Để đánh giá đúng thực trạng về hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khu vực kinh tế này, có cơ sở đưa ra các
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
GVHD : Th.S ĐẶNG THỊ PHƯƠNG DIỄM
SVTH : NGUYỄN THƯƠNG GIANG MSSV : 04.1.0737.K
LỚP : 04K2N KHÓA : 4
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hồ Chí
Minh, em đã tiếp thu được những kinh nghiệm thực
tế trong công việc liên
quan đến ngành học Em xin chân thành cảm ơn:
- Các thầy, cô trường Đại học Công nghệ Tôn Đức Thắng, đặc biệt là cô Đặng Thị Phương Diễm đã tận tình hướng dẫn giảng dạy em
trong thời gian làm luận văn
- Ban lãnh đạo, cán bộ và các anh, chị tại phòng Tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại
thương Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tư liệu để khảo sát phân tích và
hướng dẫn em hoàn thành tốt luận văn này
Trân trọng cảm ơn
Sinh viên Nguyễn Thương Giang
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TP Hồ Chí Minh, Ngày ………tháng ………năm 2004
Trang 4NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
TP Hồ Chí Minh, Ngày ………tháng ………năm 2004
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
TP Hồ Chí Minh, Ngày ………tháng ………năm 2004
Trang 6L Ờ I M Ở Đ Ầ U
hội nhập Điều đó đang đặt ra cho các chủ thể kinh doanh của nền kinh tế phải đối mặt với những thách thức mới Đó là làm thế nào để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của hội nhập quốc tế Trong bối cảnh như vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng nổi lên như một mắt xích trọng yếu trong hoạt động kinh tế Thông qua việc cung ứng nguồn vốn, tín dụng ngân hàng nó tác động rất lớn tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp Cụ thể là vốn của ngân hàng thương mại chiếm
tỷ trọng lớn trong tài sản của các doanh nghiệp, có trường hợp vốn tín dụng ngân hàng chiếm tới 80% tài sản của doanh nghiệp
kinh tế – xã hội, trong đó có sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm trong cơ cấu GDP, số công ăn việc làm do khu vực này mang lại và những đóng góp vào quá trình phân phối lại thu nhập, giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn Để đạt được những kết quả này, sự đóng góp của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hồ Chí Minh trong việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không kém phần quan trọng Tuy nhiên, trong quá trình giao dịch giữa ngân hàng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tồn tại nhiều vướng mắc Các doanh nghiệp vừa
và nhỏ là khu vực có khả năng khai thác và thu hút vốn trong dân, nay là nguồn vốn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác nhiều, do tính hiệu quả; quy mô sản xuất chủ yếu là vừa và nhỏ đòi hỏi vốn không nhiều; năng lực quản lý, trình độ chuyên môn chưa cao; v.v… Để đánh giá đúng thực trạng về hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khu vực kinh tế này, có cơ sở đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vủa ngân hàng Đó là nội dung cần nhắm tới của đề tài
“Cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hồ Chí Minh”
Trang 7L Ờ I M Ở Đ Ầ U
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền kinh tế hội nhập Điều đó đang đặt ra cho các chủ thể kinh doanh của nền kinh tế phải đối mặt với những thách thức mới Đó là làm thế nào để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của hội nhập quốc tế Trong bối cảnh như vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng nổi lên như một mắt xích trọng yếu trong hoạt động kinh tế Thông qua việc cung ứng nguồn vốn, tín dụng ngân hàng nó tác động rất lớn tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp Cụ thể là vốn của ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của các doanh nghiệp, có trường hợp vốn tín dụng ngân hàng chiếm tới 80% tài sản của doanh nghiệp
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm trong cơ cấu GDP, số công ăn việc làm do khu vực này mang lại và những đóng góp vào quá trình phân phối lại thu nhập, giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn
Để đạt được những kết quả này, sự đóng góp của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hồ Chí Minh trong việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không kém phần quan trọng Tuy nhiên, trong quá trình giao dịch giữa ngân hàng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tồn tại nhiều vướng mắc Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là khu vực
có khả năng khai thác và thu hút vốn trong dân, nay là nguồn vốn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác nhiều, do tính hiệu quả; quy mô sản xuất chủ yếu là vừa và nhỏ đòi hỏi vốn không nhiều; năng lực quản lý, trình độ chuyên môn chưa cao; v.v… Để đánh giá đúng thực trạng về hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khu vực kinh tế này, có cơ sở đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vủa ngân
hàng Đó là nội dung cần nhắm tới của đề tài “Cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hồ Chí Minh”
Trang 8Tín dụng là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tài sản cho bên kia sử dụng trong thời gian nhất định và bên kia có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện tài sản ban đầu và lãi từ sử dụng tài sản
Trang 9Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng mà trong đó một trong hai chủ thể là ngân hàng Ngân hàng có thể với tư cách là chủ nợ (khi cấp tín dụng) hoặc với tư cách là người thụ trái (khi nhận tiền gởi) Tín dụng ngân hàng không thuần túy là sự chuyển dịch vốn
trong nền kinh tế mà nó còn tạo vốn cho nền kinh tế do những chức năng trung gian của ngân hàng
Quan hệ tín dụng có thể diễn tả khái quát qua sơ đồ sau:
Trong quan hệ giao dịch trên thể hiện các nội dung cơ bản sau:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định mà nguồn của nó có thể là vốn tự có, tiền vốn, hàng hóa, tài sản vay mượn trong các chủ thể khác trong xã hội,…
- Người đi vay là người được nhượng quyền sử dụng vốn và sử dụng vốn vay vào
mục đích của mình, phải hoàn trả vốn vay khi đến thời hạn thỏa thuận
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác, người
đi vay ngoài phần vốn phải trả còn phải trả thêm phần lãi của việc sử dụng vốn vay cho người cho vay
Trang 10- Quan hệ tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả vì vốn tín dụng dù tồn tại dưới dạng tiền hoặc hiện vật thì nó cũng chỉ được người cho vay chuyển giao quyền sử dụng cho người đi vay chứ không phải quyền sở hữu cho nên phải hoàn trả
- Quan hệ tín dụng phải gắn liền với một thời hạn Nếu thời hạn càng dài thì càng rủi
ro cho người cho vay
- Giá trị của vốn tín dụng không chỉ được bảo toàn mà còn phải được nâng cao nhờ vào lợi tức tín dụng Thực chất nó là phần thưởng dành cho người cho vay Vì người cho vay hy sinh nhu cầu sử dụng số vốn để nhường quyền sử dụng vốn đó cho người đi vay
- Là một phạm trù kinh tế, phạm trù lịch sử và nó biểu hiện quan hệ giữa người với người trong nền kinh tế : Người đi vay – Người cho vay
1.2 Chức năng, vai trò và phân loại tín dụng:
1.2.1 Chức năng:
1.2.1.1 Chức năng tập trung và phân phối lại vốn theo nguyên tắc có hoàn trả:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, chính nhờ chức năng này mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Tập trung vốn tiền tệ: Nhờ hoạt động của hệ thống tín dụng mà nguồn tiền tạm thời chưa sử dụng được huy động và tập trung lại Nguồn tiền này là tiền tiết kiệm của dân cư, vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể…
