Trường hợp ngược lại, nếu không đảm bảo nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước, tức là khi một công dân trong cả đời có nhiều số căn cước thì một hệ căn cước sẽ không còn l
Trang 1GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CSDL DÂN CƯ TRÊN CƠ SỞ ĐIỆN TỬ HÓA VÀ HỢP NHẤT CÁC HỆ CĂN CƯỚC CÔNG DÂN, HỘ KHẨU VÀ HỘ TỊCH.
1 Mở đầu: Hệ thống căn cước, số căn cước và CSDL dân cư
Trước hết ta cần nhắc lại khái niệm hệ thống căn cước là hệ thống thông tin dùng
để nhận dạng cá thể công dân sao cho không nhầm lẫn người này với người khác Nhờ khả năng nhận biết chính xác được từng công dân, Hệ thống căn cước đảm bảo cấp cho mỗi công dân một "tên riêng" dưới dạng một mã số được gọi là
số căn cước Số căn cước này được ghi trên giấy chứng nhận căn cước cùng các thông tin liên quan để làm giấy tờ tùy thân giúp công dân chứng minh danh tính khi cần
Giấy chứng nhận căn cước ở nước ta trước đây cũng được gọi là giấy căn cước nay gọi là CMND, một số nước khác gọi là giấy chứng minh công dân, Theo
đó, mã số duy nhất được cấp trên giấy căn cước cũng được gọi theo là số căn cước, số CMND hay số công dân Tên gọi thì khác nhau nhưng bản chất chỉ là một Gần đây người ta đưa vào thuật ngữ "số định danh" nhưng về thực chất cũng là số căn cước, cùng được dịch ra từ cùng một thuật ngữ tiếng Anh là
"identification number" Để tránh dùng từ lẫn lộn, dưới đây ta thống nhất gọi là giấy CCCD và số CCCD
Một giấy căn cước về nguyên tắc phải chứa đủ ba nhóm thông tin: (1) Các thông tin sinh trắc học (ảnh chân dung, vân tay, ) đủ để truy nguyên các thể công dân
và gán số căn cước duy nhất; (2) Các thông tin cơ bản (gọi là thông tin nhân khẩu học) như họ tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú; (3) Các thông tin chứng thực của cơ quan có thẩm quyền Cầm một tấm thẻ căn cước, người công dân có thể tự hào mình là chính mình, là công dân của một nước, được cấp một mã số duy nhất và được cơ quan có thẩm quyền xác thực Bất kể một quốc gia nào khi xây dựng hệ thống căn cước quốc gia cũng đều phải tuân thủ nguyên tắc "Mỗi quốc gia chỉ có một hệ căn cước và mỗi công dân chỉ được cấp một số căn cước duy nhất suốt đời" Ở nước ta, để đảm bảo nguyên tắc này, trong nhiều văn bản trước đây cũng như trong Nghị định Chính phủ gần đây
về CMND đã xác định "Mỗi công dân chỉ được cấp một số CMND riêng" Trong Điều 17 của dự thảo Luật CCCD cũng khẳng định: "Số Chứng minh nhân dân được cấp cho mỗi công dân và gắn với người đó từ khi cấp cho đến khi chết, không lặp lại ở người khác"
Nhờ có số CCCD được cơ quan căn cước đảm bảo duy nhất nên các ngành, các
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, khi lập hồ sơ nghiệp vụ có liên quan đến công dân thì chỉ cần thống nhất sử dụng họ tên cùng số CCCD là đủ Nhờ có số CCCD qui mô quốc gia nên mỗi ngành chỉ cần quản lý công dân theo lĩnh vực
Trang 2riêng của mình còn Nhà nước thì vẫn có đủ thông tin tất cả các ngành khi cần nhờ kết nối thông tin qua số CCCD Động tác kết nối thông tin có thể là thủ công hoặc cao hơn là tự động hóa nhưng quan trọng nhất là cơ quan CCCD phải phổ biến sử dụng số CCCD cho tất cả các ngành để đảm bảo tính sẵn sàng kết nối cao
Với chức năng đảm bảo danh tính công dân, Hệ CCCD tương tác với Hệ Nhân
hộ khẩu để tạo nguồn đầu vào và với hệ Hệ Hộ tịch để cập nhật các trạng thái hộ tịch (sinh tử, kết hôn, nhận con nuôi, ) Khi điện tử hóa và kết nối hợp nhất ba
hệ này với nhau, ta sẽ có hệ CSDL dân cư gốc cung cấp đầy đủ thông tin về danh tính, quá trình cư trú cùng trạng thái hộ tịch của công dân Nếu kết nối Hệ Dân
cư gốc nói trên với các hệ chuyên ngành như: hộ chiếu, mã số thuế, bảo hiểm xã hội, quản lý nhà đất, ta dễ dàng biết được từng công dân đã được cấp hộ chiếu
