại dịch vụ đã không được quan tâm thích đáng Danh sách W/120 đã khá lỗi thời trong một số lĩnh vực và cũng còn thiếu rõ ràng trong phạm vi các dịch vụ được phân loại.43

Vì vậy, đã có nhiều nỗ lực để phát triển các phương pháp phân loại mới Năm 2007 đã công bố bản dự thảo cuối cùng về Phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) sửa đổi, trong đó bổ sung nhiều cải tiến liên quan đến các dịch vụ CNTT và bản dự thảo này đáng lẽ đã được chấp nhận, nhưng cho đến nay các thay đổi vẫn không được chấp nhận, do đó, bản dự thảo đã không được tham chiếu trong khuôn khổ pháp lý của WTO44 Vấn đề tương tự cũng xảy ra trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông

và nghe nhìn.45

Các tổ chức khác, đặc biệt là các tổ chức tiêu chuẩn đang ngày càng quan tâm đến các dịch vụ

kỹ thuật (dịch vụ CNTT) nhiều hơn so với nội dung (phát thanh và truyền hình), họ tỏ ra linh hoạt và luôn sẵn sàng thích ứng với những phát triển công nghệ mới hơn so với WTO và thường xuyên điều chỉnh các hệ thống phân loại cho phù hợp, ngay cả khi động thái này có thể là đáng mong muốn theo quan điểm định hướng công nghệ thì cũng cần phải chú ý rằng việc phân loại càng khác nhau giữa các tổ chức thì càng gây nhiều khó khăn khi giải quyết hòa giải trong các trường hợp cụ thể.46

Đặc biệt, vấn đề này xảy ra nếu một PTA đang sử dụng phân loại theo OECD và sau đó phải tuân thủ theo danh mục W/120 của WTO trong trường hợp có khiếu nại được một thành viên WTO đưa ra Do đó, xu hướng gần đây ở một số nước áp dụng phân loại của OECD không phải là không có rủi ro

3.2 Diễn giải theo phương pháp mục đích luận các thuật ngữ phân loại

Một vấn đề thực tế cụ thể là hàng hoá và dịch vụ được sử dụng trong các phân loại đã được thay thế bằng hàng hóa và dịch vụ mới có chức năng tương tự Ví dụ như thay thế một máy in truyền thống bằng một máy in laser hoặc thay thế các dịch vụ telex bằng dịch vụ e-mail Khía cạnh thay thế hàng hoá thông qua công nghệ đóng một vai trò đặc biệt liên quan đến các sản phẩm CNTT

Trang 18

lộ trình thuế quan hiện có và áp dụng phi thuế quan; Các cấu phần chính của ITA gồm Phụ lục A

và B liệt kê các sản phẩm liên quan trong hiệp định bao gồm cả các sản phẩm bán dẫn, sản xuất sản phẩm bán dẫn, thiết bị thử nghiệm, máy tính, màn hình phẳng, thiết bị mạng máy tính, phần mềm máy tính, sản phẩm viễn thông và các dụng cụ khoa học Rõ ràng, các lộ trình tương ứng không bao gồm các sản phẩm mới được phát triển Khi Liên minh châu Âu muốn áp dụng thuế đối với các sản phẩm CNTT mới được phát triển không nằm trong ITA, các nền kinh tế như Đài Loan, các nước Đông Á khác và Hoa Kỳ đã đệ đơn khiếu nại với cơ quan giải quyết tranh chấp tại Geneva; chủ đề của vụ kiện liên quan đến câu hỏi liệu việc diễn giải các lộ trình nên được thực hiện một cách lịch sử hay mục đích luận Ban Hội thẩm đã quyết định ủng hộ các nước khiếu nại với lập luận rằng danh sách các sản phẩm CNTT sẽ sớm lỗi thời và rằng mục tiêu tự do hóa của các thành viên WTO sẽ bao gồm các sản phẩm mới có chức năng tương tự.48 Một quyết định tương tự liên quan đến các dịch vụ không tồn tại, do đó, không thể dự báo được Ban Hội thẩm hay Cơ quan phúc thẩm của WTO sẽ quyết định ra sao Tuy nhiên, công bằng mà nói thì cách tiếp cận mục đích luận được mô tả ở trên là một phương pháp diễn giải thuyết phục trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng

3.3 Về sự giống nhau

Phân biệt đối xử giữa các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các quốc gia khác nhau (MFN) hoặc giữa các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước (nếu đối xử quốc gia được quy định cụ thể trong lộ trình của các thành viên) đều bị cấm nếu như các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ ấy là giống nhau Trong hoàn cảnh này, việc diễn giải thuật ngữ "tương tự" hoặc

"dịch vụ giống nhau" trở nên rất quan trọng Khi thừa nhận sự tương tự của các dịch vụ không giống hệt nhau có thể cân nhắc việc mở rộng các hạng mục cũ "Sự giống nhau" được đưa ra khi các dịch vụ cần so sánh nằm trong mối quan hệ cạnh tranh với nhau.49

Theo phương pháp phân định ranh giới thị trường, tình huống này xuất hiện nếu các sản phẩm hoặc dịch vụ được xem xét

có thể thay thế cho nhau.50

Trong thực tế, các Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO xử lý rất nhiều trường hợp liên quan đến phân định giữa sản phẩm "giống nhau" và "không giống nhau"

49

WEBER, 2010, 12

50

TREBILCOCK/HOWSE, 2005

Trang 19

“(i) Các đặc tính vật lý của sản phẩm, (ii) mức độ mà sản phẩm có khả năng thuyết phục người dùng cuối cùng giống nhau hoặc tương tự nhau, (iii) mức độ mà người tiêu dùng nhận thức và sử dụng các sản phẩm như là phương tiện thay thế để thực hiện các chức năng cụ thể nhằm đáp ứng mong muốn hoặc nhu cầu cụ thể, (iv) phân loại quốc tế các sản phẩm phục vụ cho các mục đích thuế quan.” Cho đến nay, các vụ kiện chỉ liên quan đến sản phẩm; thế nhưng, học thuyết pháp lý lập luận rằng một kiểm chứng tương tự nên áp dụng đối với các dịch vụ, tuy nhiên, việc đánh giá này đã không được kiểm chứng theo thủ tục tố tụng, ít nhất là do theo GATS cần phải so sánh không chỉ các dịch vụ mà cả nhà cung cấp dịch vụ.53

Do đó, không thể khẳng định rằng các dịch vụ cũng sẽ nhận được đối xử "giống nhau" tương tự như các sản phẩm Nhiều khả năng, việc kiểm chứng sẽ tương tự và dựa trên việc rà soát thị trường liên quan, thế nhưng vẫn có thể có những điều chỉnh

3.4 Kết luận

Vì những lý do nêu trên, phương pháp luận đối với các vấn đề phân loại trở nên rất quan trọng Một cách tiếp cận cũ thường là không định hướng tương lai Hơn nữa, một cách tiếp cận mang tính giải thích hay chú giải là xử lý các vấn đề thực tế đã xảy ra.54

Ngay cả khi các vấn đề khác trong môi trường pháp lý CNTT&TT hiện đã có, ví dụ như mua sắm CNTT trong khu vực công

và thuế CNTT,55

vẫn cần nhấn mạnh đặc biệt đến phân loại các dịch vụ CNTT trong bối cảnh các cuộc đàm phán quốc tế sẽ rất có thể bao gồm các phân đoạn thị trường này trong một tương lai gần

Trang 20

20

Chương II: Tổng quan về phân loại dịch vụ và vai trò của phân loại dịch vụ

1 Các phân loại hiện đang sử dụng

là bảng tổng hợp của các hạng mục chi tiết hơn đã được nêu trong danh sách phân loại các sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (United Nations provisional Central Product Classification - CPC).57

