1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế đông á

39 598 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

môi trường khoa học và công nghệ trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới.vai trò của khoa học công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.nghiên cứu tính đóng góp của khoa học công nghệ trong tăng trưởng kinh tế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

4 Bố cục bài nghiên cứu 3

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ NỀN KINH TẾ ĐÔNG Á4 1.1 Thuật ngữ khoa học công nghệ 4

1.2 Phân biệt khoa học công nghệ và khoa học kỹ thuật 5

1.3 Đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại 6

1.4 Khái quát về nền kinh tế Đông Á 7

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐÔNG Á 10

2.1.Vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế thế giới 10

2.1.1 KHCN đã mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và năng suất lao động, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế 10

2.1.2 Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11

2.1.3 Cuộc cách mạng KHCN hiện đại – Yếu tố tiền đề chủ yếu của kinh tế tri thức 12

2.1.4 KHCN đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế 13

2.1.5 Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường 14

2.2 Vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế Đông Á 14

2.2.1 KHCN và sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á 15

2.2.2 Khoa học công nghệ và xu hướng phát triển kinh tế xanh/tăng trưởng xanh 19

2.2.3 Khoa học công nghệ và công tác đổi mới giáo dục 25

CHƯƠNG III: VAI TRÒ CỦA KHCN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 27 3.1 Khoa học công nghệ đã có đóng góp lớn trên nhiều mặt, đặc biệt là trong đường lối đổi mới nền kinh tế 28

3.2 KHCN góp phần vào tăng trưởng GDP và tăng mức thu nhập bình quân đầu người 29

Trang 3

3.3 KHCN đưa kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh 29

3.4 KHCN giúp cải tiến, đổi mới công nghệ của nhiều ngành, lĩnh vực 30

3.5 Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam tăng hạng trong những năm gần đây 31

3.6 Định hướng chung cho chiến lược khoa học và công nghệ từ nay đến nǎm 2020 32

PHẦN KẾT LUẬN 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Thời gian hoàn thành Công nghiệp hóa 11Hình 3.1: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2014 (đơn vị USD) 29Hình 3.2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang khu vực Tây Á giai đoạn 2009 –

2014 30

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: GDP, Chỉ số phát triển con người của Nhật Bản, 4 nước khối NICs và Việt Nam năm 2013 8Bảng 2.1: Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Đông Á-Thái Bình Dương 15

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm 90 của thế kỷ XX, khu vực Đông Á được cả thế giới đặc biệt chú ý vì sự tăng trưởng chưa từng có của nó Tăng trưởng nhanh kéo dài trong vòng 5 năm và bị chững lại vào năm 1996 Sự nghi ngờ về sức mạnh của những nền kinh tế

được mệnh danh là những con hổ ngày một rõ nét, khi mà năm 1997, các Chaebol1 ở Hàn Quốc sụp đổ, có dấu hiệu căng thẳng của khu vực tài chính và bất động sản ở Thái Lan, sự đình trệ yếu kém dai dẳng của nền kinh tế Nhật Bản

Giai đoạn 1997 – 1999, khu vực chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính khởi nguồn từ Thái Lan Tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn này của Nhật Bản

là -2,5% - 0,3%; của của Hồng Kông là -5,1% - 2,0%; của Đài Loan là 4,8% – 5,5 %;

của Hàn Quốc là -5,8% - 10,2% (Ngân hàng Thế Giới, Phần trăm thay đổi trong tổng

sản phẩm quốc nội ở Đông Á 1996 - 2000)

Và rồi, quá trình phục hồi ở Đông Á đã diễn ra rất nhanh Bởi vì tới đầu năm 1999 thì mọi chuyện tồi tệ đã ở lại phía sau Các quốc gia Đông Á bắt đầu hồi phục dựa trên

cơ sở nhu cầu xuất khẩu xuất phát từ Mỹ và Đông Âu, đặc biệt là hàng điện tử, và chi ngân sách trong nước gia tăng Đông Á đã trở lại và lấy lại sự tín nhiệm của mình

Cập nhật báo cáo kinh tế khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (Ngân hàng Thế Giới, 10/2015) cho thấy Đông Á vẫn tiếp tục là khu vực tạo động lực tăng trưởng chính cho nền kinh tế thế giới, đóng góp gần 2/5 tổng mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu với ước tính toàn khu vực tăng trưởng 6,5% Đông Á tiếp tục là một đầu tàu quan trọng của kinh tế thế giới, với các nền kinh tế năng động hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đông Á cũng đang tiếp tục được tăng thêm sức mạnh nhờ một số thị trường mới nổi, như Indonesia, Việt Nam, Myanmar, Đặc biệt, 31/12/2015, cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được hình thành, mở ra những thay đổi đáng kể về thị trường hàng hóa và dịch vụ tự do của 10 quốc gia với hơn 600 triệu dân (theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á năm 2015)