đi nước ngoài bao nhiêu lần, có bao nhiêu mã số thuế, bao nhiêu số BHXH và bao nhiêu sổ đỏ, Bằng khả năng kết nối dùng số CCCD kết hợp đối chiếu vân tay, mỗi ngành có thể tự kết nối thông tin công dân mà ngành mình quản lý theo chức năng và Nhà nước khi cần sẽ có CSDL công dân với đầy đủ thông tin liên ngành mà Nhà nước đang quản lý (hàng trăm, hàng ngàn), được cập nhật thường xuyên, chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi 22 thông tin vừa thừa vừa thiếu như Nghị định 90 về CSDL Dân cư đang qui định
Trường hợp ngược lại, nếu không đảm bảo nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước, tức là khi một công dân trong cả đời có nhiều số căn cước thì một hệ căn cước sẽ không còn là hệ căn cước nữa Một công dân mà trong cả đời
có trên 1 thẻ căn cước với nhiều số khác nhau thì không còn là thẻ căn cước nữa Hậu quả là Nhà nước không thể nào kết nối thông tin liên ngành được với nhau một cách đầy đủ vì kết quả kết nối hoặc phạm lỗi "bỏ lọt thông tin" hoặc phạm lỗi "kết nối nhầm thông tin người này với người khác" Vai trò của hệ căn cước
là vô cùng quan trọng, vì vậy, khi hệ thống này chưa được điện tử hóa thì chưa thể nói đến việc kết nối thông tin chính xác, càng chưa thể xây dựng CSDL dân
cư hiệu quả
2 Hệ thống CCCD và giải pháp đảm bảo tính duy nhất của số căn cước
Trên thực tế việc đảm bảo nguyên tắc về tính duy nhất của số căn cước không hề đơn giản Để đảm bảo cấp cho mỗi công dân trong cả đời chỉ một số riêng thì hệ thống căn cước phải có giải pháp quản lý kho số sao cho:
(1) Mỗi công dân chỉ được cấp một số, khi cấp lại thì phải cấp đúng số đã cấp, ngay cả khi công dân không hợp tác hoặc mất khả năng cung cấp thông tin; (2) Số đã cấp cho công dân này thì không cấp lại cho công dân khác;
(3) Tự phát hiện lỗi trùng lặp, tức là lỗi nhiều công dân được cấp một số và lỗi một công dân được cấp nhiều số
Trang 3Giải pháp đảm bảo tính duy nhất có hiệu quả nhất và được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay là dùng vân tay đủ 10 ngón Ở nước ta, cơ quan Cảnh sát Sài Gòn trước đây đã triển khai giải pháp dùng tàng thư vân tay trên qui mô toàn Miền Nam với 16 triệu công dân dựa theo mô hình của FBI (Mỹ) Sau thống nhất đất nước, năm 1976 Ngành Công an đã kế thừa giải pháp này và đã cho xây dựng tàng thư căn cước công dân tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước
Để đảm bảo tính duy nhất suốt đời của số căn cước, trên hệ thống tàng thư vân tay, cán bộ nghiệp vụ phải tiến hành tra cứu xác minh căn cước công dân theo hai phương pháp cơ bản:
(1) Tra cứu xác minh (1:1), tức là tra cứu nhanh khi đã biết số căn cước của công dân Trong trường hợp này cán bộ tra cứu chỉ cần đối sánh vân tay tìm thấy khi tra cứu theo số căn cước với vân tay của công dân cần xác minh Phương pháp này được dùng trong qui trình cấp đổi lại CCCD cho công dân để đảm bảo cấp đúng số đã cấp
(2) Tra cứu truy nguyên (1:N), là tra cứu vân tay 10 ngón trên cả tàng thư và đối sánh vân tay tìm thấy với vân tay của công dân cần xác minh Nếu như phương pháp tra cứu xác minh (1:1) là nhanh chóng, dễ dàng phát hiện lỗi trùng số CCCD nhưng không thể phát hiện ra lỗi "đăng ký trùng lặp", tức là trường hợp một công dân được cấp nhiều số CCCD khác nhau, thì phương pháp tra cứu (1:N) tốn công sức hơn, chậm hơn, nhưng triệt để hơn vì nó có khả năng xác nhận một công dân đã được cấp CCCD hay chưa hay đã được cấp nhiều số căn cước khác nhau với nhiều họ tên khác nhau, ngay cả khi công dân đó không hợp tác hay mất khả năng cung cấp thông tin
Mặc dù việc sử dụng vân tay qui mô toàn dân là một giải pháp nghiệp vụ hiệu quả nhưng đến nay do còn có sự cân nhắc lợi hại giữa an ninh quốc gia và quyền riêng tư của công dân nên mới chỉ có một số nước đi đầu sử dụng như: Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Ấn độ, Hồng Kông, một số nước Châu Phi, còn nhiều nước trên thế giới chưa đưa vào sử dụng công nghệ này trên qui mô toàn dân, như: Mỹ, các nước Châu Âu, Nhật, Hàn Quốc, Những nước chưa dùng vân tay thì họ phải đảm bảo tính duy nhất của số căn cước bằng biện pháp quản lý hành chính có nhiều hạn chế hơn
Vì sao nguyên tắc về tính duy nhất của số CCCD đã bị phá vỡ trên thực tiễn ?