Phân phối lại vốn tiền tệ: Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, tín dụng thực hiện việc phân lại đáp ứng nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tín dụng thực hiện chức năng này bằng hai cách: phân phối trực tiếp từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó (thông qua tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu công ty,… )
và phân phối gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng, hợp tác
Trang 11Hiện nay, vốn tín dụng là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ vốn lưu động của các doanh nghiệp Ngoài ra, vốn tín dụng còn là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong lĩnh vực vốn cố định
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng hai cách : phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp
Phân phối trực tiếp : là việc phân phối từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và phát hành trái phiếu của công ty
Phân phối gián tiếp : là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung gian như : Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, Công ty tài chính
1.2.1.2 Chức năng tiết kiệm tiền mặt:
Lúc đầu, tiền tệ lưu thông là tiền đúc kim loại (tiền vàng), nhưng khi nhu cầu nền kinh tế phát triển đã làm xuất hiện việc lưu thông các dấu hiệu giá trị để thay thế cho tiền vàng
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển
đa dạng, từ đó nó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán
bù trừ giữa các đơn vị kinh tế, điều này sẽ làm giảm được khối lượng giấy bạc trong lưu thông, giảm được chi phí lưu thông giấy bạc của ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
1.2.1.3 Chức năng phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát quá trình hoạt động của nền kinh tế:
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục
vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động kinh tế Do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế
Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt, gắn liền với việc thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế
Trang 121.2.2 Vai trò:
1.2.2.1 Góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hiện tượng thừa hoặc thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra ở các đơn vị Nhờ có tín dụng, đã đáp ứng phần nào nhu cầu về vốn, góp phần làm liên tục quá trình sản xuất kinh doanh Ngoài ra, với mục tiêu mở rộng sản xuất đối với từng đơn vị kinh tế, thì nhu cầu về vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý Bởi lẽ, để đẩy nhanh tiến độ phát triển của sản xuất thì không thể trông chờ vào vốn tự có mà doanh nghiệp phải biết tận dụng từ những dòng chảy khác của vốn trong xã hội Từ đó tín dụng với tư cách là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển Rõ ràng, vốn tín dụng đã chiếm một vị trí đáng kể trong kết cấu vốn của các đơn vị kinh tế Vì thế, có thể nói tín dụng là người trợ thủ đắc lực cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, là người bạn đồng hành trong tiến trình phát triển kinh tế
1.2.2.2 Góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả
Tín dụng đã tận dụng các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông Lượng tiền dư thừa này nếu không sử dụng kịp thời, có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình lưu thông tiền tệ, dẫn đến mất cân đối trong quan hệ hàng – tiền và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi Do đó, trong điều hành nền kinh tế, tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát
Ngày nay nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ ở từng thời kỳ nhất định, lãi suất tín dụng đã trở thành công cụ quản lý của Nhà nước Lãi suất là giá cả của sản phẩm ngân hàng Như mọi loại giá của hàng hóa, lãi suất ngân hàng cũng được điều chỉnh theo cung – cầu về tiền tệ trên thị trường theo những mục tiêu kích thích hoặc hạn chế đầu tư,
mở rộng hoặc thu hẹp đầu tư ở ngành này, lĩnh vực này so với ngành khác, lĩnh vực khác Lãi suất đóng vai trò như là một đòn bẩy kinh tế cực kỳ lợi hại trong một ngân hàng, nó có thể đưa thêm nhiều tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền từ lưu thông để qua đó tạo sự phù hợp giữa khối lượng tiền tệ với yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế, tạo được sự ổn định
về tiền tệ và giá cả, làm tiền đề quan trọng để sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển,
có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng và quan trọng hơn là công cụ điều hành cực kỳ nhạy bén trong hệ thống ngân hàng cả ở tầm vĩ mô
và ở tầm vi mô
1.2.2.3 Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội
Trang 13Đây thực sự là hệ quả tất yếu từ hai vai trò trên của tín dụng Nền kinh tế phát triển trong môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội, là điều kiện thực hiện tốt hơn các chính sách trong xã hội, từ đó rút ngắn chênh lệch giữa các giai cấp, góp phần thay đổi cấu trúc xã hội Bởi lẽ, nó không chỉ đáp ứng cho doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư trong xã hội với những mục đích khác nhau từ những hình thức vay khác nhau, ví dụ: cho vay tiêu dùng, cho vay xóa đói giảm nghèo, cho vay nông nghiệp,…
Tín dụng tập trung và phân phối vốn có hiệu quả đến các thành phần kinh tế, góp phần làm sản xuất ngày càng phát triển, khuyến khích cạnh tranh và tạo được động lực kinh tế quan trọng, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, khơi dậy và vận dụng mọi tiềm năng lao động, tay nghề, đất đai, tài nguyên và đặc biệt tạo ra nhiều công ăn việc làm giải quyết nạn thất nghiệp vốn là vấn đề nhức nhối của nhiều quốc gia
1.2.3 Phân loại tín dụng
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản tín dụng theo từng nhóm dựa trên những tiêu chí nhất định Có một số cách phân loại cơ bản sau:
1.2.3.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Cho vay ngắn hạn : là loại cho vay có thời hạn tín dụng dưới một năm, thường
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
- Cho vay trung hạn : là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Cho vay trung hạn
chủ yếu phục vụ yêu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và có thời hạn thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp, cho vay trung hạn chủ yếu để đầu
tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước, máy tuốt lúa; mua sắm phương tiện vận chuyển hàng hóa trong nông nghiệp; xây dựng chuồng trại, nhà kho, sân phơi,… Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập
- Cho vay dài hạn : là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời đại tối đa có thể
đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm Loại cho vay này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải thiện và mở rộng sản xuất
có quy mô lớn như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở
hạ tầng,…
Trang 14Cho vay trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất
1.2.3.2 Căn cứ vào mục đích vay:
- Cho vay bất động sản : là loại cho vay liên qua đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay công nghiệp và thương mại : còn gọi là cho vay để kinh doanh, là loại cho
vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp : là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất cho trồng