1 Chaebol, tức Tài phiệt là tên gọi ám chỉ các tập đoàn lớn của Hàn Quốc Thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện

vào năm 1984 Các chaebol được hình thành bao gồm nhiều công ty có mối quan hệ liên kết về tài chính, chiến lược kinh doanh và sự điều phối chung trong hoạt động, ví dụ như Samsung, Daewoo hay LG Nét đặc trưng của các Chaebol là toàn bộ các công ty thành viên thường do một hoặc một số ít gia đình sáng lập và nắm giữ cổ phần

Trang 6

Tăng trưởng nhanh, suy giảm và lại phục hồi Do đâu mà Đông Á lại có được sự phát triển thần kỳ như vậy? Có thể khẳng định rằng tất cả các nền kinh tế tăng trưởng nhanh tại Đông Á, theo công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm1993, là nhờ thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và thâm nhập sâu vào các thị trường Châu Âu, Châu Mỹ Ngay từ thập niên 1950, Nhật Bản đã phát động chiến dịch xuất khẩu ồ ạt Đi sau Nhật Bản là bốn con hổ Châu Á bắt đầu xuất khẩu các hàng hoá tiêu dùng của mình sang thị trường phương Tây vào thập niên 1960 Làn sóng tăng trưởng xuất khẩu thứ ba của Đông Á vào đầu thập niên 1980 là từ các nước công nghiệp mới Không lâu sau đó, Trung Quốc và một số nền kinh tế nhỏ hơn ở Đông Á tiếp tục đi theo Bằng chiến lược hướng về xuất khẩu, chính phủ các nước Đông Á về cơ bản đã hoạt động như các chủ doanh nghiệp trong nền kinh tế của mình Đồng thời hoạch định những chiến lược nhất quán cho công ty quốc gia của mình nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới quy mô rộng lớn hơn Chính phủ các nước Đông Á không chỉ hậu thuẫn và thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp chủ lực hướng về xuất khẩu nhằm làm đầu tầu cho tăng trưởng kinh tế trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hoá mà còn liên tục dẫn đầu quá trình cải tiến công nghệ cho những ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu, để bắt kịp với xu hướng phát triển trên thế giới Trong quá trình theo đuổi các mục tiêu động này, chính phủ các nước Đông Á liên tục điều chỉnh các kế hoạch và chính sách tác động tới việc gắn liền những nhu cầu công nghiệp hoá của họ với các điều kiện thị trường, tiến bộ công nghệ tại các nước công nghiệp phương

Tây (Trần Văn Tùng, Viện Nghiên Cứu Trung Đông và Châu Phi) Các nước Đông Á

thực hiện một chính sách kiên trì nhiều khi đến cực đoan trong việc theo đuổi kỹ năng, công nghệ, và tri thức tiên tiến để có thể giúp các doanh nghiệp của mình xâm nhập thị trường sản phẩm mới và hiện đại hóa quá trình sản xuất Các nước này đã xây dựng các

“hệ thống sáng tạo” cấp quốc gia để tiếp thu và nâng cao năng lực công nghệ cũng như khả năng tiếp cận, điều chỉnh, và hoàn thiện các công nghệ nhập khẩu Họ đã sử dụng các chính sách thương mại, tài chính, giáo dục, thuế để thúc đẩy các doanh nghiệp nội địa nâng cao kỹ năng và chất lượng sản phẩm của mình

Như vậy có nghĩa là những chính sách về khoa học công nghệ (KHCN) là tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế tại các nước Đông Á Ngày nay, ta biết đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc như những cường quốc về công nghệ hiện đại Trong thời

kỳ hậu công nghiệp này, vai trò của khoa học công nghệ lại càng được khẳng định Với

lý do muốn tìm hiểu sâu hơn về vai trò của nhân tố khoa học công nghệ đã mang lại sự phát triển vượt trội cho kinh tế Đông Á như thế nào, nhóm đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Vai trò của khoa học công nghệ trong sự phát triển kinh tế Đông Á”

Trang 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm cung cấp hiểu biết thế nào là khoa học công nghệ, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố khoa học công nghệ thông qua nghiên cứu sự phát triển thần kỳ của Đông Á Bên cạnh đó, nhóm cũng đưa ra những thông tin cụ thể

về thực trạng áp dụng khoa học công nghệ vào sự phát triển đất nước của Việt Nam

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu ở đây là vai trò của nhân tố khoa học công nghệ, và tập trung chủ yếu vào nền kinh tế Đông Á

4 Bố cục bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu, ngoài các nội dung về phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung được chia thành ba chương Chương 1 là “Tổng quan về khoa học công nghệ và nền kinh tế Đông Á”, cung cấp các hiểu biết chung về khu vực kinh tế Đông Á, định nghĩa về khoa học công nghệ, phân biệt với khoa học kỹ thuật Chương 2 nói đến

“Vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế Đông Á”, đi sâu vào sự tăng trưởng kinh tế, xu hướng kinh tế xanh và sự đổi mới giáo dục Cuối cùng, chương