Dựa trên CPC, W/120 tạo thành một phiên bản thu gọn của danh sách phân loại, và cung cấp một sự mô tả kém toàn diện hơn về các ngành và phân ngành Do đó, W/120 được xem như một

hệ thống phân loại tùy chọn về các ngành dịch vụ phục vụ mục đích đàm phán thương mại, chứ không phải là một danh sách phân loại thống kê

1.2 CPC

(i) Thuật ngữ và ý nghĩa: Phân loại các sản phẩm trung tâm (Central Product Classification -

CPC) là một phân loại dựa trên đặc tính vật lý của hàng hoá hoặc dựa trên bản chất của dịch vụ được cung cấp Mỗi loại hàng hóa hay dịch vụ khác nhau trong CPC được định nghĩa theo cách

mà nó thường được tạo ra bởi chỉ có một hoạt động đã được định nghĩa tại Phân loại công nghiệp chuẩn quốc tế của tất cả các hoạt động kinh tế (International Standard Industry Classification of all Economic Activities - ISIC) 58 CPC bao gồm các sản phẩm là đầu ra của các hoạt động kinh tế, bao gồm cả hàng hoá vận chuyển được, hàng hóa không vận chuyển được

Trang 21

21

(ii) Chức năng: Mục đích chính của CPC là cung cấp một khuôn khổ cho so sánh quốc tế về các

số liệu thống kê giao dịch sản phẩm CPC cũng được coi như một tài liệu hướng dẫn để phát triển hoặc sửa đổi các hệ thống phân loại sản phẩm hiện tại nhằm làm cho các hệ thống này phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Mục đích ban đầu phát triển CPC là nhằm tăng cường sự hài hoà giữa các lĩnh vực kinh tế khác nhau với các số liệu thống kê liên quan và tăng cường vai trò của bản kê khai tài khoản quốc gia như một công cụ để điều phối các số liệu thống kê kinh tế Vì lý

do này, CPC là cơ sở để biên tập lại các số liệu thống kê cơ bản từ các phân loại ban đầu thành một phân loại đạt chuẩn để sử dụng cho mục đích phân tích CPC tạo nên một khuôn khổ phân loại toàn diện của tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ Liên quan đến dịch vụ, trước khi CPC ra đời không có một phân loại quốc tế nào bao quát được toàn bộ các kết quả đầu ra của các ngành công nghiệp dịch vụ khác nhau để phục vụ các nhu cầu phân tích khác nhau về thống kê và các mục đích sử dụng khác Là một phân loại tổng quát, CPC cung cấp ít chi tiết hơn so với các hệ thống phân loại cụ thể khác CPC trình bày các chủng loại sản phẩm có thể là đối tượng của giao dịch trong nước hoặc quốc tế hoặc có thể được nhập vào kho CPC bao gồm các sản phẩm là đầu

ra của hoạt động kinh tế, gồm cả hàng hoá vận chuyển được, hàng hóa không vận chuyển được

và dịch vụ

(iii) Lịch sử phát triển: Sự cần thiết cho sự phát triển CPC xuất phát từ các sáng kiến vào đầu

những năm 1970 để hài hòa các phân loại quốc tế Trong quá trình phát triển của những sáng kiến này, một phân loại chuẩn của tất cả các sản phẩm được nhìn nhận như là một yếu tố quan trọng Dựa trên các khuyến nghị của một nhóm chuyên gia được Ban thư ký Liên Hiệp Quốc triệu tập, Ủy ban thống kê tại kỳ họp 19 năm 1976 đã phê duyệt một chương trình để hài hòa các hoạt động phân loại hiện có của Liên Hiệp Quốc, Cộng đồng châu Âu và Hội đồng tương trợ kinh tế và đồng thời phát triển một hệ thống phân loại các hoạt động kinh tế và hàng hóa, dịch

vụ khác nhưng có mối liên quan với các hệ thống hiện có Sự phát triển của hệ thống phân loại CPC mới - bao gồm cả (sản phẩm) hàng hoá và dịch vụ - đã được dự định để cung cấp một công

cụ cơ bản trong chương trình này

Dưới đây là biểu đồ tổng quan về các phiên bản khác nhau của CPC, chi tiết của các phiên bản này sẽ được thảo luận kỹ hơn trong các phần sau:

Tại kỳ họp thứ 24 năm 1987, Ủy ban thống kê đã xem xét lại Bản dự thảo đầu tiên của CPC Liên Hiệp Quốc đã xuất bản CPC tạm thời (sau đây gọi là "CPC Prov ") vào năm 1991 CPC Prov đã được sửa đổi, cập nhật, hoàn thiện thành CPC phiên bản 1.0 (sau đây gọi tắt là CPC 1.0)

và trình bày để Phòng Thống kê Liên Hợp Quốc thông qua CPC 1.0 đã được xuất bản vào năm

Trang 22

để chuẩn bị cho GATS.60

Kể từ khi CPC được thiết lập và chính thức sử dụng vào năm 1998, lần

rà soát lại năm 2002 tập trung vào việc sửa đổi và cập nhật những nội dung cần thiết nhất của CPC 1.0 Trong đó có những đề xuất về thay đổi chế độ phân loại liên quan đến dịch vụ

Bản cập nhật CPC 1.1 tập trung chủ yếu vào việc cải tiến cấu trúc và chi tiết của một số phần trong CPC 1.0 Phiên bản CPC cập nhật năm 2002 cũng bao gồm cả lĩnh vực viễn thông Để phù hợp với những thay đổi công nghệ nhanh chóng và nhu cầu phát triển của hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông, phiên bản cập nhập đã tái cấu trúc và làm rõ thêm nhóm 841 và 842 trong phân ngành 84 Theo CPC 1.1 nhóm 841, việc phân định các dịch vụ theo hình thức nhà cung cấp (có dây và không dây) đã bị loại bỏ Thêm vào đó, một cấu trúc chi tiết hơn theo loại dịch vụ viễn thông đã được đưa vào, cụ thể là: các dịch vụ truyền dẫn, các dịch vụ điện thoại cố định, các dịch vụ viễn thông di động, các dịch vụ mạng dùng riêng các dịch vụ truyền dữ liệu, các dịch vụ viễn thông khác và dịch vụ phân phối chương trình khác Phiên bản CPC cập nhật cũng phân chia chi tiết hơn các dịch vụ liên quan đến Internet trong nhóm 842 Hiện tại, phân loại của các tổ chức khác (ví dụ OECD) cũng tham chiếu đến mã hóa nhóm phân loại này (nhóm 84), không còn sử dụng mã nhóm cũ nữa (nhóm 75)

CPC phiên bản 2 (sau đây gọi tắt là CPC 2.0) là phiên bản mới nhất (được hoàn thành vào ngày

31 tháng 12 năm 2008) của cộng đồng quốc tế về phân loại kinh tế và xã hội đang tạo thành một phiên bản phân loại toàn diện của tất cả các hàng hoá và dịch vụ và là tiêu chuẩn cho tất cả các sản phẩm là đầu ra của một hoạt động kinh tế, bao gồm cả hàng hóa vận chuyển được, hàng hóa không vận chuyển được và dịch vụ cũng như các loại hàng hóa gốc khác (originals)

Đối với mô tả hàng hóa, CPC 2.0 phù hợp với Hệ thống mã và mô tả hàng hóa hài hòa năm 2007

(Harmonized Commodity Description and Coding System 2007) của Tổ chức Hải quan thế

giới.61

CPC 2.0 bao gồm toàn bộ các sản phẩm đầu ra của các ngành công nghiệp khác nhau và

có thể phục vụ các nhu cầu khác nhau của phân tích thông kê và của người sử dụng Phiên bản phân loại này đặc biệt hữu ích cho các dịch vụ và được sử dụng như một bản hướng dẫn cho việc xây dựng phân loại cho các lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế, bao gồm cả thương mại dịch vụ quốc

