Sự biến đổi về tưu duy đạo đức và lối sống của mối con người dù là theo chiềuhướng tiêu cực hay tích cực trong giai đoạn hiện nay cũng là một vấn đề quan trọng màchúng ta cần phải quan t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bản thân sự tồn tại của mỗi cá nhân trong xã hội, ấy là sự dung hòa của hai mặt đạo đức vàtài năng Mỗi con người được khẳng định là đã phát triển toàn diện trong xã hội mới ngàynay thì bản thân mỗi cá nhân con người không thể thiếu được một trong hai nhân tố đó.Chỉ một khi đạo đức được vun đắp và bồi dưỡng đúng cách thì khi đó tài năng mới có thểđược xây dựng và phát triển đúng hướng Chính vì thế, vấn đề đạo đức và xây dựng đạođức luôn luôn là một trong hai mặt mà đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi bản thể con người phảiluôn xem trọng để từ đó phát triển toàn diện và hoàn thiện bản thân mình
Con người sống có đạo đức, có tình người , có trên, có dưới_ đó là nguyên tắc sống củacon người và cũng chính là truyền thống hàng ngàn đời của dân tộc ta Tư tưởng đó luôn
ăn sâu và ghim chặt trong trái tim mỗi người con đất Việt Như vậy, để chúng ta có thểhiểu rõ rằng việc xây dựng đạo đức đó không phải là việc làm cá nhân của một ai mà đó làtrách nhiệm gìn giữ và phát triển cả một nền văn hóa dân tộc nhân nghĩa mà cha ông ta đã
để lại Hàng nghìn năm máu lửa đã đi qua, hàng nghìn năm vất vả cũng đã rời xa chúng ta,
đã và đang có rất nhiều minh chứng cho nhân cách đạo đức sống của một con người đã làmrạng danh lịch sử con người Việt mà chúng ta có thể liệt kê một cách đầy tự hào như:Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Trần Nhân Tông,… một trong những minh chứng về nhân cách đạođức tiêu biểu và cốt cách nhất ấy chính là tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với tư tưởngđạo đức cốt lõi ấy chính là nhân nghĩa và tình yêu thương con người
Trong thời đại ngày nay, với xu thế mở cửa hội nhập nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang
có những bước chuyển mình đáng kể Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được tronghơn 20 năm đổi mới vừa qua đã khẳng định một Việt Nam đang đi lên theo hướng tích cựctrong con mắt bạn bè quốc tế Song, cùng với những phát triển nhanh chóng về kinh tế thìcũng kéo theo những biến đổi về mặt đạo đức của cả cộng đồng người trong xã hội ViệtNam Sự biến đổi về tưu duy đạo đức và lối sống của mối con người dù là theo chiềuhướng tiêu cực hay tích cực trong giai đoạn hiện nay cũng là một vấn đề quan trọng màchúng ta cần phải quan tâm nhằm có phương hướng xây dựng đạo đức cho đúng đắn vàphù hợp
Xuất phát từ thực tế đất nước và chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta đề ra.Việt Nam chúng ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hôi nhằm hoàn thiện cơ
Trang 2sở vật chất cho việc xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản tương lai Để hoàn thiện và có thể thựchiện được sự nghiệp đó thì không thể không nhắc tới nhân tố con người_ nhân tố quantrọng nhất trong toàn bộ sự phát triển của toàn bộ sự phát triển của xã hội con người Việcxây dựng hình tượng con người theo nguyên mẫu con người mới xã hội chủ nghĩa; vừhồng, vừa chuyên mang đầy đủ những phẩm chất đạo đức của con người xã hội chủ nghĩa
là một trong những đòi hỏi phù hợp với nhu cầu lịch sử Do đó, Đảng và Nhà nước ta cầnphải chú trọng xây dựng đạo đức con người sao cho phù hợp với thực tế xây dựng đất nướctrong thời đại mới
Xuất phát từ thực tế đòi hỏi sự phát triển của kinh tế phải đi đôi với sự phát triển văn hóa,khoa học nghệ thuật và đạo đức con người Điều đó lại một lần nữa đòi hỏi Đảng và Nhànước ta cần phải chú ý đến đạo đức và vấn đề xây dựng nâng cao chất lượng đạo đức đểđáp ứng được nhu cấu phát triển thực tế của đất nước Biến Việt Nam trong tương lai trởthành một đất nước phát triển bền vững và toàn diện theo kịp bước phát triển của văn minhnhân loại
Xuất phát từ những lý do trên, tựu chung lại đó là lý do tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “ Sự vận dụng quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin vào việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đạo đức và xây dựng đạo đức cho con người trong giai đoạn hiện nay đã và đangthu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý luận thể hiện ở nhiều đề tài khác nhau ở cả trong vàngoài nước, đề cập được đến những vấn đề cấp thiết nhất của xã hội về vấn đề đạo đức vàxây dựng đạo đức con người
