Đặc biệt hơn 60 năm qua từ khi thành lập tỉnh Vĩnh Phúc, đồng bào dân tộc Sán Dìu đã nêu cao tinhthần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắnkết: Cá nhân_
Trang 21 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ, CƠ QUAN (Nơi sinh viên thực tập).
1.1 Số liệu điều tra.
Bao gồm các số liệu điều tra về dân số của dân tộc Sán Dìu sinh sống trên địabàn tỉnh Vĩnh Phúc Bên cạnh đó còn những số liệu liên quan đến văn hoátruyền thống, phong tục tập quán, trang phục truyền thống và văn hoá ẩm thựccủa đồng bào
1.2 Phân tích số liệu.
Những số liệu trên được cung cấp từ thống kê của phòng văn hoá vàthông tin huyện Bình Xuyên, theo số liệu của Ban dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc vàtập hợp báo cáo của huyện, thị xã tính đến năm 2007
Từ những số liệu trên, chúng ta thấy dân tộc Sán Dìu là một dân tộc có
số lượng đông đảo trong cộng đồng cư dân sinh sống trên địa bàn tỉnh VĩnhPhúc Qua đó, đồng bào đã góp sức của mình cho công cuộc bảo vệ và xâydựng quê hương đất nước, góp phần làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc SánDìu nói riêng và làm phong phú thêm cho nền văn hoá của con người ViệtNam nói chung
2 Thuận lợi và khó khăn.
2.1 Thuận lợi.
Phòng văn hoá và thông tin huyện Bình Xuyên_tỉnh Vĩnh Phúc luôntạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên chúng em đến thực tập, tìm hiểu và nghiêncứu những vấn đề mình còn quan tâm và thắc mắc
Phòng còn được trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, thông tin đầy đủnhư:
Phòng có thư viện lớn với nhiều sách, báo, tạp chí…về các lĩnh vực vănhoá, lịch sử, du lịch và các lĩnh vực khác Hơn nữa, phòng còn có nhà truyền
Trang 3thống_là nơi trưng bày những tư liệu, hiện vật, hình ảnh về lịch sử, truyềnthống, con người huyện Bình Xuyên Đặc biệt, phòng văn hoá và thông tinđược trang bị phòng máy tính, khu sinh hoạt văn nghệ rất tiện ích.
Bên cạnh đó, phòng thường xuyên tổ chức các chuyến đi dã ngoại đến cáckhu di tích lịch sử, văn hoá, làng nghề trong huyện để tìm hiểu, nghiên cứu,tăng thêm hiểu biết của các cán bộ trong công việc quản lí văn hoá nói chung.Không những thế, phòng còn luôn tổ chức, tập luyện và biểu diễn các chươngtrình văn nghệ rất sôi nổi và luôn đạt kết quả cao
2.2 Khó khăn.
Bên cạnh những mặt thuận lợi thì phòng văn hoá và thông tin huyệnBình Xuyên_tỉnh Vĩnh Phúc còn tồn tại một số hạn chế nhỏ do những nguyênnhân chủ quan và khách quan như:
Đội ngũ cán bộ trình độ còn hạn chế nên việc hướng dẫn sinh viên thực tậpcòn nhiều bất cập
Cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư nhưng còn nhiều hạn chế đó
là phòng máy chưa được nối mạng internet, số lượng sách báo, tạp chí về vănhoá, lịch sử, du lịch, xã hội trong thư viện chưa thực sự đầy đủ nên việc tìmhiểu, nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn
Trên đây là những hạn chế nhỏ Hi vọng tương lai không xa, phòng vănhoá và thông tin huyện Bình Xuyên sẽ nhanh chóng khắc phục những hạn chế
đó, phát huy những thuận lợi để trở thành một đơn vị vững mạnh, không chỉ
là một trung tâm thông tin về văn hoá, lịch sử, du lịch, con người trên địa bànhuyện, tỉnh mà còn khám phá thêm nhiều nét đẹp văn hoá khác trên mọi miền
tổ quốc và bạn bè thế giới
Trang 42 KẾ HOẠCH THỰC TẬP TOÀN ĐỢT.
STT NỘI DUNG CÔNG VIỆC THỜI GIAN
THỰC HIỆN
DỰ KIẾNKẾT QUẢ GHI CHÚ
1 Giới thiệu, gặp mặt với cơ
quan thực tập
Ngày07/11/2011
2 Đọc sách, tìm hiểu, nghiên cứu
ở thư viện của phòng văn hoá
và thông tin huyện Bình
Xuyên_tỉnh Vĩnh Phúc
08/11/2011đến ngày20/11/2011
Đạt kếtquả cao
21/11/2012đến ngày31/11/2011
4 Tham gia biểu diễn văn nghệ
chương trình “Vì người tàn tật
và trẻ em mồ côi” do phòng tổ
chức
Ngày01/12/2011
Đạt kếtquả cao
5 Nộp phiếu đánh giá kết quả
thực tập và kết thúc thực tập
đợt 1
Ngày02/21/2011
6 Tham quan, tìm hiểu nghiên
cứu văn hoá, lịch sử, con
người huyện Bình Xuyên qua
các tư liệu, hiện vật trưng bày
trong nhà truyền thống của
phòng
06/02/2012đến ngày15/02/2012
Đạt kếtquả cao
7 Đi dã ngoại tìm hiểu, nghiên
cứu, tham quan về nếp sống và
16/02/2012
Đạt kếtquả cao
Trang 5sinh hoạt của đồng bào Sán
Dìu ở các huyện Lập Thạch,
Tam Đảo, Bình Xuyên và thị
xã Phúc Yên
đến ngày25/02/2012
8 Đi đến các xã, thị trấn trong
huyện Bình Xuyên thống kê
“Gia đình văn hoá”