Trang 23

23

CPC Prov đã được sử dụng để xây dựng các loại dịch vụ dùng chủ yếu để thiết lập lộ trình cam kết ban đầu ở cuối Vòng đàm phán Uruguay và dùng cho những thay đổi sau này, bao gồm cả khi thực hiện gia nhập WTO của các quốc gia CPC 2.0 được thiết kế để mô tả các cấu phần dịch

vụ trong cán cân thanh toán, được đề xuất trong Tài liệu về cán cân thanh toán (BPM6) và tiếp tục được định nghĩa rõ hơn tại Phiên bản phân loại dịch vụ cán cân thanh toán mở rộng

(EBOPS).62 Nhóm chuyên gia về phân loại thống kê quốc tế đã quyết định tiến hành cập nhật CPC, xây dựng phiên bản CPC 2.1 Công việc đã bắt đầu và nhóm kỹ thuật đang xem xét các đề nghị chi tiết và yêu cầu để xác định làm thế nào giải quyết các vấn đề khác nhau một cách hiệu quả cao nhất với tác động thấp nhất tới tính liên tục của CPC.63

trong quá trình đàm phán đi

tới GATS năm 1995

+ Mô tả các cấu thành dịch vụ

BOP của BPM5

+ Định nghĩa các loại dịch vụ EBOPS chi tiết hơn (MSITS-2002)

+ Định nghĩa các loại dịch vụ EBOPS trong bản điều chỉnh của MSITS (MSITS-2010)

Lý do tại sao WTO không quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề phân loại liên quan đến dịch vụ điện tử phải được nhìn nhận một cách thực tế rằng các vấn đề khác có ưu tiên chính trị cao hơn, đặc biệt là việc tiếp tục Vòng đàm phán Doha và những vấn đề thương mại nông nghiệp có liên quan Phân loại là vấn đề kỹ thuật và không dễ dàng để trình bày trước công chúng, đã làm cho phân loại kém hấp dẫn Hơn nữa, việc xem xét lại các phân loại hiện có sẽ dẫn đến tự do hóa thương mại dịch vụ và hạ thấp các rào cản tiếp cận thị trường không phù hợp với xu hướng chính trị nói chung kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra vào năm 2007 Như sẽ thảo luận tại Chương III dưới đây, cũng có e ngại rằng việc thay đổi hệ thống phân loại sẽ gây ra tình trạng không rõ ràng về phạm vi bao hàm của các cam kết hiện có

1.3 OECD

Phân loại dịch vụ chung OECD-Eurostat64

gắn liền với phiên bản thứ năm của BPM Eurostat có thể được mô tả như một phân rã của phân loại BPM5 cho các giao dịch cán cân thanh toán liên quan đến thương mại dịch vụ Các nhóm chính của phân loại này giống hệt với

OECD-11 nhóm dịch vụ chính của cấu phần chuẩn của BPM5 và các mã hai, ba và bốn chữ số cũng

Trang 24

24

tương thích với các cấu phần đạt chuẩn và phụ phần dịch vụ của BPM5, với một ngoại lệ nhỏ, việc xử lý các dịch vụ xây dựng cũng ảnh hưởng đến các dịch vụ kinh doanh khác

Phân loại dịch vụ chung OECD-Eurostat bao gồm tất cả các giao dịch dịch vụ giữa người cư trú

và không cư trú Cơ sở dữ liệu về "Thương mại dịch vụ quốc tế" cho thấy giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ của mỗi quốc gia thành viên theo loại hình dịch vụ Cơ sở dữ liệu là do OECD và Eurostat cùng phối hợp thực hiện Phân loại chung này cũng một phần liên quan đến Phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) thông qua mối quan hệ của nó với BPM5; vì CPC 2.0 đã bao gồm cả các yếu tố của các phân loại khác, nên ít có khác biệt giữa CPC 2.0 với phân loại của OECD Tuy nhiên, phân loại của OECD không cung cấp một cơ chế phân loại thay thế cho thương mại quốc tế, mà nó được sử dụng một phần trong thực tế (mà không cần xem xét cụ thể) làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng luật pháp quốc gia hoặc cho các cuộc đàm phán PTAs song phương và khu vực Cũng cần thấy rằng phân loại của OECD được xây dựng bởi khoảng 40 quốc gia công nghiệp, các nước kém phát triển không có chuyên gia tham gia xây dựng phân loại này nên nếu phân loại được phát triển thành chuẩn thì có thể nó sẽ gây ra bất lợi cho các quốc gia này OECD cũng tham gia vào các nỗ lực để so sánh các phân loại khác nhau, ví dụ Tài liệu công tác đặc biệt đánh giá sự phân loại khác nhau theo OECD và W/120 hoặc CPC.65

1.4 MSITS

Tài liệu hướng dẫn về thống kê thương mại dịch vụ quốc tế (Manual on Statistics of International Trade in Services) 2010 (MSITS 2010) đáp ứng nhu cầu của một loạt các nhà sản

xuất và người sử dụng về các thống kê loại này.66

MSITS 2010 là tài liệu chính hướng dẫn cho các nhà biên tập thống kê, đồng thời cũng là một công cụ hữu ích cho các chính phủ và các tổ chức quốc tế sử dụng thông tin thống kê kết hợp với các cuộc đàm phán quốc tế về thương mại dịch vụ Hơn nữa, MSITS 2010 có thể hỗ trợ các doanh nghiệp và các đối tượng khác theo dõi

sự phát triển của thị trường dịch vụ quốc tế

MSITS 2010 cung cấp một phân loại các dịch vụ được cung cấp thông qua thương mại thương mại truyền thống giữa người cư trú và không cư trú chi tiết hơn phân loại dịch vụ theo BPM6 Phân loại dịch vụ cán cân thanh toán mở rộng này (EBOPS 2010)67

đã được sửa đổi, bổ sung

phù hợp với khuôn khổ thống kê hiện có Sự thay đổi đáng kể nhất là việc đưa vào các Dịch vụ sản xuất với đầu vào vật chất thuộc sở hữu của doanh nghiệp khác và Dịch vụ bảo trì và sửa chữa (không bao gồm ở nơi khác) là hai thành phần mới và loại bỏ Buôn bán khỏi Các dịch vụ kinh doanh khác MSITS 2010 bao gồm việc xử lý các dịch vụ cung cấp trong nước thông qua

hiện diện thương mại nước ngoài và có một bước tiến xa hơn theo hướng liên kết hai hệ thống này MSITS 2010 cũng làm rõ số liệu thống kê dịch vụ nước ngoài theo chiều vào và chiều ra

Trang 25

25

(Foreign Affiliates Trade in Services Statistics - FATS)68, và mô tả mối liên quan giữa FATS và cung cấp dịch vụ quốc tế MSITS 2010 có một chương mới thảo luận về "phương thức cung cấp dịch vụ" được mô tả trong GATS thông qua đó các dịch vụ có thể được cung cấp và xây dựng các khuyến nghị về xử lý thống kê các phương thức này

Phân loại theo MSITS 2010 theo phương pháp tiếp cận BPM6, do đó sự phân biệt giữa các dịch

vụ viễn thông, dịch vụ về máy tính và dịch vụ thông tin, tiếp tục được phân rã như sau:69

 Các dịch vụ viễn thông bao gồm phát sóng hoặc truyền tải âm thanh, hình ảnh, dữ liệu,

hoặc các thông tin khác qua điện thoại, điện báo, điện tín, phát thanh và truyền hình cáp, phát thanh và truyền hình vệ tinh, thư điện tử, fax, vv, bao gồm cả các dịch vụ kinh doanh mạng lưới, hội nghị trực tuyến và các dịch vụ hỗ trợ và không bao gồm: giá trị của các thông tin truyền tải, các dịch vụ viễn thông di động, dịch vụ đường trục Internet và các dịch vụ truy cập trực tuyến

