1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp khắc phục hiện tượng nói và viết ngọng l và n cho sinh viên khoa ngữ văn, trường ĐHSP hà nội 2

64 2,9K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 428 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua khảo sát thực trạng phát âm L/N của sinh viên khoa Ngữ văn, trường ĐHP Hà Nội 2, đề tài đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằmgiúp người sử dụng ngôn ngữ hiểu được một cách rõ ràng bản

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ

Chí Minh) Người sử dụng ngôn ngữ vì thế phải biết giữ gìn và quý trọng thứ tiếng nói

ấy Nói cụ thể hơn là chúng ta cần chọn lọc, tập hợp, đúc kết, hệ thống hóa những gìthực sự có giá trị và luôn luôn rèn luyện thứ ngôn ngữ của chính chúng ta Có lẽ vìvậy, công việc rèn luyện ngôn ngữ là một hoạt động hữu ích nhằm hình thành và pháttriển ngôn ngữ văn hóa cho từng thành viên của xã hội

Hiện nay, việc nói và viết có sự nhầm lẫn âm đầu L/N là một hiện tượng tươngđối phổ biến ở một số thổ ngữ đồng bằng trung du thuộc phương ngữ Bắc bộ Hiệntượng này từ lâu đã được coi là một hiện tượng lệch chuẩn trong việc sử dụng ngônngữ của cộng đồng Nó có ảnh hưởng ít nhiều đến độ rõ ràng của lời nói khi phát ngôncũng như trong việc học tiếng nước ngoài, từ đó cũng có những ảnh hưởng nhất định

về phương diện xã hội trong đời sống của con người như cơ hội việc làm hay cơ hộithăng tiến

Trong trường ĐHSP Hà Nội 2 nói chung cũng như khoa Ngữ văn nói riêng, một

bộ phận không nhỏ các em sinh viên có sự nhầm lẫn L/N trong việc nói và viết Điềunày đã có sự ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu đào tạo của nhà trường là đào tạonguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng những yêu cầu đặt ra của xã hội và hơn hết là đàotạo con người đúng với tinh thần là “chiêc máy cái” của ngành giáo dục Với sinh viênngành Ngữ văn, một ngành học đòi hỏi người học có những hiểu biết nhất định về hệthống tri thức ngôn ngữ và tiếng Việt để sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, có

ý thức thì sự nhầm lẫn này càng gây ra những ảnh hưởng nhất định

Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Các giải pháp khắc phục hiện tượng nói và viết ngọng l -n cho sinh viên khoa Ngữ Văn, trường ĐHSP Hà Nội 2 Qua khảo sát thực trạng phát âm L/N của sinh viên

khoa Ngữ văn, trường ĐHP Hà Nội 2, đề tài đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằmgiúp người sử dụng ngôn ngữ hiểu được một cách rõ ràng bản chất của sự nhầm lẫnnày, từ đó hướng tới vấn đề chuẩn chính âm và chính tả trong tiếng Việt, đặc biệt làchuẩn hóa về chính âm, chính tả cho các thầy giáo, cô giáo Ngữ văn tương lai

1

Trang 2

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Nhầm lẫn L/N là một hiện tượng phổ biến được xem là lỗi phát âm(articulation errors) của người Việt Đây không phải là hiện tượng người sử dụng ngônngữ không phát âm được âm L hay âm N mà chỗ đáng nói là N thì nói thành L vàngược lại chỗ đáng nói là L thì nói là N Hiện tượng này đã được các nhà Việt ngữ họcquan tâm xem xét từ lâu và cũng là vấn đề được toàn xã hội quan tâm

Tác giả Phan Ngọc trong [5] đã đề xuất một số quy tắc để phân biệt L và N nhưmẹo về âm đệm, mẹo láy âm, láy vần, mẹo đồng nghĩa giữa những từ bắt đầu là NH và

L Sau này, Nguyễn Minh Thuyết trong giáo trình “Tiếng Việt thực hành” (1997),phần viết về Chữa các lỗi thông thường về chính tả, cụ thể là lỗi lẫn lộn L và N cũng

đã đề cập đến một số mẹo trên cơ sở những quy tắc Phan Ngọc đưa ra: mẹo về âmđệm, mẹo láy âm, mẹo đồng nghĩa lài - nhài Đây là những mẹo chữa về chính tả hữuích giúp người sử dụng ngôn ngữ có thể ứng dụng

Tác giả Phan Thiều trong [7] lại chú ý nhiều hơn về vấn đề phát âm hai âm L/N.Tất nhiên tác giả vẫn nhấn mạnh việc chữa lỗi này về thực chất chỉ là việc luyện chính

tả Tác giả đã đưa ra một số bài tập cụ thể từ những bài tập luyện phát âm hai âm L/Ntrong từ, trong câu hay trong văn bản

Bên cạnh những giải pháp chữa lỗi mà các nhà ngôn ngữ đề xuất, trong cộngđồng ngôn ngữ cũng đã có những chiến dịch sửa lỗi phát âm L/N như sửa lỗi cho giáoviên và học sinh ở 13 huyện ngoại thành Hà Nội, sửa lỗi phát âm ở các vùng miềnkhác nhau như Hải Dương, Hải Phòng…

Trên cơ sở những vấn đề lí thuyết chữa lỗi L/N cũng như những dự án chữa lỗi

đã triển khai trong cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ, chúng tôi đặt vấn đề nghiên

cứu đề tài Các giải pháp khắc phục hiện tượng nói và viết ngọng L - N cho sinh viên khoa Ngữ Văn, trường ĐHSP Hà Nội 2 Nắm vững bản chất của hiện tượng nhầm

lẫn L/N, chúng tôi nghĩ rằng đề tài có tính ứng dụng này sẽ giúp cho sinh viên khoaNgữ văn có được những phương pháp thiết thực trong việc chữa lỗi, từ đó hướng tớiviệc chuẩn hóa về chính âm, chính tả cho sinh viên trước khi ra trường

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích của đề tài

Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng hiện tượng nhầm lẫn L/N trên đối tượngsinh viên khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2, đề tài đề xuất những giải pháp cụ thể

Trang 3

để giúp SVKNVĐHSPHN2 nói riêng cũng như người sử dụng ngôn ngữ nói chunghiểu được bản chất của sự nhầm lẫn này, từ đó hướng tới vấn đề chuẩn chính âm vàchính tả trong tiếng Việt

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Tổng hợp những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như vấn đề chuẩn chính

âm, chính tả trong tiếng Việt …

- Đánh giá thực trạng nói ngọng và viết sai L/N ở SVKNVĐSPHN2,

- Đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm khắc phục hai loại lỗi nói trên, đặc biệt làcác biện phát chữa lỗi phát âm, từ đó giúp SV hướng tới chuẩn chính âm và chuẩnchính tả trong giao tiếp

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp để chữa lỗi nhầm lẫn L/N, một loại lỗi có tính chất phổbiến ở một số thổ ngữ thuộc đồng bằng Bắc bộ là đối tượng nghiên cứu của đề tài này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để khảo sát thực trạng hiện tượng nhầm lẫn L/N và đề xuất những giải phápchữa lỗi này, chúng tôi giới hạn phạm vi tìm hiểu ở đối tượng sinh viên khoa Ngữ văn,trường ĐHSP Hà Nội 2 Bởi sinh viên ngành Ngữ văn luôn luôn phải có những hiểubiết nhất định về hệ thống tri thức ngôn ngữ và tiếng Việt để hướng tới việc sử dụngngôn ngữ có tính chất “chuẩn hóa”, góp phần giữ gìn và phát triển thứ tiếng nói củadân tộc

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Bước 2: Cho một số văn bản cụ thể có xuất hiện những từ ngữ có âm đầu L/N

để trống, yêu cầu sinh viên đọc văn bản và điền vào chỗ trống những âm đầu thích

Trang 4

hợp, đồng thời cho sinh viên viết đoạn văn theo chủ đề, từ đó thống kê những lỗi nhầmlẫn L/N về phương diện chính tả.

5.2 Phương pháp phân loại

Phương pháp này được sử dụng để phân chia lỗi nhầm lẫn L/N thành nhữngtiểu loại nhỏ khác nhau trên cơ sở thống kê số sinh viên mắc lỗi cụ thể Từ đó chúngtôi cố gắng tìm ra đặc điểm riêng của từng tiểu loại để hướng tới đưa ra những giảipháp chữa lỗi thích hợp

5.3 Phương pháp phân tích

Dựa vào bản chất của hiện tượng nhầm lẫn L/N nói chung, trên cơ sở phân chiathành các tiểu loại lỗi nói riêng, chúng tôi tiến hành phân tích đặc điểm lỗi nhầm lẫnnày ở sinh viên khoa Ngữ văn trên các tiêu chí cụ thể như tần số mắc lỗi, sự ảnh hưởngcủa vùng địa lí, của thói quen phát âm… từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể và phân tíchbản chất của từng hướng giải pháp

5.4 Phương pháp miêu tả

Miêu tả các nhóm lỗi về nhầm lẫn L/N trên cả hai phương diện về ngữ âm vàchính tả Thông qua sự miêu tả này, bản chất của hiện tượng nhầm lẫn được làm rõ.Những giải pháp đặt ra trên cơ sở những loại lỗi cụ thể cũng được chúng tôi xem xét

và đánh giá một cách toàn diện nhằm hướng tới những hướng chữa lỗi tối ưu

5.5 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp này so sánh đối chiếu giữa các loại lỗi nhầm lẫn L/N để từ đó tìm

ra loại đang xuất hiện nhiều ở người sử dụng ngôn ngữ, từ đó hướng tới xác địnhnguyên nhân và giải pháp khắc phục

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

6.1 Về mặt lí luận

Đề tài xác định rõ hiện tượng phát âm lẫn lộn hai phụ âm được xem là nóingọng (hay lỗi phát âm) khi hiện tượng này xảy ra trong phạm vị hẹp như trong trườnghọc, cơ quan, gia đình Trên cơ sở phân tích lỗi phát âm của SVKNVĐSPHN2, đề tàicũng đã đề xuất những giải pháp cụ thể ở cả hai phương diện lí thuyết và thực hành đểgiúp sinh viên chữa lỗi phát âm và chính tả L/N

Trang 5

7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, đề tài gồm 3 chương.