Cuốn sách “ Những vấn đề đạo đức trong điều kiện nền kinh tế thị trường – Từ góc nhìncủa các nhà khoa học Trung Quốc” do Viện thông tin khoa học xã hội thuộc Trung tâmkhoa học xã hội và nhân văn quốc gia dịch thuật ( Thông tin khoa học xã hội – chuyên đề,1996) Có nhiều ý kiến khác nhau về quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường nói chung
và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc nói riêng Nhìn chung,các quan điểm trình bày, phân tích sâu sắc và tranh luận, phản biện trên tinh thần khoa học
đã làm rõ những khía cạnh khác nhau của đạo đức trong nền kinh tế thị trường và nêunhững phương hướng cho việc xây dựng đạo đức trong điều kiện mới
Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ( từ năm 1986 đến nay) sự biến đổi của điêu kiệnkinh tế xã hội đã dẫn tới sự biến đổi các giá trị, sự suy thoái các giá trị đạo đức trong gia
Trang 3đình, cán bộ đảng viên, nhất là đạo đức của thanh niên ngày càng nhiêm trọng Nhiều côngtrình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu giải quyết vấn đề này.
Trong đó, quyển sách “ Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ đảng viên hiện nay:thực trạng và giải pháp” do Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2004 đã đề cậpđến một cách chân thực thực trạng đạo đức mà chủ yếu là đạo đức cách mạng cả về mặttích cực và mặt tiêu cực trong giới cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đồng thời từ đó đưa ra nhữngbiện pháp phù hợp cho việc xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, xây dựngĐảng Cộng Sản lành mạnh và vững mạnh
Quyển sách “ Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay – Vấn đề và giải pháp” do Nguyễn DuyQúy chủ biên ( Nxb Chính trị Quốc gia, 2006) tìm hiểu về vấn đề đề đạo đức xã hội dưới
sự tác động, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị của nước ta hiện nay và phân tích đạo đức củatừng nhóm đối tượng, hoàn cảnh cụ thể đạo đức của cán bộ, đảng viên và công chức, đạođức của thanh niên, đạo đức trong lao động, giao tiếp, đạo đức trong gia đình
Quyển sách “ Định hướng giá trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay” do tập thể thườngtrực Trung ương Hội sinh viên Việt Nam biên soạn ( Nxb, Thanh niên, 2007) Quyển sáchbàn về cơ sở lý luận về giá trị và định hướng giá trị, phân tích thực trạng tình hình thanhniên và giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên của Đoàn thanh niên, Hội sinhviên trong việc giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên
Đề tài “ Xây dựng đạo đức của thanh niên Việt Nam trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa” của Diệp Minh Giang ( Luận án tiến sĩ triết học, Nxb Đại họcQuốc gia thành phố Hồ Chí Minh trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn).Đã đề cậpsâu đến sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường tới đạo đức thanh niên hiện nay bao gồm
cả việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho việc xây dựng đạo đức cho thanh niên trongnền kinh tế thị trường một cách hệ thống
Tuy nhiên, nội dung của các đề tài, các cuốn sách đã nêu trên chỉ mới nghiên cứu một khíacạnh hay một mặt vấn đề đạo đức tồn tại trong một bộ con người mà chưa đi tìm hiểuchung và toàn diện vấn đề đạo đức con người Chính vì vậy, đề tài: “Sự vận dụng quanđiểm toàn diện vào việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
là một đề tài hoàn toàn mới Nội dung đề tài là cái nhìn tổng quan và toàn diện về vấn đềđạo đức của con người Việt Nam từ 1986 đến nay bao gồm cả thực trạng và giải pháp choviệc xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trang 43.1.Mục đích nghiên cứu
Vận dụng quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc xây dựng đạo đứccon người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống những vấn đề lý luận về quan điểm toàn diện theo chủ nghĩa Mác – Lênin, conngười và đạo đức con người
- Phân tích thực trạng đạo đức của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trên cáclĩnh vực