Từ năm 1976, nước ta đã đưa vào sử dụng hệ thống tàng thư vân tay CCCD tại tất cả các địa phương Tất cả công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên đã được lăn tay 10 ngón theo mấu chỉ bản dựa trên chuẩn FBI (gồm 10 ngón lăn, 10 ngón ấn) Việc phân loại, sắp xếp và tra cứu trên tàng thư được tổ chức tương đối khoa học, cho phép tra cứu bằng cả hai phương pháp: Tra cứu xác minh (1:1) và Tra cứu truy nguyên (1:N) nên đáp ứng cơ bản yêu cầu nghiệp vụ căn cước Phải khẳng định đây là một thành quả nghiệp vụ quan trọng mà Ngành Công an đã
Trang 4đạt được bằng công sức của rất nhiều thế hệ kế tiếp nhau Thử hình dung nếu không có giấy CMND thì xã hội ta ngày nay sẽ gặp khó khăn biết nhường nào ! Tuy nhiên, hệ tàng thư CCCD hiện tại có ba tồn tại sau:
Thứ nhất, việc qui định cấp lại CCCD mới với số mới khi công dân di chuyển hộ khẩu từ tỉnh này sang tỉnh khác đã để lại hậu quả quả là một công dân di chuyển
hộ khẩu đi nhiều tỉnh thì trong cả đời sẽ có nhiều CCCD với nhiều số khác nhau Đây là một lỗi hệ thống do không triệt để tuân thủ nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước quốc gia Về mặt lý thuyết một công dân vẫn có nhiều
số trên nhiều tỉnh họ đã cư trú nhưng nhờ được đảm bảo bằng vân tay nên những
số này vẫn là số riêng của công dân đó mà không trùng với số của công dân khác Qui định này làm cho số CCCD chỉ đảm bảo tính duy nhất trong một tỉnh, nhưng trên phạm vi toàn quốc thì một công dân vẫn có thể có nhiều số riêng Trên thực tế, nếu có xảy ra trường hợp trùng số CCCD (như trường hợp của Đồng Nai và Vũng Tàu khi tách tỉnh) thì đó là do lỗi cán bộ thực hiện không tuân thủ đúng qui trình nghiệp vụ tàng thư chứ không phải là do lỗi hệ thống Tồn tại thứ hai, do tàng thư tổ chức sắp xếp Tờ khai (Danh bản) theo họ tên mà không có bộ Tờ khai sắp xếp theo số căn cước nên khi tra cứu xác minh theo số căn cước để cấp lại CCCD gặp rất nhiều khó khăn Nhiều khi cán bộ tra cứu phải tra vòng qua họ tên (không duy nhất), sau đó lại phải kiểm tra qua tến bố, tên
mẹ, cuối cùng mới qua đối chiếu vân tay các ngón trỏ mất rất nhiều thời gian Tồn tại thứ ba, chưa xây dựng được tàng thư trung ương trên cơ sở hợp nhất các tàng thư cấp tỉnh và Tàng thư vân tay 10 ngón đòi hỏi nhiều công sức phân loại, sắp xếp và tra cứu, khó bảo trì, khả năng phát hiện lỗi đăng ký trùng lặp có nhiều hạn chế
3. Đề xuất giải pháp khắc phuc
Tuy nhiên, tồn tại thứ nhất, tức là lỗi "một công dân có nhiều số riêng" rất dễ sửa
Để ngăn chặn phát sinh lỗi, Bộ Công an chỉ cần qui định lại là từ nay về sau công dân khi chuyển hộ khẩu từ tỉnh này sang tỉnh khác vẫn có thể xin cấp đổi CMND, lăn tay, chụp ảnh lại để lưu tàng thư ở tỉnh mới nhưng vẫn phải giữ đúng số CCCD ban đầu đã cấp Số CCCD do địa phương cấp ban đầu có giá trị trên toàn quốc Sự thay đổi này không ảnh hưởng tới qui trình phân loại, sắp xếp
và tra cứu trên tàng thư