26/02/2012đến ngày29/02/2011
Đạt kếtquả cao
9 Luyện tập văn nghệ, ca múa
nhạc chào mừng ngày quốc tế
phụ nữ Đọc sách báo trong
thư viện
01/03/2012đến ngày08/03/2012
Đạt kếtquả cao
10 Đọc sách báo trong thư viện để
tìm tài liệu hoàn chỉnh cho báo
cáo thực tập tốt nghiệp của
mình
09/03/2013đến ngày11/03/2012
11 Viết báo cáo thực tập tốt
nghiệp
12/03/2013đến ngày15/03/2012
Đạt kếtquả cao
12 Nộp báo cáo và phiếu đánh giá
kết quả, kết thúc thực tập tốt
nghiệp
Ngày16/03/2012
Đạt kếtquả cao
3 KẾT QUẢ THỰC TẬP.
Đề tài:
Trang 6“NÉT ĐẸP VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở VĨNH PHÚC.”
LỜI CẢM ƠN
Trang 7Tôi xin cảm ơn các cô chú trong phòng văn hoá và thông tin huyệnBình Xuyên - tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thànhbản báo cáo thực tập tốt nghiệp này Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắctới cô Nguyễn Thị Nhẫn (trưởng phòng văn hoá thông tin huyện Bình Xuyên),người đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình triển khainghiên cứu đề tài để bản báo cáo của tôi đạt hiệu quả.
Do thời gian nghiên cứu và đây là bước đầu làm quen với công việcnghiên cứu khoa học nên báo cáo của tôi không tránh khỏi thiếu xót Vì vậytôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn sinh viên để báocáo thực tập tốt nghiệp của tôi thêm chất lượng và hữu ích
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Vĩnh Phúc, ngày 15 tháng 03 năm 2012 Sinh viên
Nguyễn Thị Diệu Linh
MỤC LỤC
Trang 8Mở đầu 10
1 Lí do chọn đề tài 10
2 Lịch sử vấn đề 12
3 Mục đích nghiên cứu 12
4 Mục tiêu nghiên cứu 13
5 Đối tượng nghiên cứu 13
6 Phạm vi nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 13
8 Bố cục 14
Nội dung 15
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc 15
1.1 Khái niệm Văn hoá 15
1.2 Khái niệm Văn hoá truyền thống 17
1.3 Khái niệm Phong tục tập quán 18
1.4 Khái niệm văn hoá ẩm thực 19
Chương 2: Nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc 21
2.1.1 Tên gọi 21
2.1.2 Dân số 22
2.1.3 Cấu trúc làng bản, nhà ở 23
2.1.4 Quan hệ gia đình, hôn nhân 23
2.1.5 Quan hệ xã hội 25
2.1.6 Nhận định chung về dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc 26
2.2 Nét đẹp văn hoádân tộc Sán Dìu ở Vĩnh phúc 27
2.2.1 Văn hoá truyền thống 27
2.2.1.a Ngôn ngữ_chữ viết 28
Trang 92.2.1.b Văn thơ 29
2.2.1.c Đố chữ 30
2.2.1.d Soọng cô 32
2.2.1.e Trò chơi dân gian 35
2.2.2 Phong tục tập quán 36
2.2.2.a Sinh đẻ 36
2.2.2.b Cưới xin 39
2.2.2.c Tang ma 45
2.2.2.d Lễ cấp sắc 50
2.2.2.e Các lễ tết trong năm 52
2.2.3 Trang phục truyền thống và Văn hoá ẩm thực 52
2.2.3.a Trang phục truyền thống 52
2.2.3.b Văn hoá ẩm thực 54
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc 60
3.1 Thuận lợi 60
3.2 Khó khăn 62
3.3 Giải pháp 63
Kết luận 65
Tài liệu tham khảo 66
Phụ lục và một số hình ảnh 67
MỞ ĐẦU
Trang 101 Lí do chọn đề tài.
