LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI -Về lí luận : Theo quan niệm lí luận dạy học hiện đại, dạy học là một quátrình định hướng cho người học cách tiếp cận những thông tin về các lĩnh vựckhoa học tự nhiên,
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ
BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ DẠNG ĐỀ CƠ BẢN
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 10
Môn/ nhóm môn : Ngữ văn
Tổ bộ môn : Văn – Giáo dục công dân
Mã : 54 Người thực hiện: Trần Thị Minh Yến Điện thoại: 01686186232
Email: minhyen.tranphu@gmail.com.vn
Vĩnh Phúc, năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG………Trang
I.Lí do chọn đề tài……… 3
II.Mục đích nghiên cứu……… 4
III.Đối tượng nghiên cứu……… 4
IV.Phương pháp nghiên cứu……… 4
1 Phương pháp thống kê phân loại ………4
2 Phương pháp hệ thống ……… 4
3 Phương pháp phân tích ……… 4
Trang 3PHẦN MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
-Về lí luận : Theo quan niệm lí luận dạy học hiện đại, dạy học là một quátrình định hướng cho người học cách tiếp cận những thông tin về các lĩnh vựckhoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học đời sống, nhằm rèn luyện kĩnăng tự học, kĩ năng sáng tạo và ứng dụng kiến thức, kinh nghiệm vào đời sống,phát huy được khả năng cống hiến, sáng tạo của mình, đạt được những thànhcông trong cuộc sống Bên cạnh việc trang bị những kiến thức, kĩ năng toàn diệncho học sinh, việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi, có năng lực đặc biệt trongmột hoặc một số môn học là nhiệm vụ quan trọng ở các nhà trường phổ thôngnhằm giúp học sinh phát triển một cách tốt nhất khả năng của mình trong quátrình học và khả năng nghiên cứu, sáng tạo khoa học trong tương lai, góp phầndựng xây, phát triển đất nước Hơn nữa, “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưõng nhân tài” cũng là một mục tiêu quan trọng của nền giáo dục Việt Nam
- Về thực tiễn : Bên cạnh việc giảng dạy đại trà, phát hiện, bồi dưỡng họcsinh giỏi vừa là một trách nhiệm vừa là một vinh dự, một niềm tự hào của ngườigiáo viên Bởi công việc đó không chỉ thể hiện trình độ, năng lực, tầm vóc màcòn thể hiện cả lương tâm, trách nhiệm và nhất là ngọn lửa tâm huyết, yêu nghề,say mê bền bỉ nghiên cứu sáng tạo của người thầy trong giảng dạy Trong đó,việc xác định nội dung chương trình ôn luyện và những kĩ năng cần rèn luyệncho học sinh là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công Tuy nhiên,trong thực tế, không phải giáo viên nào cũng định hình một cách đầy đủ, chắcchắn hệ thống kiến thức, kĩ năng cần chú trọng; hoặc quá ham dạy kiến thức mà
ít chú trọng kĩ năng, hoặc quá chú trọng kĩ năng mà chưa dành thời gian thoảđáng để bổ sung kiến thức và bổ lấp những hạn chế của học trò Nói một cáchhình ảnh, cách giảng dạy ấy không khác gì vị tướng cầm quân ra trận mà chưahiểu tường tận về đối thủ và chiến trường, may thì lập được chiến công màkhông may thì phần nhiều chuốc lấy thất bại Đặc biệt với các giáo viên có tuổinghề chưa nhiều, khi được giao trọng trách bồi dưỡng đội tuyển đã gặp không ítkhó khăn trong công tác bồi dưỡng Dạy cái gì (?) và dạy như thế nào (?) lànhững câu hỏi được đặt ra
-Về tính cấp thiết : Quan sát và theo dõi kết quả công tác bồi dưỡng họcsinh giỏi của nhiều trường THPT trong tỉnh trong nhiều năm, bản thân tôi vàkhông ít giáo viên đã rất băn khoăn, thậm chí, không ít người chán nản và tuyệtvọng khi ở một số trường THPT, không có một học sinh nào đạt giải thi học sinhgiỏi vòng Tỉnh hoặc số lượng học sinh đạt giải quá ít và không có giải cao Đànhrằng, chất lượng đầu vào là một điều kiện đặc biệt quan trọng trong lựa chọnnhân tố bồi dưỡng, bởi “không có bột sao gột nên hồ”, nhưng chẳng lẽ, nếu cứduy trì mãi tình thế thầy gắng sức, trò gắng công mà thất bại vẫn hoàn thất bạithì ngọn lửa tâm huyết của người thầy liệu có còn cháy mãi? Liệu có học sinh
Trang 4nào còn muốn vào học đội tuyển khi biết chắc sự thất bại của chính mình.Nghiên cứu “Những dạng đề cơ bản bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp10” nói riêng và các môn học khác nói chung là một việc hữu ích.