3 đề cập đến “Vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam”

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ NỀN KINH TẾ ĐÔNG

Á 1.1 Thuật ngữ khoa học công nghệ

Để hiểu thế nào là khoa học công nghệ chúng ta tìm hiểu hai khái niệm khoa học

và công nghệ:

Có 3 quan niệm về khoa học:

Thứ nhất, khoa học là hệ thống những hiểu biết hoặc tri thức của con người về tự

nhiên - xã hội - tư duy, nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật nguyên tắc, phạm trù, tiền đề

Thứ hai, đó là một hình thái ý thức- xã hội thể hiện sự tồn tại xã hội trong nội

dung, giới quan trong triết học và bức tranh chung về thế giới

Thứ ba, khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trong

quá trình chinh phục thế giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận thức Nó ra đời chỉ

ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

Như vậy, khoa học là hệ thống các kiến thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội

và tư duy dựa trên những phương pháp được xác nhận để thu nhân kiến thức

Công nghệ là hệ thống các phương tiện dùng để thực hiện quá trình sản xuất,chế

tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội và con người Đó là sự ứng dụng của khoa học để giải quyết vấn đề thực tiến trong hoạt động của con người Công nghệ bao gồm nhiều khâu: điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử đến các vấn đề thông tin, tư vấn, đào tạo, lưu trữ vận chuyển, bảo quản, kiểm tra tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng

Như vậy, khoa học công nghệ chỉ sự vận dụng những hiểu biết tri thức của mình

về tự nhiên - xã hội tư duy nhằm tạo ra và cải tiến các phương tiện các công cụ phục vụ quá trình sản xuất và các phương tiện khác

Trang 9

1.2 Phân biệt khoa học công nghệ và khoa học kỹ thuật

Trước hết để phân biệt được thuật ngữ khoa học công nghệ và khoa học kỹ thuật tức là ta sẽ phân biệt hai thuật ngữ sau: kỹ thuật và công nghệ:

- Từ khối lượng tri thức ít ỏi và rời rạc, công cụ và phương tiên thô sơ, kỹ năng

và thao tác đơn giản của người nguyên thủy… đến khối lượng tri thức đồ sồ mà con người tích lũy được qua hàng triệu năm, với các công cụ và phương tiện cơ khí chính xác và kỹ xảo tinh vi của người hiện đại đều được coi là hình thức và trình độ kỹ thuật khác nhau Các cuộc cách mạng khoa học và các mạng khoa học kỹ thuật nối tiếp nhau

kể từ thế kỷ XVII trở đi đã làm thay đổi mọi hình thức của kỹ thuật, đưa trình độ kỹ thuật phát triển lên một tầm cao mới Vì vậy mà thuật ngữ “kỹ thuật” không đủ sức chứa những nhận thức mới mẻ, rộng lớn và sâu sắc của nhân loại Từ đó, thuật ngữ “công nghệ đã được lựa chọn thay thế dần cho thuật ngữ “kỹ thuật” Và đến ngày nay người ta chủ yếu

sử dụng thuật ngữ “công nghệ” là phổ biến Như vậy, thuật ngữ “ công nghệ” có hàm nghĩa rộng hơn thuật ngữ “kỹ thuật” Do đó, thuật ngữ “khoa học công nghệ có nghĩa rộng và bao quát hơn so với thuật ngữ “khoa học kỹ thuật

- Sự khác nhau giữa hai khái niệm “khoa học công nghệ” và “khoa học kỹ thuật” không chỉ về mặt nhận thức mà nó còn khác nhau về mặt thời gian:

Từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, các tri thức khoa học bắt đầu từ lý luận sau

đó càng về sau các tri thức khoa học chuyển hóa thành các yếu tố kỹ thuật hay các công

cụ và phương tiện kỹ thuật đồng thời chúng càng gắn bó với nhau trong một hệ thống quy trình tạo ra sản phẩm Như vậy, sau cuộc cách mạng khoa học đầu tiên, tri thức khoa học gắn bó hữu cơ với quy trình kỹ thuật, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và mang tính quyết định đối với kỹ thuật được phản ánh thông qua thuật ngữ “khoa học kỹ thuật” Đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tri thức khoa học công nghệ không chỉ gắn bó hữu cơ với kỹ thuật mà tất cả chúng đều gắn bó hữu cơ và trở thành yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống quy trình tạo ra sản phẩm Vì vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại đây được coi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ Do vậy thuật ngữ “ khoa học công nghệ” bắt đầu được sử dụng phổ biến

Tóm lại, hai khái niệm khoa học công nghệ và khoa học kỹ thuật đều như nhau

vì bản chất của chúng là một thể thống nhất không tách rời nhau.Vấn đề chỉ là thuật ngữ khoa học công nghệ mang nghĩ bao hàm và rộng hơn so với thuật ngữ khoa học kỹ thuật