trọt, chăn nuôi như phân bón, cây giống, con giống, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi,… hoặc các chi phí nuôi trồng thủy sản (nước ngọt và nước lợ) như cải tạo ruộng đồng nuôi, lồng nuôi, thức ăn, ; đánh bắt hải sản như đầu tư đóng mới, sửa chữa tàu thuyền,…
- Cho vay các định chế tài chính : bao gồm tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty
tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác
- Cho vay cá nhân : là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của cá nhân Đây
là nguồn tài chính quan trọng giúp cho các cá nhân trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch,… cũng có thể được tài trợ thông qua việc phát hành thẻ tín dụng
- Cho thuê: cho thuê các định chế tài chính bao gồm hai loại: cho thuê vận hành và
cho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị
1.2.3.3 Căn cứ vào đảm bảo đối với khoản vay:
- Cho vay không có bảo đảm : là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc vay chủ yếu chỉ dựa vào uy tín bản thân của khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vàp uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung (bảo đảm tín dụng)
Trang 15- Cho vay có bảo đảm : là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
1.2.3.4 Căn cứ vào phương thức hoàn trả:
- Cho vay phi trả góp : là các khoản cho vay trong đó vốn gốc và lãi vay được hoàn
trả một lần khi đến hạn Phương thức này ít áp dụng trong các nghiệp vụ tài chính dài hạn vì tạo nên khó khăn cho người cho vay và người vay
Đối với người cho vay : phương thức này không đem lại thu nhập thường xuyên
Đối với người đi vay : tạo ra khó khăn về tài chính vì phải hoàn trả một số tiền lớn vào cuối thời hạn và việc áp dụng lãi kép làm cho số nợ tăng nhanh
- Cho vay trả góp : là các khoản vay trong đó nợ gốc và lãi được hoàn trả nhiều lần
trong thời hạn vay Phương thức này được áp dụng phổ biến trong việc vay vốn đầu tư kinh doanh vì nó phù hợp với đặc điểm về đầu tư : bỏ vốn một lần, thu hồi vốn dần dần
- Cho vay tuần hoàn : là các khoản vay trong đó nợ gốc và lãi được hoàn trả một
cách tuần hoàn trong thời hạn vay Phương thức này được áp dụng phổ biến vì nó giúp người vay trả nợ dần dần, rất phù hợp với người vay vốn đầu tư hoặc những người vay có thu nhập ổn định
1.2.3.5 Căn cứ vào xuất xứ của khoản vay:
- Cho vay trực tiếp : là khoản cho vay mà trong đó người nhận tiền vay cũng là
người có nghĩa vụ trả nợ trực tiếp cho ngân hàng
- Cho vay gián tiếp : là khoản cho vay ngân hàng cấp tín dụng cho người đi vay
thông qua bên thứ ba Bên thứ ba là người nhận tiền và người đi vay phải có nghĩa
vụ trả tiền cho ngân hàng
1.2.3.6 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
- Cho vay có thời hạn : là việc ngân hàng qui định một thời hạn hoàn trả trước đối
với khách hàng
Trang 16- Cho vay không có thời hạn : là việc ngân hàng không qui định thời hạn cụ thể mà
chỉ báo cho khách hàng biết trước một thời gian nhất định trước khi thu hồi
1.2.3.7 Căn cứ vào hình thái cấp tín dụng:
- Tín dụng bằng tiền là việc ngân hàng cho khách hàng sử dụng tiền trong một thời
hạn thỏa thuận
- Tín dụng bằng tài sản là việc ngân hàng cho khách hàng thuê các tài sản để sử
dụng
- Tín dụng chữ ký: ngân hàng còn thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng bằng
uy tín của mình Đối với nghiệp vụ này, ngân hàng không phải cung cấp bằng tiền, nhưng khi người bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán Chính vì lý do trên mà người ta gọi hành vi cam kết của khách hàng là tín dụng bằng chữ ký
1.3 Các nguyên tắc tín dụng:
Khi nói đến tín dụng thì dù ở hình thức nào, trong điều kiện cụ thể nào cũng phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản sau:
1.3.1 Nguyên tắc thứ nhất: Vốn vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của tín dụng, nó bắt buộc người vay phải có trách nhiệm hoàn trả vốn vay cả gốc và lãi theo đúng kỳ hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng
Như chúng ta đã biết, ngân hàng là một tổ chức trung gian tín dụng, thực hiện việc huy động vốn tức là đi vay để đáp ứng nhu cầu về vốn tín dụng của các đơn vị tức là cho vay Do đó, ngân hàng cũng có trách nhiệm phải hoàn trả cho các đối tượng đã cho ngân hàng vay vốn đó là các tổ chức, cá nhân, đơn vị đã gửi tiền tại ngân hàng, nếu người đi vay không hoàn trả vốn vay cho ngân hàng thì sẽ dẫn đến ngân hàng mất khả năng chi trả cho các khách hàng đã gởi tiền, dẫn đến khủng hoảng dây chuyền trong hoạt động của các ngân hàng và của cả nền kinh tế
Ngân hàng huy động vốn phải trả lãi cho người gởi tiền, đây là điều kiện bắt buộc
để thu hút được tiền gởi, vì vậy người đi vay vốn của ngân hàng cũng phải bắt buộc trả lãi cho ngân hàng Từ nguồn thu lãi này, ngân hàng mới có thể chi trả lãi tiền gởi, chi phí cho hoạt động kinh doanh và có thu nhập tích lũy để phát triển
Trang 17Lãi suất cho vay cũng là điều mà các ngân hàng và người đi vay quan tâm, đây là giá cả thuê quyền sử dụng vốn tiền tệ Hiện nay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng được phép cho vay trong khung trần lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ cụ thể
Lãi suất là một công cụ của Nhà nước trong điều hành kinh tế vĩ mô, thông qua công cụ này Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp vào việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách phát triển kinh tế trong từng thời kỳ cụ thể theo chiến lược chung Với công cụ lãi suất, ngân hàng có thể thúc đẩy hay hạn chế một ngành nghề nào đó phục vụ cho chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Muốn thúc đẩy một ngành nghề kinh
tế nào đó phát triển có thể quy định một chính sách lãi suất thấp để khuyến khích đầu tư vào ngành đó; muốn hạn chế hay kìm hãm một ngành nào đó thì có thể quy định mức lãi suất cao hơn để hạn chế đầu tư Như vậy, công cụ lãi suất có tác dụng định hướng sự phát triển kinh tế theo một kế hoạch chung có sự quản lý và điều hành của Nhà nước
Tuy nhiên ở đây cũng cần thấy rằng công cụ lãi suất là một con dao hai lưỡi, nếu vận dụng khéo léo, linh hoạt thì nó sẽ là trợ thủ đắc lực của ngân hàng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, tín dụng; ngược lại cũng sẽ có những tác dụng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng
Hoàn trả đúng hạn cũng là một điều kiện không thể thiếu được vì khi cho vay ngân hàng đã xác định thời hạn thu hồi vốn phù hợp với yêu cầu của đơn vị cũng như kế hoạch cân đối vốn của ngân hàng Nếu không thu hồi vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong hoạt động của mình, từ đó có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán
Vì những lý do nên trên, khi tiến hành cho vay các ngân hàng thường xem xét cẩn thận về khả năng tài chính của đơn vị vay vốn, đặc biệt là quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị Để từ đó xác định kỳ hạn nợ thích hợp cũng như phân tích các rủi ro có thể xảy ra để quyết định cho vay hay không
1.3.2 Nguyên tắc thứ hai: Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Cho vay đúng mục đích không
những là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt động của tín dụng ngân hàng Đối với ngân hàng, bất kỳ khoản cho vay nào đối với nền kinh tế cũng luôn luôn phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn phát triển Ngược lại đối với khách hàng, vốn vay cũng phải đáp ứng các mục đích cụ thể trong quá trình hoạt động để thúc đẩy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ của mình Do vậy, khi vốn vay ngân hàng, khách hàng phải trình bày rõ mục đích của việc sử dụng vốn vay Khi khoản vay đã được ngân hàng chấp nhận thì mục đích sử dụng vốn vay cũng sẽ được ghi vào hợp đồng tín