Nước ta là một quốc gia có nhiều dân tộc Các dân tộc ở nước ta cùng
cư trú lâu đời với nhau, do đó cùng chung số phận lịch sử, cùng góp sứcngười, sức của vào quá trình dựng nước, giữ nước, xây dựng và phát triển đấtnước Mỗi dân tộc ở nước ta đều có sắc thái văn hoá riêng Sắc thái văn hoá
đó tạo nên văn hoá dân tộc, đồng thời góp phần làm cho văn hoá Việt Nam đadạng mà lại thống nhất
Nằm ở phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội, Vĩnh Phúc là tỉnh có cả đồng bằng,trung du và miền núi, có các dân tộc thiểu số sinh sống Thống kê đến nay,Vĩnh Phúc có trên 20 dân tộc thiểu số, tổng số 9.127 hộ với 43.056 khẩuchiếm 3,58 dân số toàn tỉnh Trong đó dân tộc Sán Dìu chiếm số lượng lớnnhất 8.412 hộ với 39.539 khẩu chiếm 91,82 % dân số các dân tộc thiểu số củatỉnh Vĩnh Phúc
Trong quá trình hình thành và phát triển, đồng bào dân tộc Sán Dìu ởVĩnh Phúc đã luôn sát cánh cùng với nhân dân các dân tộc khác phấn đấu chocông cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước Đặc biệt hơn 60 năm qua
từ khi thành lập tỉnh Vĩnh Phúc, đồng bào dân tộc Sán Dìu đã nêu cao tinhthần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắnkết: Cá nhân_Gia đình_Bản làng_Tổ quốc, với bản sắc văn hoá truyền thốngđậm nét trong các hình thức biểu hiện về đời sống, sinh hoạt, phong tục tậpquán, tín ngưỡng
Qua thời gian và sự phát triển của xã hội, đồng bào dân tộc Sán Dìucòn giữ được những giá trị thuộc bản sắc dân tộc, song có những giá trị đã bịbiến đổi, mai một, ảnh hưởng không nhỏ đến việc giữ gìn bản sắc dân tộcthiểu số nói chung và dân tộc Sán Dìu nói riêng
Trang 11Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoáVIII có nên rõ: “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống vàxây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học nghệ thuật của cácdân tộc thiểu số” Nhằm tiếp tục thực hiện một cách có hiệu quả chủ trươngđường lối của Đảng, Nhà nước và của tỉnh, đặc biệt là thực hiện tốt chínhsách về dân tộc đồng thời tìm hiểu đời sống kinh tế, văn hoá của từng dân tộcthiểu số ở Vĩnh Phúc một cách hệ thống, chi tiết hơn, từ đó giúp cho các dântộc tự tìm hiểu về mình và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau để xây dựng mộtnền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Việc tìm hiểu về những nét tiêu biểu của từng dân tộc thể hiện trongvăn hoá là rất quan trọng vì qua đó chúng ta có cơ sở để nhận diện các dân tộcmột cách rõ ràng hơn Trên cơ sở định hướng quan trọng này, trong nhữngnăm qua việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn các giá trị truyền thống của cácdân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc nói chung và đồng bào dân tộc Sán Dìu nóiriêng được quan tâm, đầu tư, triển khai, nghiên cứu, bước đầu đã thu đượcnhững kết quả như: công trình nghiên cứu về văn hoá vật thể (nhà ở, sinhhoạt, trang phục truyền thống, các di tích lịch sử văn hoá…) và phi vật thể(hát soọng cô…)
Xuất phát là người con được sinh ra trên quê hương là nơi có số lượngngười Sán Dìu khá đông đảo, được sống trong môi trường và thưởng thức câuhát Soọng cô, nghe lời cúng khấn tổ tiên, cúng thần linh trong các ngày lễ tết,nghe câu văn than trong các dịp tang lễ, tham dự các lễ hội dân gian, vui chơicác trò chơi dân gian cùng các bạn trẻ…thấy được những nét tiêu biểu mangđậm bản chất văn hoá người Sán Dìu Do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Nétđẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ở Vinh Phúc” làm đề tài báo cáo thực tập tốtnghiệp của mình Đồng thời đó còn là cơ sở quan trọng để giúp tôi tiếp cận và
Trang 12tìm hiểu những nét đẹp văn hoá của các dân tộc khác nhằm phục vụ cho côngviệc nghiên cứu văn hoá của tôi sau này.
2 Lịch sử vấn đề.
Như chúng ta đã biết, dân tộc Sán Dìu ở nước ta có 126.237 người (1999)
Đã có rất nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu khoa học, tạp chí nói vềngười Sán Dìu ở Việt Nam nói chung và ở một số địa phương khác nói riêng
Đó là:
“Người Sán Dìu ở Việt Nam” (1983) của Ma Khánh Bằng
“Phong tục và nghi lễ chu kì đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam”(2005) của Diệp Trung Bình
Và trong một số cuốn sách khác có đề cập đến người Sán Dìu ở tỉnh QuảngNinh, Bắc Giang, Tuyên Quang…
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã góp phần khắc hoạ rõ nét vàsinh động về những nét đẹp văn hoá của dân tộc Sán Dìu nói chung Tuynhiên, những công trình này chỉ dừng lại ở mức khái quát nhất về dân tộc SánDìu trên cả nước mà chưa nêu chi tiết về nét đẹp văn hoá của đồng bào trênđịa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Bởi vậy, người viết tiếp tục kế thừa những thành tựucủa những người đi trước, tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu hoàn thiện đề tài
“Nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc”
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Tìm hiểu nghiên cứu về những nét đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc SánDìu ở Vĩnh Phúc được thể hiện trong đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán,văn hoá truyền thống, trang phục truyền thống và văn hoá ẩm thực để thấyđược thực trạng của những nét đẹp văn hoá ấy Đồng thời nêu được vị tríquan trọng của văn hoá dân tộc Sán Dìu trong tổng thể đời sống văn hoá ởVĩnh Phúc, những mặt tích cực, hạn chế và đưa ra giải pháp
Trang 134 Mục tiêu nghiên cứu.
Phân tích, đánh giá những nét đẹp văn hoá ấy trong những năm qua vớiviệc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Từ đó rút ra những thuậnlợi và khó khăn để đề xuất giải pháp để giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hoádân tộc Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới
5 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dân tọc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc mà cụthể là các vấn đề liên quan tới đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, văn hoátruyền thống, trang phục truyền thống và văn hoá ẩm thực…để thấy đượcnhững nét đẹp văn hoá riêng của dân tộc này
6 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi không gian là: Dân tộc Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tài liệu về những nét đẹp văn hoá của dân tộcSán Dìu ở Vĩnh Phúc trong những năm gần đây Từ đó đưa ra những dự kiến,định hướng bảo vệ những nét đẹp văn hoá ấy trong những năm tới
7 Phương pháp nghiên cứu.
7.a Phương pháp thu thập và xử lí thông tin.