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để xây dựng đạo đức cho con người Việt nam đápứng nhu cấu phát triển của nền kinh tế hội nhập hiên nay của Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu vấn đề đạo đức và xây dựng đạo đức ở
Việt Nam theo quan điểm toàn diện của triết học Mác – Lênin
4.2 Phạm vi nghiên cứu : con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghía Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đạo đức, về con người, về quan điểmtoàn diện, về Việt Nam sau thời ký đổi mới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử củachủ nghĩa Mác – Lênin là chủ yếu
- Ngoài ra, luận văn kết hợp và vận dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phươngpháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lôgic và lịch sử; phương pháp thống kê, so sánh đểthực hiện đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về những biểu hiện đặc thù của con người Việt
Nam, thực trạng đạo đức của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và nhữngphương hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức mới cho con người Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiến
Trang 5Nội dung luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ, các tổ chức làmcông tác Đoàn, công tác xã hội giáo dục ý thức đạo đức cho con người và cho những aiquan tâm tới vấn đề đạo đức con người trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3chương và 7 tiết
Trang 6NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1.Lý luận của triết học Mác – Lênin về quan điểm toàn diện
1.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ _ cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện
“ Liên hệ” là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sựchuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của sự vật, của một hiệntượng trong thế giới”
Đồng thời, triết học Mác – Lênin cũng khẳng định ba tính chất cơ bản của mối liên
hệ, bao gồm:
+ Tính khách quan của mối liên hệ
+ Tính phổ biến của mối liên hệ
+ Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Nội dung khái lược trên về mối liên hệ phổ biến chính là cơ sở lý luận để chúng ta tìmhiểu về quan điểm toàn diện _ một quan điểm biện chứng theo chủ nghĩa Mác – Lênin vànhững người mácxit cộng sản
1.1.2.Nội dung quan điểm toàn diện
Vì các mối liên hệ sự tác động qua lại, chuyển hóa quy định lẫn nhau giữa các sự vật,hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phảitránh cách xem xét phiếm diện
1.2.Quan điểm về con người
1.2.1.Quan điểm của triết học trước Mác về con người
* Quan điểm của triết học phương Đông về con người
- Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm Cổ - Trungđại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu
+ Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác
độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính con người
là “ Thiện” ( Nho gia) và bản tính người là “ Bất thiện” ( Pháp gia)
Trang 7+ Các nhà tư tưởng Đạo gia, ngay từ Lão tử tời Xuân thu lại tiếp cận giải quyếtvấn đề bản tính con người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính người từ giác độ khác
và đi tới kết luận bản tính Tự Nhiên của con người
- Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tưởng của các trường phái triết học Ấn
Độ mà tiêu biểu là Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy tư về con người vàđời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết luận
về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm
sự giác ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật
* Quan điểm của triêt học phương Tây về con người
- Thời kỳ Cổ đại
Talet ( 629 – 547 TCN): cho rằng khởi nguyên của mọi sự vật đều phát sinh từ nước
và chết đi cũng trở về với nước vì thế con người cũng được cấu tạo nên từ nước
-Thời kỳ triết học Phục Hưng và Cận đại:
Phân tâm học: do Sigmund Frend ( 1856 – 1939) khởi xướng Từ quan sát, phân
tích tâm lý người bệnh, Frend đã phát hiện những hiện tượng, tâm lý quan trọng sau đây:
vô thức xuất hiện ở tầng sâu của ý thức
Chủ nghĩa hiện sinh đầu thế kỷ 20: Các nhà hiện sinh phân biệt hai khái niệm: Hữu
thể và hiện hữu ( hữu sinh) Hữu thể là khái niệm chỉ một cái gì đó ( một vật, một người)đang tồn tại, đang có mặt, nhưng chưa là một cái gì đó cụ thể cả, chưa có diện mạo, chưa