Trang 18dụng Ngân hàng sẽ thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, nếu phát hiện thấy khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp phù hợp để xử lý
1.3.3 Nguyên tắc thứ ba: Tiền vay phải có tài sản, vật tư hàng hóa tương đương làm đảm bảo Nguyên tắc này quy định khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tín dụng phải xem xét
đến khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng Mặc dù hoàn trả tín dụng không phải là mục đích khi kinh doanh của ngân hàng, nhưng nó là cơ sở quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu kinh doanh Do đó để đảm bảo thu hồi được nợ, ngân hàng buộc phải áp dụng hình thức cho vay có bảo đảm, nhất là đối với các khách hàng có khả năng tài chính không
đủ mạnh, năng lực kinh doanh trong quá khứ và trong hiện tại không được tốt
Nguyên tắc này góp phần làm giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng Nguyên tắc này giúp cho ngân hàng có khả năng thu hồi phần nào vốn vay trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán
Tài sản đảm bảo tín dụng bao gồm các loại:
- Hàng hóa và chi phí trong quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm
1.4 Lý thuyết cơ bản về loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN):
1.4.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau :
Theo Nghị định 90 ngày 23/11/01, các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, các hộ sản xuất kinh
doanh cá thể đăng ký theo NĐ 02/CP 3/2/00: “Cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có vốn
đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” (linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai
chỉ tiêu)
Trang 19Những doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ này được hưởng sự hỗ trợ của Chính phủ theo các chương trình hỗ trợ về vốn, công nghệ, được giảm hoặc miễn một số loại thuế
1.4.2 Phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Thông thường, các loại doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia thành bốn nhóm chính:
1.4.2.1 Khu vực không chính thức:
Khu vực này bao gồm các hình thức kinh doanh nhỏ không có trụ sở hoạt động thường xuyên Chẳng hạn như những người bán kem lưu động, những người bán thức ăn lưu động và những người bán hàng rong Họ là những đơn vị nhỏ nhất của tổ chức kinh doanh và hầu như luôn luôn do một cá nhân điều khiển hoạt động Trong một số nước, khu vực không chính thức bao gồm những người hoạt động kinh doanh nhỏ không đăng
ký kinh doanh chính thức
1.4.2.2 Các doanh nghiệp bán chính thức:
Là những doanh nghiệp cá nhân không thể và không có khả năng phát triển thành các doanh nghiệp lớn Ví dụ như các cửa hàng giặt ủi nhỏ, các cửa hiệu bán thực phẩm khô, các tiệm may, tiệm cắt tóc và các cửa hàng thuốc bắc Tuy có quy mô nhỏ, nhưng các doanh nghiệp này cung cấp những dịch vụ rất quan trọng cho mọi người Chúng ta có thể tìm thấy chúng dễ dàng ngay tại các thành phố, khu thị tứ, và chúng giữ vai trò rất quan trọng trong việc phục vụ nhân dân trong khu vực Hãy tưởng tượng xem điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả các doanh nghiệp này biến mất vào một buổi sáng khi chúng ta thức dậy Nhiều hoạt động sẽ bị tê liệt và hầu hết các hoạt động đời thường của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng Mặc dù loại doanh nghiệp này thường có quy mô nhỏ và không thể phát triển thành các doanh nghiệp lớn nhưng vẫn có những ngoại lệ Chẳng hạn, một số doanh nghiệp thuộc loại này có thể liên kết với nhau và thành lập các hợp tác xã hay cửa hàng bách hóa liên hợp
1.4.2.3 Các doanh nghiệp chuyên doanh: Là các doanh nghiệp do các nhà chuyên môn
làm chủ và điều hành các hoạt động của chúng Ví dụ như: các bác sĩ, nha sĩ, luật sư và kiểm toán viên
1.4.2.4 Các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển: có những doanh nghiệp nhỏ có tiềm
năng phát triển, chẳng hạn như các doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành công nghệ cao hay các công ty phát triển phần mềm máy tính điện tử Các cá nhân hay nhóm kinh
Trang 20doanh thuộc loại này đăng ký kinh doanh tại các quận, huyện theo quy định của Nghị định
số 66-HĐBT, ngày 2-3-1992 của Hộ đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
1.4.3 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Kể từ khi đổi mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có sự đóng góp quan trọng của các DNVVN, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm trong cơ cấu GDP, số công ăn việc làm do khu vực này mang lại và những đóng góp vào quá trình phân phối lại thu nhập, giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn Vai trò của các DNVVN thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dân; phát huy các tiềm năng, nguồn lực của nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế: Các DNVVN sản xuất một khối lượng sản phẩm, dịch vụ tương đối lớn đáp ứng
cho nhu cầu của xã hội, làm giảm bớt áp lực cầu của thị trường đồng thời góp vào Ngân sách Nhà nước Các DNVVN đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của người tiêu dùng với giá rẻ hơn và thuận tiện hơn Thương nghiệp và dịch vụ, hay nói chung là ngành phân phối lưu thông thuộc về ưu thế hoạt động của các DNVVN, vì các loại dịch vụ cho cá nhân, cho các tổ chức kinh tế xã hội thường có yêu cầu đa dạng về chủng loại và đòi hỏi được phân bố rộng khắp, phù hợp với sự phân bố của các DNVVN Các DNVVN có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế có khả năng phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi hàm lượng tri thức cao cũng như có khả năng lấp đầy những khoảng trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn và có mức lợi nhuận thấp Trong quá trình mở cửa nền kinh tế, từng bước hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, các DNVVN sẽ là một cầu nối quan trọng cho sự hội nhập đó Các nhà đầu tư nước ngoài (phần lớn là những công ty tư nhân) cần phải có những người bạn đồng hành để cho họ an tâm đầu tư vốn và khoa học công nghệ… Chính các DNVVN có thể thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ sản xuất… và là người bạn đồng hành tạo ra sự tin tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài
- Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế việc di dân vào đô thị: Trong
tiến trình đẩy mạnh cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê và giải thể các doanh nghiệp nhà nước thì việc dôi ra một số lượng lớn lao động là điều không thể tránh khỏi Các DNVVN có khả năng tạo ra việc làm với mức đầu tư thấp và chủ yếu bằng vốn của dân mà lẽ ra Nhà nước phải tốn rất nhiều vốn đầu tư để giải quyết việc làm (trung bình Nhà nước phải đầu tư hơn 10 triệu đồng để tạo ra một chỗ làm việc) Giải quyết có hiệu quả vấn đề thất nghiệp từ đó dẫn đến giảm bớt các tệ nạn xã hội
và tạo ra sự phát triển hài hoà cho nền kinh tế Các DNVVN có tác động thúc đẩy
Trang 21quá trình đô thị hóa phi tập trung Sự phát triển của các DNVVN ở nông thôn không chỉ tạo ra việc làm cho những người chưa có việc mà còn thu hút số lượng lao động thời vụ trong thời gian nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lực lượng lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nhưng vẫn sống ngay tại quê hương, giảm bớt lượng người di cư từ các huyện ngoại thành vào các quận nội thành