- Về năng lực nghiên cứu của bản thân : Bản thân tôi là một giáo viên đãgiảng dạy được 14 năm và suốt 14 năm qua tôi đã thực hiện công tác bồi dưõngđội tuyển các lớp theo sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường Thực tế quátrình công tác đã giúp tôi đúc rút được những kinh nghiệm cho bản thân và chia
sẻ với đồng nghiệp những kinh nghiệm ấy trong quá trình giảng dạy Nghiêncứu đề tài “Một số dạng đề cơ bản trong bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 10”hoàn toàn phù hợp với năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của tôi
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Với giáo viên : giúp giáo viên hệ thống hoá các đơn vị kiến thức, cácdạng đề cơ bản trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao chấtlượng giảng dạy
- Với học sinh : giúp các em có thể hình dung về nội dung chương trình,các kiến thức và kĩ năng cơ bản cần nắm vững trong viết văn nghị luận
- Với các nhà quản lí giáo dục : chủ động nắm vững hệ thống chươngtrình ôn tập của giáo viên và học sinh, có thể tổ chức các buổi hội thảo khoa họctrong đơn vị tổ chuyên môn hoặc nhà trường nhằm cải thiện, nâng cao chấtlượng giáo dục, giảng dạy
III.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các dạng đề cơ bản môn Ngữ văn 10 THPT
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sáng kiến kinh nghiệm phối hợp sử dụng các phương pháp sau đây:
1 Phương pháp thống kê phân loại
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài “Những dạng đề cơ bản bồi dưỡng họcsinh giỏi môn Ngữ văn lớp 10” cần thực hiện phương pháp thống kê các đơn vịkiến thức, phân loại những dạng đề đặc trưng cơ bản trong trong từng bài học vàtoàn bộ chương trình
2 Phương pháp hệ thống
Sau khi đã thống kê, phân loại các dạng đề, cần hệ thống hoá các dạng đềtheo những đặc điểm chung về nội dung và phương pháp giải, giúp giáo viên vàhọc sinh có thể áp dụng những kĩ năng cần thiết để giải quyết được những dạng
đề có đặc điểm tương tự
3 Phương pháp phân tích
Sau khi hệ thống các dạng đề cần giải quyết cần sử dụng phương phápphân tích đặc điểm, mục đích cơ bản và đơn vị kiến thức cần sử dụng với mỗidạng đề
4 Phương pháp so sánh
Trang 5Cần có quá trình so sánh các dạng đề cơ bản để tìm ra điểm tương đồng
và khác biệt nhằm xác định chính xác mục tiêu, yêu cầu đề
V GIỚI HẠN VỀ KHÔNG GIAN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi của một bản sáng kiến kinh nghiệm nhằm mục đích ônluyện học sinh đội tuyển, người viết không có điều kiện áp dụng kinh nghiệmcủa mình trong phạm vi rộng mà chỉ có thể khảo sát, đánh giá kết quả quá trìnhnghiên cứu trong phạm vi 20 học sinh đội tuyển môn Ngữ văn lớp 10 năm học
2012 – 2013, thuộc các lớp 10M, 10N, 10I, 10D Trường THPT Trần Phú –Thành phố Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc Trong đó, lớp 10M, 10N là lớp họcmôn Ngữ văn theo chương trình Nâng cao ban KHXH, lớp 10I, 10D học theochương trình Cơ bản, học sinh chưa có nhiều điều kiện để học tập, nghiên cứuchuyên sâu về nội dung môn học này
VI PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Người viết sáng kiến kinh nghiệm bắt đầu tiến hành nghiên cứu, vậndụng sáng kiến từ tháng 9 năm 2012 và kết thúc vào tháng 4 năm 2013 khi hoànthành chương trình ôn luyện thi học sinh giỏi và có kết quả của kì thi do Sở GD– ĐT Vĩnh Phúc tổ chức, làm cơ sở viết sáng kiến này một cách chân thực vàkhoa học
Trang 6PHẦN HAI NỘI DUNG
I NHỮNG DẠNG ĐỀ CƠ BẢN TRONG THI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN
Cách đây hơn 500 năm, trong Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhân Tuất niêNhiệu Đại Bảo thứ 3, Tiến sĩ Thân Nhân Trung (1418-1499) đã khẳng định vai tròcủa người hiền tài : “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thìthế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Vìthế các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài,kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên” Phát hiện, bồi dưỡng
và trân trọng, đề cao tài năng, danh tiết của người hiền tài là truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc, là nguồn nguyên khí vững mạnh cho sự phát triển của quốc gia