có cá tính.Do đó, hiện sinh không phải là giới tự nhiên hoặc sự vật mà là con người
1.2.2.Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người
* Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học đồng thờikhẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xãhội
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của conngười luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất vớinhau:
+ Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môitrường Quy luật về sự trao đổi chất, về duy truyền, biến dị, tiến hóa, … quy định phươngtiện sinh học của con người
Trang 8+ Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thánh và vận động trên nền tảng sinhhọc của cọn người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí
+ Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người
* Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
Từ những quan điểm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thếgiới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội vàquan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính
xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cảcác mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổitiếng trong tác phẩm “ Luận cương về Phoiơbắc” : “ Bản chất con người không phải là mộtcái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất conngười là tổng hòa những quan hệ xã hội”[3,11]
* Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Trong tác phẩm “ Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen cũng cho rằng: “ Thú vậtcũng có một lịch sử chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần củachúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra
và trong chừng mực nhất định mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đódiễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con ngườicàng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tựmình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [ 3, 20]
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào
tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xãhội
1.3 Quan điểm về đạo đức
1.3.1.Một số quan điểm về đạo đức
* Quan điểm của các nhà triết học phương Đông về đạo đức
- Tư tưởng của Nho gia
Nho học về thực chất là một học thuyết chính trị đạo đức mà biểu hiện tập trung ở
đường lối "Đức Trị" Đối với các xã hội phong kiến Châu Á, đường lối "Đức Trị" luôn luôn
là đường lối trị nước duy nhất trong hơn hai nghìn năm lịch sử
+ Quan điểm về “ Đức trị” của Khổng Tử
Trang 9"Đức" với Khổng Tử là lời nói đi đôi với việc làm trên cơ sở cái thiện: "Người xưa thận
trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được"
+ Quan điểm của Mạnh Tử
Mạnh Tử cũng đã kế thừa và phát triển tư tưởng của Khổng Tử về " Tính tương cận, tập tương viễn" và đi đến luận điểm nổi tiếng: "Nhân tính chi thiện giã" (cái bản tính
của người ta khi sinh ra vốn lương thiện)
* Quan điểm của Đạo Phật
Đạo đức Phật giáo ủng hộ ý tưởng cho nền đạo đức hoàn thiện như mục đích tốihậu của chính nó Nền đạo đức hoàn thiện đạt được khi gốc rễ tâm bất thiện như Tham,Sân, Si bị trừ diệt, chúng được gọi là bất thiện bởi vì xuyên qua sự ảnh hưởng của nó conngười bị thúc giục để tạo nên những điều trái luân thường đạo lý như sát sanh, tạo ranguyên nhân đoạn mạng sống hoặc làm tổn thương mạng sống người khác, tham ô trộmcắp, tà dâm và tham đắm những dục lạc, những lời nói xấu, nói lời thô ác, nói phù phiếm,nói lời thêu dệt phỉ báng người khác, v.v…
1.3.2.Quan điểm của các nhà triết học phương Tây về đạo đức
* Triết học thời Hy Lạp Cổ đại
- Đêmôcrit ( 460 – 370 TCN): cho rằng đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là
cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi con người riêng biệt, nó phải giải quyết vấn đề hành
vi của con người và thái độ của con người đối với bản thân Hạt nhân trung tâm trong đạođức của ông là lương tâm
- Platôn ( 427 – 347 TCN): Trên cơ sở thuyết linh hồn, Platôn xem xét và lí giải
những vấn đề đạo đức trong xã hội Theo ông, linh hồn gồm ba bộ phận: trí tuệ hay lý tính,xúc cảm và cảm tính; tương ứng với ba bộ phận của linh hồn con người, xã hội có ba hạngngười tùy thuộc vào bộ phận linh hồn nào giữ vai trò chủ đạo trong họ