Trang 10

Người ta chủ yếu dùng thuật ngữ khoa học kỹ thuật cuối thế kỷ XIX, còn thuật ngữ “ khoa học công nghệ” được sử dụng bắt đầu từ những giữa thế kỷ XX trở đi

1.3 Đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật, thứ nhất là cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra lần đầu tiên ở Anh xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XVIII và hoàn thành vào những năm 50 của thế kỷ XX Thứ hai là cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ XX và kéo dài tới nay Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại và toàn cầu hóa hiện nay thì nhóm tôi quan tâm nhiều hơn đến cuộc cách mạng khoa học hiện đại

Cuộc cách mạng khoa học hiện đại đã tạo nên sự thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị và xã hội như:

- Năng lượng: ngoài những dạng năng lượng truyền thống ngày nay đã và đang chuyển sang lấy dạng nguyên tử là chủ yếu và các dạng năng lượng “ sạch”

- Về tự động hóa: sử dụng ngày càng nhiều máy tự động, máy điều khiền bằng

số

- Về công nghệ sinh hoạt: ứng dụng trên nhiều lĩnh vực

- Về vật liệu mới: xuất hiện nhiều chủng loại rất phong phú với nhiều tính chất đặc biệt mà vật liệu tự nhiên không có được

- Về điện tử và tin học: đây là thời kỳ bủng nổ của công nghệ thông tin đã tạo ra bước phát triển mới của thế giới hiện đại

- Chinh phục vụ trũ: vệ tinh nhân tạo, thám hiểm mặt trăng,…, phóng thành công

vệ tinh nhân tạo (1957), đặt chân lên mặt trăng (1961)

Nhìn chung, cuộc cách mạng khoa học công nghệ có hai đặc trưng chủ yếu:

Một là thời gian cho một phát minh mới của khoa học công nghệ ra đời thay thế

cho phát minh cũ có xu hướng rút ngắn lại và phạm vi ứng dụng vào đời sống sản xuất ngày càng mở rộng Vì vậy, cần phải đòi hỏi kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược khoa học

- công nghệ với chiến lược kinh tế xã hội

Hai là, khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (bao gồm cả

khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn,…) do con người tạo ra và thông qua con

Trang 11

người tác động trở lại đời sống kinh tế xã hội Vì vậy, cần phải có chính sách đầu tư thích hợp cho khoa học công nghệ một cách thích ứng

1.4 Khái quát về nền kinh tế Đông Á

Khu vực Đông Á bao gồm 18 nền kinh tế (7 nền kinh tế thuộc Đông Bắc Á và 11 nền kinh tế Đông Nam Á) với dân số gần 2,15 tỷ người (khoảng 1/3 dân số thế giới) và tổng GDP trên 13 nghìn tỷ USD ( chiếm 1/4 GDP của thế giới) Đông Á cũng chiếm tới gần 30% tổng thương mại của thế giới và hàng năm thu hút gần 1/3 tổng FDI toàn cầu Đây là khu vực có hai nền kinh tế hàng đầu thế giới là Nhật Bản và Trung Quốc Trung Quốc hiện nay đã vươn lên thành nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu và dự trữ ngoại

tệ với tổng số 2450000 tỷ USD

Trong những năm 1960-1990, Đông Á đã và đang ngày càng nổi bật với sự trỗi dậy thần kỳ của “4 con rồng châu Á” là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore Chỉ trong khoảng 30 năm, các nền kinh tế này đã duy trì được sự tăng trưởng hết sức ngoạn mục với mức bình quân hàng năm trên dưới 8% có thời kỳ lên mức hai con số, nhanh chóng vượt nghèo khó và lạc hậu để đứng vào hàng ngũ các nền kinh tế phát triển

Bên cạnh đó một số nền kinh tế thuộc ASEAN như Malaysia, Thái Lan cũng đạt đến sự tăng trưởng đáng nể trong gần hai thập kỷ từ cuối thập niên 1970 cho đến khi xảy

ra khủng hoảng Đông Á vào năm 1997 Nổi bật hơn cả là sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX Cho đến ngày nay, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, biểu hiện là nó đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới ( trên 8%/năm và nhiều năm trên 10%)

Với sự “thăng hoa” mạnh mẽ của Đông Á, các nền kinh tế trong ASEAN như Indonesia, Philippines, Việt Nam, Campuchia, Lào trong nhiều năm trở lại đây có đã có nhiều bước phát triển tốt mặc dù không thể tạo ra ấn tượng lớn như “ rồng” hay “ hổ”

Trang 12

Bảng 1.1: GDP, Chỉ số phát triển con người của Nhật Bản, 4 nước khối NICs và Việt Nam năm 2013.