Tiếp nối truyền thống quý báu đó của dân tộc, từ ngàn xưa cho đến nay,những người hiền tài luôn được coi trọng, dù ở chế độ khoa bảng nào Trongthời phong kiến, người học rộng, tài cao, đỗ đạt được vinh qui bái tổ về làng.Những người đỗ tiến sĩ được ghi tên trên bảng vàng, bia đá Trong những nămkháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vô cùng gian khổ, ác liệt, Đảng và Nhànước Việt Nam vẫn chú trọng phát triển giáo dục, bồi dưỡng nhân tài Các kì thihọc sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi khu vực, học sinh giỏi quốc gia được tổ chứcnhằm khơi dậy lòng ham học ở trò, tâm huyết ở thầy và phát triển đến mức caonhất tài năng thực học
Hoà nhập với sự thay đổi, phát triển nhanh chóng của thời đại, giáo dụcViệt Nam đang có sự thay đổi chuyển mình, mục tiêu của giáo dục được điềuchỉnh phù hợp với yêu cầu thời đại, trong các kì thi học sinh giỏi, yêu cầu đề thicũng có sự biến chuyển nhiều
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, cách ra đề văn trong các kì thi họcsinh giỏi thường chỉ có một câu (10 điểm) và đề thi thuộc kiểu bài nghị luậnvăn học
Ví dụ :
Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 10 năm học 2000 - 2001
Nhận xét về nội dung văn học Việt Nam giai đoạn từ nửa cuối thế kỉXVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, có ý kiến cho rằng :
“Trong giai đoạn văn học này đã hình thành một trào lưu nhân đạo chủnghĩa trong đó có các nhà thơ, nhà văn đặt ra những vấn đề về quyền sống củangười phụ nữ, vấn đề tình yêu tự do và hạnh phúc lứa đôi và đấu tranh chống lạinhững thế lực xã hội vùi dập con người Tác giả của văn học giai đoạn nàythường đứng trên lập trường nhân sinh để nhìn nhận những vấn đề đặt ra trong
xã hội”
Em hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ ý kiến đó bằng việcphân tích một số tác phẩm văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầuthế kỉ XIX
Trang 7Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 11 năm học 2002 – 2003
Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo :
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”
Trong truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu viết :
“Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,
Làm người thế ấy mới phi anh hùng”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào ? Hãy chứng minh rằng đó chính là tưtưởng nhân nghĩa truyền thống, là triết lí cốt lõi cho thế giới quan và nhân sinhquan của Nguyễn Đình Chiểu, quán triệt toàn bộ thơ văn ông
Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 12 năm học 2000 – 2001
Bàn về thơ, nữ sĩ Xuân Quỳnh viết :
“Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình, cái đểngười ta làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đứchạnh” (Theo Các nhà văn nói về về văn, tập 2, trang 52, NXB Tác phẩm mới,1986)
Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến nêu trên ? Hãy làm sáng tỏ điều đóbằng việc phân tích một số bài thơ mà mình yêu thích nhất
Việc ra đề thi có ảnh hưởng, chi phối thậm chí mang ý nghĩa quyết địnhđối với quá trình dạy và học Do đề thi trong những năm trước đây chỉ chú trọngđến kiểu bài nghị luận văn học, cho nên, học sinh không quan tâm nhiều đếnnhững vấn đề của đời sống xung quanh mình, không biết bày tỏ quan niệm, thái
độ của bản thân trước những vấn đề tốt, xấu, những kiến thức văn học trong nhàtrường mang tính sách vở, hàn lâm và phần nào thoát li cuộc sống phong phú vàsôi động
Sự đổi mới về quan điểm, phương pháp dạy học, sách giáo khoa và mụctiêu giáo dục trong thời kì đổi mới khiến cách dạy văn, học văn và ra đề thi mônNgữ văn trong các kì thi có sự thay đổi lớn
Trong những năm gần đây, một đề thi chọn học sinh giỏi từ vòng Tỉnhđến Quốc gia được cấu trúc với 2 câu hỏi Câu 1 (3,0 điểm) kiếm tra những kiếnthức, kĩ năng viết nghị luận xã hội Câu 2 (7,0 điểm) kiếm tra những kiến thức,
kĩ năng viết nghị luận văn học
Trang 8Tấm lòng yêu nước của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo.