 Dịch vụ về máy tính bao gồm các dịch vụ liên quan đến phần cứng, phần mềm và dịch vụ

xử lý dữ liệu Một sự phân biệt nữa là giữa các phần mềm máy tính và dịch vụ máy tính khác (tư vấn, lắp đặt, bảo trì và sửa chữa, dịch vụ phục hồi dữ liệu)

 Các dịch vụ thông tin được chia thành các dịch vụ cơ quan báo chí và các dịch vụ thông

tin khác (chẳng hạn như dịch vụ cơ sở dữ liệu, tạo dựng cơ sở dữ liệu, lưu trữ dữ liệu và phân phối, cung cấp dữ liệu)

1.5 EBOPS

Phân loại dịch vụ cán cân thanh toán mở rộng Extended Balance of Payments Services Classification (EBOPS)70 giống với Phân loại dịch vụ thương mại BPM5 của IMF nhưng chi tiết hơn EBOPS được đưa ra cho MSITS năm 2002, dựa trên kinh nghiệm thu được khi thực

hiện Phân loại dịch vụ chung OECD-Eurostat vào cuối những năm 1990 EBOPS là sự phân rã của Phân loại dịch vụ chung OECD-Eurostat Phiên bản đầu tiên của EBOPS là một phân rã của

Phân loại chung OECD-Eurostat Cùng với các phiên bản trước của nó và theo khuyến cáo trong MSITS 2010, EBOPS 2010 là một hệ thống phụ của phân loại dịch vụ BPM6 Việc phân tích mối quan hệ giữa EBOPS 2010 và CPC 2.0 cung cấp chi tiết hơn mối liên kết thống kê giữa sản xuất trong nước và thương mại dịch vụ

Đối với các dịch vụ điện tử, EPOBS phân biệt như sau:

Trang 26

7.2.1 Dịch vụ cơ quan báo chí

7.2.2 Dịch vụ cung cấp thông tin khác

1.6 BPM6

IMF quan tâm rất sớm đến phương pháp thống kê với việc xuất bản ấn bản đầu tiên của Tài liệu

về cán cân thanh toán (Balance of Payments Manual)71

vào tháng 1 năm 1948 Mục đích chính

của việc xuất bản cuốn sách này là cung cấp cơ sở cho việc báo cáo định kỳ theo tiêu chuẩn quốc

tế tới IMF Cuốn sách là sự tiếp nối công việc khởi đầu bởi Liên hợp quốc nhằm xây dựng các hướng dẫn về các số liệu thông kê cán cân thanh toán Các nhà kinh tế và các chuyên gia từ nhiều quốc gia đã đóng góp vào việc biên soạn cuốn sách này và đại diện của hơn 30 quốc gia và

tổ chức quốc tế đã gặp nhau tại Washington vào tháng 9 năm 1947 để hoàn thiện dự thảo cuốn sách hướng dẫn này

Ấn bản thứ năm của Tài liệu về cán cân thanh toán (BPM5) đã được các tổ chức như OECD sử

dụng như là tài liệu tham khảo về phân loại dịch vụ, tuy nhiên, giữa chừng BPM5 đã được thay thế bởi BPM6

Ấn bản thứ sáu của Tài liệu về cán cân thanh toán và vị trí đầu tư quốc tế (Balance of Payments and International Investment Position Manual) được coi là khung tiêu chuẩn cho số liệu thống

kê về giao dịch và vị trí giữa một nền kinh tế và phần còn lại của thế giới BPM6 cung cấp một khuôn khổ có thể áp dụng cho một loạt các nền kinh tế, từ các nền kinh tế nhỏ nhất và kém phát triển nhất tới các nền kinh tế phát triển Tài liệu này được làm cân đối với Hệ thống tài khoản

quốc gia (System of National Accounts) 2008 (SNA2008) và SNA2008 cũng đã được cập nhật

song song

1.7 SNA

Hệ thống tài khoản quốc gia 1993 (System of National Accounts 1993) là một hệ thống tích hợp

các tài khoản liên quan đến các hoạt động kinh tế và các lĩnh vực của nền kinh tế trong một quốc gia Để nắm bắt các giao dịch giữa nền kinh tế này và các nền kinh tế khác, SNA 199372

cung cấp một tài khoản gọi là "phần còn lại của thế giới", tài khoản này cũng được gọi là "tài khoản giao dịch bên ngoài" Trong tài khoản này có một "tài khoản bên ngoài về hàng hóa và dịch vụ",

71

Xem http://www.imf.org/external/pubs/ft/bop/2007/pdf/bpm6.pdf

72

Xem http://unstats.un.org/unsd/nationalaccount/sna1993.asp

Trang 27

27

trong đó thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ được ghi chép riêng biệt Mục tiêu rộng lớn của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) là cung cấp một khuôn khổ khái niệm và kế toán toàn diện cho việc thu thập và báo cáo thống kê kinh tế vĩ mô cho phép phân tích và đánh giá hiệu quả của một nền kinh tế Nguồn gốc của SNA liên quan đến Báo cáo năm 1947 của Tiểu ban thống kê thu nhập quốc gia của Ủy ban các chuyên gia thống kê thuộc Liên hợp quốc các dưới

sự lãnh đạo của Richard Stone

Hệ thống tài khoản quốc gia năm 2008 (SNA 2008),73

là một hệ thống tích hợp các tài khoản liên quan đến các hoạt động kinh tế và các lĩnh vực của nền kinh tế của một quốc gia, là phiên bản mới nhất của tiêu chuẩn thống kê quốc tế đối với các tài khoản quốc gia, đã được Ủy ban thông kê Liên Hiệp Quốc (UNSC) thông qua SNA 2008 là một bản cập nhật của hệ thống tài khoản quốc gia năm 1993 (SNA 1993) Năm 2003, công tác chuẩn bị cập nhật được giao cho Nhóm công tác liên thư ký về tài khoản quốc gia (ISWGNA) để giải quyết các vấn đề bắt nguồn

từ những thay đổi trong môi trường kinh tế, những tiến bộ trong nghiên cứu phương pháp luận

và nhu cầu của người sử dụng

SNA bao gồm các tài khoản chủ yếu sau đây:

 Tài khoản sản xuất (các thành phần của giá trị sản xuất)

 Phân phối chính của tài khoản thu nhập (thu nhập được tạo ra bởi sản xuất)

 Tài khoản chuyển khoản (phân phối lại) (bao gồm cả chi tiêu xã hội)

 Tài khoản chi tiêu hộ gia đình

 Tài khoản vốn

 Tài khoản giao dịch tài chính (trong nước)

 Những thay đổi trong tài khoản giá trị tài sản

 Tài khoản tài sản và nợ phải trả (cân đối kế toán)

 Tài khoản giao dịch bên ngoài

Ngoài các tài khoản, các loại phụ lục khác nhau, tài khoản phụ, vv… cũng được cung cấp bảng cho các bảng đầu vào-đầu ra hiển thị các giao dịch giữa các ngành kinh tế

1.8 ISIC

ISIC là phân loại công nghiệp chuẩn quốc tế của Liên hợp quốc về tất cả các hoạt động kinh tế.74

Phân loại này là tiêu chuẩn quốc tế để phân loại các hoạt động kinh tế sản xuất Mục đích chính

là cung cấp một bộ tiêu chuẩn các hoạt động kinh tế để các thực thể có thể được phân loại theo các hoạt động mà chúng thực hiện