Nghiên cứu đề tài qua việc thu thập các tài liệu sẵn có: thông qua cáctài liệu, văn bản, sách báo, tạp chí, báo cáo, website và tư liệu do địa phươngcung cấp có liên quan tới đề tài
7.b Phương pháp khảo sát thực địa.
Thông qua việc tham quan trực tiếp những nét đẹp văn hoá, trực tiếptim hiểu nếp sống và sinh hoạt của dân tộc Sán Dìu, phỏng vấn trực tiếpngười dân bản địa và những nghệ nhân, già làng tiêu biểu
7.c Phương pháp thống kê.
Trang 14Là phương pháp nhằm tổng hợp các số liệu của các đối tượng để tiếnhành phân tích, so sánh, đánh giá nhằm làm rõ những vấn đề thuộc bản chấtcủa đối tượng nghiên cứu Đồng thời thông qua các số liệu thống kê, ta có thểthấy được tính quy luật đúng đắn của hiện tượng và rút ra nhận xét, kết luậnđúng đắn.
Ngoài phần mở đầu và kết kuận, báo cáo thực tập gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu
ở Vĩnh Phúc
Chương 2: Nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ởVĩnh Phúc
NỘI DUNG
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NÉT ĐẸP
VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở VĨNH PHÚC
1.1 Khái niệm văn hoá.
Văn hoá là một thuật ngữ xuất hiện sớm và mang nhiều ý nghĩa Cónhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá bởi nó mang ý nghĩa rộng vừa mang ýnghĩa hẹp Vì vậy xuất phát từ những góc nhìn khác nhau để đưa ra nhữngđịnh nghĩa, khái niệm khác nhau
Xét trên bình diện ngôn ngữ, văn hoá bắt nguồn từ tiếng Latinh là: Culturenghĩa gốc là trồng trọt, vun trồng Sau này nó mở rộng ra các nghĩa: cư trú,luyện tập, nuôi dưỡng, từ đó tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga cũng sử dụng ởgóc độ khoa học
Nghĩa ban đầu của từ văn hoá trong tiếng Hán có nghĩa gốc là xăm thân
để con người bảo vệ mình trước các loài thuỷ quoái, không để chúng tấncông; làm đẹp mình trước tự nhiên và đồng loại Sau này từ “văn hoá” đượchiểu rộng hơn, đó là dáng vẻ bên ngoài của sự vật, vẻ đẹp bên ngoài và cònbiểu hiện cái đẹp của ngôn ngữ thông qua văn chương, học vấn và trí tuệ Từ
“hoá” cũng có nhiều nghhĩa là thay đổi, biến đổi Do đó “văn hoá” là toàn bộnhững sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên và xã hội
Khái niệm văn hoá là cách nói khác với thuật ngữ văn hoá Chúng ta cóthể khẳng định văn hoá là một khái niệm khoa học dùng để mô tả các quan
hệ, các quá trình, các tương tác văn hoá Cách tiếp cận về giá trị học về vănhoá, ngoài việc mô tả các giá trị vật chất và tinh thần còn luận chứng về cácgiá trị phổ quát trong văn hoá
Trang 16Văn hoá là một khái niệm mang nội hàm với rất nhiều cách hiểu khácnhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần Một số khái niệmvăn hoá hay được nhắc đến nhiều nhất đó là:
Định nghĩa văn hoá của UNESCO theo nghĩa rộng thì văn hoá là phúcthể_tổng thể các đặc trưng diện mạo về vật chất và tinh thần, tri thức, tìnhcảm…khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng, vùng miền, quốc gia, dântộc
Định nghĩa về văn hoá của UNESCO theo nghĩa hẹp thì văn hoá là mộttổng thể những hệ thống biểu trưng (kí hiệu) chi phối cách ứng xử và giaotiếp trong một cộng đồng khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng Văn hoábao gồm hệ thống những giá trị để xem xét, đánh giá một sự kiện, một hiệntượng theo cộng đồng ấy
Văn hoá là tổng thể hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn qua mối quan
hệ tương tác giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội và con ngườivới chính bản thân mình
Văn hoá là cách tác động, tiếp cận, cách cấy vào ba thế giới:Thế giới tựnhiên xung quanh con người để biến nó phục vụ đời sống, vào xã hội mà conngười sẽ tổ chức nó để chinh phục tự nhiên, vào đời sống tâm linh của mình
để hiểu mình là ai trong thế giới Mỗi xã hội không hề giống nhau trong cáckiểu tác động đó.Vì thế có thể nói đến văn hoá là nói đến văn hoá của từng xãhội cụ thể, từng tộc người cụ thể Và vì thể mà nền văn hoá đều có tính duy lítương đối của nó trong phạm vi xã hội ấy trong không gian và thời gian cụ thểấy
Chúng ta có thể khẳng định văn hoá là vấn đề mang tính toàn cầu Vănhoá không chỉ mang tính lịch sử mà còn mang tính động, luôn luôn phát triển
Trang 17cùng thời đại Chúng ta không thể luận giải hết nội hàm của khái niệm vănhoá nếu tách nó ra sự vận động của thời đại, đặc biệt là thời đại ngày nay khivăn hoá được sản sinh không ngừng bởi các sáng tạo của con người và cũngkhông ngừng xảy ra những va chạm giữa các xu hướng, khuynh hướng vănhoá khác nhau.