Bám sát vào định hướng ra đề và mục tiêu giáo dục, đào tạo con ngườitoàn diện mọi kiến thức, kĩ năng, trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi đã
hệ thống, phân loại các dạng đề nghị luận văn học và nghị luận xã hội để giảngdạy, rèn luyện kiến thức, kĩ năng cho học sinh một cách đầy đủ và toàn diệnnhất, giúp quá trình ôn luyện đạt được hiệu quả tốt cao
II CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI
Kiểu bài nghị luận xã hội có ba dạng đề cơ bản : Nghị luận về một hiệntượng đời sống, nghị luận về một tư tưởng đạo lí, nghị luận về một vấn đề xã hộiđặt ra trong một tác phẩm văn học Ở mỗi dạng đề có những yêu cầu làm bàikhác biệt bản thân giáo viên ôn đội tuyển phải nắm chắc sự tương đồng và khácbiệt trong mỗi kiểu đề để đúc kết trên phương diện lí thuyết cho từng dạng đềmột
1 Nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.1 Cách nhận diện đề
Dạng đề này thường nêu lên một vấn đề xã hội mang tính thời sự đangđược dư luận trong nước và quốc tế quan tâm và yêu cầu người viết trình bàyquan điểm, suy nghĩ của mình trước những hiện tượng đó
tiêu cực trong xã hội ( vô cảm, bạo lực, nghiện Internet, lối sống buông thả, ô
nhiễm môi trường,…); có dạng đề yêu cầu bàn luận về hiện tượng mang tính
chất tích cực trong xã hội (hiến máu nhân đạo, tình yêu thương con người, tình
bạn chân chính,…) có dạng đề yêu cầu bàn luận về hiện tượng vừa mang tính
chất tích cực vừa mang tính chất tiêu cực trong xã hội ( ngưỡng mộ thần tượng,
du học, quan niệm về đồng tiền, ý thức cái tôi của thế hệ trẻ, hiện tượng học thêm,…) Giáo viên giảng dạy đội tuyển phải giúp học sinh nhận diện đúng tính
chất của từng dạng đề và hướng dẫn phương pháp giải một cách tỉ mỉ, định hình
và khắc sâu những kĩ năng quan trọng giúp học sinh chủ động, tự tin triển khaibài viết với bất cứ một dạng đề nào
1.2 Phương pháp giải
Trang 91.2.1 Phương pháp giải kiểu bài nghị luận về một hiện tượng tiêu cựctrong xã hội
Kiểu bài này nêu lên một hiện tượng mang tính chất tiêu cực trong xã hội
và gây bức xúc trong dư luận bởi những ảnh hưởng xấu mà hiện tượng gây ra
Ví dụ :
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng tiêu cực trongthi cử
Nghiện Internet, một hiện tượng đáng báo động
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng trên
Để làm tốt kiểu bài này, cần triển khai bài viết qua các bước như sau :
Bước 1 Giới thiệu vấn đúng vấn đề cần nghị luận
Bước 2 Cần giải thích một số hiện tượng làm cơ sở bàn luận (có một sốhiện tượng không cần giải thích Ví dụ : tình trạng tai nạn giao thông, hiện tượngđua xe, nghiện Internet…)
Bước 3 Trình bày rõ hiện tượng đời sống đang được bàn luận Phần nàythể hiện rõ nhất kiến thức xã hội của học sinh Học sinh có thể trình bày hiệntượng mà mình nhận thấy trong gia đình, nhà trường, xã hội, trong nước và trênthế giới Học sinh trình bày càng cụ thể, chính xác bài văn càng có tính thuyếtphục Vì thế giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu, khai thác và tíchluỹ thông tin, nhất là những thông tin mang tính thời sự và có giá trị điển hình
Bước 4 Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng Giáo viên cần hướngdẫn học sinh tìm hiểu nguyên nhân chủ quan (bản thân mỗi người), nguyên nhânkhách quan (gia đình, xã hội)
Bước 5 Phân tích hậu quả của hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến đờisống cá nhân và xã hội
Bước 6 Đề ra giải pháp khắc phục hậu quả mang tính khả thi và có ýnghĩa đối với xã hội
Bước 7 Bày tỏ thái độ phê phán trước những hiện tượng tiêu cực
Buớc 8 Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiếtthực, có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đối với người viết
1.2.2 Phương pháp giải kiểu bài nghị luận về một hiện tượng tích cựctrong xã hội
Ví dụ :
Viết bài văn trình bày suy nghĩ về tình yêu thương con nguời của tuổi trẻtrong xã hội hiện nay
Trang 10Viết bài văn trình bày suy nghĩ về tinh thần dũng cảm.
Kiểu đề này có tính chất đối lập với kiểu đề trình bày suy nghĩa về cáchiện tượng tiêu cực Vì thế, bên cạnh những bước cơ bản cần thực hiện như vớikiểu đề trên, trong phương pháp giải, giáo viên cần nhấn mạnh rõ những điểmkhác biệt Cụ thể :
Bước 1 Giới thiệu đúng vấn đề cần nghị luận
Bước 2 Cần giải thích một số hiện tượng làm cơ sở bàn luận ( tình yêuthương con người, phong trào tiếp sức mùa thi, phong trào sinh siên tìnhnguyện, phong trào mùa hè xanh, tinh thần dũng cảm của một số cá nhân, tậpthể điển hình,…)
Bước 3 Trình bày rõ hiện tượng đời sống được bàn luận đang diễn ratrong đời sống như thế nào, sức ảnh hưởng và lan toả ra sao
Bước 4 Phân tích ý nghĩa của hiện tượng đời sống đối với xã hội và cộngđồng
Bước 5 Bày tỏ thái độ ngợi ca với những hiện tượng tiêu biểu trong xãhội
Buớc 6 Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiết thực, có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đối với người viết
Trong kiểu đề nghị luận về một hiện tượng đời sống mang tính tích cực, không có bước phân tích nguyên nhân, hậu quả và đề giải pháp khắc phục mà thay vào đó là phân tích ý nghĩa của hiện tượng và bày tỏ thái độ ngợi ca của
người viết GV cần khắc sâu phương pháp và kĩ năng làm bài (người viết đã in
nghiêng trong phần phương pháp giải).