Có thể thấy rằng trừ Triều Tiên còn nhiều khó khăn do duy trì mô hình kinh tế lạc hậu và ĐôngTimo bị giằng xé bởi nhiều vấn đề khi tách khỏi Indonesia, hầu hết các nền kinh tế Đông Á đã hoặc đều vươn lên với tốc độ phi thường Đông Á thực sự là một khu vực năng động của thế giới, đóng góp cực kỳ quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế thế giới trong nhiều thập kỷ qua Đặc biệt chúng ta thấy rằng, chính nhờ sự năng động và tăng trưởng cao của Đông Á đã giúp cho suy thoái kinh tế thế giới vừa qua vừa bớt trầm trọng và sớm phục hồi

Bên cạnh bức tranh nổi bật kinh tế Đông Á như trên cũng phải nhìn nhận lại những khó khăn mà nền kinh tế Đông Á đang phải đối mặt:

- Nền kinh tế Đông Á phát triển mất cân đối và kém bền vững Nó thể hiện thông qua cơ cấu nền kinh tế, cơ cấu thương mại, cơ cấu các loại thị trường, cơ cấu vùng miền,

cơ cấu kinh tế vĩ mô, cơ cấu nguồn nhân lực và trong các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển thiết chế chính trị xã hội, giữa kinh tế với giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, môi trường,… Các nền kinh tế khu vực chưa đạt tới mức độ cân bằng để có thể đảm bảo sự an toàn và phát triển bền vững Tuy nhiên, mức độ mất cân đối và thiếu bền vững biểu hiện rất khác nhau trong từng nước

- Một vấn đề đáng quan tâm nữa là bất ổn quan ngại về kinh tế vĩ mô ở một số nước Trước hết là thâm hụt ngân sách cao dẫn đến tình trạng nợ công tăng mạnh và trở thành gánh nặng Ví dụ năm 2009, nợ công của Trung Quốc bằng 89% GDP, Thái Lan 43,5% GDP… Ngoài ra còn bất ổn về chính sách tiền tệ, lạm phát cao đang tăng áp lực

ở một số nước như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng - tín dụng và việc kiểm soát không chặt các luồng vốn Cuối cùng là mất cân đối

Trang 13

trong cán cân thương và sự lệ thuộc quá lớn của các nền kinh tế khu vực vào thị trường bên ngoài về xuất nhập khẩu và FDI Điều này sẽ dễ dẫn đến dễ bị tổn thương cao khi

có biến động của thị trường quốc tế

- Các nền kinh tế Đông Á vẫn còn trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển mạnh theo “chiều rộng” chưa nhiều theo “chiều sâu” Tức là sự phát triển sản xuất còn dựa quá nhiều các yếu tố sản xuất như tài nguyên thiên nhiên, đất đai, sức lao động nhiều

và rẻ, đặc biệt là khoa học công nghệ do minh tạo ra Phương thức phát triển này đã và tiếp tục để lại những hậu quả trầm trọng, sự bền vững và khả năng cạnh tranh lâu dài của nền kinh tế cũng như những hậu quả về môi trường

- Tình hình chính trị nội bộ tại một số nước ở khu vực còn nhiều bất ổn, xung đột thậm chí gia tăng làm mất ổn định chính trị và xã hội, cản trở đáng kể sự phát triển kinh

tế các nước cũng như quá trình tăng cường liên kết khu vực

- Với những gì lịch sử đã trải qua, cho thấy kinh tế Đông Á đang ngày trở thành trung tâm kinh tế, là một khu vực phát triển nổi bật trên thế giới Ngày nay, mọi tầm mắt đang hướng nhiều tới nền kinh tế khu vực Đông Á Tuy nhiên, có thể thấy rằng có rất nhiều vấn đề đang đặt ra đối với khu vực Đông Á Vì vậy, càng cần có sự chung sức hợp tác giữa các nền kinh tế, sự đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ để giải quyết những vấn đề cấp bách hiện nay còn nhiều nan giải

Trang 14

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ ĐÔNG Á 2.1.Vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế thế giới

2.1.1 KHCN đã mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và năng suất lao động, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế

KHCN, thông qua việc tạo ra công cụ lao động và phương pháp sản xuất mới, đã

mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và năng suất lao động Đặc biệt, vai trò của KHCN thể hiện rõ ràng hơn ở chỗ: một mặt KHCN kích cầu, mặt khác nó tăng cung thông qua việc tăng năng suất Từ đó sản lượng cân bằng tăng, làm tăng thu nhập bình quân, cải thiện mức sống con người

KHCN đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm,… Nhiều sản phẩm mới ra đời phong phú, đa dạng, đa năng, mẫu mã đẹp, kích thước nhỏ nhẹ hơn Chu kỳ sản xuất cũng được rút ngắn đáng

kể

Theo phân tích gần đây của Ngân hàng thế giới (WB) ở 38 quốc gia và khu vực, tiến bộ công nghệ đóng góp 50% vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển, hơn 30%

ở các nước đang phát triển

Theo một số số liệu thống kê:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 1990 so 1982 tăng 28,5% - khối lượng thương mại thế giới tăng 57,9% (IMF 10/1990)

- Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, GDP của thế giới tăng 40,5% (44 nghìn tỷ USD/31,6 nghìn tỷ USD - Niên giám thống kê/ TCTK 2006)

- Thế kỷ XVIII, một nước muốn công nghiệp hóa thường mất 100 năm Đầu thế

kỷ XX, còn khoảng 30 năm.Vào thập niên 70 - 80 rút xuống 20 năm.Thập niên 90 chỉ còn trên dưới 10 năm

Trang 15

Hình 2.1 Thời gian hoàn thành Công nghiệp hóa

Quãng thời gian cần thiết để tăng gấp đôi GDP theo đầu người đã được rút ngắn một cách ổn định Nếu như Anh mất 58 năm (kể từ 1780), Mỹ 47 năm (từ 1839), Nhật

34 năm (kể từ 1880) thì từ sau Đại chiến thứ hai, cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp lần thứ ba còn đẩy tốc độ này lên cao hơn như Brazin 18 năm, Indonesia 17 năm, Hàn Quốc 11 năm, Trung Quốc 10 năm

2.1.2 Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển của KHCN làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, phân chia nền kinh tế làm nhiều ngành nghề nhỏ hơn

Đặc biệt, sự phát triển của KHCN còn đánh dấu bước chuyển dịch mạnh mẽ của

cơ cấu kinh tế:

- Giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp dịch vụ

- Trong nội bộ mỗi ngành cũng có sự thay đổi đáng kể: mở rộng quy mô sản xuất những ngành áp dụng trình độ KHCN cao, giảm dần những ngành sử dụng lao động chân tay Lao động tri thức ngày càng chiếm tỉ trọng lớn, đô thị hóa với tốc độ nhanh dần đều

Như vậy, nếu những năm trong quá khứ, hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều phát triển nông nghiệp thì hiện tại nền kinh tế đã chuyển mình sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần với sự lên cao của ngành công nghiệp – dịch vụ và các ngành kinh tế thông minh Đó là thực tế, và không có một biểu hiện nào khác hơn có thể chỉ rõ tác động của KHCN lên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế rõ ràng hơn thế

0 20 40 60 80 100 120

Trang 16

2.1.3 Cuộc cách mạng KHCN hiện đại – Yếu tố tiền đề chủ yếu của kinh tế tri thức

Cuộc cách mạng KHCN hiện đại được mở đầu bằng công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là nhân lõi của cuộc cách mạng KHCN hiện đại, nó phản ánh giai đoạn phát triển mới về chất của sản xuất trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm

Công nghệ thông tin bao gồm từ phần cứng như chế tạo các mạch vi điện tử, các máy vi tính, máy siêu tính các dây chuyền sản xuất tự động hóa, các thiết bị ngoại vi cho đến các phần mềm ứng dụng và các phần mềm hệ thống Một phần quan trọng nữa trong công nghệ thông tin phải kể đến là các loại thiết bị viễn thông, điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng Mạng máy tính và internet đã và đang trở thành hệ thống huyết mạch quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội Năm 1993 đã có 1 triệu người nối mạng, đến tháng 3 – 2000 số người dùng đã lên tới 280 triệu Rõ ràng là mạng internet không còn là một phương tiện kĩ thuật thuần túy mà đã thành một môi trường mới cho mọi hoạt động của con người và có tác động rất lớn đến sự chuyển biến nhanh chóng của đời sống con người trên khắp hành tinh

Thứ đến là công nghệ sinh học, đây là một bước đột phá vào thế giới đầy bí ẩn của sự sống Nó bắt đầu bằng việc khám phá ra các phân tử hình xoắn kép Công nghệ cao này đã tạo ra một tiềm năng vô tận cho sản xuất ra các loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

Cùng với công nghệ thông tin và công nghệ sinh học là một loạt các công nghệ cao khác: công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng công nghệ hàng không – vũ trụ Nhiều loại vật liệu mới với các tính năng ưu việt không thể tìm thấy trong tự nhiên

đã được tạo ra: vật liệu tổ hợp, vật liệu com-pô-zit, các chất bán dẫn Nhiều nguồn năng lượng mới được tạo ra để thay thế các nguồn năng lượng tự nhiên sắp cạn kiệt, đặc biệt

là năng lượng nguyên tử Đáng chú ý là công nghiệp hàng không - vũ trụ với triển vọng đưa con người đến với các hành tinh khác trong vũ trụ

Nhờ các công nghệ cao đó, nền kinh tế thế giới đạt mức tăng trưởng chưa từng

có Ngày nay, tổng sản phẩm của thế giới ước tính khoảng 30.000 tỉ USD, nghĩa là gấp khoảng 123 lần so với tổng sản phẩm thế giới những năm 50 (1300 tỉ USD) Có thể nói,

bộ phận cách mạng nhất tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư của lực lượng sản xuất

to lớn của loài người ngày nay là KHCN Các Mác đã dự báo rằng khoa học sẽ trở thành