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng kinh tế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế: Trước đây hầu hết các
lĩnh vực kinh tế, các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhận Hiện nay, trừ một số ít các lĩnh vực, ngành nghề Nhà nước giữ vai trò độc quyền còn lại hầu hết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh các DNVVN đều tham gia với mức độ ngày càng lớn Trong đó, một số ngành nghề DNVVN đã chiếm tỷ trọng khá cao (sản xuất lương thực, thực phẩm, bán lẻ hàng hóa, hàng tiêu dùng, nuôi trồng thủy sản,… ) Sự phát triển phong phú đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh… của khi vực này đã tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp Nhà nước, buộc các doanh nghiệp này phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường Nói cách khác, DNVVN đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động hơn, đồng thời cũng tạo nên sức ép lớn buộc công tác quản lý hành chính của Nhà nước phải thay đổi nhanh nhạy, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế thị trường nói chung Nhu vậy,
sự phát triển của các DNVVN đã góp phần quan trọng hình thành và xác lập vai trò
vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, đẩy nhanh việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách các doanh nghiệp Nhà nước, cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh
- Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhân, góp phần xây dựng đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam có trình độ Đồng thời cơ chế quản
lý mềm dẻo trong các DNVVN nói riêng cũng như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) nói chung cũng tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của mọi người, từng bước thực hiện công bằng xã hội: DNNQD là nơi đào tạo và sàng lọc
các nhà quản lý doanh nghiệp thông qua thực tiễn kinh doanh, góp phần vào việc đào tạo lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp có chất lượng cao cho đất nước Mặc dù không tránh khỏi còn nhiều bất cập và hạn chế, đội ngũ những nhà doanh nghiệp mới đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, vững bước tiến vào thế kỷ mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 221.5 Vai trò của tín dụng đối với các DNVVN
Nguồn vốn đầu tư của các DNVVN thường là tiền tiết kiệm của cá nhân hay do chủ nhân của chúng vay của người thân, bạn bè Các doanh nghiệp loại này rất khó vay được tiền từ ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác, trừ trường hợp họ có tài sản cầm cố, thế chấp hay những vật quý có giá trị cao được các định chế tài chính chấp thuận
Đa số các nhà kinh doanh đều cho rằng tài chính là vấn đề chính yếu của họ trong điều hành hoạt động một DNVVN Khi mới thành lập doanh nghiệp, mọi người đều biết rằng
để thu hồi được vốn là một điều không dễ dàng Còn khi thành lập và đứng vững được thì việc vay tiền sẽ dễ dàng hơn Nhu cầu vốn là điều kiện cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn khi một doanh nghiệp mới thành lập nó rất cần một nhà văn phòng hay một cửa hàng, v.v… Nhiều nhà kinh doanh phải đương đầu với vấn đề không đủ tiền mặt để mua nhà kho, trả các món nợ, tiền thuê hay trả lương cho nhân viên
Do đó, vốn là yếu tố đầu vào quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh là nhu cầu hầu hết của các doanh nghiệp
Như vậy, theo Nghị định 90 thì hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay đều là DNVVN Thành phần kinh tế này có tác động rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Do đó trong giai đoạn hiện nay, các ngân hàng thường tập trung hoạt động tín dụng cho đối tượng này Vì vậy phần tiếp theo em xin trình bày “Thực trạng và tình hình cấp tín dụng cho các DNVVN tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hồ Chí Minh”
CHƯƠNG 2:
Trang 23THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH CẤP TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HỒ CHÍ MINH (Vietcombank HCM)
2.1 Giới thiệu sơ lược về Vietcombank HCM (VCB –HCM)
* Quá trình phát triển:
Là ngân hàng thương mại phục vụ đối ngoại lâu đời nhất ở Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn được biết đến như một ngân hàng đứng đầu về nguồn vốn
Trang 24và có uy tín trong các lĩnh vực tài trợ, thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế
Cho đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB VN) đã phát triển thành một hệ thống gồm 24 chi nhánh cấp 1 và 14 chi nhánh cấp 2, 1 công ty tài chính và 3 văn phòng đại diện ở nước ngoài, 1 công ty chứng khoán, 1 công ty thuê mua tài chính, 1 công
ty quản lý nợ và khai thác tài sản, góp vốn cổ phần vào 5 doanh nghiệp và 7 ngân hàng, tham gia 3 liên doanh với ngân hàng nước ngoài
Tạp chí “The Banker” một tạp chí ngân hàng có tiếng trong giới tài chính quốc tế của Anh quốc đã bình chọn VCB là “Ngân hàng tốt nhất của Việt Nam” liên tục trong 4 năm 2000, 2001, 2002, 2003
VCB VN là ngân hàng thương mại hàng đầu trong các ngân hàng VN thực hiện dự
án công nghệ thông tin lớn nhất VN do World Bank tài trợ với tổng vốn đầu tư là 10 triệu USD và được chính thức hoạt động vào 02/05/2002 VCB VN đã thiết lập quan hệ đại lý với 1500 ngân hàng tại gần 100 nước trên khắp các châu lục của thế giới; là đại lý chính thức của tổ chức chuyển tiền nhanh quốc tế MoneyGram; là đại lý thanh toán 5 loại thẻ tín dụng quốc tế Visa, MasterCard, JCB, American Express và Dinners Club đồng thời phát hành 3 loại thẻ: Vietcombank – Visa, Vietcombank – MasterCard và Vietcombank American Express
Trong những năm qua, bằng những nỗ lực vượt bậc và được sự ủng hộ của đông đảo khách hàng, VCB VN đã giữ vững là Ngân hàng thương mại có mức tăng trưởng vào bậc nhất ở Việt Nam
2.1.1.2 Khái quát về VCB –HCM
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tại TP.HCM (VCB –HCM) được thành lập ngày 1-11-1976, là chi nhánh lớn nhất trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Kể từ ngày thành lập VCB –HCM không ngừng lớn mạnh về quy mô hoạt động, luôn giũ vững vai trò là một trong những ngân hàng thương mại quốc doanh chủ lực, có
bề dày thành tích trong hoạt động kinh doanh ngân hàng trên địa bàn TP.HCM
VCB – HCM được coi là chi nhánh ngân hàng có tổng tích sản lớn nhất tại TP.HCM và đạt mức tăng trưởng hàng năm trên 15% Nguồn vốn huy động liên tục tăng
và chiếm trên 1/5 tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ các tổ chức tín dụng trên địa bàn VCB –HCM là trung tâm về thanh toán quốc tế (chiếm 40% tổng kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của HCM), là đầu mối về kinh doanh và là một trong những ngân hàng hàng đầu trong các lĩnh vực đầu tư tín dụng, bảo lãnh, thanh toán hối đoái, nghiệp vụ ngân quỹ và thanh toán thẻ,…
Trang 25Với một đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và được đào tạo lành nghề, dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng đối ngoại, với hệ thống trang thiết bị tin học tiên tiến, VCB –HCM sẵn sàng cung cấp cho khách hàng các dịch vụ ngân hàng chất lượng cao nhất và luôn phấn đấu vì sự thành công của khách hàng
2.1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy VCB –HCM
Trang 262.1.3 Nội dung hoạt động của VCB – HCM.