Đối với các lỗi mà hệ thống đã mắc phải, như lỗi một công dân có nhiều số riêng
và lỗi nhiều công dân trùng số, cũng có thể được phát hiện và khắc phục dễ dàng cùng với quá trình điện tử hóa và hợp nhất CSDL các tỉnh Nhờ xử lý tự động cực nhanh trên máy tính, số công dân có nhiều số CCCD và số công dân được cấp trùng số sẽ được hệ thống phát hiện Tuy nhiên, việc cấp lại CCCD chỉ phải
Trang 5tiến hành đối với số ít công dân đã bị cấp trùng số Còn đối với số công dân có nhiều số riêng thì không phải cấp lại CCCD mà hệ thống sẽ đề xuất giải pháp thuật toán sao cho khi kết nối thông tin không gây ra sót lọt
Tồn tại thứ hai nói trên hiện nay cũng rất dễ khắc phục: Chỉ cần dùng phần mềm tin học cho phép quét ảnh Tờ khai 2 mặt và sắp xếp chúng theo Số CCCD trên CSDL, sau đó tiến hành tra cứu xác minh (1:1) theo số CCCD kết hợp thẩm định vân tay 1:1 trên màn hình máy tính là nhanh chóng đưa ra kết quả Phương pháp này đơn giản nhưng lại rất tiện lợi cho công tác xác minh cấp lại, cấp đổi CMND
Tồn tại thứ ba chỉ có thể khắc phục bằng giải pháp điện tử hóa tàng thư dùng công nghệ nhận dạng vân tay tự động (AFIS)
Những năm vừa qua Ngành Công an đã nhập khẩu và đưa vào sử dụng một số
hệ AFIS của nước ngoài với giá rất đắt nhưng vẫn không phát huy hiệu quả.
Do bị lệ thuộc vào công nghệ nên đơn vị triển khai gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo trì, nâng cấp và mở rộng phạm vi ứng dụng. Mọi trục trặc kỹ thuật to nhỏ đều phải gọi chuyên gia ngoài ngành nên gặp khó khăn trong đảm bảo an ninh an toàn thông tin.
Cách tốt nhất là Ngành Công an phải làm chủ công nghệ. Một trong những cách hiệu quả và khả thi nhất là Bộ Công an cho phổ biến dùng sản phẩm C@FRIS do Phòng Thí nghiệm Mô phỏng và Tích hợp hệ thống TCIV BCA nghiên cứu phát triển, đã được triển khai thử nghiệm thành công tại CA Hà Nội, được HĐKH Bộ Công an và HĐKH Bộ Nội vụ Cuba thẩm định, đánh giá cao và đưa vào chương trình hợp tác giúp Bộ Nội vụ Cuba điện tử hóa hệ thống CCCD của Cuba. Sản phẩm C@FRIS cũng đã vinh dự được nhà nước trao tặng giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam (VIFOTEC) 2008.
Hệ thống thông tin căn cước công dân là một hệ phức tạp, nên chỉ có làm chủ hoàn toàn về công nghệ thì mới giải quyết được các vấn đề phát sinh, giữ được thế chủ động trong bảo trì, nâng cấp và phát triển hệ thống.
Với C@FRIS, việc tra cứu xác minh (1:1) cho kết quả tức thì và việc tra cứu truy nguyên (1:N) dùng chỉ bản 10 ngón trên CSDL hàng chục triệu công dân chỉ tính bằng phút với độ chính xác 100%. Ngoài ra, hệ này còn có khả năng
tự động xử lý phát hiện lỗi đăng ký trùng lặp nên sau khi điện tử hóa và hợp nhất tàng thư các tỉnh sẽ đưa ra danh sách công dân có nhiều số CCCD khác nhau hoặc có số trùng nhau để sửa lỗi. Khi CSDL lên tới hàng trăm triệu công dân, chỉ cần sử dụng hệ thống cụm máy tính hiệu năng cao để xử lý, hệ thống vẫn giữ được tốc độ tra cứu nhanh và độ chính xác cao.