1.2.3 Phương pháp giải kiểu bài nghị luận về một hiện tượng vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực trong xã hội
Kiểu bài này giúp học sinh nhìn nhận vấn đề một cách khái quát, tổng hợp
và đa chiều Cuộc sống luôn ẩn chứa nhiều nghịch lí, sự phân biệt rạch ròi đúng sai trong nhiều hiện tượng nhiều khi rất mong manh Xét trong hoàn cảnh này, hiện tượng đó mang ý nghĩa tích cực, nhưng nhìn nhận ở một phương diện khác,hiện tượng đó lại mang ý nghĩa tiêu cực Học sinh cần phân tích vấn đề một cáchthấu đáo Kiểu đề này đòi hỏi học sinh phải có những lập luận chặt chẽ, phân tích sâu sắc và biết bày tỏ quan điểm thái độ của mình một cách rõ ràng, hợp tình, hợp lí
Ví dụ:
Đề bài 1
Có người cho ra rằng, chỉ đi du học mới có tương lai
Anh/chị hãy viết bài văn bàn luận về quan niệm trên
Đề bài 2
Trang 11Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng học thêm của học sinh trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Với kiểu bài này, học sinh cần triển khai bài viết qua các bước như sau:Bước 1 Giới thiệu đúng vấn đề cần nghị luận
Bước 2 Cần giải thích một số hiện tượng làm cơ sở bàn luận (bước này cần áp dụng linh hoạt)
Bước 3 Trình bày rõ hiện tượng đời sống được bàn luận đang diễn ra trong đời sống
Bước 4 Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
Bước 5 Phân tích tính đúng đắn và hạn chế của hiện tượng
Bước 6 Đề xuất kiến giải để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực
Buớc 7 Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiết thực, có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đối với người viết
2 Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
2.1 Nhận diện đề
Dạng đề này thường đưa ra một câu danh ngôn, tục ngữ, ca dao, một lời nhận xét, đánh giá, một câu nói nổi tiếng của những cá nhân tiêu biểu,…và yêu cầu người viết bày tỏ quan niệm, suy nghĩa của mình
Tuân Tử, một nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc đã nói :
“Khoan dung đem lại cái lợi cho cả ta lẫn người”
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm trên
2.2 Phương pháp giải
Bước 1 Giới thiệu đúng vấn đề cần nghị luận
Bước 2 Giải thích tư tưởng đạo lí ( bước này mang tính chất bắt buộc vì mọi tư tưởng đạo lí đều thể hiện chiều sâu nhận thức, tư tưởng và nhiều khi được diễn đạt một cách hình ảnh, đa nghĩa)
Bước 3 Trình bày suy nghĩ của người viết ( khẳng định tính đúng đắn hayphủ nhận tư tưởng đạo lí, lí giải quan điểm của mình và đưa ra những dẫn chứngchọn lọc, tiêu biểu chứng minh được vấn đề một cách toàn diện và thuyết phục)
Trang 12Bước 4 Mở rộng vấn đề bàn luận bằng cách nhìn nhận tư tưởng đạo lí ở nhiều góc độ khác nhau Xét ở mặt này là đúng, nhưng ở phương diện khác chưachắc đã thuyết phục.
Bước 5 Phê phán những hiện tượng đi ngược lại với tư tưởng đạo lí đúng
Đề 1 Ca dao Việt Nam của có câu : “Đi một ngày đàng học một sàng
khôn” Đại văn hào người Nga, Mac - xim Gor-ki lại cho rằng : “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị.
Đề 2 Nhằm khẳng định vai trò của người thầy, tục ngữ Việt Nam có câu :
“Không thầy đó mày làm nên” Nhưng lại có câu tục ngữ khác cho rằng : “Học
thầy không tày học bạn” Quan niệm của anh/chị như thế nào?
Đề 3 Quan niệm về cách ứng xử trong đời sống, tục ngữ Việt Nam cho
rằng : “Lời nói chẳng mất tiền mua/Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” và
“Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” Anh/chị suy nhgĩ như thế nào về những
cách ứng xử nói trên?