VCB –HCM phục vụ khách hàng về các nghiệp vụ sau:
- Ap dụng các hình thức huy động vốn thích hợp, phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gởi để huy động vốn bằng đồng VN và ngoại tệ đối với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
- Vay vốn và trái phiếu tại Ngân hàng Nhà nước
- Vay vốn của tổ chức tài chính trong và ngoài nước
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng đồng VN và ngoại tệ đối với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
- Hùn vốn mua cổ phần với các tổ chức kinh tế, tiền tệ tín dụng trong và ngoài nước theo quy định pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính
- Liên doanh với các tổ chức tiền tệ tín dụng trong và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Nhận mua bán Spot và Forward các loại ngoại tệ mạnh và làm các dịch vụ về vàng, bạc, đá quý
- Thực hiện chiết khấu thương phiếu, mua chứng khoán làm dịch vụ cầm đồ và quản lý động sản, bất động sản theo yêu cầu của khách hàng
Trang 27- Làm dịch vụ tư vấn tiền tệ, tín dụng, thực hiện nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
- Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh các khoản vay và thanh toán của pháp nhân, thể nhân trong và ngoài nước
- Thực hiện nghiệp vụ hối đoái và chuyển tiền nhanh trong và ngoài nước
- Làm đại lý thanh toán các loại thẻ quốc tế: VISA, MasterCard, AMEX, JCB; phát hành thẻ điện tử VCBCard để sử dụng trong nước và thẻ điện tử VCB-MasterCard, VCB-VisaCard để sử dụng trong và ngoài nước,…
- Tham gia hệ thống thanh toán toàn cầu trong hệ thống SWIFT, MoneyGram
- Tư doanh, liên doanh thực hiện nghiệp vụ tín dụng thuê mua với các doanh nghiệp trong và ngoài nước
- Dịch vụ E-banking, Home Banking
- Thực hiện các nghiệp vụ đại lý, ủy nhiệm, cung ứng dịch vụ cho các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và các tổ chức cá nhân trong nước được phép kinh doanh ngoại hối
- Thực hiện các nghiệp vụ khác do Nhà nước và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao
2.1.4 Đánh giá tổng quát về hoạt động chính của VCB – HCM
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
ngoại
tệ (quy
VND)
3.938.803 38,11 4.381.179 36,56 5.033.898 35,70 11,23 14,90
Trang 282002 chiếm tỷ trọng 63,44% trong tổng vốn huy động và năm 2003 chiếm tỷ trọng 64,30 trong tổng vốn huy động), vì tâm lý khách hàng vẫn thích gửi tiền bằng nội tệ hơn ngoại tệ
vì đồng nội tệ của Việt Nam ít dao động so với đồng ngoại tệ của các nước khác Nhìn chung, tình hình vốn huy động qua 3 năm đều tăng chứng tỏ ngân hàng ngày càng hoạt động có hiệu quả hơn
Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn huy động
Đvt: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2002 Năm 2003 % so sánh năm
sau so với năm trước
Số tiền Tỷ trọng
(%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Vốn huy động từ dân
Trang 29Trong quá trình trưởng thành và phát triển, công tác huy động vốn luôn là một thế mạnh của VCB –HCM Việc sử dụng hợp lý vốn hợp lý đã cho phép Chi nhánh huy động vốn với lãi suất hấp dẫn Hơn nữa, với uy tín của hệ thống Ngân hàng Ngoại thương, Chi nhánh đã thu hút được nguồn vốn huy động cao trong dân cư và các tổ chức kinh tế trên địa bàn Chi nhánh đã sử dụng nhiều hình thức huy động vốn phong phú và đa dạng các loại tiền gửi, tiết kiệm, kỳ phiếu bằng nội tệ và ngoại tệ, đồng thời mở rộng địa bàn với các phòng giao dịch để thu hút tiền của các tổ chức kinh tế và dân cư Do đó, Chi nhánh
đã đạt tốc độ tăng trưởng vốn mạnh, nguồn vốn huy động không ngừng tăng trưởng Năm
2003, vốn huy động từ dân cư tăng 19,06% so với năm 2002, chiếm tỷ trọng 52,41% trong tổng nguồn vốn; vốn huy động từ các tổ chức kinh tế tăng 17,95% so với năm 2002,
Năm 2003
52.41%
42.64%
4.96%
Trang 30chiếm tỷ trọng 42,64% trong tổng nguồn vốn; vốn huy động khác chiếm tỷ trọng 4,96% trong tổng nguồn vốn, tốc độ tăng 3,02% so với năm 2002 Nguyên nhân tăng là do ngân hàng đã áp dụng lãi suất tiền gửi hấp dẫn và khách hàng được hưởng nhiều dịch vụ từ phía ngân hàng nên huy động được nhiều tiền gửi của khách hàng Nhờ tăng trưởng vốn nhanh, vững chắc nên ngân hàng tạo được thế chủ động trong kinh doanh.