Trang 28

A 01-03 Nông, lâm và ngư nghiệp

B 05–09 Công nghiệp khai khoáng

D 35 Cung cấp điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí

E 36–39 Cung cấp nước; quản lý hệ thống thoát nước, nước thải và các hoạt động

khắc phục sửa chữa

G 45–47 Thương mại bán buôn và bán lẻ, sửa chữa xe có động cơ và xe gắn máy

H 49–53 Giao thông vận tải và lưu trữ

I 55–56 Các hoạt động dịch vụ ăn & ở

J 58–63 Thông tin và truyền thông

K 64–66 Hoạt động bảo hiểm và tài chính

Q 86–88 Hoạt động vì sức khỏe con người và các hoạt động công tác xã hội

R 90–93 Nghệ thuật, giải trí và vui chơi giải trí

S 94–96 Các hoạt động dịch vụ khác

T 97–98 Hoạt động của hộ gia đình là người sử dụng lao động, không phân biệt

hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ của hộ gia đình cho mục đich

sử dụng riêng

U 99 Hoạt động của các tổ chức và cơ quan ở ngoài biên giới

Đối với các dịch vụ điện tử và thông tin, phân loại sau được đề xuất:

Trang 29

29

truyền hình, hoạt động ghi âm và các hoạt động xuất bản

âm nhạc

592 5920 Các hoạt động ghi âm thanh và sản xuất âm nhạc

quan

quan; trang, cổng thông tin điện tử

6311 Hoạt động xử lý dữ liệu, cho thuê máy chủ và hoạt động liên

quan

6312 Trang, cổng thông tin điện tử

Ngược lại với CPC, từng hoạt động của ISIC được định nghĩa theo cách mà hoạt động đó thường xuyên sản xuất một loại sản phẩm như được định nghĩa trong CPC (trong đó mỗi loại sản phẩm

có thể có một số sản phẩm cá nhân được mã hóa dưới nó) Vì vậy, người ta đã cố xây dựng một

sự tương ứng một-một giữa hai cách phân loại, mỗi loại sản phẩm của CPC được kèm theo một tham chiếu tới một lớp trong ISIC, với một hàng hóa hoặc dịch vụ được tạo ra Tuy nhiên, một tương ứng như vậy là không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được Trong thực tế, đầu ra của

Trang 30

Sự đa dạng của các phân loại có sẵn cũng cho phép có các quyết định khác nhau ở cấp độ quốc gia và quốc tế: Một Chính phủ có thể quyết định ở cấp quốc gia (đối với pháp luật quốc gia) nên

áp dụng một phân loại cụ thể nào đó, trong khi một phân loại khác có thể được đưa ra bàn thảo trong các cuộc đàm phán với nước khác (ví dụ trong bối cảnh của một PTA) Tuy nhiên, nếu các phân loại khác nhau được lựa chọn sử dụng, có thể có vấn đề về sự gắn kết ở cấp quốc gia và quốc tế Cũng cần lưu ý rằng các nước kém phát triển không nhất thiết phải hiện diện ở một số tổ chức tiêu chuẩn hóa chủ yếu do các nước công nghiệp "kiểm soát", trừ khi đó là một lựa chọn vì quan hệ quốc tế

2 Định nghĩa dịch vụ, cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người dùng dịch vụ, phân loại dịch vụ

2.1 Dịch vụ

Như đã đề cập ở trên, Điều I: 3 (b) của GATS nêu rất chung chung, rằng "dịch vụ" bao gồm bất

kỳ dịch vụ nào trong bất kể ngành nào, ngoại trừ các dịch vụ được các cơ quan chính phủ cung cấp Bởi vì không có định nghĩa của thuật ngữ "dịch vụ" do các bên liên quan không thể thống nhất được nên khái niệm "dịch vụ" phụ thuộc vào cách giải thích.75

Vì lý do thống kê, các chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp đã thống nhất một từ ngữ chi tiết hơn về thuật ngữ "dịch vụ", chủ yếu là để so sánh dữ liệu quốc gia, ví dụ liên quan đến tổng sản phẩm quốc nội:76

“Thuật ngữ dịch vụ bao gồm một phạm vi không đồng nhất các sản phẩm phi vật thể và các hoạt động rất khó có thể gói gọn được trong một định nghĩa đơn giản Dịch vụ cũng thường khó phân biệt được với hàng hoá mà chúng có thể có liên kết ở các mức độ khác nhau."

2010 tại http://unstats.un.org/unsd/tradeserv/TFSITS/msits2010/M86%20rev1-white%20cover.pdf

Trang 31

2008: "Dịch vụ là kết quả của một hoạt động sản xuất làm thay đổi điều kiện của các đơn vị tiêu thụ hoặc tạo điều kiện cho việc trao đổi sản phẩm hoặc tài sản tài chính Những loại dịch vụ này

có thể được mô tả lần lượt như là dịch vụ tác động tới sự thay đổi và các dịch vụ biên Dịch vụ tác động đến sự thay đổi là sản phẩm đầu ra được sản xuất theo đơn đặt hàng và thường bao gồm những thay đổi điều kiện của các đơn vị tiêu thụ thực hiện bởi các hoạt động của nhà sản xuất theo yêu cầu của người tiêu dùng Loại dịch vụ này cũng có thể được gọi là "dịch vụ chuyển đổi” Dịch vụ tác động đến sự thay đổi không phải là thực thể riêng biệt trên đó có thể thiết lập quyền sở hữu

Dịch vụ không thể giao dịch một cách tách biệt khỏi sản xuất Đúng khi hoàn thành quá trình sản xuất, dịch vụ phải được cung cấp cho người tiêu dùng Dịch vụ biên xảy ra khi một đơn vị thể chế tạo điều kiện cho việc thay đổi quyền sở hữu của hàng hoá, sản phẩm chứa đựng tri thức, một số dịch vụ hoặc tài sản tài chính giữa hai đơn vị thể chế

Dịch vụ biên được các nhà bán buôn, bán lẻ và nhiều loại tổ chức tài chính cung cấp Dịch vụ biên giống dịch vụ tác động tới thay đổi ở chỗ chúng đều không phải là thực thể riêng biệt trên

đó có thể thiết lập quyền sở hữu Dịch vụ không thể giao dịch một cách tách biệt khỏi sản xuất Đúng khi hoàn thành quá trình sản xuất, dịch vụ phải được cung cấp cho người tiêu dùng.”

Theo cách tiếp cận 3 – ngành 78, dịch vụ có thể được xác định thông qua việc mô tả loại trừ bằng cách loại bỏ ngành khai khoáng và sản xuất Các nỗ lực khác cố gắng tập trung vào tính vô hình của dịch vụ: Dịch vụ là hoạt động thương mại không được thể hiện trực tiếp trong các sản phẩm

có thể giao dịch thương mại, sản phẩm hữu hình.79

Các đặc tính của nhiều dịch vụ như tính vô hình, tính phi vật thể và không chuyên chở được đã dẫn đến một cách tiếp cận mang tính liệt kê dựa trên “Danh sách phân loại Dịch vụ theo ngành“

Xem FISHER, tài liệu khác, giả thuyết ba lĩnh vực là một giả thuyết kinh tế phân chia các nền kinh tế thành

ba lĩnh vực hoạt động: khai thác nguyên liệu thô (thứ nhất), sản xuất (thứ hai), và dịch vụ (thứ ba)

79

CASS/NOAM, 43 et seq

Trang 32

Kết quả đàm phán dẫn đến các cam kết cụ thể liên quan đến gia nhập thị trường, đối xử quốc gia

và bất kỳ cam kết bổ sung nào, được quy định cụ thể và ràng buộc trong một lộ trình quốc gia Trong khi GATS yêu cầu tất cả các chính phủ thành viên nộp một lộ trình như vậy nhưng GATS không bắt buộc các thành viên thực hiện các cam kết trong bất kỳ lĩnh vực cụ thể hoặc loại hình giao dịch nào (phương thức cung cấp) Điều này tạo ra phạm vi điều chỉnh mức độ và cấu trúc của các cam kết đối với các mục tiêu và hạn chế quốc gia cụ thể Các cam kết cụ thể có thể được thực hiện đối với bất kỳ lĩnh vực dịch vụ và phương thức cung cấp nằm trong khuôn khổ của GATS Đối với một phương thức và lĩnh vực nhất định, các cam kết liên quan có thể thay đổi giữa cạnh tranh đầy đủ và từ chối bất kỳ mức độ tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia nào Khi cam kết được "ràng buộc" trong lộ trình quốc gia, điều này nghĩa là một cách tổng quan các cam kết không thể dễ dàng bị sửa đổi hoặc rút lại; bởi vì "gỡ bỏ ràng buộc" là một quá trình khó khăn, các cam kết hầu như là điều kiện bảo đảm cho các nhà xuất khẩu và nhà đầu tư nước ngoài.84