Có cần mở rộng số CCCD ?
Trang 6Số CCCD hiện tại gồm 9 chữ số có dạng PP-NNNNNNN, trong đó 2 chữ số đầu
PP là mã tỉnh, 7 chữ số sau NNNNNNN là số thứ tự. Số thứ tự này có thể phân khoảng cho cấp huyện. Thí dụ: Số CCCD ở Hà Nội bắt đầu bằng 2 chữ số "01",
ở Tp HCM bắt đầu bằng 2 chữ số "02". Cách dùng hai chữ số đầu là mã tỉnh
đã làm cho nhiều người hiểu nhầm rằng khi dân số TP HCM lên tới 10 triệu thì sẽ xảy ra hiện tượng tràn số. Gần đây, Dự án CCCD mới đã đề xuất kéo dài cấu trúc số CCCD lên 12 chữ số để khắc phục tình hình. Thực ra không cần phải như vậy.
Hai chữ số đầu của số CCCD không nên coi một cách cứng nhắc là mã tỉnh (mỗi tỉnh chỉ có 1 mã duy nhất) mà linh hoạt hơn có thể coi là mã số serie của tỉnh (mỗi tỉnh có thể có nhiều mã serie). Mã số serie cho phép mỗi tỉnh được dùng nhiều mã khác nhau và từ mã serie vẫn xác định được mã số tỉnh. Thí dụ: TP HCM có thể cấp các mã 02, 72, 82, 92, A2, B2, TP Hà Nội có thể cấp các mã serie: 01, 11, 71, 81,91, A1, B1, Mỗi mã chứa được 10 triệu thì 6 mã trên đủ cho 60 triệu công dân trên mỗi thành phố. Về lý thuyết, bộ 9 số có thể đánh số được 1 tỷ công dân (đến bao giờ nước ta đạt 1 tỷ công dân ?). Cao hơn nữa, khi ta cho phép hai ký tự đầu được mở rộng sang dùng bộ ký tự 0‐9, A‐Z, thì khi đó khả năng đánh số sẽ là: 35x35x10 triệu =12,25 tỷ công dân (đủ cho cả hành tinh !).
Theo đề xuất của dự án CCCD mới thì số CCCD 12 chữ số có cấu trúc như sau: PPP‐G‐NS‐NNN‐NNN. Cấu trúc này có gì cải tiến mới hay hơn cấu trúc cũ ?. Với PPP là mã tỉnh thì nước ta chỉ có 63 tỉnh thành, sao lại phải dùng đến 3 chữ số trong khi như đã nói ở trên chỉ cần 2 chữ số là đủ. Việc đưa G‐NS là kỹ thuật học của Hungary nhằm lồng thế kỷ sinh, giới tính và 2 chữ số cuối của năm sinh vào số căn cước là hoàn toàn không cần thiết. Kỹ thuật này trước đây, khi mã vạch chưa phổ biến, người ta dùng để tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thông tin đưa lên thẻ nhằm hạn chế việc tẩy xóa làm giả (vì sửa chổ này thì phải sửa cả chỗ kia nên dễ bị phát hiện) Ngày nay, ta đã dùng mã vạch 2D, hoặc chip điện tử, một phương pháp tiên tiến hơn để mã hóa và lưu lặp lại lần thứ hai đối với tất cả các thông tin trên thẻ nhằm cho phép đọc tự động và ngăn ngừa tẩy xóa thì không cần phải bảo vệ thêm giới tính năm sinh một lần thứ
ba nữa !