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Vấn đề phát âm lẫn lộn và viết sai L/N ở sinh viên khoa Ngữ văn

trường ĐHSP Hà Nội 2

Chương 3: Các giải pháp khắc phục

Trang 6

Bên cạnh hệ thống ngữ âm chuẩn mực (hệ thống chính âm) thì ở mỗi địa phương,mỗi vùng đất lại tồn tại những cách phát âm biến thể thể hiện thói quen phát âm địaphương và văn hóa vùng miền Nhưng hiện nay ở vùng phương ngữ Bắc bộ xuất hiệnmột hiện tượng phát âm bất bình thường mà người ta gọi là ngọng, đó chính là phát âm

nhầm lẫn L/N Theo PGS TS Phạm Văn Tình: “ Kiểu phát âm sai này thường gây cho cảm giác người nghe thấy lạ, thậm chí hơi quê Nguyên nhân ở đây là do thói quen của một vùng miền nào đó Khi đã trở thành thói quen thì người ta không nhận ra được sự bất bình thường.” [11.1] Lỗi phát âm này ngày càng phổ biến và đã tạo ra

một môi trường giao tiếp xã hội không chuẩn mực ở vùng đồng bằng Bắc bộ Hàngngày, trẻ em phải sống trong một môi trường giao tiếp trong gia đình, trong lớp học và

cả ngoài xã hội có nhiều người phát âm sai L/N Ngay từ nhỏ, nhiều em đã phát âmsai Vì vậy nó như một “căn bênh” lây lan rất nhanh và khó chữa

Như vậy, việc chưa lỗi phát âm và chính tả cho sinh viên là cần thiết và chỉ đạthiệu quả khi một số vấn đề xã hội được giải quyết thấu đáo Những vấn đề đó là:

- Tạo ra môi trường giao tiếp xã hội chuẩn mực

- Đào tạo giáo viên chuẩn mực

- Tuyên truyền về ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng chính âm, chính tả trong mốiquan hệ với việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn mực của tiếng Việt

1.2 CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC

1.2.1 Chuẩn mực ngôn ngữ

Theo PGS TS Đinh Trọng Lạc: “ Chuẩn mực ngôn ngữ là toàn bộ các phương tiệnngôn ngữ được sử dụng đã được mọi người thừa nhận và đã được coi là đúng và mẫu

Trang 7

dụng của xã hội đối với ngôn ngữ đó.” [3, 10] Chuẩn mực ngôn ngữ thể hiện ở mọicấp độ của ngôn ngữ như: phát âm, viết chữ, dùng từ, đặt câu…

1.2.2 Chính âm và hệ thống ngữ âm chuẩn mực

1.2.2.1 Chính âm

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: “Chính âm là cách phát âm phù hợp với chuẩn phát âm đã được thừa nhận trong một ngôn ngữ; hệ thống các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ đó ” [10, 47]

1.2.2.2 Bản chất của ngữ âm

Bản chất của âm thanh ngôn ngữ bao gồm:

a Bản chất xã hội: Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống ngữ âm riêng được cộng đồng

người quy ước, thừa nhận và sử dụng Những quy ước của cộng đồng đối với số lượng

âm vị và cách thức phát âm khiến cho các đơn vị ngữ âm có tính chung, tính dân tộc

và tính chuẩn mực

b Bản chất tự nhiên: Bao gồm bản chất sinh học và bản chất âm học.

Bản chất âm học: Các âm được phân biệt với nhau dựa vào các đặc trưng cường

độ, trường độ, cao độ, âm sắc

Bản chất sinh học: Nghiên cứu bản chất sinh học chính là khảo sát cách tạo ra âmthanh ngôn ngữ trong bộ máy phát âm của con người Khi phát âm, một loạt các cơquan trong bộ máy phát âm của con người như: khoang miệng, khoang mũi, thanh hầu,răng, môi, lưỡi, lợi, vòm ngạc… tham gia vào việc tạo âm Để miêu tả và nhận diệncách phát âm của phụ âm, người ta chú ý tới 3 căn cứ: phương thức phát âm (cách cảnhơi và phá cản), bộ phận cấu âm (bộ phận cản hơi và phá cản) và sự tham gia của dâythanh Theo đó, có thể miêu tả cách phát âm của 2 âm vị /N/, /L/ như sau:

/L/: Phụ âm xát- bên (luồng hơi lách qua 2 bên cạnh lưỡi để thoát ra ngoài), hữuthanh, đầu lưỡi - lợi

/N/: Phụ âm tắc - vang mũi (luồng hơi thoát ra qua khoang mũi), hữu thanh, đầulưỡi - lợi

Đặc điểm âm học của âm thanh ngôn ngữ là căn cứ để xác định những điểm đồngnhất và khác biệt của đơn vị ngữ âm trong hệ thống chuẩn mực

Trang 8

1.2.2.3 Hệ thống ngữ âm chuẩn mực trong tiếng Việt

Muốn rèn kĩ năng chính âm, chính tả cho sinh viên, cần dựa vào các đơn vị ngữ âm

và phương thức phát âm chuẩn mực các đơn vị ngữ âm Các đơn vị ngữ âm theo chuẩnmực của tiếng Việt đó là âm vị và âm tiết (tiếng)

a Âm vị

Trong hệ thống ngữ âm của mỗi ngôn ngữ, âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất cóchức năng khu biệt nghĩa, nhận diện từ

Các âm vị trong hệ thống ngữ âm được phân chia thành nguyên âm và phụ âm Đây

là những đơn vị ngữ âm do cộng đồng sử dụng ngôn ngữ quy ước mà thành Những

âm vị chuẩn mực sẽ được mọi người trong cộng đồng dùng ngôn ngữ đó chấp nhận và

sử dụng Vì thế âm vị thể hiện rõ đặc thù của ngôn ngữ dân tộc Tuy nhiên, đề cập đếntính chuẩn mực của âm vị, chúng ta cần phân biệt những chuẩn mực trong toàn xã hộivới những chuẩn mực chỉ gắn với một vùng, miền ( phương ngữ)

+ Tiếng Việt có 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi

Các nguyên âm đơn được ghi bằng các chữ sau: i, ê, e, a, ơ, ô, o, u, ư, ă, â

Mỗi nguyên âm đôi của tiếng Việt thường được ghi bằng những chữ khác nhau

Ví dụ :

Nguyên âm đôi /ie/ được ghi bằng các chữ “ia, iê, ya, yê”

Nguyên âm đôi /uo/ được ghi bằng các chữ “uô, ua”

Nguyên âm đôi /աɤ/ được ghi bằng các chữ “ưa, ươ”

+Tiếng Việt có 23 phụ âm đầu được ghi lại bằng các chữ cái sau: m, n, ng, ngh,

nh, b, t, ch, tr, c, k, q, đ, th, ph, v, x, s d, gi, r, kh, g, gh, h, l, p

Trong quá trình học tiếng Việt, ngoài những lỗi phát âm phụ âm mà sinh viênthường mắc như lẫn lộn cặp phụ âm: s-x, d-r-gi, ch-tr… thì một số lượng không ít sinhviên vùng đồng bằng Trung du Bắc bộ thường hay lẫn cặp l/n

Việc đánh giá kết quả rèn luyện chính âm tiếng Việt cho sinh viên cần phải dựa vàonhững chuẩn mực của các âm vị và cách phát âm chuẩn mực các đơn vị đó

b Âm tiết (tiếng)

Tiếng Việt là một thứ tiếng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiết (tiếng) đượcxác định là một loại hình đơn vị cơ bản Âm tiết tiếng Việt có một số đặc điểm cơ bảnsau:

Trang 9

+Tính phân tíết: Âm tiết tiếng Việt có hình thức ngữ âm ổn định và có ranh giới rõràng trong lời nói, giữa các tiếng có khoảng cách đủ để tách biệt chúng Khi phát âm,tiếng nọ nối tiếp tiếng kia tuần tự theo hình tuyến, các tiếng không dính vào nhau.

Từ đặc điểm này, người Việt quan niệm phát âm đạt chuẩn mực là phải “tròn vành,

rõ chữ”

+ Về đặc điểm cấu tạo, âm tiết tiếng Việt có đặc thù riêng

Ở dạng thức đầy đủ nhất, mỗi tiếng gồm phụ âm đầu và vần Vần lại gồm âm đệm,

âm chính, âm cuối vần và thanh điệu Ở dạng rút gọn nhất, mỗi tiếng do một âm chính

và một thanh điệu tạo thành Như vậy dù được cấu tạo ở dạng nào, trong tiếng bao giờcũng có hạt nhân là nguyên âm và thanh điệu Khả năng kết hợp của các yếu tố cấu tạo

âm tiết cũng tuân theo quy tắc nhất định Điều này thể hiện ở các quy tắc chính tả.+ Âm tiết tiếng Việt trùng với một hình vị, trùng với từ đơn, hoặc là một thành tố

để cấu tạo từ láy, từ ghép Vì vậy, phần lớn âm tiết tiếng Việt có nghĩa Từ đặc điểmnày, việc dạy học phát âm tiếng Việt không thể thoát li với việc dạy từ, hiểu nghĩa của

từ trong hoạt động sử dụng Bởi vì việc phát âm sai sẽ dẫn đến sự sai lệch về nội dungchữ nghĩa của đơn vị ngôn ngữ trong giao tiếp, hoặc ngược lại do hiểu sai ý nghĩa của

- Xác định và thực hiện cách viết đúng của các từ ngữ theo quy tắc của hệ thống

chữ viết Ví dụ chữ Việt phân biệt các con chữ tr/ch, l/n, s/x… và quy định phải viết đúng chính tả đối với các từ ngữ như: truyện - chuyện, lẻ - nẻ, xa - sa…