Nhận xét: Nhìn vào bảng cơ cấu nguồn vốn huy động, ta thấy vốn huy động từ dân cư và vốn huy động từ các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn vì đây là nguồn vốn ổn định và rất tốt để VCB –HCM đầu tư vào hoạt động kinh doanh của chính mình
Số tiền Tỷ trọng
(%) Số tiền
Tỷ trọng (%)
Dư nợ cho vay khách
hàng 7.634.892 74,46 10.218.637 75,32 33,84
Dư nợ cho vay các tổ
chức tín dụng khác 2.618.872 25,54 3.348.712 24,68 27,87 Tổng dư nợ cho vay 10.253.764 100 13.567.349 100 32,32
Tổ chức điều hành vốn của ngân hàng có hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân tiếp cận vốn đầu tư; vốn được tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành hàng quan trọng của thành phố, với nhiều lĩnh vực như: nông – lâm hải sản xuất khẩu, công nghiệp giày da, dệt may, xi măng, thương mại tổng hợp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Năm 2003, tổng dư nợ cho vay trong nền kinh tế đạt 13.567.349 triệu đồng, tăng 32,32% so với năm 2002 Dư nợ cho vay khách hàng trong năm 2003 chiếm tỷ trọng 75,32% trong tổng dư nợ cho vay, tăng 33,84% so với năm
2002 Dư nợ cho vay các tổ chức tín dụng trong năm 2003 tăng 27,87% so với năm 2002 Nguyên nhân tăng là do trước sự phát triển của thị trường trong nước kéo theo nhu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất nên các khách hàng đã mạnh dạn chủ động tiếp cận với nguồn vốn vay của ngân hàng, thêm vào đó tình hình hoạt động của các thành phần kinh tế cũng lạc quan hơn
Trang 31đó Chính phủ đột ngột có quyết định ngừng xuất khẩu gạo, cấm xuất khẩu gỗ, làm cho giá trị hàng hóa ứ đọng, vốn ngân hàng cũng bị ứ đọng theo Hơn nữa, kế hoạch, quy hoạch,
dự báo sức tiêu thụ thị trường thiếu khoa học, không chính xác, định hướng chiến lược không phù hợp, dẫn đến sản xuất cung vượt cầu, giá bán hạ, thua lỗ không có tiền trả cho ngân hàng là phát sinh sự gia tăng tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng Nhưng trong năm
2003, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay đã giảm xuống còn 6,25% chứng tỏ VCB –HCM đã làm tốt trong công tác tín dụng
Trang 322.2 Phân tích tình hình cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại VCB –HCM
2.2.1 Một số quy định về việc cấp tín dụng
2.2.1.1 Nguyên tắc vay vốn
Khách hàng vay vốn của Ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
- Phải hoàn trả nợ gốc và tiền lãi vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
- Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo quy định của chính phủ và của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và văn bản chỉ đạo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 2.2.1.2 Điều kiện vay vốn
Khách hàng được ngân hàng xem xét cho vay khi có đủ các điều kiện sau:
- Có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập Hoạt động theo pháp luật Việt Nam, ngành nghề kinh doanh phải phù hợp với luật định
- Được thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Phải có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ Với các phương án này khách hàng phải chứng minh chúng chắc chắn khả thi và mang tính hiệu quả cho kinh
tế cũng như cho cuộc sống Và cùng với dự án này phải có phương án trả nợ khả thi
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết Kết quả sản xuất kinh doanh không bị lỗ, không có nợ quá hạn với ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác
- Phải có vốn chủ sỡ hữu hoặc vốn tự có tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống Mức vốn tự có tham gia vào dự án của nhà đầu tư tối thiểu phải bằng 30% tổng mức vốn đầu tư của dự án Trường hợp mức vốn tự có tham gia thấp thì phải cộng thêm giá trị bảo đảm tiền vay cho đạt mức tối thiểu 30% tổng mức đấu tư của dự
án
- Thực hiện các quy định đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, hướng dẫn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và văn bản chỉ đạo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
2.2.1.3 Đối tượng cho vay
VCB – HCM cho vay các đối tượng:
Trang 33- Giá trị vật tư hàng hóa, máy móc thiết bị bao gồm cả thuế giá trị gia tăng trong tổng giá trị lô hàng và các khoản chi phí khác để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh,…
- Các nhu cầu tài chính của khách hàng: số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất nhập khẩu mà giá trị đó ngân hàng có tham gia cho vay;
số tiền khách hàng vay để trả cho các khoản vay tài chính cho nước ngoài;…
- Các nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ, hoặc các lĩnh vực ưu tiên phát triển của Chính phủ
2.2.1.4 Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay của VCB-HCM
- Cho vay ngắn hạn: thời hạn tối đa là 12 tháng, loại hình cho vay này nhằm để bù đắp
sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
- Cho vay trung và dài hạn: cho vay trung hạn có thời hạn từ hơn 1 năm đến 5 năm, cho vay dài hạn có thời hạn từ 5 năm đến 10 năm hoặc hơn nữa Cho vay trung và dài hạn được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, thực hiện các
dự án đầu tư phát triển sản xuất
2.2.1.5 Lãi suất cho vay
Mức lãi suất cho vay do VCB – HCM và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Ngoại thương về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng và không đổi trong suốt thời gian vay Đối với khoản vay chuyển sang nợ quá hạn phải áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo mức quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ
2.2.1.6 Mức cho vay
Mức cho vay được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương, khả năng hoàn trả nợ của khách hàng vay và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương nhưng không vượt quá mức ủy quyền của Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Giá trị tối đa của khoản cho vay không thể vượt quá 15% vốn tự có của VCB –HCM
2.2.2 Các phương thức cấp tín dụng
2.2.2.1 Phương thức cho vay từng lần
Trang 34- Phương pháp cho vay này áp dụng cho từng đối tượng cụ thể như cho vay theo từng lần mua hàng, hoặc cho vay dự trữ các loại hàng tồn kho (tồn kho nguyên liệu, bán thành phẩm, hoặc thành phẩm,… ), hoặc tài khoản các khoản phải thu
- Số tiền cho vay = Tổng nhu cầu vốn của dự án hoặc phương án – Vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có và vốn khác tham gia (nếu có)
- Việc tham gia vốn của VCB -HCM theo từng đối tượng vay, cụ thể là:
+ VCB -HCM tham gia theo tỷ lệ phần trăm cho từng đối tượng vay cụ thể Ví dụ: tín dụng ngân hàng tham gia 70% tồn kho nguyên liệu, 30% còn lại doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn tự có hoặc nguồn vốn khác
+ VCB -HCM cho vay 100% nhu cầu vốn của một số đối tượng vay cụ thể Khi áp dụng phương pháp này chính sách tín dụng thường có quy định cụ thể các loại tài sản hoặc chi phí thuộc đối tượng vay và không thuộc đối tượng vay Các tài sản thuộc đối tượng vay ngân hàng có thể cho vay 100%, doanh nghiệp sẽ dùng vốn tự có hoặc các nguồn nợ phi ngân hàng để thanh toán đối với tài sản không thuộc đối tượng vay
- Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng Mỗi lần nhận tiền vay khách hàng phải lập giấy nhận nợ (theo mẫu), trên giấy nhận nợ phải ghi thời hạn cho vay cụ thể, đảm bảo không vượt quá so với thời hạn cho vay trên hợp đồng tín dụng Loại tiền nhận nợ phải phù hợp với loại tiền đã được xác định trên hợp đồng tín dụng Tiền vay được phát bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo mục đích sử dụng tiền vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