Về mặt phương pháp luận, giải pháp cấp phát số theo mã serie là phương pháp cấp phát động, vì nó cho phép gia giảm loạt số rất linh hoạt: Tỉnh đông dân thì được cấp nhiều mã serie theo cách cần đến đâu cấp đến đấy, còn tỉnh
ít dân thì được cấp ít mã và số dân trong một tỉnh không bị khống chế bởi cận trên cố định. Khi tách nhập tỉnh thì dùng mã serie cũng rất tiện lợi, chỉ cần nhập số serie khi nhập tỉnh và tách số serie khi tách tỉnh. Ngược lại, phương pháp cấp phát số theo mã tỉnh là cách cấp phát tĩnh, không linh hoạt, vì nó đánh đồng tỉnh nhiều dân cũng như tỉnh ít dân. Việc đưa những 6 chữ số
Trang 7NNN‐NNN cho mỗi giới tính trong cùng một năm sinh, tức là đưa ra con số khống chế cố định cận trên của số dân sinh ra trong 1 năm của 1 tỉnh là 2 triệu. Con số này quả thực là quá nhiều. Người thiết kế bị rơi vào tình trạng nếu để ít hơn thì sợ trong tương lai sẽ bị tràn đối với các tỉnh lớn, nhưng nếu
để nhiều chữ số thì lại quá dư thừa cho các tỉnh nhỏ. Hậu quả là số CCCD mới của các tỉnh có ít dân số chứa nhiều số 0 dư thừa một cách không cần thiết. Việc tăng độ dài không cần thiết sẽ làm gia tăng các lỗi "tam sao thất bản" khi cán bộ trong khi giao dịch phải vừa làm việc với 9 số cũ vừa làm việc với 12
số mới (tổng cộng 21 chữ số !). Tóm lại thì việc đưa ra cấu trúc số CCCD 12 chữ số chẳng có gì là cải tiến cả.
Có nên cho toàn dân đổi số CCCD mới ?
Như đã phân tích ở trên, nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước
là nguyên lý cơ bản của một hệ căn cước. Nhưng nguyên tắc này sẽ bị phá vỡ nếu cho phép công dân A khi hết thời hạn CCCD cũ được cấp đổi lại CCCD mới với số mới. Rõ ràng là nếu cho làm như vậy thì trong cả đời công dân A có đến
ít nhất 2 số CMND. Nếu cho toàn dân cùng đổi số sẽ xảy ra tình trạng trong cả đời mỗi công dân Việt Nam đã từng được cấp CCCD cũ đều sẽ có ít nhất 2 số CMND. Việc bỏ CCCD cũ đâu có phải dễ dàng nói bỏ là bỏ được ngay. Vì vậy, chủ trương cho toàn dân đổi lại số CCCD là một sai lầm nghiêm trọng vì làm như vậy thì ngành công an lại một lần nữa vi phạm thô bạo nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước (lần thứ nhất là cho đổi số CCCD khi chuyển
hộ khẩu sang tỉnh khác). Những người làm căn cước có chút hiểu biết không ai làm như vậy cả vì nó phản lại các nguyên lý cơ bản.
Hệ lụy của việc đổi số CCCD mới
Như đã phân tích ở trên, việc cho đổi CCCD mới với số mới là phá vỡ nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước. Hệ lụy của nó sẽ là gì ?
Sau khi cho đổi số CCCD mới, tất cả hồ sơ của công dân được đổi sẽ bị chặt làm hai khúc: Một khúc chứa số CCCD cũ và một khúc chứa số CCCD mới. Mỗi khúc chứa số CCCD bao gồm hai phần: Phần do công dân giữ và phần do cơ quan nhà nước lưu giữ. Việc kết nối hai khúc gặp rất nhiều khó khăn nếu không muốn nói là không thể khắc phục được.
Nếu cắt góc giấy CMND cũ hay cấp giấy chứng nhận số cũ số mới thì phải thừa nhận là việc cải tiến trở thành "cải lùi" vì công dân lẽ ra chỉ dùng một giấy CMND 9 chữ số nay lại phải dùng đến 3 cái với 9+12=21 chữ số, gây không ít phiền toái. Gọi là "cải lùi" là chính xác vì nó đưa cả nước ta lùi lại 38 năm, trở lại thời kỳ 1976. Giấy chứng nhận số cũ số mới về nguyên tắc phải do cơ quan
có thẩm quyền cấp CMND cung cấp và phải cấp cho mọi công dân được cấp đổi lại số CMND. Đây lại là một sai lầm nghiệp vụ vì nó không chỉ tạo kẻ hở để
Trang 8kẻ xấu thừa cơ làm giấy xác nhận giả mà còn chính thức thừa nhận và cho kéo dài tình trạng một công dân có nhiều số CCCD. Đối với phần hồ sơ do công dân giữ thì như thế, còn đối với phần hồ sơ công dân do các cơ quan lưu giữ thì sao ?. Để kết nối số cũ số mới, ngành công an phải giải quyết vấn đề kết nối tàng thư thủ công quản lý CCCD cũ với CSDL CCCD mới. Điều này dẫn đến việc phải tra cứu công dân cả trên tàng thư cũ (đẻ biết số cũ đã cấp) và cả trên CSDL mới (để biết số mới). Công việc này tốn rất nhiều công sức vì nhiều khi phải lăn tay lại do cách thu thập vân tay "ấn" như hiện nay là không tương thích với phương pháp lăn tay cũ, không thể tra cứu được trên tàng thư thủ công vốn yêu cầu vân tay "lăn" đầy đủ để phân loại. Nếu không liên kết được
số cũ số mới thì thông tin thu được sau khi kết nối hệ thống sẽ bị phân rã làm hai khúc tách biệt với nhau.