- Xác định và thực hiện các quy tắc khác: viết hoa, phiên âm…

1.2.3.2 Yêu cầu của chuẩn chính tả

Chính tả là một mặt của vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ Chuẩn chính tả phải đảm bảonhững yêu cầu sau:

- Tính bắt buộc: So với chính âm, chính tả có yêu cầu chuẩn mực cao hơn rấtnhiều Có thể nói không theo chính âm nhưng viết thì không thể tùy tiện sai chính tảbởi chính tả có tính chất pháp lí và xã hội

- Tính ổn định: Viết chữ là thói quen Vì vậy chính tả phải ổn định trong một thờigian tương đối dài để hình thành thói quen cho người viết

- Tính ổn định nhưng không phải là bất biến: Chuẩn chính tả có thể thay đổi khikhông còn phù hợp

Trang 10

1.2.3.3 Vấn đề chính tả của chữ Việt

Để xây dựng chính tả hợp lí cho chữ viết của tiếng Việt, một ngôn ngữ không biếnhình, thì nguyên tắc chính tả ngữ âm học là nguyên tắc cơ bản nhất Nguyên tắc nàyyêu cầu có sự phù hợp 1/1 trong mối quan hệ giữa con chữ và âm vị Điều này cónghĩa là một con chữ phản ánh một âm vị, ngược lại một âm vị chỉ được phản ánhbằng một con chữ Phần lớn các âm vị theo sát nguyên tắc này nhưng có một số trườnghợp không vi phạm nguyên tắc: một âm vị được ghi bằng hai, ba con chữ hoặc mộtcon chữ dung để ghi nhiều âm vị Vì vậy ngoài nguyên tắc chính tả ngữ âm học, tiếngViệt còn bổ sung thêm nguyên tắc hình thái học và nguyên tắc chính tả truyền thống:

- Phân biệt một số hình vị đồng âm khác nghĩa: da thịt/ gia nhập.

- Dựa vào từ nguyên để quy định cách viết: sử dụng/ xử sự, lưỡi liềm/ niềm tin…

- Không thay đổi thói quen viết chữ đã có từ lâu: ghế/ gà, nghỉ/ nga

1.3 CƠ SỞ GIÁO DỤC HỌC

1.3.1 Nguyên tắc giáo dục

1.3.1.1 Nguyên tắc sát với đối tượng

Nội dung và phương pháp rèn luyện chính âm, chính tả phải sát với đối tượng làsinh viên

1.3.1.2 Nguyên tắc phát triển

Nguyên tắc này có vai trò chỉ đạo nội dung, phương pháp rèn luyện chính âm,chính tả Dựa vào nguyên tắc này, một hệ thống bài tập từ dễ đến khó, bài tập luyệntập đến bài tập sáng tạo trong hoạt động nói và viết phải được xây dựng hợp lí, khoahọc

1.3.1.2 Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp

Để hình thành các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, cần phải đưa sinh viêntham gia hoạt động nói, viết với hai tư cách là người viết tiếp nhận và người tạo lập rangôn bản Cách thực hiện tốt nhất là tạo ra những tình huống giao tiếp hoạt động chínhkhóa, ngoại khóa để sinh viên có cơ hội được nghe, nói, đọc và viết

1.3.2 Phương pháp thực hiện

1.3.2.1 Phương pháp miêu tả trực tiếp

Phương pháp này được sử dụng để miêu tả cách phát âm hoặc nêu các nguyêntắc chính tả trên cơ sở chuẩn bực chính âm, chính tả tiếng Việt Miêu tả cách cấu âmcủa từng âm để thấy được điểm giống vào khác nhau về cấu âm của hai âm vị này, từ

Trang 11

đó luyện phát âm sao cho đúng Miêu tả các nguyên tắc chính tả tiếng Việt giúp sinhviên nắm được các quy tắc cũng như yêu cầu về chuẩn mực chữ viết.

1.3.2.2 Phương pháp thực hành

Đây là một trong những phương pháp chủ đạo được sử dụng trong việc rèn luyệncác kĩ năng chính âm, chính tả Phương pháp thực hành được vận dụng thông qua cácbài tập trên lớp như: luyện phát âm, luyện đọc, luyện nói theo chủ đề, chữa lỗi phát

âm, chữa lỗi chính tả… Ngoài ra, việc thực hành đối với sinh viên cần phải thực hiệnphối hợp qua tất cả các môn học, thông qua các hoạt động chính khóa cũng như ngoạikhóa Chữa lỗi phát âm L/N là một quá trình rèn luyện cực kì lâu dài, đòi hỏi sự tựgiác, nhẫn nại và khổ công của mỗi người thông qua các hoạt động nói viết hàng ngày.Qua tất cả các dạng thực hành này, người sử dụng ngôn ngữ phải có ý thức ghi nhớcách viết, cách phát âm của từng từ cụ thể

1.3.2.5 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp dùng để đối chiếu các đơn vị ngữ âm, từ đó chỉ ra sự đồngnhất và khác biệt giữa các trường hợp sinh viên hay nhầm lẫn Ngoài ra còn có thểdùng để đối chiếu giữa cách nói, viết chuẩn và vi phạm chuẩn Qua đó giúp sinh viênnhận ra chuẩn mực trong phát âm và chính tả

Dựa trên những tiền đề lí luận này, chúng tôi sẽ nghiên cứu đề tài theo hướng

khảo sát thực tế, phân tích nguyên nhân và tìm ra những biện pháp khắc phục loại lỗingọng L/N cho sinh viên khoa Ngữ Văn, nhằm đáp ứng mục tiêu chung của việc dạymôn Văn và Tiếng Việt trong nhà trường là giữ gìn sự chuẩn mực và trong sáng củatiếng Việt

Trang 12

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ PHÁT ÂM LẪN LỘN VÀ VIẾT SAI L/N Ở SINH VIÊN

KHOA NGỮ VĂN, TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

2.1 VẤN ĐỀ PHÁT ÂM LẪN LỘN VÀ VIẾT SAI L/N

2.1.1 Khái niệm ngọng, nói ngọng

Theo Từ điển tiếng Việt [6,681], ngọng có nghĩa “không phát âm đúng một số âm

do có tật hoặc chưa nói sõi Nói ngọng Người ngọng” Từ láy ngọng nghịu mang nghĩa khái quát Giọng nói ngọng nghịu của trẻ thơ Như vậy, theo định nghĩa này, ngọng được hiểu như một dạng bệnh lí do có tật ở cơ quan phát âm hay hiện tượng nói

chưa sõi ở trẻ em do bộ máy phát âm chưa hoàn thiện

Trong thực tế giao tiếp, từ ngọng hay nói ngọng còn được dùng để chỉ hiện tượng

phát âm không đúng chuẩn chính âm Chẳng hạn N phát âm thành L, dấu hỏi phát

âm thành dấu ngã hay thuyền được phát âm thành thuền… đều được gọi là ngọng.

Ngoài ra, người ta còn dùng những tên gọi khác để chỉ hiện tượng phát âm khôngchuẩn như phát âm sai, phát âm lỗi hoặc phát âm lệch chuẩn Dù sử dụng tên gọi nào

thì những cụm từ này đều có nghĩa phát âm không chuẩn theo chính âm một hay nhiều hơn một thành phần trong âm tiết tiếng Việt và ít nhiều làm ảnh hưởng đến độ rõ ràng của lời nói khi phát ngôn [11.4]

Phát âm sai hay phát âm không chuẩn có nhiều biểu hiện Như chúng ta biết, cấu tạođầy đủ của âm tiết tiếng Việt gồm 5 thành phần: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối

và thanh điệu Hai thành phần bắt buộc phải có mặt trong âm tiết là âm chính và thanhđiệu; ba thành phần còn lại âm đầu, âm đệm, âm cuối có thể vắng mặt trong âm tiết.Xét theo thành phần cấu tạo âm tiết, lỗi phát âm có thể xảy ra ở cả năm bộ phận nóitrên Ở vị trí âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối, các dạng lỗi phát âm có thể xảy ralà:

- Mất âm, ví dụ: quyên → quên, thuyền → thuền, khoan → khan, núi non → úi on…

- Thay thế âm, ví dụ: mũ nồi → mũ lồi, núi non → lúi lon…

Riêng thanh điệu thì lỗi xảy ra ở dạng thay thế âm, cụ thể thanh ngã phát âm

thành thanh sắc (ngã → ngá, nước lã → nước lá), thanh hỏi phát âm thành thanh nặng

Trang 13

Tuy nhiên, khi nhắc đến nói ngọng hay phát âm sai là người ta nghĩ ngay đếnviệc lẫn lộn hai phụ âm đầu L/N Giải thích cho điều này phải chăng vì việc phát âmlẫn lộn hai âm này khá phổ biến ở tần suất các từ xuất hiện; lại phổ biến đối với nhiềungười, nhiều vùng? Thêm vào đó, sự đối lập giữa N và L lớn nên hầu hết mọi ngườiđều nhận thấy sự lệch chuẩn này Vậy thực chất của hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N lànhư thế nào? Đó có được xem là hiện tượng phát âm lệch chuẩn không hay đó là tậpquán phát âm địa phương? Tập quán phát âm lẫn lộn L/N gây ra những phản ứng nhưthế nào? Phương pháp nào là hữu hiệu nhất để xóa bỏ sự lẫn lộn này? Đó là một loạtnhững câu hỏi đặt ra khi chúng tôi tiếp cận với đề tài này.