Với kiểu đề này, GV cần hướng dẫn học sinh cách giải thích từng quan điểm Bình luận mặt đúng đắn và hạn chế của từng vấn đề và rút ra bài học nên
có sự kết hợp của hai quan điểm thì sẽ đạt hiệu quả tốt hơn
3.Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
3.1.Nhận diện đề
Văn học là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng cho nên bao giờ cũng bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng Vì thế, một trong những ý nghĩa thực sự của văn học là góp phần cải tạo cuộc sống theo chiều hướng tích cực hơn, nhữngvấn đề mang ý nghĩa xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học vì thế cũng trở nên sâu sắc hơn
Kiểu bài này thường nêu lên một hiện tượng có ý nghĩa xã hội rộng lớn, nhưng được thể hiện bằng hình tượng trong một tác phẩm văn học và yêu cầu người viết trình bày suy nghĩ của mình
Ví dụ:
Trong tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, nhà văn Nguyễn
Dữ viết : “Than ôi ! Người ta thường nói : “Cúng quá thì gãy” Anh/chị hãy viết
bài văn bày tỏ quan niệm của mình về câu nói trên
3.2.Phương pháp giải
Trang 13Do kiểu đề này yêu cầu người viết trình bày suy nghĩ về một hiện tượng đời sống đặt ra trong tác phẩm văn học, nên bên cạnh những phương phápgiải chung, bài viết có những yêu cầu riêng, cụ thể như sau:
Bước 1 Giới thiệu đúng vấn đề cần nghị luận
Bước 2 Tóm tắt tác phẩm văn học dẫn đến vấn đề cần nghị luận
Bước 3 Giải thích hiện tượng đời sống
Bước 4 Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
Buớc 5 Phân tích hậu quả (hiện tượng tiêu cực), ý nghĩa (hiện tượng tích cực)
Bước 6 Mở rộng vấn đề bàn luận bằng cách nhìn nhận hiện tượng đời sống ở nhiều góc độ khác nhau
Bước 7 Phê phán những hiện tượng đời sống mang ý nghĩa tiêu cực.
Buớc 8 Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiết thực, có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đối với người viết
Trên đây là một số tổng kết về kinh nghiệm viết bài nghị luận xã hội Do cùng thuộc đặc trưng của kiểu bài nghị luận xã hội nên trong phương pháp giải
có những bước tương đồng, giáo viên cần nhấn mạnh và khắc sâu những điểm khác biệt và lưu ý học sinh vận dụng sáng tạo trong một số trường hợp đặc thù khác, giúp học sinh được rèn luyện tốt về kĩ năng và tư duy xã hội
III.CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI
1.Tổng quan về chương trình văn học môn Ngữ văn lớp 10
Chương trình văn học môn Ngữ văn lớp 10 gồm hai bộ phận : văn học dân gian và văn học viết Trong bộ phận văn học dân gian, đặc điểm của các thể loại sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ca dao, truyện cười, tục ngữ được tìm hiểu qua
một số tác phẩm tiêu biểu : sử thi Đăm Săn, truyền thuyết An Dương Vương –
Mị Châu – Trọng Thuỷ, truyện cổ tích Tấm Cám, truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà và một số bài ca dao chủ đề yêu thương tình
nghĩa, than thân… Sau bộ phận văn học dân gian, học sinh học phần văn học trung đại với các thể loại thơ trữ tình, cáo, phú, khúc ngâm, truyện thơ và các truyện lịch sử, truyền kì, văn bia, tựa…Sự phong phú về đặc điểm thể loại giúp học sinh được trang bị những kiến thức đầy đủ và tương đối toàn diện về diện mạo văn học dân tộc Song, cũng phải thừa nhận rằng, với đối tượng học sinh giỏi có nhận thức và tư duy tốt, một số tác phẩm thuộc thể loại truyện lịch sử, truyền kì, văn bia, tựa, thư từ,… có nội dung khá đơn giản, các nhân vật được xây dựng nặng về tính giáo huấn mà nhẹ về ý nghĩa nghệ thuật và tính hình tượng Vì vậy, trong phạm vi bản báo cáo sáng kiến kinh nghiệm, bằng tư duy thực tiễn, người viết chỉ khảo sát các dạng đề nghị luận văn học ở cấp độ thi họcsinh giỏi qua một số tác phẩm có giá trị văn chương cao qua ba dạng đề cơ bản : dạng đề cảm thụ một tác phẩm văn học, so sánh văn học và dạng đề tổng hợp
Trang 142.Các dạng đề nghị luận văn học cơ bản
2.1 Dạng đề cảm thụ văn học
2.1.1 Vai trò của cảm thụ văn học trong các đề văn nghị luận
Cảm thụ văn học là vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất của một người học văn và cũng là vấn đề cốt lõi để giải các dạng đề khác Bởi sự cảm thụ văn học thể hiện năng lực phân tích, phát hiện những yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm văn
chương và cả khả năng rung cảm tâm hồn, sự trải nghiệm sâu sắc của người học,đồng thời, các dạng đề thi dù phong phú đến đâu, dù là dạng đề kết hợp giữa lí luận và cảm nhận hay đơn thuần là lí luận thì vẫn phải giải quyết tốt vấn đề lí luận sau đó cảm thụ, lập luận hướng vào vấn đề trọng tâm của đề bài Cho nên, cảm thụ là kĩ năng cơ bản, là vấn đề cốt lõi trong học văn và làm văn