Một hệ lụy nữa của việc thử đổi số CCCD mới là trong số 200.000 công dân đã được cấp CCCD mới tại Hà Nội sẽ có một số di chuyển hộ khẩu sang các tỉnh khác chưa làm CCCD mới, chẳng hạn các tỉnh phía nam. Số công dân này chắc chắn sẽ không bỏ tiền triệu để bay ra Hà Nội xin cấp lại CCCD khi bị thất lạc,
mà họ sẽ báo mất CCCD và xin cấp lại CCCD khác tại địa phương mới. Như vậy,
Số công dân này sẽ có hai số CMND, 1 mới và 1 cũ.
Còn nhiều và nhiều nữa không thể kể hết nhưng hệ lụy do việc phá vỡ nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước gây ra. Tình trạng "loạn căn cước" như thế sẽ kéo dài cho tới khi thế hệ công dân đã từng được cấp CMND
cũ qua đời hết (khoảng 80‐90 năm) và mục tiêu thống nhất sử dụng số căn cước mới phải trải qua một thời kỳ quá độ kéo dài và có thể nói trên thực tế
sẽ khó mà đạt được.
Cấp CCCD mới nhưng vẫn giữ lại hệ CCCD 9 chữ số cũ mới là giải pháp đúng
Nước ta không phải bây giờ mới làm căn cước mà đã làm từ năm 1946, nhưng qui mô toàn quốc thì từ năm 1976. Đổi mới căn cước là phải kế thừa hệ cũ, phát triển tính năng mới và giải quyết sự chuyển tiếp quá độ một cách êm thấm nhất. Cứ giả sử là người ta có thể hiểu nhầm là hệ 9 số dễ bị tràn nên phải chuyển sang hệ 12 chữ số. Nếu quả đúng như vậy thì khi chuyển người thiết kế có hiểu biết phải tìm cách để kế thừa 9 số cũ đã cấp, chẳng hạn thêm
3 chữ số sang bên trái hay cấp số mới theo cấu trúc PP‐NNNNNNN‐G‐NS với
9 chữ số đầu là số CMND cũ. Thế nhưng, dự án CMND mới không làm như vậy,
họ thản nhiên quyết định cho đổi số mới hoàn toàn mà không hề lường hết mọi hậu quả có thể xảy ra. Vấn đề đặt ra là quyết định này hoàn toàn trái với nguyên tắc "Mỗi công dân suốt đời chỉ có 1 số căn cước riêng".
Vì vậy, Giải pháp đúng đắn nhất là tập trung điện tử hóa tàng thư CCCD hiện hành, sau đó đồng loạt cho thay đổi hình thức CCCD mới như thay phôi mới,
bổ sung phần giành cho máy đọc (cho phép cả mã vạch 2D và Chip) nhưng
Trang 9vẫn giữ nguyên số CMND 9 chữ số như cũ. Chỉ cấp đổi lại số mới đối với những công dân bị trùng số với người khác (số này không nhiều).
Tóm lại, chỉ có hiểu đúng và quán triệt nguyên tắc về tính duy nhất suốt đời của số căn cước thì mới xác định được cách làm đúng. Chỉ có cách làm đúng mới đảm bảo quá trình điện tử hóa hệ thống CCCD và xây dựng CSDL dân cư nhanh chóng đạt được kết quả, vừa đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ, vừa không gây phiền hà cho nhân dân.