1.2 Khái niệm văn hoá truyền thống.
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hoátruyền thống đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kếttinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử đểtạo nên bản sắc riêng của một dân tộc Giá trị văn hoá truyền thống đó đượctruyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đấtnước
Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được hiểu lànhững cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí khôngphải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị, mà phải là cái tốt cơ bản, phổbiến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định,đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩacủa khái niệm giá trị truyền thống.”
Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng: Truyền thống văn hoá là những giátrị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuônmẫu xã hội được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian vàđược cố định hoá dưới dạng phong tục tập quán, lễ nghi, luật pháp, dư luận.Một khái niệm khác, nền văn hóa được truyền lại gọi là truyền thống văn hoá.Như vậy, nó phản ánh được những thành tựu của con người, tích tập đượctrong quá trình tìm hiểu, thể hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc
Trang 18sống Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài hoà của nó như là một hiệnthân của trí tuệ.
Theo Giáo sư Trần Nguyên Việt thì theo đó, có thể coi truyền thống làmột bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trongsuốt tiến trình hình thành và phát triển của các nền văn hoá tinh thần và vậtchất, là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộngđồng và xã hội nói chung
Vì vậy khi nói tới văn hoá truyền thống là nói đến những truyền thống
đã được lịch sử đánh giá khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộngđồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời khi xem xét đánh giátruyền thống và các giá trị văn hoá truyền thống cần phải có quan điểm biệnchứng, quan điểm lịch sử cụ thể, nghĩa là phải đặt chúng trong những điềukiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại
1.3 Khái niệm phong tục tập quán.
Phong tục tập quán là những nếp sống do những người sống trong xãhội tự đặt ra, nó được áp dụng vào đời sống và phục vụ con người nhưngkhông mang tính chất vi phạm pháp luật Phong tục cũng dần dần thay đổikhác đi để phù hợp với đời sống hiện tại của từng thời kì Toàn bộ những hoạtđộng sống của con người đã được hình thành trong tiến trình lịch sử và ổnđịnh thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưutruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất trongcộng đồng
Phong tục không mang tính cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức,tuy nhiên nó cũng không tuỳ tiện, nhất thời như hoạt động sống thường ngày
Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững Phong tục của một dântộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí một dòng họ và gia tộc
Trang 19thực hiện qua nhiều chu kì khác nhau của đời sống con người Hệ thốngphong tục bao gồm các phong tục liên quan tới vòng đời của con người nhưphong tục sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ, tang ma, cúng giỗ…haycác phong tục liên quan tới các hoạt động sống của con người theo chu kì thờitiết trong năm như lễ tết, lễ hội…hay các hoạt động từ gieo hạt đến thu hoạch,đánh bắt…
Phong tục là một bộ phận của văn hoá có vai trò quan trọng trong việchình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương Nó ảnh hưởng thậm chíchế định những ứng xử cá nhân trong cộng đồng Phong tục được tuân thủtheo quy định của luật tục hoặc hương ước, người vi phạm có thể bị phạt vạ.Cùng với sự phát triển của xã hội, một số phong tục không còn phù hợp vớithời đại mới bị đào thải, trong khi một số phong tục mới được hình thành Tập quán là phương thức ứng xử và hoạt động đã định hình quen thuộc
và đã thành nếp sống trong đời sống, trong cộng đồng Tập quán gần gũi vớithói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi Trong những tìnhhuống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hoá.Tập quán hay xã hội định hình một cách tự phát hoặc hình thành ổn địnhthông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõrệt
Phong là nề nếp đã được lan truyền rộng rãi, tục là thói quen lâu đời.Nội dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội Tập quán là làm nhiềuthành quen Như vậy phong tục tập quán là những thói quen được đưa và nếpsống thường ngày, mỗi dân tộc đều có những thói quen cá biệt ban đầu về sau
do sự tiếp xúc với nhau nên có những ảnh hưởng, bắt chước và có những cáigiống nhau
1.4 Khái niệm ẩm thực.
Trang 20Theo từ điển thông dụng thì ẩm thực chính là ăn uống, là hoạt độngcung cấp năng lượng cho con người sống và hoạt động Chính vì vậy, nói đến
ẩm thực là nói đến việc ăn uống và các món ăn cùng với nguồn gốc và lịch sửcủa nó
Theo nghĩa rộng, văn hoá ẩm thực là một phần văn hoá nằm trong tổngthể, phức thể của các đặc trưng, diện mạo về vật chất và tinh thần, tri thức,tình cảm…khắc hoạ mội số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình,làng xóm, vùng miền, quốc gia Nó chi phối một phần không nhỏ trong cáchứng xử, giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật chế biến thức ăn, ý nghĩa, biểutượng tâm linh trong món ăn đó
Theo nghĩa hẹp, văn hoá ẩm thực là những tập quán và khẩu vị của connguời, những ứng xử của con người trong ăn uống, những tập tục kiêng kịtrong ăn uống, những phương thức chế biến, bày biện trong ăn uống và cáchthưởng thức món ăn…Hiểu và sử dụng đúng các món ăn sao cho có lợi chosức khoẻ nhất cho gia đình và bản thân
Trang 21CHƯƠNG 2 NÉT ĐẸP VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc.
Trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn(1723_1782) có nói nhiều đến các tộc người phía Bắc, riêng ở khu TuyênQuang (giáp Vĩnh Phúc hiện nay) là một địa bàn có nhiều người Sán Dìu cưtrú, có tới “Bảy chủng tộc người Man” là Sơn Trang, Sơn Tử, Cao Lan, SơnMan, Sơn Bán, Sơn Miêu, Hờn Ban…trong bảy tên Man được Lê Quý Đônnhắc tới thì tên Man đáng được chúng ta lưu ý và phán đoán vì không riêng gìngười Dao mới gọi là Man Có điều, khẳng định là tất cả các nhóm Dao ởnước ta đều có tên là Man hay Mán, từ đó chúng ta có thể nghĩ rằng Manchính là Dao, Sơn Man chính là Sơn Dao hay cũng chính là Sán Dìu vì theo
Trang 22các nhà dân tộc học thì người Sán Dìu đã định cư ở Việt Nam khoảng 300năm nay.
Theo tác giả Bùi Đình trong một công trình “Tìm hiểu đồng bào miềnnúi Việt Nam” (HN, 1980), có viết “Mán quần cộ còn có tên là Sơn Dao, họsống rải rác khắp vùng đồng bằng ven biển Móng Cái, Đầm Hà, Hà Cối,Quảng Yên (Quảng Ninh), phủ Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, TuyênQuang…Lác đác ngoài hải đảo trong Vịnh Hạ Long như Cái Bào, Cái Lânnhóm ở ngoài duyên hải như Đầm Hà, Hà Cối, Quảng Yên…phong tục của
họ đều theo người Kinh nhưng trong các phủ Lạng Thương, TháiNguyên,Tuyên Quang, Vĩnh Yên vẫn còn giữ được tính cách Mán Cách ănmặc của họ không khác gì người Kinh nhưng khi đi làm ruộng hay đi rừng,đàn ông thường mặc áo cánh ngắn tay và quần đùi, nên người ta gọi là Mánquần cộc; đàn bà mặc áo chàm dài, váy ngắn, chân quấn xà cạp và nhuộmrăng đen Người Mán quần cộc chỉ chuyên về nông nghiệp, không có côngnghệ gì khác.”
Đến đầu năm 1960, tổng cục thống kê Trung ương mới khẳng định tênSán Dìu và từ đó về sau Sán Dìu thành tên gọi chính thức được ghi trong cácvăn bản của Nhà nước, đến nay dân tộc Sán Dìu là một trong 54 dân tộc ởViệt Nam
2.1.2 Dân số và địa bàn cư trú
Theo số liệu Ban dân tộc tỉnh Vĩnh phúc tập hợp báo cáo của cáchuyện, thị xã đến năm 2007, người Sán Dìu đã là một trong các thành phầndân tộc thiểu số đang sinh sống tại tỉnh Vĩnh Phúc với 8.412 hộ và 39.539khẩu, là dân tộc thiểu số đông nhất, chiếm 91,82% dân số dân tộc thiểu sốtoàn tỉnh Người Sán Dìu sống tập trung ở các làng bản thuộc các huyện LậpThạch, Tam Đảo, Bình Xuyên và xã Ngọc Thanh của thị xã Phúc Yên
Trang 23Đây là một vùng đất có vị trí quan trọng đặc biệt về quân sự, quốcphòng và an ninh quốc gia Các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm củacha ông ta trước đây đều phải dựa vào vùng bán sơn địa, vùng núi hiểm trởnày để lập vùng căn cứ Về tiềm năng phát triển kinh tế nông_lâm nghiệp, đâycũng là vùng đất quan trọng có nhiều tài nguyên tự nhiên đặc biệt như nguồnnước, nông lâm sản, động vật quý hiếm Ngoài ra đây còn là vùng có tiềmnăng lớn phát triển về du lịch, điều dưỡng, hội thảo và du lịch tâm linh.
2.1.3 Cấu trúc làng bản và nhà ở.
Người Sán Dìu thường sống thành từng làng xóm nhỏ (khoảng 30_40nóc nhà), làng to có khi tới 300_400 hộ (xã Minh Quang, xã Đạo Trù_huyệnTam Đảo) Làng (son) được thiết lập dưới những chân núi thấp, trên đồi, nhàdựa lưng vào đồi, nhìn ra những cánh đồng màu mỡ hoặc những nơi gầnruộng, gần nguồn nước, thuận tiện cho sinh hoạt và sản xuất Điều đặc biệt làngười Sán Dìu sống định cư lâu đời, không có tập quán du canh,du cư nhưmột số dân tộc khác
Nhà xưa nhất của người Sán Dìu, theo ghi chép của ông Bônipaxi vàođầu thế kỉ XX như sau: “Nhà được cất trên mặt đất, khung nhà bằng gỗ, tường
và liếp tre đan, ít khi làm bằng đất ép, mái bằng rơm rạ, nhà chính thường cóhai gian nhô ra, một hàng hiên gian nhà chính chạy dài giữa hai gian nhô ranày Trong gian nhô ra, bên có buồng của ông chủ nhà,bên trái là bếp Haigian này chiếm hết bề rộng của nhà, nhưng gian chính được cắt theo chiều dàibằng một tấm liếp, như vậy người ta tạo ra một thứ hành lang và người ta đibằng lối bếp vào phòng của ông chủ gia đình Hành lang này được ngăn chotới khoảng giữa của bề rộng thành những ngăn buồng nhỏ để các con trai, congái, con dâu, đầy tớ nằm