2.1.2 Vấn đề phát âm lẫn lộn N và L

Xoay quanh việc phát âm lẫn lộn hai phụ âm N và L hiện nay tồn tại rất nhiều các ýkiến, thậm chí có những quan điểm trái ngược, phủ định lẫn nhau Ngòi nổ trực tiếpcho cuộc tranh luận này bùng lên từ khi Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội phát độngphong trào chữa ngọng L/N đối với 13 huyện ngoại thành Hà Nội năm học 2011-2012.Dưới đây, do khuôn khổ của đề tài có hạn, chúng tôi tạm thời trình bày vắn tắt haiquan điểm chính xoay quanh vấn đề này

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc phát âm lẫn lộn L/N là do tập quán phát âm địaphương chứ không phải là hiện tượng nói ngọng Những người chủ trương cho quanniệm này không ai khác chính là những chuyên gia đầu ngành về ngôn ngữ học ở nước

ta Tác giả Vũ Kim Bảng cho rằng, bản chất của vấn đề nói ngọng là hiện tượng cótính chất phương ngữ Đó là hiện tượng phát âm không đúng so với chuẩn chính tả.Tức là, không phân biệt trong cách phát âm các phụ âm đầu như ch - tr, x - s, d - gi - rcủa miền Bắc hay sự lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã ở khu vực miền Trung.[11.2]Đồng tình với quan điểm trên, GS.TS Nguyễn Văn Hiệp cũng cho rằng: “Nóingọng N/L thực chất là người ta vu vạ cho một đặc điểm phương ngữ của một số vùngnào đó mà thôi” [11.2] Để minh chứng cho ý kiến này, ông đã so sánh hiện tượng phát

âm lẫn lộn N và L ở Hà Nội cũng tương tự như việc phát âm lẫn lộn thanh hỏi và thanhngã ở Huế Việc bắt người Hà Nội phân biệt L/N trong phát âm cũng khó như việc bắt

người Huế phân biệt nghỉ ngơi và nghĩ ngợi Chính vì quan niệm phát âm lẫn lộn L/N

là đặc điểm phương ngữ của một vùng nên ông cho rằng việc chữa ngọng L/N thực sựkhông cần thiết Chỉ khi nào cá nhân cảm thấy cần thiết phải thay đổi thì họ sẽ tự sửa.Còn việc chữa ngọng theo phong trào chỉ là việc làm tốn công vô ích mà thôi

Trang 14

Đồng thuận với quan niệm trên đây, tác giả Hoàng Dũng [11.3] cũng cho rằng, nếu

đã là cách phát âm theo tập quán địa phương thì không thể xóa bỏ cách phát âm đó.Không thể nhân danh bất cứ cái gì để xóa bỏ cách phát âm địa phương vì đó là mộtphần tài sản văn hóa của họ

Dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, GS Nguyễn Văn Hiệp cũng nói thêm rằng,đôi khi việc phát âm lẫn lộn L/N lại được xem như một dấu hiệu hòa đồng nhóm Mộttrong những nguyên tắc để giao tiếp thành công là phải tăng dấu hiệu đồng thuậnnhóm, vì thế, trong giao tiếp người ta cũng có thể phát âm lẫn lộn N/L để đạt đượcmục đích giao tiếp [11.2]

Bàn về hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N, PGS Phạm Văn Hảo lại đưa ra một quanđiểm khá bất ngờ Ông cho rằng, việc lẫn lộn L/N không phải là tàn dư của cácphương ngữ hay thổ ngữ cổ xưa mà đây là một xu thế đang trong quá trình phát triểntheo hướng mất dần tiêu chí khó, để giản tiện hóa cấu âm Có nghĩa là âm L khó đọcthì cộng đồng dần dần muốn giản hóa đi Đây là xu hướng phát triển chung của ngôn

ngữ trong đó có tiếng Việt Chẳng hạn, trong quá khứ, các âm kép như bl, tl đã được

lược bỏ nhiều.[11.3]

Như vậy, từ một số ý kiến trên đây, có thể thấy phần lớn các chuyên gia đầu ngành

về ngôn ngữ học đều đồng thuận với nhau rằng, việc phát âm lẫn lộn L/N không phải

là hiện tượng nói ngọng (hay phát âm sai) mà đó là tập quán phát âm địa phương, haynói cách khác, đó là đặc điểm phương ngữ Hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N rất phổbiến ở đồng bằng Bắc bộ Hiện tượng này cũng tương tự như các trường hợp tr phát

âm thành ch, s phát âm thành x… Những ý kiến này lưu ý chúng ta cần hết sức thậntrọng khi phát động phong trào chữa lỗi phát âm L/N trên một phạm vi địa lí rộng lớn.Trái ngược với các ý kiến trên đây, một số nhà ngôn ngữ học khác lại quan niệmviệc phát âm lẫn lộn L/N là phát âm sai và cần thiết phải sửa Đáng chú ý là ý kiến củaĐoàn Thiện Thuật, chuyên gia đầu ngành về ngữ âm học ở nước ta Ông cho rằng,

khái niệm ngọng là của một hai người Nếu liên quan đến nhiều người thì đó là thổ

ngữ hoặc phương ngữ Mỗi trường hợp có cách đối xử khác nhau Trường hợp thứnhất, đối với một vài người phát âm lẫn lộn L/N trong một lớp 40 người thì đó làngọng Những trường hợp này cần kiên quyết sửa cho phát âm đúng Còn đối vớitrường hợp thứ hai, nếu là phương ngữ thì không thể sửa được mà chỉ thống nhất được

về chính tả

Trang 15

Nhất trí với quan niệm trên đây, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Minh Thuyết phátbiểu: nếu phát âm sai so với chuẩn diễn ra trên một vùng hẹp thì nhất thiết phải sửa vìphát âm lẫn lộn L/N gây phản cảm đối với người nghe Nhà nghiên cứu Hoàng Dũngcũng đồng tình với quan niệm trên khi ông cho rằng, khi việc phát âm lệch chuẩn trởthành một vấn đề tâm lí - xã hội, tạo nên những định kiến không đáng có về trình độvăn hóa thì nên sửa [11.3]

Bên cạnh ý kiến của các nhà ngôn ngữ học, một số nhà nghiên cứu thuộc các lĩnhvực khác cũng tham gia vào cuộc tranh luận xoay quanh chủ đề phát âm lẫn lộn L/N(chẳng hạn nhà thơ Thanh Thảo, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn…) Hầu hếtcác ý kiến này đều khẳng định việc phát âm lẫn lộn L/N trong giao tiếp thường gâycảm giác khó chịu và tạo ấn tượng không tốt đối với người nghe Nhấn mạnh vào hạnchế của việc phát âm lẫn lộn N và L, nhiều ý kiến còn cho rằng không nên tuyển dụngngười nói ngọng vào cơ quan nhà nước, đặc biệt, đối với những công việc như dạyhọc, bác sĩ, hay các doanh nghiệp nước ngoài - những ngành nghề đòi hỏi phải có sựchuẩn hóa trong việc phát âm

Trên đây là ý kiến của một số nhà ngôn ngữ học tiêu biểu về hiện tượng phát âmlệch chuẩn hai phụ âm đầu L/N Dù quan niệm hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N là đặcđiểm phương ngữ hay là nói ngọng thì rõ ràng có một thực tế không thể phủ nhận làtrong nhiều hoàn cảnh giao tiếp, việc phát âm lẫn lộn L/N đã gây ra những hậu quảtiêu cực đối với chính người nói Việc đánh mất cơ hội việc làm tốt, đặc biệt là cơ hộilàm việc đối với người nước ngoài, không phải là chuyện hiếm gặp đối với nhữngngười phát âm lẫn lộn N và L

Dựa vào các ý kiến trên, để phục vụ cho mục đích của đề tài, chúng tôi đề xuấtquan niệm về việc phát âm lẫn lộn hai phụ âm đầu N và L như sau:

Hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N chỉ được xem là hiện tượng phát âm sai (hay nóingọng, lệch chuẩn) khi xét trong một phạm vi hẹp, chẳng hạn trong gia đình, trongtrường học hay cơ quan… Khi đó, việc phát âm lẫn lộn N/L cần có sự điều chỉnh, uốnnắn để hướng tới chuẩn hóa về mặt phát âm

Khi hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N phổ biến ở nhiều địa phương, phạm vi rộnglớn, ví dụ ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, BắcGiang, Vĩnh Phúc, Hà Nội… thì chúng tôi cho rằng đó không phải là nói ngọng mà làđặc điểm phát âm của địa phương Với trường hợp này, theo chúng tôi khó có thể điều

Trang 16

chỉnh việc phát âm lẫn lộn L/N theo đúng chuẩn mà chỉ có thể thống nhất về mặt chính

tả mà thôi Trường hợp này, nếu muốn sửa thì cần phải tiến hành một cách thận trọng,bài bản, trong thời gian lâu dài và cần có sự vào cuộc của các nhà ngôn ngữ học

Xét trong phạm vi khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội 2, hiện tượng sinh viênphát âm lẫn lộn N và L cũng được xem là lỗi phát âm Vì vậy, theo chúng tôi, việc tiếnhành chữa lỗi phát âm L/N cho sinh viên khoa Ngữ văn là rất cần thiết và hữu ích,nhằm giúp các em hướng tới việc phát âm chuẩn

2.1.3 Khái niệm chuẩn ngôn ngữ

Liên quan đến hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N, chúng ta không thể bỏ qua kháiniệm chuẩn ngôn ngữ Vậy chuẩn ngôn ngữ là gì? Các tiêu chí (hay nguyên tắc) xáclập chuẩn ngôn ngữ là gì? Hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N có quan hệ như thế nào vớichuẩn ngôn ngữ? Đó là những câu hỏi đặt ra trong phần này

Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa: “Chuẩn là toàn bộ các

phương tiện và các quy tắc thống nhất và ổn định về cách sử dụng ngôn ngữ, được quyđịnh và phát triển trong xã hội và được thể hiện trong lời nói của cá nhân” [10,53]Tác giả Hoàng Phê cho rằng: “Chuẩn của ngôn ngữ là kết quả sự đánh giá và lựachọn của xã hội (cộng đồng sử dụng ngôn ngữ) đối với những hiện tượng ngôn ngữthực tế (tức là thực tế sử dụng ngôn ngữ) vào một thời gian nhất định nào đó” [ dẫntheo 10]