12 lĩnh vực dịch vụ chính bao gồm các loại dịch vụ sau:

+ Các dịch vụ kinh doanh (gồm cả dịch vụ máy tính và dịch vụ chuyên nghiệp)

Trang 33

Phân ngành thứ 12 của danh sách các dịch vụ cho phép xếp các hoạt động dịch vụ mới vào nhóm

"Các dịch vụ khác chưa được xếp vào nhóm khác" Việc sắp xếp như thế có thể giúp gán cho một hoạt động kinh doanh quy chế của một "dịch vụ" Tuy nhiên, hệ quả của việc làm này là, các dịch vụ mới ngày càng rơi nhiều vào danh mục "Các dịch vụ khác" tạo ra một nhóm dịch vụ rất lớn và rất không có liên kết chặt chẽ Về nguyên tắc, GATS nhằm đến mục đích loại bỏ bất

kỳ rào cản nào đối với thương mại dịch vụ quốc tế và vì lý do đó tất cả các dịch vụ phải tuân thủ theo GATS GATS cũng chỉ là một hiệp ước quốc tế đa phương mà các cam kết liên quan đến dịch vụ được rút ra Tuy nhiên, như đã đề cập, do quy định trong nước (Điều VI GATS) và do các trường hợp ngoại lệ đối với việc bảo vệ đạo đức công cộng về sức khỏe con người (Điều XIV của GATS) nên vẫn còn những giới hạn nhất định Bất chấp các khía cạnh hạn chế này, phân loại dịch vụ theo GATS vẫn quan trọng Tuy nhiên, kể từ khi GATS kêu gọi các cam kết liên quan đến tiếp cận thị trường, thì các nghĩa vụ ràng buộc sẽ chỉ được thực hiện nếu có thể đưa một hoạt động vào một loại dịch vụ đã cam kết

2.2 Cung cấp dịch vụ

Vì mục đích của GATS, định nghĩa "cung cấp dịch vụ" tương ứng với định nghĩa "thương mại dịch vụ" như đã nêu trong Điều I:2 của GATS.Theo Điều XXVIII (b) của GATS "cung cấp một dịch vụ" bao gồm sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hàng và cung cấp dịch vụ Định nghĩa này rất rộng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng Để bao gồm tất cả các bước xử lý cần thiết để tạo ra một dịch vụ thì điều cần thiết là phải hiểu được bốn phương thức đã đề cập ở trên 85

vì các thành viên của WTO xác định các điều kiện thương mại dịch vụ dựa trên các phương thức đã được mô tả.86

Trang 34

34

Phương thức 1, cung cấp qua biên giới, giả định rằng một dịch vụ vượt qua biên giới, trong khi nhà cung cấp và người tiêu dùng vẫn ở trong lãnh thổ của họ Điều này ngụ ý rằng bản chất của dịch vụ là nó đã được vận chuyển bằng cách nào đó, có thể được thực hiện trên một phương tiện (giấy, đĩa, vv ) hoặc bằng cách truyền dữ liệu (điện thoại, internet hay bất kỳ loại truyền tập tin nào) Vì vậy, cung cấp dịch vụ qua biên giới bao gồm tất cả các quá trình liên quan đến các bước sản xuất, quảng bá và gửi một đĩa hoặc một tập tin

Phương thức 2, tiêu dùng ở nước ngoài, xảy ra khi một người tiêu dùng vượt qua biên giới Để minh họa sự phân biệt giữa phương thức 1 và 2 có thể trở nên khó khăn người ta dùng ví dụ sau:

sử dụng mạng không dây để tải về một ứng dụng ở nước ngoài hoặc ở tại nhà ở trong nước và người tiêu dùng sử dụng ứng dụng này ở bất cứ nơi nào

Phương thức 3 đòi hỏi một sự hiện diện thương mại của nhà cung cấp, hoặc với một pháp nhân hay chỉ là một văn phòng đại diện Phương thức 4 áp dụng nếu chỉ là một thể nhân đi qua biên giới thay mặt cho nhà cung cấp để cung cấp dịch vụ Phương thức 3 và 4 bao hàm các bước qui trình cung cấp dịch vụ gần gũi hơn với người tiêu dùng, nhưng lại rất phổ biển không cần thiết nữa trong nền kinh tế số, chẳng hạn các trung tâm chăm sóc khách hàng là một ví dụ điển hình

để minh họa cho vấn đề này

Trang 35

35

Trong quá khứ và cũng như trong tâm trí của những người tham gia xây dựng GATS, đã hình thành một giả thiết cơ bản rằng phải có một sự liên kết về mặt vật lý giữa một nhà cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ Điều này có thể đúng trong trường hợp các phương thức 2, 3, và 4, nhưng không đúng trong phương thức 1 Trong quá khứ, phương thức 1 không có mấy ý nghĩa như bây giờ, bởi vì hồi đó hầu hết các dịch vụ không thể được cung cấp dưới hình thức điện tử

Do đó phương thức 1 chỉ áp dụng với các dịch vụ có thể được gửi qua đường điện thoại hoặc thư bưu điện như tài liệu tư vấn, thiết kế và chính sách bảo hiểm Một cái nhìn tổng quan về các phương thức cung cấp dịch vụ do MSITS xây dựng có thể được thể hiện như sau87

PT4: Hiện diện thể nhân

PT1: Cung cấp qua biên giới

PT2: Tiêu dùng ở nước ngoài

PT3: Hiện diện thương mại

Thiết lập đại diện thương mại tại A

Nhân viên từ nước B tự tìm được việc và đi sang nước A làm việc

Nhân viên được Công ty từ B cử sang

Khách hàng tại A

Trang 36

2.5 Phân loại dịch vụ

Bằng cách áp dụng một phương pháp tiếp cận liệt kê để cụ thể hoá các điều khoản mở của GATS, Ban Thư ký WTO đã xây dựng "Danh sách phân loại dịch vụ" (W/120) dựa trên Phân loại sản phẩm trung tâm của Liên Hiệp Quốc (CPC) trong khi phương pháp phân loại này đã được thay thế bằng phiên bản 2002.89

Các thành viên WTO được mời áp dụng danh sách W/12090, CPC hoặc một hệ thống phân loại chính xác tương tự, nhưng không bắt buộc các thành viên phải sử dụng các phương pháp phân loại này

Được Liên Hiệp Quốc phát triển cho mục đích thống kê, CPC không phản ánh các khía cạnh chính của đối xử quốc gia Dẫn đến, mối quan hệ cạnh tranh giữa các dịch vụ và cùng với sự phát triển nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực dịch vụ đã buộc một số thành viên WTO phải đưa ra các mô tả phân ngành chi tiết hơn hoặc sử dụng các chủng loại tổng hợp hơn.91

Các thành viên không tuân theo chuẩn sẽ cần phải tuyên bố điều này một cách rõ ràng và đảm bảo rằng các ngành và phân ngành trong lộ trình như thế là không trùng nhau nhằm tránh việc sắp xếp khác nhau của các dịch vụ cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau.92