- Aritxtốt ( 384 – 322 TCN) : cho rằng ý nghĩa cuộc sống của con người, hạnh
phúc của con người là ở trần gian, ở cuộc sống hiện thực, ở năng lực lý tính và hoạt độngcủa nó và nhấn mạnh rằng đạo đức không tách rời chính trị
* Triết học Tây Âu hiện đại
-Đại diện tiêu biểu là:Đavit Hium ( 1711 – 1776) : Gía trị đạo đức cần xuất phát
từ sự khoái cảm, nhưng những khoái cảm đó là những nhu câu cầu đời sống, những khoáicảm xã hội để tránh chủ nghĩa cá nhân
* Triết học Cổ điển Đức
Trang 10- I Cantơ ( 1724 – 1804) :
Trong đạo đức học, I.Canto đúng trên lập trường duy lí Ông cho rằng, các
nguyên lý đạo đức độc lập với mọi lĩnh vực hoạt động khác của con người Ở đây lí tính lànguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lí và chuẩn mực đạo đức Mọi người bình đẳngtrước quy luật và chuẩn mực đạo đức Phạm trù trung tâm của đạo đức học I.Cantơ là “tựdo”
1.3.3.Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về đạo đức
Đạo đức chính là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh và bị quy định bởi tồntại xã hội Điều đó có nghĩa là, các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực,các lý tưởng, niềm tin và tình cảm đạo đức,… tức toàn bộ ý thức đạo đức, xét đến cùng,đều là biểu hiện của một trạng thái, một trình độ phát triển nhất định những điều kiện sinhhoạt vật chất của xã hội Như vậy, đạo đức có bản chất xã hội
1.3.4.Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân
tộc Việt Nam, đã được hình thành trong trường kỳ lịch sử, đồng thời kế thừa tư tưởng đạođức phương Đông, những tinh hoa đạo đức của nhân loại; đặc biệt hơn cả là những tưtưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như tấm gương đạo đức trong sang mà cácông để lại
Hồ Chí Minh đã sử dụng những khái niệm, những phạm trù đạo đức đã từng quenthuộc với dân tộc Việt Nam từ lâu đời, đưa vào đó những nội dung mới, đồng thời bổ sungnhững khái niệm, những phạm trù đạo đức của thời đại mới Chính vì vậy, những giá trịđạo đức mới đã hòa nhập với những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho mỗingười Việt Nam đều cảm thấy gần gũi
Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc củacây, ngọn nguồn của song, của suối
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “ là đạo đức, là văn mính”, thì mớihoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của
Những vấn đề đạo đức đã được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện:
- Đối với mọi đối tượng – từ công nhân, nông dân đến trí thức, văn nghệ sĩ; từ các cụphụ lão đến phụ nữ, thanh thiếu niên nhi đồng; từ đồng bào dân tộc đến đồng bào các tôngiáo, các nhà tu hành,…
- Trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người – từ đời tư đến đời công
Trang 11- Trên mọi phạm vi từ hẹp đến rộng – từ gia đình đến xã hội , từ giai cáp đến dân tộc,
từ các vùng – miền, địa phương đến cả nước, từ quốc gia đến quốc tế
- Trong cả ba mối quan hệ chủ yếu của mỗi người – đối với mình, đối với người và đốivới việc
1.3.5.Nguyên tắc xây dựng đạo đức của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thấm nhuần tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Tại hội nghị TW 6(lần 2) khoá VIII(tháng 2/1999) của Đảng cộng sản Việt nam đã đề ra cuộc vận động và xây dựng chỉnh đốnĐảng Trong đó Đảng đặc biệt chú trọng các nguyên tắc về xây dựng đạo đức mới mà HồChí Minh đã đưa ra
Hội nghị TW6 khoá IX chỉ rõ: Cần phải tiếp tục thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ
II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII về giáo dục - đào tạo và nhấn mạnh phải nâng caochất lượng giảng dạy các môn khoa học xã hội nhân văn, nhất là các môn Mác - Lênin, Tưtưởng Hồ Chí Minh Và đặc biệt là chỉ thị số 06/CT-TW ngày 7 tháng 11 năm 2006 của BộChính trị về cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Chương 2
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam từ năm 1986 đến nay
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Việc chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tácđộng mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó vừa có tính tích cực, vừa có tínhtiêu cực đối với đạo đức
* Về mặt tiêu cực