2.1.4 Quan hệ gia đình và hôn nhân.
Trang 24Về quan hệ gia đình, từ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 ở vùngngười Sán Dìu do chế độ tư hữu ruộng đất đã phát triển mạnh nên không cònhiện tượng gia đình lớn kiểu tứ đại đồng đường hay ngũ đại đồng đường cùngsinh sống mà đã chuyển sang gia đình phụ quyền Trong nhà, người chồng(cha) là chủ gia đình, con theo họ cha, con trai được thừa hưởng tài sản Cha
mẹ quyết định cưới gả cho con Con trai, con gái phải được xem lá số, so tuổitrước khi nên duyên vợ chồng Vì vậy, người cha đứng đầu và có trách nhiệmđiều hành mọi công việc về đối nội và đối ngoại (từ việc làm ăn Lo toantrong các việc cưới xin, ma chay, cúng bái, lễ tết cho đến việc đối nhân xử thếvới làng xóm, dòng tộc) Còn mẹ là người giúp việc đắc lực của cha và làngười có trách nhiệm chính trong việc lo toan những việc sinh con, nội trợ,lợn gà…
Đối với người Sán Dìu, khi con trai lớn lên, trưởng thành lấy vợ thì bố
mẹ cho ra ở riêng ngay, nếu gia đình có nhiều con trai khi lấy vợ cha cho cặp
vợ chồng anh cả ra ở riêng trước để làm gương cho các em sau Để chuẩn bịcho con cái đến tuổi trưởng thành lấy vợ, lấy chồng và ra ở riêng bố mẹ chophép con cái có quyền gây vốn riêng Nguồn vốn ấy có được nhiều hay ít do
sự cần cù chịu khó và quyết tâm làm ăn của mỗi người, sự phân công laođộng trong gia đình người Sán Dìu rất rõ ràng
Trong gia đình truyền thống của người Sán Dìu, bố mẹ con cái ít totiếng với nhau, đứa trẻ khi sinh ra được bố mẹ chăm nom chu đáo, hết cữngười ta đặt tên cho đứa trẻ Thông thường tinh thần gia tộc của người SánDìu rất mạnh mẽ do vậy ở nhiều xóm làng, toàn bộ dân cư ở đó đều là anh em
họ hàng với nhau hay ít nhất cũng là những người có quan hệ về hôn nhân
Về quan hệ hôn nhân, chúng ta thấy hôn nhân của người Sán Dìu là chế
độ hôn nhân tiến bộ (một vợ một chồng), tuy nhiên trước cách mạng tháng
Trang 25tám năm 1945 còn nặng tính chất cưới xin lạc hậu Nhà trai phải bỏ ra một sốtiền và hiện vật như thịt lợn, gạo, đồ nữ trang cho nhà gái, thực chất là traođổi mua bán người con gái Hai bên nhà trai và nhà gái có sự thoả thuận côngkhai về tiền, bạc trắng và số lễ đem sang nhà gái.
Việc hôn nhân chủ yếu do hai bên cha mẹ quyết định, căn cứ và cái gọi
là “Môn đăng hộ đối”, nghĩa là căn cứ vào tài sản và địa vị xã hội của hai bêngia đình có tương xứng hay không nhưng quan trọng nhất là “lá số” của đôitrai gái phải phù hợp Nếu hai bên họ hàng, cha mẹ đồng ý mà thầy mo saukhi tra cứu sách bói cho biết “lá số” của đôi trai gái không hợp nhau, nghĩa làxung khắc thì cuộc hôn nhân không thể tiến hành
Trong quan hệ hôn nhâncủa người Sán Dìu, nguyên tắc là người cùngdòng họ (cùng huyết thống) không được lấy nhau, nhất là trong cung một hệthống tên đệm Nếu cùng một dòng họ mà khác chi muốn lấy nhau, nhất thiếtđôi trai gái phải làm lễ tạ tổ tiên Điều đặc biệt là người Sán Dìu ở Vĩnh Phúckhông có hình thức “Hôn nhân thế tục” nghĩa là vợ chết, người đàn ông có thểlấy chị hoặc em gái vợ làm vợ kế, hay khi chồng chết, người đàn bà có thể lấyanh trai hoặc em trai của người chồng quá cố làm chồng mới Đây được coi là