Tác giả Nguyễn Hàm Dương quan niệm: “Chuẩn ngôn ngữ cần được quan niệmtrên hai phương diện: chuẩn phải mang tính quy ước xã hội; tức phải được xã hội chấpnhận và sử dụng; mặt khác, chuẩn phải là một hiện tượng thuộc kết cấu ngôn ngữ, tức

là phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch

sử ” [dẫn theo 10]

Đề cập đến việc xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ, Hoàng Tuệ cho rằng: “Chuẩnmực, nói một cách khái quát, là cái đúng Đó là cái đúng có tính chất chung, tính chấtbình thường được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, ở một giaiđoạn nhất định trong một quá tình phát triển lịch sử của ngôn ngữ Cái đúng ấy đượcxác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định thuộc các phạm vi phát âm, dùng

từ và cấu tạo từ mới, đặt câu…” [dẫn theo 10]

Những quan niệm về chuẩn hay chuẩn mực ngôn ngữ trên đây lưu ý các đặcđiểm:

Trang 17

- Chuẩn ngôn ngữ trước hết là những quy tắc sử dụng ngôn ngữ đã được địnhsẵn (bao gồm chuẩn phát âm, chuẩn chữ viết, chuẩn dùng từ, chuẩn đặt câu…) mà mọi

sự sai lệch với chúng đều bị coi là không chuẩn

- Chuẩn ngôn ngữ mang tính quy ước đối với từng xã hội

- Chuẩn ngôn ngữ mang tính lịch sử Vì thế, chuẩn ngôn ngữ không phải là bấtbiến, mà chỉ là “sự lựa chọn trong những sự lựa chọn trong khi còn có thể có nhữnglựa chọn khác” Cách lựa chọn như thế nào được quyết định bởi một xã hội nhất địnhtrong một giai đoạn nhất định Claude Hagège, nhà ngôn ngữ học người Pháp đã cómột câu nói rất hay, rằng "lỗi của hôm qua trở thành chuẩn của hôm nay, lỗi hôm nay

sẽ là chuẩn của ngày mai"

Như trên đã nói, chuẩn ngôn ngữ bao gồm nhiều phương diện, trong đó cóchuẩn phát âm (chuẩn chính âm) Chính âm là “cách phát âm phù hợp với chuẩn phát

âm đã được thừa nhận trong một ngôn ngữ, hệ thống các chuẩn mực phát âm của ngônngữ đó” [10,47] Yêu cầu cơ bản của chuẩn chính âm là xây dựng một cách phát âmtiêu chuẩn, thống nhất trong phạm vi toàn dân Tuy nhiên, hiện nay cách phát âmchuẩn mực trong phạm vi toàn quốc vẫn chưa được quy định Gần như mặc nhiên,người ta công nhận hai phương ngữ Bắc và Nam đều là chuẩn (mà tiếng Hà Nội vàtiếng Thành phố Hồ Chí Minh là đại diện) Điều đáng lưu ý là, từ lâu tiếng Việt đã có

hệ thống chuẩn chính tả mà tất cả mọi vùng miền đều tự giác thừa nhận Khi viết,người miền Bắc vẫn phân biệt hai âm đầu /ʂ - s/, /ƫ - c/, /n - l/, người miền Nam vẫnphân biệt /t - k/, /n - ŋ/… Chính vì vậy, theo chúng tôi việc xây dựng chuẩn chính âmcần dựa trên chuẩn chính tả Chuẩn chính tả là những quy tắc có tính chất pháp lí, bắtbuộc mọi người phải tuân theo (xem mục 1.2.3) Điều này không có nghĩa là phủ nhậnđặc điểm phát âm của từng phương ngữ Những cách phát âm phương ngữ đều đúngnhưng đúng với từng địa phương, đúng theo ước định của cộng đồng ngôn ngữ ấy Vìvậy, một mặt vẫn phải giữ cách phát âm địa phương bởi nó có tác dụng giao tiếp ởphạm vi cộng đồng nhỏ (gia đình, làng, xã, vùng miền) và để giữ gìn bản sắc văn hóađịa phương Mặt khác, vẫn cần xây dựng một hệ thống ngữ âm chuẩn của quốc gia đểđáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước

Vận dụng khái niệm chuẩn chính âm và chuẩn chính tả nói trên, chúng tôi nhậnthấy, cơ sở lí luận quan trọng để tiến hành chữa lỗi phát âm L/N cho

Trang 18

SVKNVĐHSPHN2 chính là dựa vào chuẩn chính tả Thực tế, khi viết, người ta phânbiệt rất rõ hai phụ âm đầu L và N Chính vì vậy, khi phát âm hai phụ âm này cũng cầnphát âm đúng theo chữ viết.

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT ÂM LẪN LỘN VÀ VIẾT SAI HAI PHỤ ÂM L/N CỦA SINH VIÊN KHOA NGỮ VĂN TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

2.2.1 Thực trạng

Với quan niệm về hiện tượng nói phát âm lẫn lộn L/N nói trên, trong phần nàychúng tôi sẽ đề cập đến thực trạng nói ngọng và viết sai L/N của sinh viên khoa Ngữvăn, trường ĐHSP Hà Nội 2

Như trên đã nói, đối tượng khảo sát của đề tài là sinh viên khoa Ngữ văn, baogồm 15 lớp, ở các khóa 36, 37, 38 thuộc các ngành Sư phạm Ngữ văn, Cử nhân Văn

và Việt Nam học Tổng số sinh viên được khảo sát là 876 em, trong đó có 379 em nóingọng và viết sai L/N, chiếm tỉ lệ 43,6 % Con số này cho chúng ta thấy gần một nửasinh viên khoa Ngữ văn - những người rất cần chuẩn hóa về mặt phát âm và chuẩn hóa

về chính tả - nói ngọng và viết sai L/N Đây quả thực là một tình trạng đáng báo động

Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn về thực trạng này

Trước hết, về thực trạng viết sai hai phụ âm đầu L/N Trong tổng số 379 sinhviên được khảo sát thì không có trường hợp chỉ viết sai hai phụ âm đầu L/N, cả viếtsai và phát âm sai là 129 SVchiếm 34,04 % Như vậy, nhiều em chỉ nói sai mà khôngviết sai Bên cạnh đó, cũng có những em vừa viết sai vừa nói sai

Không nắm được cấu âm

Gia đìn h

Địa phương

Nguyên nhân khác

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Trang 19

Trái ngược với tình hình trên, tình trạng phát âm lẫn lộn hai phụ âm đầu N/Ltrong sinh viên khoa Văn lại rất phổ biến (xem bảng 2.1) Cụ thể như sau: trong tổng

số 379 trường hợp phát âm sai và viết sai có:

- Phát âm sai khi giao tiếp: 264 SV ( 69,82%)

- Phát âm sai khi đọc văn bản: 10 SV ( 2,55%)

- Phát âm sai cả 2 trường hợp (giao tiếp và đọc văn bản): 105 SV (27,64%)

Tỉ lệ trên cho thấy: Tình trạng nói sai L/N trong sinh viên là nhiều hơn cả Khiđọc văn bản, tức là dựa trên chính tả, sinh viên nhận diện được hình thức ngữ âm của

từ nên phát âm sai rất ít Đặc biệt, khi giao tiếp tự do, tức là thoát li văn bản, sinh viênphát âm sai nhiều hơn Điều này chứng tỏ, phần lớn sinh viên nắm được đặc điểm cấu

âm của hai phụ âm L/N, biết cách phát âm hai phụ âm này nhưng lại không xác địnhđược trong trường hợp cụ thể nào thì phát âm L, trường hợp nào phát âm là N Giảithích cho tình trạng này phải chăng là do thói quen phát âm hay do tác động của môitrường sống?

Về xu hướng ngọng, trong tổng số 379 trường hợp sinh viên nói ngọng chúngtôi nhận thấy có hai xu hướng sau đây:

Xu hướng thứ nhất, phát âm L thành N có 142 trường hợp, chiếm 37,56%

Xu hướng thứ hai, phát âm N thành L có 133 trường hợp, chiếm 35,03%

Xu hướng thứ ba, phát âm lẫn lộn cả hai phụ âm có 104 trường hợp, chiếm27,41%

Số liệu thống kê trên đây cho thấy, các xu hướng ngọng không chênh lệch nhauquá nhiều Cũng từ thực tế khảo sát, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân khiến các emsinh viên không phân biệt được N và L khi phát âm là không nắm vững đặc điểm cấu

âm của hai âm này Thực tế, trong quá trình giảng dạy, giảng viên cũng đã cung cấpnhững kiến thức này (khi miêu tả các đặc điểm cấu âm - âm học của phụ âm), songviệc luyện phát âm theo đúng đặc điểm cấu âm của hai âm này chưa được sinh viênquan tâm đúng mức Chính điều này đã khiến các em lẫn lộn trong việc phát âm haiphụ âm N và L Một nguyên nhân quan trọng khác nữa là do môi trường sống Cụ thể,dựa vào bảng khảo sát, chúng tôi nhận thấy số sinh viên nói ngọng N và L tập trungchủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Tây(cũ), Đông Anh (Hà Nội), Bắc Giang, Bắc Ninh…- nơi mà người dân thường phát âmlẫn lộn hai phụ âm đầu L và N u L v N à N.