4. Giải pháp xây dựng CSDL dân cư
Với tư cách là chuyên gia phản biện cho Dự án xây dựng CSDL dân cư, tôi đã có văn bản nhận xét đánh giá gửi Hội đồng thẩm định Dưới đây là một số ý kiến tóm tắt như sau:
1) Việc dư án CSDL dân cư đề xuất sử dụng mã số định danh cá nhân là hoàn toàn thừa Lý do là ở Việt Nam số định danh cá nhân chính là số CMND
2) Dự án đưa ra giải pháp tổ chức thu thập dữ liệu từ đầu gồm 5 bước theo cách đến từng công dân để thu thập hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp 22 chỉ tiêu thông tin
do Nghị định 90/2010/NĐ-CP qui định mà không tận dụng bất kỳ loại dữ liệu nào hiện có trong các hệ thống thông tin chuyên ngành với các lập luận cho rằng phương án sử dụng các nguồn dữ liệu sẵn có là rất khó khăn Cách thu thập theo kiểu điều tra dân số xã hội học như vậy là không khoa học vì số liệu sau khi thu xong sẽ lạc hậu ngay, không đảm bảo sự nhất quán với các hệ căn cước, hộ khẩu,
hộ tịch đang được cập nhật hàng ngày
3) Quan điểm của chúng tôi là không xây dựng hệ quản lý dân cư từ đầu (vừa tốn kém vừa không chính xác) mà phải tập trung điện tử hóa và hợp nhất các hệ quản lý dân cư hiện hành (CCCD, hộ khẩu và hộ tịch) làm cơ sở để kết nối với các hệ chuyên ngành Cụ thể và cấp bách nhất hiện nay là tập trung điện tử hóa đồng thời ba hệ: hệ tàng thư CCCD, hệ Nhân hộ khẩu và hệ Hộ tịch, sau đó kết nối hợp nhất 3 hệ này làm hệ CSDL dân cư gốc và phát triển các dịch vụ trên mạng tạo điều kiện kết nối với các hệ chuyên ngành khác trong cũng như ngoài Ngành CA thông qua số CCCD được đảm bảo bằng vân tay Làm được như vậy, chúng ta không chỉ quản lý công dân qua 22 chỉ tiêu cơ bản mà còn mở rộng ra đến tất cả các chỉ tiêu mà các hệ chuyên ngành nhà nước đang quản lý
5. So sánh ưu nhược điểm của hai giải pháp
Để khái quát ưu nhước điểm của các giải pháp bàn luận ở trên, ta đưa ra bảng tóm tắt dưới đây:
Tính năng giải pháp Giải pháp hiện nay
(TCVII BCA đang tiến
Giải pháp do tác giả đề xuất
Trang 10hành)
Điện tử hóa tàng thư,
Xây dựng CSDL
CCCD
- Dừng cập nhật chỉ bản giấy vào tàng thư CCCD hiện hành.
- Tổ chức thu thập lại từ đầu, bắt đầu với các công dân đến tuổi 14 và những công dân có CMND đến hạn đổi
- Phải lần lượt thu vân tay lại toàn dân
- Tiếp tục cập nhật chỉ bản vào tàng thư CCCD hiện hành.
‐ Điện tử hóa tàng thư CCCD của tất cả các tỉnh
và hợp nhất thành CSDL CCCD qui mô cả nước.
- Sửa lỗi cấp số CMND mới khi chuyển hộ khẩu sang tỉnh khác
- Không phải lăn tay lại toàn dân
Kỹ thuật thu vân tay
sống
Lăn tay điện tử Dùng vân tay ấn, không tương thích với vân tay lăn trên tàng thư
Lăn tay điện tử hoặc lăn tay lên chỉ bản giấy Thu đầy đủ cả vân tay ấn và vân tay lăn, hoàn toàn tương thích với vân tay trên tàng thư theo chuẩn FBI
CMND mới - Dùng phôi mới; Mã vạch
2D Đổi số cũ sang số mới
12 chữ số cho toàn dân;
- Vi phạm nguyên lý cơ bản về tính duy nhất suốt đời của số căn cước
Dùng phôi mới; Mã vạch 2D và/hoặc Chip Giữ lại
số CMND 9 chữ số;
- Tôn trọng nguyên lý về tính duy nhất suốt đời của
số căn cước
Hệ lụy - Phải giải quyết liên kết
số cũ số mới (cắt góc, cấp giấy xác nhận, .) gây nhiều phiền hà cho nhân dân;
- Gây đảo lộn hệ thống hồ
sơ nghiệp vụ do phá vỡ tính kết nối
- Vẫn giữ số cũ 9 chữ số nên không phải xử lý liên kết, không gây phiền hà cho nhân dân
- Không ảnh hưởng đến hệ thống hồ sơ nghiệp vụ của các ngành
Thời gian quá độ - Kéo dài 80-90 năm - Hệ thống vẫn tiếp tục
phát triển nên không có