- Định thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ: VCB -HCM xác định thời hạn cho vay dựa trên các yếu tố sau: dự báo lưu chuyển tiền tệ, chu kỳ ngân quỹ, hạng rủi ro tín dụng của doanh nghiệp, trong đó lưu chuyển tiền tệ là cơ sở để xác định thời hạn cho vay,
kỳ hạn trả nợ và số tiền trả nợ trong mỗi kỳ hạn
- Chuyển nợ quá hạn: đến thời điểm cuối cùng của thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả được hết số nợ gốc và nợ lãi và không được VCB -HCM gia hạn nợ gốc và gia hạn nợ lãi thì chuyển toàn bộ dư nợ thực tế còn lại của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn
2.2.2.2 Cho vay theo hạn mức tín dụng
- Việc cho vay ngắn hạn của VCB -HCM dựa trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu này xuất phát từ đặc điểm chu kỳ của ngân quỹ, qui mô và điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên nếu ngân hàng cho vay vượt quá năng lực tài chính của doanh nghiệp sẽ dẫn đến rủi ro cho bản thân ngân hàng cũng như người đi vay Vì vậy, để dung hòa được tất cả các lợi ích của các bên trong quan hệ tín dụng cần thiết phải xây dựng giới
Trang 35hạn trong cho vay vốn lưu động cho từng doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với ngân hàng Giới hạn tối đa trong cho vay vốn lưu động được gọi là hạn mức tín dụng
- VCB - HCM xác định hạn mức tín dụng theo các bước sau:
(1) Xác định nhu cầu tài sản lưu động
(2) Xác định nguồn vốn trước khi vay ngân hàng:
+ Nợ phi ngân hàng
+ Vốn lưu động ròng
(3) Hạn mức tín dụng cao nhất (3 = 2-1)
- Thu nợ gốc và lãi tiền vay:
+ Thu nợ gốc: được tiến hành theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận
nợ, khách hàng phải chủ động trả nợ khi đến hạn và có thể trả nợ trước hạn
+ Tính và thu lãi: VCB - HCM thỏa thuận với khách hàng cách tính và thu lãi cùng với ngày trả nợ gốc hoặc một ngày quy định được ghi vào hợp đồng tín dụng
Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng có nhu cầu điều chỉnh tăng hạn mức tín dụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phải có văn bản đề nghị và phương án kinh doanh mới Sau khi ngân hàng xem xét, nếu thấy hợp lý thì chấp nhận điều chỉnh hạn mức tín dụng và cùng khách hàng ký phụ lục bổ sung hợp đồng tín dụng
- Chuyển nợ quá hạn: đến hạn trả nợ gốc hoặc lãi ghi trên hợp đồng tín dụng và từng giấy nhận nợ, nếu khách hàng không trả được nợ và không được VCB – HCM gia hạn
nợ thì chuyển sang nợ quá hạn
- Ký kết hợp đồng mới:
+ Khách hàng muốn tiếp tục ký kết hợp đồng tín dụng với VCB – HCM thì phải nộp hồ
sơ vay vốn trước khoảng 10 ngày khi hạn mức tín dụng cũ hết hiệu lực VCB – HCM sẽ căn cứ vào hồ sơ vay vốn và thẩm định để quyết định cho vay tiếp hay không và ký kết hợp đồng tín dụng theo hạn mức tín dụng mới khi kết thúc thời hạn duy trì hạn mức tín dụng cũ
+ Hạn mức tín dụng mới bao gồm cả dư nợ thực tế của hợp đồng tín dụng cũ chuyển sang (nếu có) Trong trường hợp hạn mức tín dụng mới thấp hơn dư nợ thực tế của hợp đồng tín dụng cũ chuyển qua thì khách hàng và ngân hàng phải xác định thời hạn giảm bớt dư
nợ cũ để khách hàng trả hết nợ cũ và số dư nợ cũ không được vượt quá một chu kỳ sản xuất kinh doanh của người vay vốn, khi khách hàng giảm dư nợ thấp hơn hạn mức tín dụng hiện tại thì mới được vay tiếp theo hạn mức tín dụng mới
Trang 362.2.2.3 Cho vay theo dự án đầu tư
- Phương thức cho vay theo dự án đầu tư nhằm mục đích cho khách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ đời sống
- Căn cứ cho vay bao gồm: hợp đồng và các chứng từ cung ứng vật tư, thiết bị,… biện bản xác nhận giá trị khối lượng công trình hoàn thành hoặc các văn bản nhận tiến độ thực hiện dự án
- Trong thời gian chưa vay được vốn ngân hàng, khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời khác để chi cho dự án được duyệt thì ngân hàng có thể xem xét cho vay
bù đắp nguồn vốn đó trên cơ sở phải có chứng từ pháp lý chứng minh rõ nguồn vốn đã
sử dụng trước
- VCB – HCM và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mức phí cam kết sử dụng tiền vay trong từng trường hợp khách hàng không sử dụng hết mức vốn vay đã thỏa thuận
- Trường hợp hết thời gian giải ngân theo lịch đã thỏa thuận ban đầu mà khách hàng chưa sử dụng hết mức vốn vay ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng đề nghị thì VCB – HCM cho vay xem xét có thể thỏa thuận và ký kết bổ sung hợp đồng tín dụng tiếp tục phát tiền vay phù hợp với tiến độ thi công cụ thể
- VCB – HCM có thể thỏa thuận với khách hàng thời gian ân hạn của dự án Trong trường hợp trong quá trình thực hiện xây dựng cơ bản của dự án vì nguyên nhân khách quan khách hàng không thể thực hiện được đúng thời gian ân hạn đã thỏa thuận, ngân hàng có thể xem xét và điều chỉnh thời gian ân hạn phù hợp với tình hình kinh tế
- Chuyển nợ quá hạn: khi đến kỳ trả nợ gốc và lãi nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi thì ngân hàng cho vay được quyền chủ động trích tài khoản tiền gởi của khách hàng để thu nợ hoặc chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn và thông báo cho khách hàng biết
2.2.2.4 Cho vay hợp vốn
- Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó một nhóm các tổ chức tài chính cùng liên kết lại để tập hợp vốn cho một khách hàng vay
- Cho vay hợp vốn được thực hiện thông qua hai phương thức sau:
+ Cho vay hợp vốn trực tiếp:
Theo phương thức này, nhiều ngân hàng cùng tham gia cho vay đối với một người
đi vay Song, mỗi ngân hàng có một hợp đồng cho vay riêng đối với khoản tiền họ cấp ra cho người đi vay
Trang 37+ Cho vay hợp vốn gián tiếp:
Đối với cho vay hợp vốn gián tiếp nhiều người cho vay cùng tham gia cho một khách hàng vay nhưng chỉ thông qua một hợp đồng tín dụng được ký kết với người đi vay 2.2.2.5 Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
- Ngoài việc thực hiện các qui định như phương thức cho vay theo dự án đầu tư trong cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, VCB – HCM và khách hàng thỏa thuận những nội dung sau:
+ Thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng
+ Mức phí cam kết rút vốn cho hạn mức tín dụng dự phòng theo biểu phí do Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương quy định từng thời kỳ
- Thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng và mức phí cho hạn mức tín dụng dự phòng được ghi trong hợp đồng tín dụng Căn cứ vào đó, VCB – HCM thông báo cho khách hàng hạn mức tín dụng được mở Mỗi lần rút tiền vay trong hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng lập giấy nhận nợ kèm theo các chứng từ cần thiết gởi VCB – HCM 2.2.2.6 Cho vay trả góp
- Cho vay trả góp là các khoản cho vay tài trợ cho nhu cầu mua sắm máy móc thiết bị của doanh nghiệp, có thời hạn trên 1 năm, tiền vay được thanh toán dần cho ngân hàng theo từng định kỳ
- Sau khi thẩm định và quyết định cho vay, VCB – HCM và khách hàng xác định và thỏa thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều
kỳ hạn trong thời hạn cho vay và ký hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng ghi: các kỳ hạn trả nợ, số tiền trả nợ ở mỗi kỳ gồm cả gốc và lãi
- Chuyển nợ quá hạn: khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi thì VCB – HCM được quyền chủ động trích tài khoản tiền gởi của khách hàng để thu nợ hoặc chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn và thông báo cho khách hàng biết
2.2.3 Quy trình tín dụng (hay quy trình cho vay)