Trang 37

Sự phát triển không ngừng của Internet và các dịch vụ liên quan đến Internet kết hợp với sự phát triển liên tục nói chung của các công nghệ thông tin và truyền thông khác đang đẩy mạnh việc cung cấp bằng phương tiện điện tử qua biên giới các dịch vụ và sản phẩm số như bản ghi âm, sản phẩm nghe nhìn, trò chơi video, phần mềm máy tính và các tác phẩm văn học Trong khi PTAs có xu hướng đổi mới liên quan đến việc hợp nhất các chương về thương mại điện tử, đối với việc cung cấp các dịch vụ qua biên giới và cả việc đưa các điều khoản liên quan đến các dịch

vụ mới trên Internet vào luật sở hữu trí tuệ thì kể từ khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay các bên tham gia không đạt được một sự tiến triển đáng kể trên cấp độ đa phương.95

Trong khi không có sự đồng thuận về phân loại chính xác các sản phẩm số, đặc biệt là các sản phẩm số được giao dịch điện tử là hàng hoá chịu điều chỉnh bởi Hiệp định chung về Thuế quan

và Thương mại (GATT), hoặc dịch vụ chịu điều chỉnh bởi GATS, hay một số dịch vụ cá biệt có các quy tắc thương mại riêng của nó, thì vẫn không thể có được một phân loại chung.96

Bởi vì các cam kết của GATS liên quan đến sản phẩm đa phương tiện được trao đổi thương mại theo phương pháp số, một vấn đề chưa được giải quyết cần phải được làm sáng tỏ, là liệu các cam kết và quy tắc của GATS về CNTT, viễn thông, nghe nhìn hoặc các dịch vụ mới có được áp dụng không

3 Phân loại theo WTO là cơ sở để phát triển các phân loại khác

3.1 Danh sách phân loại các dịch vụ theo ngành (W/120)

Từ hai mươi năm, bất chấp những nỗ lực đa dạng, vẫn không có thoả thuận nào đạt được để thực hiện bất kỳ thay đổi lớn nào trong phương pháp phân loại nhằm đảm bảo sự ổn định và so sánh các cam kết theo thời gian, mặc dù các phương pháp phân loại thống kê quốc tế như CPC, BPM6 và EBOPS đã được sửa đổi và cập nhật Cơ sở phân loại vẫn không đạt yêu cầu bởi vì W/120 vẫn là nền tảng cho các cam kết tự do hóa dịch vụ và các cuộc đàm phán giữa các thành viên WTO

Tuy nhiên, các nhà đàm phán thương mại dịch vụ cũng được phép sử dụng các phương pháp phân loại khác trong các cuộc đàm phán Đối với dịch vụ viễn thông cơ bản, dịch vụ tài chính và

Trang 38

3.2 Phân loại sản phẩm trung tâm (CPC)

Như đã mô tả chi tiết,98

CPC được phát triển như là một phương pháp phân loại sản phẩm trung tâm chuẩn để dùng làm công cụ thu thập và liệt kê tất cả các loại thống kê yêu cầu chi tiết sản phẩm Số liệu thống kê có thể bao gồm số liệu về sản xuất, tiêu thụ trung gian và cuối cùng, hình thành vốn, ngoại thương hoặc giá cả; số liệu có thể liên quan đến dòng chảy hàng hóa, cổ phiếu hoặc số dư, và có thể được sưu tập trong bảng đầu vào-đầu ra, cán cân thanh toán và các bài thuyết trình phân tích khác

3.3 Phân loại trong các PTAs mới

Hầu hết các PTAs bao gồm các quy định về dịch vụ,99

và nhiều PTAs một phần đi xa hơn GATS.100 Ví dụ, các PTAs sử dụng phương pháp tiếp cận "chọn - bỏ" (negative list approach) thay cho phương pháp tiếp cận "chọn - cho" (positive list approach) Do đó, sự cởi mở thực hiện các cam kết khác hẳn so với GATS Hầu hết các lĩnh vực dịch vụ trong các PTA mới đây đang hướng tới ít nhất một thị trường mở nhất định (có giới hạn).101

Với sự phức tạp tương đối của các thỏa thuận dịch vụ (ví dụ như phương thức cung cấp khác nhau, các loại các rào cản thương mại, và các hình thức tự do hóa), thì không dễ dàng để có được một cái nhìn tổng quan về các cam kết thu thập toàn bộ các cải tiến của PTAs Tuy nhiên, phần mở rộng của các cam kết tự do hóa so sánh với GATS là khá rõ ràng, đặc biệt là trong các phân đoạn thị trường chưa đạt đến một sự tự do tiến bộ trong những năm chín mươi hay trên thực tế đã được quan tâm trong vòng mười năm qua.102

Một ví dụ có thể thấy rõ trong các dịch vụ nghe nhìn: Với sự nhạy cảm chính trị đằng sau các vấn đề văn hoá, các dịch vụ nghe nhìn đã không thu hút được các cam kết hay đề xuất của một

số lượng lớn các thành viên trong khuôn khổ GATS; so sánh với các PTAs đã tạo ra nhiều quy tắc gia nhập thị trường tự do hơn.103

Trang 39

39

Các cuộc đàm phán PTA về dịch vụ viễn thông đã được hưởng lợi từ cơ chế mở rộng tự do hóa của WTO và các cam kết khá sâu rộng đã được thực hiện bởi nhiều thành viên WTO trong khuôn khổ GATS Hơn nữa, các cuộc đàm phán PTA cũng đã cho phép thu hẹp khoảng cách giữa các cam kết và thực tế triển khai bao gồm các dịch vụ viễn thông mới được phát triển bởi các công nghệ mới nhất.104

Tuy nhiên, tác động tự do hóa của PTA cũng không nên được đánh giá quá cao, như biểu đồ trình bày các PTA liên quan đến các nước Châu Á Thái Bình Dương cho thấy chi tiết, số lượng các cam kết cụ thể không phải là rất cao và vẫn cần cải tiến.105

Ký kết PTA có thể mang lại lợi ích cho các bên tham gia hiệp định vì các nước có khả năng thực hiện nhiều cải cách quan trọng dẫn đến việc loại bỏ các rào cản ngặt nghèo trong nước Trên thực tế, động lực chính trị thường là đòn bảy PTAs để vượt qua trở ngại tự do hóa dịch vụ đa phương, tức là loại bỏ dần rào cản thể chế và/hoặc sự ràng buộc của các Bộ phi thương mại chịu trách nhiệm về hoạch định chính sách thương mại dịch vụ

Hơn nữa, nhà xuất khẩu dịch vụ có thể cảm nhận được lợi ích thương mại của họ rõ ràng hơn trong các hiệp định song phương và/hoặc khu vực so với các cuộc đàm phán đa phương và sự thất vọng của các vòng đàm phán dịch vụ Doha có thể được đền bù bằng các PTAs hướng tới tương lai áp dụng một cơ chế cởi mở và khuyến khích tiếp tục cải cách.106

Tuy nhiên, phải chú ý rằng điều kiện một quốc gia tham gia PTA thường phụ thuộc vào sức mạnh thương lượng của các đối tác đàm phán Vì vậy, đối với các nước nhỏ hơn và/hoặc kinh tế yếu hơn, các diễn đàn đa phương có thể phù hợp hơn để đảm bảo sự công bằng Những nước như vậy ít nhất là nên đánh giá cận thận xem liệu các cuộc đàm phán song phương với một nước kinh tế mạnh có thể dẫn đến bất lợi không

3.4 Các phân loại khác

Luật WTO không có quy tắc bắt buộc yêu cầu các nước thành viên WTO sử dụng một phương pháp phân loại cụ thể nào Như đã đề cập ở trên, các cam kết có thể được thực hiện trên cơ sở của W/120 và CPC Do vây, việc tham chiếu W/120 và CPC là không bắt buộc, nhưng Ban thư

ký WTO có đưa ra khuyến nghị chung chung trong tài liệu "Hướng dẫn lập kế hoạch cho các cam kết cụ thể theo GAT” rằng nên sử dụng W/120 như là cơ sở cho việc phân loại dịch vụ theo ngành và phân ngành.107 Việc bổ sung W/120 bằng CPC hoặc các hệ thống phân loại quốc tế khác đã được công nhận sẽ giúp các thành viên có thể phân loại các dịch vụ theo ngành chi tiết hơn