Trang 20

Quê quán Số lượng phát âm sai Tỷ lệ

Bảng 2.2 Số lượng SV phát âm lẫn lộn L/N ở từng địa phương

2.2.2 Nguyên nhân viết sai và phát âm lẫn lộn L/N

2.2.2.1 Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân của tình trạng phát âm lẫn lộn L và N của SVKNV ĐHSPHN2 trướchết là do môi trường giao tiếp xã hội Kết quả điều tra cho thấy yếu tố môi trường giaotiếp ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng ngọng của sinh viên Điều này lí giải bằng bảnchất xã hội của ngôn ngữ Cụ thể, qua khảo sát, tỉ lệ sinh viên phát âm sai và viết saiL/N chiếm tới 43,2 % (379/876) Lượng sinh viên này chủ yếu tập trung ở các thànhphố như Hà Nội (chủ yếu là các huyện ngoại thành như: Hà Tây, Sóc Sơn, Mê Linh,Đông Anh, Gia Lâm…) và các tỉnh Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, BắcGiang, Phú Thọ, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hải Phòng… Đây là những địaphương mà người dân có thói quen phát âm lẫn lộn L và N Sinh viên ở các tỉnh miềnnúi như Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai… phát âm sai ít hơn

Trang 21

Một nguyên nhân nữa khiến tình trạng phát âm lẫn lộn L/N trở nên phổ biến là doviệc giảng dạy các môn học nói chung, môn Ngữ Văn nói riêng ở bậc học phổ thôngchưa chú trọng việc rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Đặc biệt làviệc rèn kĩ năng nói và viết đạt đến chuẩn mực Điều đáng lo ngại là, ngay cả các giáoviên, đặc biệt giáo viên Mầm non và Tiểu học ở một số địa phương cũng phát âm sai.

2.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan

Bên cạnh sự ảnh hưởng lối phát âm từ môi trường sống, việc không phân biệt haiphụ âm L và N khi phát âm còn có nguyên nhân từ chính người nói ngọng Một bộphận người nói ngọng L/N là do nguyên nhân bệnh lí, đó là do bộ máy cấu âm bịkhiếm khuyết, chẳng hạn, lưỡi ngắn quá hay dài quá đều ảnh hưởng lớn đến việc phát

âm hai phụ âm này Song, nguyên nhân sâu xa nhất là do kiến thức về tiếng Việt củasinh viên còn yếu Nhiều sinh viên chưa nắm được đặc điểm cấu tạo âm tiết, cácnguyên tắc chính tả cũng như những đặc điểm của chữ viết tiếng Việt Theo kết quảkhảo sát, tỉ lệ sinh viên ngọng L/N do không nắm được đặc điểm cấu âm của hai âmnày là 36 em, chiếm 9,38%

2.2.3 Đánh giá về ý thức chữa ngọng và nhận thức của SV về hiện tượng viết sai

và phát âm lẫn lộn L/N

Kết quả điều tra cho thấy sinh viên nhận thức rõ và đúng về sự cần thiết củaviệc chữa ngọng cũng như vai trò của cá nhân trong việc chữa ngọng 100% sinh viêncho rằng việc chữa lỗi phát âm L/N là rất cần thiết Tuy nhiên, số sinh viên có ý thứcchữa ngọng thường xuyên lại chỉ chiếm hơn 50% Điều này tưởng như mâu thuẫnsong nó phản ánh đúng thực tế của sinh viên: nhận thức được nhưng không hành động.Thiếu sự quyết tâm và kiên trì nên việc chữa ngọng khó thành công Vì vậy, giải phápđầu tiên chúng tôi nêu ra vẫn là giáo dục ý thức cho sinh viên Trong quá trình chữangọng, giáo viên giữ vai trò người hướng dẫn, định hướng và giám sát còn sinh viêncần chủ động, tích cực Ngoài những giờ chữa trên lớp, có định hướng và giúp đỡ củagiáo viên, sinh viên cần có ý thức luyện tập thường xuyên ở nhà, ở mọi nơi, mọi lúc,mọi hình thức giao tiếp

Đối với sinh viên ở các địa phương phát âm sai nhiều, việc chữa ngọng sẽ khókhăn hơn và hiện tượng tái ngọng rất dễ xảy ra nếu các em không có ý thức rèn luyệnthường xuyên

Trang 22

ngọng của việc

chữa ngọng

nhất tác động đến chữa ngọng

đọc VB

Cả 2 TH

Thỉnh thoản g

Khôn g

Thườn

Khôn g

Bản thân

Cộn g đồng

Người hướn

Bảng 2.3 Bảng điều tra ý thức chữa ngọng của sinh viên

Tóm lại, trong chương này, chúng tôi quan niệm: Khi hiện tượng phát âm lẫnlộn L/N diễn ra trong một phạm vi địa lí rộng lớn thì đó là tập quán phát âm của địaphương, hay phương ngữ Trường hợp này, theo chúng tôi, không cần thiết phải sửa.Hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N được xem là lỗi phát âm hay nói ngọng khi hiện tượngnày diễn ra trong một phạm vi hẹp, chẳng hạn trong gia đình, trong nhà trường hay cơquan…Khi đó, hiện tượng phát âm lẫn lộn này cần có sự điều chỉnh, uốn nắn, sửa chữa

để hướng tới phát âm chuẩn

Cơ sở lí luận quan trọng để chúng tôi tiến hành chữa lỗi phát âm L/N choSVKNVĐHSPHN2 chính là dựa vào khái niệm chuẩn chính tả Chuẩn chính tả lànhững quy định có tính chất pháp lí, bắt buộc mọi người phải tuân theo Thực tế, khiviết, người ta phân biệt rất rõ hai phụ âm đầu L và N Chính vì vậy, khi phát âm haiphụ âm này cũng cần phát âm đúng theo chữ viết

Dựa vào kết quả điều tra, khảo sát, đề tài cũng nêu lên một số nhận xét, đánhgiá khách quan, trung thực về hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N của SVKNVĐHSPHN2.Các kết quả điều tra, đánh giá cho thấy tình trạng phát âm lẫn lộn L và N là một thực

tế rất phổ biến trong SV khoa Văn Xét trong phạm vi nhà trường, đây thực sự là lỗiphát âm nghiêm trọng, gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực đối với chính SV và đối vớichất lượng đào tạo của nhà trường Vì vậy, việc tiến hành sửa lỗi phát âm L/N trongphạm vi sinh viên khoa Ngữ văn là rất cần thiết

Trang 23

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

đã chữa được “bệnh” nói ngọng L/N rồi thì làm thế nào để hạn chế tình trạng “táingọng”? Trả lời được những câu hỏi này thì việc chữa ngọng mới đem lại hiệu quả

Như trên đã trình bày, chúng tôi quan niệm hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N làlỗi phát âm khi hiện tượng này diễn ra trong phạm vi hẹp Cụ thể, đối với sinh viênkhoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội 2, hiện tượng phát âm lẫn lộn hai phụ âm nàyđược xem là nói ngọng và việc chữa lỗi phát âm cho các em là hết sức cần thiết.Chính vì vậy, trong phần này, chúng tôi tạm thời đề xuất một số biện pháp chữa lỗiphát âm L/N cho sinh viên khoa Ngữ văn, trường ĐHSP Hà Nội 2 Những biện phápnày chúng tôi đã áp dụng trong quá trình chữa ngọng cho các em và chúng cũng đãmang lại những hiệu quả nhất định, cụ thể là đã giảm đáng kể tỉ lệ nói sai, viết sai củasinh viên (xem Phụ lục tr.54 )

Việc chữa lỗi phát âm hai phụ âm này cần được tiến hành tuần tự theo từngbước từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Yếu tố quan trọng nhất vẫn là ý thứccủa người nói ngọng, là sự kiên trì, khổ công và nhẫn nại của người nói ngọng Bêncạnh đó, việc tạo ra một môi trường giao tiếp chuẩn mực trong nhà trường cũng là yếu

tố rất cần thiết

3.2 GIẢI PHÁP CHUNG

3.2.1 Tạo ra môi trường giao tiếp chuẩn mực

Kết quả thống kê cho thấy, sinh viên ngọng chủ yếu thuộc các tỉnh đồng bằng

và Trung du Bắc bộ Đây là những địa phương mà ở đó người dân phát âm sai nhiều.Việc chữa lỗi cho cả vùng, miền, địa phương là điều khó có thể thực hiện Nhưng việc

Trang 24

tạo ra môi trường giao tiếp chuẩn mực trong nhà trường thì có thể làm được Muốnvậy, cần phải:

- Đào tạo giáo viên chuẩn mực Không để tình trạng giáo viên, đặc biệt là giáoviên Mầm non và Tiểu học phát âm sai Việc chữa ngọng phải bắt đầu từ giáo viên GS

TS Trần Trí Dõi cho rằng: “ Ngôn ngữ là sản phẩm của một cộng đồng Muốn chữa nói ngọng l/n thì chỉ chính bản thân cộng đồng phát âm lẫn lộn ở từng địa phương ấy sửa chữa mới được Nhưng công đồng cũng chính là những cá nhân được tập hợp lại Vậy thì trước hết những cá nhân như giáo viên, học sinh ở bậc Mẫu giáo và Tiểu học

ở địa phương ấy rèn luyện đi Khi những đối tượng này không lẫn lộn nữa, thế hệ này tiếp thế hệ khác thì địa phương ấy sẽ hết nói ngọng thôi Cho nên không thể coi chuyện này thành công chỉ trong ngày một, ngày hai được đâu.” [11.1] Nếu không tạo

được môi trường giao tiếp chuẩn mực thì hiện tượng tái ngọng sẽ xảy ra

- Các trường sư phạm phải triệt để chữa ngọng cho sinh viên Việc này phải làmngay từ năm thứ nhất và phải thường xuyên trong suốt các năm học

3.2.2 Chú trọng hơn nữa việc dạy chuẩn chính âm và chuẩn chính tả đối với học sinh phổ thông

Sách giáo khoa phổ thông, đặc biệt là sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phảicung cấp những kiến thức về chuẩn mực ngôn ngữ, đồng thời dành nhiều thời gian rènluyện để hình thành kĩ năng và thói quen nói, viết chuẩn mực cho học sinh

Việc chữa ngọng phải được thực hiện ở cấp Tiểu học, thậm chí là ở cấp dưới

hơn nữa Theo tác giả Phạm Văn Tình: “ Sửa ngọng cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt” [11.2] Thói quen ngôn ngữ được hình thành từ khi trẻ còn rất nhỏ, sau

đó định hình và phát triển dần lên Thường thì một em bé từ khi bắt đầu học nói chođến 5 tuổi đã hình thành được một ngữ năng nhất định về mặt từ ngữ, cách nói năng vàcách phát âm Nếu không uốn nắn ngay từ đầu thì việc phát âm sai sẽ trở thành mộtthói quen xấu rất khó sửa chữa, đồng thời ảnh hưởng lớn đến cộng đồng

3.2.3.Giáo dục ý thức cho bản thân người nói ngọng

Trước hết là ý thức được sự chệch chuẩn Như đã phân tích, nguyên nhân củahiện tượng nói ngọng là do môi trường giao tiếp địa phương, còn gọi là “thói quen”của một vùng miền nào đó Khi đã là thói quen thì không nhận ra được sự bất bìnhthường, bởi họ vẫn giao tiếp được với nhau mà không có trở ngại gì Chỉ khi người nói

ý thức và nhận ra được cách phát âm của mình khó chấp nhận trong giao tiếp cộng

Trang 25

đồng và gây ra những hiệu ứng không hay trong giao tiếp thì mới nhận ra lỗi Khi đãnhận ra lỗi thì cộng đồng và những người xung quanh sẽ tác động, giúp họ sửa đượclỗi.