2.1.2.Nhận diện đề văn cảm thụ
Trong một đề văn truyền thống thường có kết cấu ba phần : phần dẫn đề, yêu cầu đề và phạm vi dẫn chứng Những đề bài cảm thụ văn học trong
phần dẫn đề thường bắt đầu bằng cụm từ “Cảm nhận của anh/chị về …”, “Vẻ
đẹp của một bài thơ mà anh/chị yêu thích”, “Phân tích đoạn thơ (bài thơ, nhân
vật, tác phẩm)…”
2.1.3.Phương pháp giải
Để giải các dạng đề này, người viết cần có cái nhìn tổng quan về vấn đề cần cảm thụ Nếu là cảm thụ về một tác phẩm, cần có phần giới thuyết chung về xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật khái quát cơ bản của tác phẩm sau đó đi vào cảm thụ nội dung, nghệ thuật cụ thể trong tác phẩm ấy Nếu
là cảm thụ một đoạn trích, trong phần giới thuyết cần nêu rõ vị trí, nội dung của đoạn trích cần cảm thụ để người đọc có cái nhìn tổng quan về nội dung bài viết, vấn đề trọng tâm cần cảm thụ và khơi nguồn cảm xúc ban đầu cho người đọc văn được lôi cuốn, hoà nhập cùng cảm xúc của người viết Nếu là sự cảm thụ về
vẻ đẹp của một hình tượng, một nhân vật, cần giải quyết tốt khái niệm lí luận để làm rõ vấn đề cơ bản, sau đó cần vận dụng kiến thức về loại thể văn xuôi như tính huống truyện, kết cấu truyện, nghệ thuật trần thuật làm tiền đề khai mở sau
đó mới đi vào cảm thụ, phân tích Sau khi đã cảm nhận cụ thể, bài viết cần có sựđánh giá mang tính tổng quát về đặc sắc nội dung, nghệ thuật của vấn đề đã cảmthụ, nêu ý nghĩa của vấn đề đó với bản thân và những người tiếp nhận khác, đặc biệt là cần rút ra bài học mang tính lí luận đối với sáng tác và tiếp nhận văn chương
Ví dụ :
Cảm nhận của anh/chị về hình tượng Mị Châu trong Truyện An
Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ.
Phương pháp giải như sau :
1.Mở bài : Giới thiệu về Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ và nhân vật Mị Châu
Trang 15văn học Nga đã nhấn mạnh điều này : “Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn
luận còn nhà thơ nói bằng bức tranh”.
Trong cuốn “Nguyên lí lí luận văn học”, Ti-mô-phê-ép cho rằng : “Hình tượng nghệ thuật là một bức vẽ đầy cảm xúc của nhà văn về đời sống Bức vẽ ấyvừa cụ thể, vừa khái quát được xây dựng bằng hư cấu có giá trị thẩm mĩ rõ rệt” Nói khác đi, hình tượng nghệ thuật là tất cả những gì của đời sống được nhà vănphản ánh một cách sáng tạo vào tác phẩm văn chương nhằm thể hiện tư tưởng
và tình cảm, nhận thức của mình về con người và đời sống
Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ là truyền thuyết tiêu
biểu cho hệ thống truyền thuyết về nước Âu Lạc và An Dương Vương Mượn cốt lõi của lịch sử là An Dương Vương xây Cổ Loa thành, quân Triệu Đà sang xâm lược nước ta, đất nước ta bị đô hộ một nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân đã sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, có chiều sâu tư tưởng nhằm truyền lại cho các thế hệ những bài học lịch sử vô giá Bài học về tình yêu, về tinh thần cảnh giác chống giặc ngoại xâm, bài học về mối quan hệ giữa trách nhiệm công dân với đất nước, Tổ quốc An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thuỷ, thần Rùa Vàng,…là những hình tượng nhân vật như thế Đặc biệt là Mị Châu, một hình tượng nghệ thuật có sức gợi ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn người đọc, người nghe qua hàng ngàn thế hệ
b Phân tích nhân vật Mị Châu
- Mị Châu là nàng công chúa lá ngọc cành vàng, đẹp người đẹp nết, trong sáng và thơ ngây
+ Sau khi Triệu Đà đem quân sang xâm lược nước ta lần thứ nhất bị thất bại, hắn vẫn không nguôi dã tâm thôn tính Âu Lạc Biết không thể chống lại sức mạnh nỏ thần của Âu Lạc, hắn dùng kế cầu hoà, rồi sau đó cầu hôn Là một đất nước trải qua nhiều chiến tranh giặc dã, bản thân An Dương Vương và nhân dân
Âu lạc phải trải qua bao gian khổ xây thành đắp luỹ bảo vệ quốc gia, song khi
đã chiến thắng, An Dương Vương lại chủ quan khinh suất, không cảnh giác đề phòng kẻ thù Mị Châu là một nàng công chúa, trước những quyết định quan trọng của quốc gia, nàng cũng không có chính kiến về những vấn đề chính sự
mà hoàn toàn tin tưởng vào quyết định của người cha Từ cầu hoà, cầu hôn,
Trang 16Triệu Đà còn xin cho con được ở rể Mưu kế của kẻ thù khá rõ ràng, nhưng cha con An Dương Vương vẫn không hề hay biết mà còn tạo điều kiện cho kẻ thù xâm nhập sâu vào lãnh thổ và tìm hiểu bí mật quốc gia.