Trang 17

lực lượng sản xuất trực tiếp và đã trở thành hiện thực Chính điều đó đã tạo tiền đề cho

sự hình thành kinh tế tri thức

2.1.4 KHCN đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế

Sự phát triển của KHCN làm thay đổi căn bản nền tảng cơ sở và phương thức giao dịch giữa các nước trên thế giới Nền công nghệ cơ khí về cơ bản vẫn là một nền công nghệ có tính quốc gia, vì nó luôn phải lấy thị trường trong nước làm chính Hiệu năng của nền công nghệ cơ khí chưa cho phép các quan hệ kinh tế quốc tế có thể phát triển xa hơn xét về mặt hiệu quả kinh tế

Nhưng trong những thập kỷ gần đây, công nghệ thông tin và vận tải đã có những tiến bộ vượt bậc, đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống tới vài trăm lần Tiến bộ KHCN này đã có tác động cực kỳ quan trọng đến toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tế, nó đã biến các công nghệ có tính quốc gia thành công nghệ toàn cầu Các công nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tính điện

tử, máy bay đã ngày càng có tính toàn cầu sâu rộng Tính toàn cầu này đã thể hiện ngay

từ khâu sản xuất (được phân công chuyên môn hoá ở nhiều nước) đến khâu phân phối (tiêu thụ toàn cầu) Những công nghệ ngay khi ra đời đã có tính toàn cầu như công nghệ

vệ tinh viễn thông đã hiện diện Chính KHCN sáng tạo ra những ứng dụng rộng rãi cho nhiều quốc gia, góp phần cho sự đẩy mạnh quá trình toàn cầu hoá Nhờ có công nghệ phát triển, sự hợp tác giữa các quốc gia, các tập đoàn có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối dịch vụ trên phạm vi toàn cầu, những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển

Toàn cầu hóa là xu thế khách quan gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế Bản chất khách quan của toàn cầu hóa được quy định bởi tính tất yếu khách quan của quá trình quốc tế hóa Những phát kiến địa lý, giao thông vận tải đã mở ra cơ hội cho quá trình quốc tế hóa kinh tế vào thế kỷ XV, nhưng tiến trình này chỉ thực sự tăng tốc sau khi cách mạng công nghiệp ở Anh Quá trình quốc tế hóa mang tính tất yếu khách quan, do đòi hỏi của bản thân nền sản xuất, đặc biệt là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Cách mạng KHCN tạo tiền

đề cho bước quá độ từ cơ sở vật chất - kỹ thuật truyền thống sang cơ sở vật chất - kỹ thuật hoàn toàn mới về chất ở một số nước kinh tế phát triển

Làn sóng KHCN ngày càng trở nên phổ biến, trình độ KHCN ngày cao với khả năng ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống Việc hợp tác khai thác, sử

Trang 18

KHCN là chất xúc tác làm cho quan hệ giữa các quốc gia xích lại gần nhau hơn Thành tựu KHCN dường như xóa nhòa dần biên giới địa lý của từng quốc gia, làm cho khoảng cách không gian trên thế giới càng co hẹp giữa các châu lục Toàn cầu hoá ngụ ý tầm quan trọng ngày càng giảm của các đường biên giới quốc gia và sự tăng cường những đặc tính lan toả ra ngoài biên giới bắt nguồn từ một nước, hoặc một khu vực nhất định Tức là, sự phụ thuộc lẫn nhau phải đến mức toàn diện và vai trò của các đường biên giới quốc gia giảm dần

Nhờ có nhiều thành tựu KHCN, nhiều phát kiến địa lý và khai phá các thị trường

mới ở các châu lục, các nguồn lực và dòng sản phẩm được lưu chuyển khắp toàn cầu

“Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”

Dưới sự tác động của cuộc cách mạng KHCN, loài người đang từng bước tiến vào kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa cao độ, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội, thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển, đồng thời tạo ra những phương tiện có hiệu quả đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa

2.1.5 Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường

Nếu đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp, hay nói cách khác, là nền kinh tế cũ,

là nền kinh tế mà tự cung tự cấp là một đặc trưng lớn, thì nền kinh tế tri thức – nền kinh

tế thị trường đề cao sức cạnh tranh hàng hóa

Những ngành nghề đa dạng đã đa dạng hóa sản phẩm Càng ngày người ta càng

có nhiều sự lựa chọn hơn Chưa nói đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, chỉ riêng việc tồn tại trong thị trường khắc nghiệt đã là thách thức lớn đối với mỗi doanh nghiệp Để vượt qua điều này, doanh nghiệp phải đưa sức cạnh tranh hàng hóa lên mức tối đa, và KHCN

đã làm rất tốt điều đó: giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn nâng cao chất lượng sản phẩm.Và như một lẽ tất nhiên, điều đó đã thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển

2.2 Vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế Đông Á

Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới nói chung và Đông Á nói riêng chứng kiến một sự biến đổi toàn diện về kết cấu mà một phần lớn nguyên nhân là do sự

Trang 19

tiến bộ và phát triển không ngừng của KHCN KHCN ở Đông Á có sự phân biệt giữa các vùng và các khoảng thời gian Trong quá khứ, nổi bật nhất về những cống hiến khoa học phải kể đến Ấn Độ và Trung Quốc, hai cái nôi văn minh của nhân loại Tại thời điểm hiện tại, Nhật Bản lại là nước nổi bật nhất về phát triển khoa học công nghệ, với vô số thành tựu đạt được trong các lĩnh vực, nổi bật nhất là thiết bị điện tử và phương tiện giao thông Hàn Quốc, Trung Quốc và một vài quốc gia khác cũng là những nước đóng góp lớn vào sự phát triển của KHCN Đông Á cũng như toàn nhân loại

Trong khuôn khổ bài nghiên cứu, nhóm sẽ tập trung làm nổi bật vai trò của yếu

tố KHCN đối với sự tăng trưởng kinh tế, xu hướng phát triển kinh tế xanh và lĩnh vực quản lý giáo dục đối với các nước Đông Á

2.2.1 KHCN và sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á

Bảng 2.1: Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Đông Á-Thái Bình Dương

Nguồn: World Bank

Nghiên cứu về sự phát triển của các nền kinh tế Đông Á, ta biết đến “kỳ tích sông Hàn”, nền kinh tế “thần kỳ” Nhật Bản, bốn “con rồng Châu Á”: Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, và gần đây, Trung Quốc nổi lên như siêu cường kinh tế đứng thứ hai trên thế giới Sự đóng góp của nhân tố KHCN vào sự tăng trưởng ấy sẽ được trình bày cụ thể dưới đây:

Trước hết là Nhật Bản:

Sau những năm 1950, trong những ngành sản xuất chủ chốt, các công ty Nhật Bản

đã mở rộng việc cạnh tranh lẫn nhau bằng việc đưa những kĩ thuật mới từ Âu – Mỹ hay

Ngày đăng: 06/04/2016, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Sang (2005), Cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Lê Văn Sang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2005
2. Ngân hàng thế giới (2001), Suy ngẫm về sự phát triển thần kỳ của Đông Á, Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm về sự phát triển thần kỳ của Đông Á
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia
Năm: 2001
3. Nguyễn Như Bình và các cộng sự (1999), Chính sách công nghiệp của Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công nghiệp của Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Như Bình và các cộng sự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
4. Nguyễn Xuân Thắng (2009), Giáo trình Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2009
5. Phạm Thị Ngọc Trầm (2003), Khoa học, công nghệ với nhận thức, biến đổi thế giới và con người: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học, công nghệ với nhận thức, biến đổi thế giới và con người: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Trầm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
6. Tạ Bá Hưng (Chủ biên) (2004), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003, Bộ Khoa học Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003
Tác giả: Tạ Bá Hưng (Chủ biên)
Năm: 2004
7. Yutaka Kosai (1992), Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh: Những nhận xét về nền kinh tế nhật bản sau chiến tranh, Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh: Những nhận xét về nền kinh tế nhật bản sau chiến tranh
Tác giả: Yutaka Kosai
Năm: 1992
8. Richard Katz (1998), Japan, the system that soured: the rise and fall of the Japanese economic miracle, Armonk, N.Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan, the system that soured: the rise and fall of the Japanese economic miracle
Tác giả: Richard Katz
Năm: 1998
9. Steven Husted & Michael Melvin (2013), International economics 9th edition, Pearson Education.Các Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: International economics 9th edition
Tác giả: Steven Husted & Michael Melvin
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: GDP, Chỉ số phát triển con người của Nhật Bản, 4 nước khối NICs và Việt Nam năm 2013 - vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế đông á
Bảng 1.1 GDP, Chỉ số phát triển con người của Nhật Bản, 4 nước khối NICs và Việt Nam năm 2013 (Trang 12)
Hình 2.1. Thời gian hoàn thành Công nghiệp hóa - vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế đông á
Hình 2.1. Thời gian hoàn thành Công nghiệp hóa (Trang 15)
Bảng 2.1: Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Đông Á-Thái Bình Dương - vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế đông á
Bảng 2.1 Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Đông Á-Thái Bình Dương (Trang 19)
Hình 3.1: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2014 (đơn vị USD)  Nguồn: BizLive - vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế đông á
Hình 3.1 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2014 (đơn vị USD) Nguồn: BizLive (Trang 33)
Hình 3.2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang khu vực Tây Á giai đoạn 2009 – 2014   Nguồn: Tổng cục Hải Quan - vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế đông á
Hình 3.2 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang khu vực Tây Á giai đoạn 2009 – 2014 Nguồn: Tổng cục Hải Quan (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w