Quan trọng hơn cả là ý thức của bản thân mỗi người trong việc chữa lỗi Việcchữa lỗi cần có sự quyết tâm và kiên trì của người nói ngọng Qua thực tế chữa lỗi chosinh viên , chúng tôi nhận thấy sinh viên K 36 chữa nhanh và hiệu quả hơn bởi sinhviên đã ý thức được sự bất lợi của việc nói ngọng trong hoạt động giao tiếp và chấtlượng giảng dạy trong thời gian thực tập, đặc biệt là cơ hội việc làm khi ra trường

3.2.4 Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ

Việc dạy nói viết chuẩn mực và sửa lỗi ngọng L/N phải được coi là một nhiệm

vụ thường xuyên của tất cả các giảng viên, thông qua tất cả các môn học, các hoạtđộng giáo dục trong nhà trường Không nên chỉ coi là nhiệm vụ của bộ môn Ngônngữ và chỉ thực hiện trong giới hạn một đề tài khoa học

Cần có sự kết hợp giữa các biện pháp sư phạm và biện pháp hành chính Bổsung quy định chuẩn mực ngôn ngữ vào tiêu chí tuyển dụng giáo viên và tiêu chí xéttốt nghiệp sinh viên Kiên quyết không để giáo viên nói viết ngọng L/N đứng lớp trựctiếp giảng dạy cho học sinh Đối với sinh viên, cần phải bổ sung vào quy chế sinh viêncác biện pháp hành chính theo các mức độ từ thấp đến cao như: trừ điểm rèn luyện,không cho đi thực tập, dừng tiến độ học tập…

Kết hợp hài hòa các phương pháp chữa lỗi và các biện pháp chữa lỗi Vừa cungcấp các kiến thức lí thuyết về đặc điểm chính âm, chính tả, đặc điểm chữ viết tiếngviệt, các quy tắc chính tả… vừa kết hợp thực hành Việc này cần triển khai có bài bản

và có cơ sở khoa học Không nên chỉ chú trọng thực hành mà bỏ qua lí thuyết Kết hợprèn luyện kĩ năng chính âm và chính tả với tất cả các trường hợp ngọng Bởi hai kĩnăng này luôn có sự bổ sung và hỗ trợ cho nhau Tuy nhiên mức độ vận dụng kĩ năng

có khác nhau ở các xu hướng ngọng

Như trên đã nói, yếu tố quan trọng trong quá trình chữa lỗi phát âm L/N là ýthức, tinh thần cầu thị của người nói ngọng Song bên cạnh đó, không thể bỏ qua vaitrò của giáo viên hướng dẫn Việc tiến hành chữa ngọng L/N chỉ thực sự có bài bản và

có kết quả khi có sự tham gia của giáo viên hướng dẫn Vì vậy, trong quá trình chữangọng cần có sự kết hợp hài hòa giữa giáo viên chữa ngọng và sinh viên nói ngọng

Trang 26

3.3 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ

3.3.1 Giải pháp chữa lỗi phát âm

3.3.1.1 Cung cấp cơ sở lí thuyết

Trước hết, người nói ngọng cần nắm vững đặc điểm cấu âm của cặp phụ âm L/N:

Về phương thức phát âm: Âm L là phụ âm xát - bên Khi phát âm, luồng hơi từphổi đi qua các khoang phát âm không bị cản hoàn toàn Luồng hơi lách qua hai bêncạnh lưỡi để thoát ra ngoài qua khoang miệng Âm N là phụ âm tắc - vang mũi Luồnghơi bị cản hoàn toàn và phải thoát ra ngoài qua khoang mũi

Về vị trí cấu âm: Khi phát âm âm L, đầu lưỡi đặt ở vị trí lợi hàm trên, làm điểmcản một phần luồng hơi từ phổi qua khoang miệng, thoát ra hai bên cạnh của lưỡi, đầulưỡi cong lên, lưỡi chuyển động theo chiều đi xuống Khi phát âm N, đầu lưỡi đặt ởmặt sau của răng, tạo thành điểm cản hoàn toàn luồng hơi, sau bật ra, lưỡi thẳng, đầulưỡi hơi tụt lại

Sự tham gia của dây thanh: Cả hai phụ âm là âm hữu thanh vì khi phát âm dâythanh rung mạnh

Tiếp theo, xác định được điểm giống và khác nhau của hai phụ âm L/N trongcấu âm:

Hai phụ âm L/N có điểm giống nhau: chúng đều là phụ âm hữu thanh và vị trícấu âm là đầu lưỡi - lợi ( chân răng hàm trên)

Bên cạnh đó hai âm này cũng có những điểm khác biệt Cụ thể:

Âm N là âm mũi ( hơi thoát ra qua khoang mũi) Âm L là âm bên ( hơi thoát ra

ở hai bên cạnh lưỡi) Đặt tay sát miệng khi phát âm, âm L có hơi thoát ra, âm N thìkhông Dùng đầu ngón tay bóp mũi, khi phát âm N thấy rung còn L thì không

Về độ căng của lưỡi: Âm N, lưỡi để chùng, lưỡi chạm vào hầu hết các răng, kể

cả răng hàm Âm L, lưỡi bị kéo căng nên không thấy lưỡi chạm vào răng

3.3.1.2 Các biện pháp luyện phát âm

Bước 1: Luyện phát âm đúng các phụ âm L/N

Mục đích của việc luyện phát âm hai phụ âm này là làm cho bộ máy phát âmhoạt động thuần thục, linh hoạt

Trang 27

Cách phát âm: Khi phát âm âm vị N ta để đầu lưỡi sát chân răng hàm trên Lúcnày miệng hơi mở Bật nhanh đầu lưỡi xuống, hàm dưới hơi trễ; luồng hơi từ họng điqua hai lỗ mũi tạo thành âm N (nờ).

Khi phát âm âm vị L ta để đầu lưỡi sát phần lợi răng hàm trên Lúc này miệnghơi mở Cuốn nhanh đầu lưỡi lên; luồng hơi từ họng đi qua hai mép lưỡi tạo thành âm

L (lờ)

Cách luyện: Để phát âm thuần thục hai phụ âm này, người nói ngọng cần phát

âm nhiều lần, lúc đầu phát âm với tốc độ chậm, sau nhanh dần Lúc đầu phát âm từng

âm vị, sau phát âm đổi chỗ xen kẽ L/N, N/L, tốc độ chậm rồi nhanh Mục đích của cáchphát âm này là làm tăng thêm sự linh hoạt của đầu lưỡi

Tiếp theo là luyện phát âm tiếng, từ có chứa L/N

Bước 2: Luyện phát âm các tiếng, từ có chứa phụ âm L/N kết hợp với việc tìm

hiểu nghĩa của từ

Mục đích rèn luyện có gắn với việc hiểu nghĩa của từ Trên cơ sở nắm đượcnghĩa của từ mà người nói ngọng nắm được hình thức ngữ âm của từ, từ đó tránh nóisai, viết sai

Cách luyện:

- Trước hết, tra từ điển tiếng Việt, đọc lần lượt các từ trong mục từ có chứaphụ âm đầu L/N, kết hợp với việc nắm được nghĩa của từ

- Đọc các mục từ có chứa hai phụ âm L/N

- So sánh nghĩa của các mục từ có phụ âm đầu L/N mà vần giống nhau

Ví dụ: lo/no

Lo: ở trong trạng thái bận tâm, không yên lòng về việc gì đó vì cho rằng có thể xảy ra điều không hay Lo lắng, lo âu, lo liệu, lo lót, lo ngại, lo toan, lo xa, lo nghĩ, lo sốt vó…

Trang 28

No: ở trạng thái nhu cầu sinh lí về ăn uống được thỏa mãn đầy đủ No ấm, no

- Ghi nhớ nghĩa của các từ vừa tìm được, sau đó đặt câu với các từ đó

Bước 3: Luyện đọc văn bản có chứa các từ ngữ có phụ âm đầu L/N

Mục đích của bước này là nhớ phát âm từ ngữ có chứa âm đầu N/L Lúc này chữviết gợi nhắc nhớ lại nghĩa, nhớ lại âm và bật ra âm đúng

Cách luyện:

- Chọn đoạn văn, đoạn thơ có nội dung hấp dẫn, vui vẻ, hài hước

- Đọc nhiều lần, đọc thuộc lòng để có thể nhẩm đọc bất kì lúc nào

- Trước tiên đọc từng câu có chứa một trong hai âm đầu N hoặc L, tiếp đó chuyểnsang những văn bản khó hơn có trộn lẫn hai phụ âm N/L

- Sau khi đọc tốt các câu chuyển sang đọc toàn văn bản

Dưới đây là một vài ví dụ:

Đoạn văn chứa từ ngữ có phụ âm đầu N:

Nam nữ thanh niên nước Nam nô nức nâng cao kĩ năng nói đúng nên không nâng niu, nới tay, nể nang với nạn này Phải nêu nó ra, trừ món nợ nặng nề khiến ta mệt não nản chí.