Trang 40

40

Trên thực tế, các hệ thống phân loại khác đã có sẵn108 và được sử dụng ở các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế Đó là hệ thống phân loại dựa trên giao dịch (Số liệu thống kê của IMF BOP109), dựa trên hoạt động (ví dụ Phân loại công nghiệp tiêu chuẩn quốc tế của tất cả các hoạt động kinh tế - ISIC110), dựa trên sản xuất (Hệ thống phân loại công nghiệp Bắc Mỹ - NAICS)111

hoặc dựa trên sản phẩm như CPC Một cơ chế khác, liên kết phân loại thương mại dịch vụ OECD-Eurostat 112 nhằm mục đích thúc đẩy tính nhất quán giữa các thành viên OECD trong phân loại Phân loại này thực hiện dựa trên CPC và W/120

Sự phát triển mới có thể thấy được khi nhìn vào BMP6/EBOPS: cấu phần dịch vụ từ các dịch vụ ngành truyền thông được sắp xếp lại với phân ngành viễn thông như là một phần của dịch vụ máy tính và các dịch vụ bưu chính chuyển phát như là một phần của vận tải Theo BPM6 dịch

vụ viễn thông và máy tính được định nghĩa theo bản chất của dịch vụ không phải phương thức cung cấp dịch vụ Nhưng việc cung cấp các dịch vụ kinh doanh như dịch vụ kế toán nằm trong dịch vụ kinh doanh khác, ngay cả khi các dịch vụ này hoàn toàn được truyền qua điện thoại, máy tính, hoặc Internet BPM 6 cho rằng:113

"Chỉ số tiền phải nộp cho truyền dịch vụ cần được đưa vào dịch vụ viễn thông, nội dung tải về nên đưa vào một mục thích hợp (dịch vụ máy tính, thông tin, nghe nhìn, vv…" Do đó, dịch vụ "truyền tải" được tách riêng khỏi nội dung

Dựa trên nguyên tắc các dịch vụ viễn thông chỉ bao gồm "phát thanh hoặc truyền tải âm thanh, hình ảnh, dữ liệu, hoặc các thông tin khác bằng điện thoại, điện báo, điện tín, truyền dẫn phát

110

Phân loại công nghiệp tiêu chuẩn quốc tế của tất cả các hoạt động kinh tế (ISIC), Rev.4 là một công cụ cơ

bản để thúc đẩy khả năng so sánh quốc tế của dữ liệu trên một loạt các số liệu thống kê kinh tế và xã hội, bao gồm các số liệu về sản xuất, giá trị gia tăng và việc làm và các số liệu thống kê kinh tế khác Đây là một phân loại tiêu chuẩn của các hoạt động kinh tế liên kết với các phương tiện thông qua đó các quá trình kinh tế được tổ chức thành các đơn vị

111

Hệ thống phân loại công nghiệp Bắc Mỹ hoặc NAICS được sử dụng bởi các doanh nghiệp và chính phủ để phân loại các cơ sở kinh doanh theo loại hình hoạt động kinh tế (quá trình sản xuất) tại Canada, Mexico và Hoa Kỳ Hệ thống phân loại này đã thay thế phần lớn hệ thống phân loại tiêu chuẩn công nghiệp cũ hơn (SIC), tuy nhiên, một số cơ quan chính phủ và các cơ quan, chẳng hạn như Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) vẫn sử dụng mã SIC

112

Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển và Eurostat, OECD Thống kê Thương mại Dịch vụ quốc tế (Brussels/Luxembourg và Paris, 2000), phụ lục 1, được công bố tại http://www.oecd.org/std/TISclass.pdf Phân loại thương mại Dịch vụ của OECD-Eurostat gắn kết chặt chẽ với BPM6 Nó có thể được xem như sự phân tách của phân loại BPM6 cho các giao dịch cán cân thanh toán trong thương mại dịch vụ

113

BPM6, 176

Ngày đăng: 07/04/2016, 06:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
K RAJEWSKI , M ARKUS , Điều VI Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): Phạm vi và Định nghĩa, trong: Rỹdiger Wolfrum/Peter-Tobias Stoll/Clemens Feinọugle (eds), Bài bỡnh luận của Max Planck về Luật Thương mại Thế giới, Vol. 6: WTO – Trade in Services, Leiden/Boston 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO – Trade in Services
Năm: 2008
R OY M ARTIN /M ARCHETTI , J UAN /L IM , H OE , Cuộc chạy đua hướng tới Hiệp định ưu đãi về thương mại dịch vụ: Mức độ thực sự tiếp cận thị trường là bao nhiêu? trong Panizzon, Pohl, and Sauvé (eds), GATS và Quy định thương mại dịch vụ quốc tế, Cambridge: Cambridge University Press, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cambridge University Press
Năm: 2008
W ELLENIUS , B JORN /N ETO , I SABEL , Quản lý phổ tần số: Khung khuôn khổ cải cách ở các nước đang phát triển, World Bank Policy Research Working Paper No 4549 (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Bank Policy Research Working Paper
Năm: 2008
W OLFRUM , R ĩDIGER , Article II General Agreement on Trade in Services (GATS): Scope and Definition, in: Rỹdiger Wolfrum/Peter-Tobias Stoll/Clemens Feinọugle (eds), Max Planck Commentaries on World Trade Law, Vol. 6: WTO – Trade in Services, Leiden/Boston 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO – Trade in Services
Năm: 2008
W OLFRUM , R ĩDIGER , Điều II Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): Phạm vi và Định nghĩa, trong: Rỹdiger Wolfrum/Peter-Tobias Stoll/Clemens Feinọugle (eds), Bài bỡnh luận của Max Planck về Luật Thương mại Thế giới, Vol. 6: WTO – Trade in Services, Leiden/Boston 2008.WUNSCH-VINCENT, SACHA, Chương trình nghị sự thương mại số của Mỹ: Những con đường song song về tự do hóa đa phương, khu vực và song phương, (2003) Aussenwirtschaft 1, 7- 46 [Wunsch-Vincent 2003].WUNSCH-VINCENT, SACHA, WTO, Internet và các sản phẩm số: viễn cảnh của Hoa Kỳ và Cộng đồng châu Âu,. Oxford: Hart, 2006 [Wunsch-Vincent 2006] Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO – Trade in Services," Leiden/Boston 2008. WUNSCH-VINCENT, SACHA, Chương trình nghị sự thương mại số của Mỹ: Những con đường song song về tự do hóa đa phương, khu vực và song phương, (2003) "Aussenwirtschaft "1, 7-46 [Wunsch-Vincent 2003]. WUNSCH-VINCENT, SACHA, WTO, Internet và các sản phẩm số: viễn cảnh của Hoa Kỳ và Cộng đồng châu Âu,. "Oxford: Hart
Năm: 2006
Z ACHARIAS , D IANA , Điều I Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): Phạm vi và định nghĩa, trong: Rỹdiger Wolfrum/Peter-Tobias Stoll/Clemens Feinọugle (eds), Bài bỡnh luận của Max Planck về Luật thương mại thế giới, Vol. 6: WTO – Trade in Services, Leiden/Boston 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO – Trade in Services
Năm: 2008
M ESSERLIN , P ATRICK /S IWEK , S TEPHEN /C OCQ , E MMANUEL , Lĩnh vực dịch vụ nghe nhìn trong các cuộc đàm phán GATS, Washington, DC, năm 2004.M UNIN , N ELLIE , Hướng dẫn luật pháp về GATS, Austin 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w