+ Sống với chồng, như bao người phụ nữ khác, Mị Châu yêu chồng và đặt
cả niềm tin tưởng vào chồng Kẻ thù đã lợi dụng lòng tin ấy để thực hiện âm mưu thôn tính Âu Lạc Trọng Thuỷ đã hỏi dò vợ về bí mật nỏ thần, âm thầm làmmột chiếc nỏ giả, sau khi chiếm được bí mật quốc gia đã vội vã về nước chuẩn
bị đánh Âu Lạc Mị Châu vẫn rất chân tình, xúc động, lưu luyến trong cuộc chia tay, không một chút nghi ngờ trong câu nói ẩn chứa nhiều tình ý của Trọng
Thuỷ : “Tình vợ chống không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ Ta
nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu ?” Mị Châu cả tin đáp lời chồng : "Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt lí thì đau đớn khôn xiết Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ dứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ cứu được nhau”.
- Sự chủ quan, dựa vào sức mạnh vũ khí của An Dương Vương cùng thái
độ nhẹ dạ, cả tin, mất cảnh giác của Mị Châu đã dẫn đến bi kịch nước mất, nhà tan
+ Triệu Đà đem quân sang đánh Âu Lạc, An Dương Vương đem nỏ thần
ra bắn, phát hiện ra nỏ giả, An Dương Vương vội vã đặt con lên ngựa bỏ chạy raphía biển Đông Trong tình thế nguy nan ấy của đất nước, Mị Châu vẫn không thức tỉnh để nhận rõ bộ mặt thật của kẻ Áo lông ngỗng trong sáng Mị Châu đặt
cả niềm tin và tình yêu vào Trọng Thuỷ được rắc dọc đường cũng đồng thời là tín hiệu chỉ đường cho kẻ thù truy tìm, săn đuổi Sự lầm lỡ giữa tình yêu và thủ đoạn, lí trí và tâm hồn đã đẩy bi kịch Mị Châu và nước Âu Lạc đến tận cùng của
sự thảm khốc Đến bước đường cùng, trước mặt là biển cả mênh mông, sau lưng
là kẻ thù truy đuổi, An Dương Vương kêu Rùa Vàng đến cứu và tỉnh ngộ : “Kẻ
ngồi sau lưng chính là giặc đó !” Lưỡi gươm oan nghiệt của người cha đã vung
lên chém chết đứa con gái yêu quý của mình Nước Âu Lạc rơi vào tay kẻ thù ngoại xâm, nhân dân sống trong lầm than, đau khổ hàng nghìn năm trong màn đêm nô lệ tăm tối, An Dương Vương được Rùa Vàng rẽ nước xuống biển Đông, thể hiện ý thức lịch sử của nhân dân với người anh hùng dân tộc, còn Mị Châu
bị cha chặt đầu, máu chảy xuống biển, trai sò ăn phải biến thành hạt châu, xác táng ở Loa Thành, biến thành ngọc thạch
Trong truyện kể dân gian, nhân dân ta thường sử dụng hình thức hoá thân
để kéo dài sự sống của nhân vật ( Kết thúc truyện Thạch sanh, mẹ con Lí Thông chết rồi biến thành con bọ hung xấu xí, bẩn thỉu Kết thúc truyện Đá vọng phu, nàng Tô Thị hoá thành tảng đá hình thiếu phụ bồng con ngóng mãi phía chân trời) Truyền thuyết An Dương Vương sử dụng thủ pháp đó một cách sáng tạo : nhân vật không hoá thân trọn vẹn trong một hình hài duy nhất mà hoá thành ngọc trai, ngọc thạch Hình thức hoá thân độc đáo, có một không hai trong