Đoạn văn có chứa từ ngữ có phụ âm đầu L:

Trang 29

Lối lên làng Lạng lắm lau lách, lùm lùm lẩn lút, lầm lũi là lạc liền Lão Lí làng Lạng lọc lõi, láu lỉnh Luôn leo lẻo lấy lòng lão là lũ lính lệ lấc láo, lưỡi lê lăm lăm Lão Lí lận lưng lủng lẳng lắm loại: lưỡi lam, lập lắc, lục lạc…lóng la lóng lánh.

Đoạn văn chứa từ ngữ có phụ âm đầu N và L:

Nói năng nên luyện luôn luôn Nói năng lưu loát luyện luôn lúc này

Lẽ nào nao núng lung lay Lên lớp lú lẫn lại hay nói lầm

Bước 4: Luyện phát âm L/N qua hoạt động giao tiếp có định hướng (kể

chuyện, trình bày một chủ đề tự chọn…)

Mục đích của bước này là luyện phát âm trong hoạt động lời nói Đây là hoạtđộng đòi hỏi nhớ âm - nghĩa cao hơn nhớ tự động và phát âm chuẩn tự động, thoát lihoàn toàn khỏi văn tự

- Trình bày nhiều lần để việc phát âm trở nên thuần thục

Bước 5: Luyện phát âm L/N qua các bài hát có chứa phụ âm đầu L/N

Âm nhạc là một hoạt động lôi cuốn và rất được yêu thích Hoạt động âm nhạc baogồm hoạt động biểu diễn văn nghệ theo chủ đề dưới các hình thức sinh hoạt văn nghệ

Trang 30

Để việc chữa ngọng tránh được sự nhàm chán, tẻ nhạt, giáo viên chữa ngọng có thểkhuyến khích các em hát

Cách luyện:

- Hát một mình và hát cho người khác nghe để kiểm tra phát âm

- Hát nhiều lần

Bước 6: Luyện phát âm L/N qua hoạt động giao tiếp tự do hàng ngày

Đây là bước cuối cùng của việc luyện phát âm để chữa lỗi ngọng L/N Để hoànthành tốt bước này, người nói ngọng phải đạt được một số kết quả nhất định sau khiluyện các bước trên, tức đã giảm hẳn lỗi phát âm sai L/N, đồng thời phải luôn luôn có

ý thức sửa ngọng

Cách luyện:

+ Giao tiếp tự nhiên trong đời sống hàng ngày

+ Khi phát âm các âm tiết có chứa phụ âm đầu L/N nên nói chậm lại Thực hiệnnhiều lần như vậy sẽ tạo thành thói quen, lâu dần sẽ giảm hẳn việc nói ngọng

Trên đây là một số biện pháp chữa lỗi phát âm L/N mà chúng tôi thực hiện với sinhviên khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội 2 Qua áp dụng thực tế chúng tôi nhận thấycác biện pháp nói trên thực sự phát huy tác dụng khi người nói ngọng luôn luôn có ýthức sửa ngọng trong mọi hoàn cảnh giao tiếp Bên cạnh đó, người hướng dẫn sửangọng cũng đóng vai trò quan trọng Đó là người kiểm tra, giám sát và đánh giá kếtquả chữa ngọng của các em Áp dụng tốt các điều kiện trên, việc tiến hành chữa ngọng

đã đem lại những kết quả rất khả quan

3.3.2 Giải pháp chữa lỗi chính tả L/N

3.3.2.1 Nguyên nhân mắc lỗi

Qua việc khảo sát các văn bản viết của SVKNVĐHSPHN2, chúng tôi nhận thấy

tỉ lệ SV mắc loại lỗi này không cao (129/379 em, chiếm 34,04 %) Có hai nguyên nhânchính khiến sinh viên viết sai chính tả hai phụ âm này

Trang 31

Một là do sinh viên không nắm được các quy tắc chính tả Đây là nguyên nhânphụ thuộc vào mức độ hiểu biết quy tắc chính tả tiếng Việt, không liên quan đếnphương ngữ của người nói Vì thế, về mặt nguyên tắc, muốn viết đúng chính tả thìphải nắm được quy tắc chính tả.

Hai là, do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương (phát âm lệch chuẩn) khiếnngười viết nói thế nào viết thế ấy

Xác định hai nguyên nhân của việc viết sai chính tả L/N sẽ giúp chúng tôi xâydựng hệ thống bài tập phù hợp với từng loại lỗi Chẳng hạn, với trường hợp sinh viênviết sai chính tả L/N do không nắm được quy tắc chính tả tiếng Việt, bên cạnh việccung cấp lí thuyết, chúng tôi sẽ xây dựng hệ thống bài tập dựa vào các mẹo chính tả.Còn đối với loại lỗi viết sai chính tả do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương thìsinh viên cần có phải luyện tập để phát âm đúng hai phụ âm L/N theo những biệnpháp mà chúng tôi đã đề cập ở trên

3.3.2.2 Cung cấp các kiến thức lí thuyết

Để chữa lỗi viết sai chính tả L/N, trước hết người viết sai cần nắm được các quy tắcchính tả chung của tiếng Việt Đặc biệt là quy tắc chính tả ngữ nghĩa đối với nhữngtrường hợp các âm vừa có điểm tương đồng nhau vừa có điểm đối lập, chẳng hạn nhưL/N, hay TR/CH Bên cạnh đó, người mắc lỗi cũng cần nắm được một số mẹo chính tảdưới đây

Tác giả Nguyễn Minh Thuyết khẳng định: “ Các mẹo chính tả có tác dụng như những “đơn thuốc” mà các nhà ngôn ngữ học đã pha chế cho chúng ta ( bằng cách hệ thống hóa các hiểu biết thực tế và các tri thức ngữ học thành những công thức giản tiện), giúp cho việt chữa lỗi chính tả hàng ngày” (5, 243) Tuy nhiên, việc chữa lỗi

bằng mẹo chỉ là phương pháp hỗ trợ bởi có nhiều mẹo nên việc ghi nhớ được các mẹocũng rất khó khăn, hơn nữa các mẹo đều có ngoại lệ Phương pháp này cũng đã đượccác tác giả Bùi Minh Toán, Hoàng Kim Ngọc, Nguyễn Hữu Đạt, Phan Ngọc… sửdụng để chữa lỗi chính tả, lỗi phát âm trong các giáo trình và các sách nghiên cứu củamình Trên cơ sở kế thừa kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi xin tríchdẫn lại một số mẹo đơn giản, dễ sử dụng từ công trình nghiên cứu của các tác giả nóitrên

Trang 32

a Mẹo kết hợp với âm đệm

Mẹo này được xây dựng trên cơ sở khả năng kết hợp giữa âm đầu và âm đệm trong

mô hình cấu tạo âm tiết Nội dung của mẹo như sau:

L có thể đứng trước âm đệm còn N thì không Vì vậy nếu âm tiết có âm đệm thìviết là L chứ không viết là N Âm đệm /-u-/ có hai chữ viết thể hiện: viết là O khi đứng

trước chữ a, e, ă; viết là U khi đứng trước y, ê, â, ơ Như vậy, các vần có âm đệm trong tiếng Việt là: oe, õa, oe, uy, uâ, ươ, uyê Theo mẹo này, chúng ta sẽ viết: lòa xòa, lòe loẹt, loắt choắt, luyến tiếc… Để dễ nhận biết vần có âm đệm và thuận lợi cho việc áp dụng mẹo này, tác giả Nguyễn Minh Thuyết đưa ra câu “khóa” : Ngoa ngắt Tuấn khoe quê Thúy” Tuy nhiên khi sử dụng mẹo này cần phải ghi nhớ có 3 ngoại lệ: noãn, nuy, thê noa.

b Mẹo cấu tạo từ láy

Khi ở vị trí thứ nhất trong các âm tiết của từ láy, âm L có thể cấu tạo từ láy với âmđầu khác, còn N thì không Ví dụ:

L láy với B: lắp bắp, lạch bạch, lu bù, lấn bấn…

L láy với C (K,Q): la cà, lỉnh kỉnh, loanh quanh…

L láy với D: lim dim, lò dò…

L láy với Đ: lốm đốm, lục đục, lao đao…

L láy với M: lơ mơ, lan man, liên miên…

Các cặp láy: L-H, L-X, L-T, L-V, L-CH, L-Nh, L-Kh, L-Ng… đều theo nguyên tắcnày

Trong trường hợp, tiếng đang xét ở vị trí thứ 2 của từ láy thì N láy với âm GI và

âm đầu zê rô, còn L láy với các âm khác ngoài 2 âm này Ví dụ:

Gi láy với N: gian nan, gieo neo…

Âm đầu zê rô láy với N: áy náy, ảo não…

B láy với L: bảng lảng, bẻo lẻo…

Ch láy với L: cheo leo,

Kh láy với L: Khéo léo, khoác lác…

Trong khi đó, N có khả năng kết hợp với chính nó để tạo ra từ láy toàn bộ như: nao nao, nơi nơi, nong nóng…

c Mẹo dựa vào từ đồng nghĩa

* Mẹo đồng nghĩa “Lài - nhài”

Ngày đăng: 06/04/2016, 10:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng điều tra lỗi phát âm L/N của SVKNVĐHSPHN2 - Các giải pháp khắc phục hiện tượng nói và viết ngọng l và n cho sinh viên khoa ngữ văn, trường ĐHSP hà nội 2
Bảng 2.1. Bảng điều tra lỗi phát âm L/N của SVKNVĐHSPHN2 (Trang 18)
Bảng 2.2. Số lượng SV phát âm lẫn lộn L/N ở từng địa phương - Các giải pháp khắc phục hiện tượng nói và viết ngọng l và n cho sinh viên khoa ngữ văn, trường ĐHSP hà nội 2
Bảng 2.2. Số lượng SV phát âm lẫn lộn L/N ở từng địa phương (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w