vi phạm tục lệ dân tộc
2.1.5 Quan hệ xã hội.
Trong quan hệ xã hội và sinh hoạt giũa các thành viên trong làng xã,người Sán Dìu lấy tình đoàn kết tương thân, tương ái làm gốc, họ dễ xoá bỏnhững hiềm khích, chính vì vậy từ trước tới nay người Sán Dìu ít có những vụkiện tụng ra công đường Trong cộng đồng bản làng ấy mọi người sống vớinhau đoàn kết, gán bó trong tình yêu thương, chung lưng đấu cật, đùm bọcnhư anh em ruột thịt Điều này được thể hiện rất rõ trong các phong tục tậpquán của người Sán Dìu như dựng nhà mới, cưới xin, ma chay…
Trang 26Khi một gia đình trong bản có ý định làm ngôi nhà mới chỉ cần họ đếnbáo với bà con dân bản thì mọi người trong bản sẵn sàng giúp đỡ Họ tự lo đồ
ăn thức uống rồi cùng chủ nhà vào rừng chặt cây lấy gỗ…Làm xong nhữngcông việc ấy, họ lại tự về nhà mình để ăn uống mà không làm phiền tới giachủ Ngày dựng nhà, cả bản cùng tới dựng hộ mà không cần tính công, chỉcần sau này người đựoc giúp đỡ sẽ nhớ công đó mà có nghĩa vụ giúp lại Khikhánh thành ngôi nhà mới, gia chủ cũng chỉ cần chuẩn bị bữa cơm thịnh soạnmời mọi ngưoừi đến ăn mừng
Khi một gia đình trong thôn bản có một em bé cất tiếng khóc chào đời,một cặp trai gái tổ chức cưới hỏi hay một gia đình nào đó gặp chuyện đaubuồn đều được mọi người trong làng bản đến chia vui, an ủi, động viên vàchung sức giúp đỡ để góp phần xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn miềnnúi ngày càng lành mạnh và tốt đẹp Đó là một truyền thống cố kết cộng đồngđáng quý ở người Sán Dìu
2.1.6 Nhận định chung về người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc.
Là một thành viên trong cộng đồng các dân tộc sống ở Vĩnh Phúc, mặc
dù mới tụ cư khoảng 300 năm nay nhưng dân tộc Sán Dìu đã gia nhập đại giađình các dân tộc Việt Nam như là một thành viên có lịch sử lâu đời ở nước ta
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam cho đến khi Đảng cộng sản ViệtNam ra đời (1930), người Sán Dìu đã hăng hái chiến đấu dưới lá cờ vinhquang của Đảng, nhiều chi bộ Đảng đã được thành lập ở thôn bản và đội ngũĐảng viên người Sán Dìu ngày càng đông Nhiều gia đình và xóm làng đã trởthành cơ sở tin cậy của Đảng, đồng bào đã không sợ khó khăn nguy hiểm đểche giấu, nuôi dưỡng cán bộ của Đảng, tham gia các hội cứu quốc làm giaothông liên lạc, tham gia cứu quốc quân chống Pháp
Trang 27Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, dân tộc Sán Dìu vừa làmột dân tộc chiến đấu ngoan cường, vừa sản xuất giỏi, làm tròn nghĩa vụ hậuphương lớn đối với tiền tuyến lớn,hàng ngàn thanh niên đã nô nức tòng quân
ra trận cùng thanh niên cả nước Nhiều xã có tới 3_4% dân số tham gia quânđội và không ít gia đình có từ 2_3 con nhập ngũ Đồng bào Sán Dìu khôngtiếc tiền của, công sức và máu xương để góp phần giành lại độc lập tự do cho
Tổ quốc Ngày 27/10/1967, trung đội trực chiến của dân quân du kích ngườiSán Dìu ở xã Đạo Trù huyện Tam Đảo đã lập công xuất sắc bắn rơi một máybay F4 của không quân Mĩ bằng súng bộ binh
Từ năm 1986 đến nay, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởixướng và lãnh đạo, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chủ trương, đường lốichính sách để ưu tiên phát triển kinh tế_xã hội miền núi và vùng đồng bàoSán Dìu trong tỉnh nhằm từng bước giúp người Sán Dìu giảm bớt khó khăn,
có vốn đầu tư phát triển sản xuất từng bước xoá đói giảm nghèo Từ đó, tìnhhình kinh tế và đời sống xã hội của đại bộ phận đồng bào Sán Dìu đã được cảithiện và nâng lên đáng kể Bộ mặt nông thôn miền núi, nhiều thôn bản SánDìu đã được đổi mới và từng bước phát triển vững chắc, tạo cơ sở cho sự pháttriển toàn diện về kinh tế_xã hội miền núi nói chung, vùng dân tộc nói riêngcho những giai đoạn tiếp theo
2.2 Nét đẹp văn hoá dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc.
2.2.1 Văn hoá Truyền thống.
Nói đến kho tàng văn hoá truyền thống của dân tộc Sán Dìu, chúng taphải nghĩ ngay tới những bài hát, điệu múa đã ngấm sâu vào máu thịt các thế
hệ Những làn điệu dân ca, những nét đẹp văn hoá truyền thống ấy làm giảmnhững lo toan, bộn bề của cuộc sống thường nhật còn nhiều vất vả, thiếu thốn
Trang 28Cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác, văn hoá dân gian của người SánDìu được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình xây dựng quêhương đất nước Đó là những sản phẩm do con người sáng tạo ra từ thế hệnày sang thế hệ khác và được mọi người trong cộng đồng kế tiếp nhau thựchiện Người già dạy cho lớp trẻ, người biết nhiều dạy cho người biết ít và tất
cả những sản phẩm đó đã trở thành truyền thống văn hoá của một dân tộc Văn hoá dân gian của người Sán Dìu là tiếng nói của người dân laođộng, sáng tạo ra trong quá trình sản xuất để phục vụ cuộc sống Với bản chấtcần cù và thuần phác của mình, người Sán Dìu đã tạo nên phong cách lạcquan, yêu đời, phóng khoáng, giàu chất trữ tình trong nền văn hoá dân gian.Kho tàng văn nghệ dân gian của người Sán Dìu được thể hiện rất rõ trong nộidung các bài ca mà người ta thường gọi là “Soọng cô”, trong các áng thơ,truyện kể…Tuy nhiên, hầu hết các loại hình văn hoá dân gian của người SánDìu đều thể hiện nội dung văn hoá rất sâu sắc Tất cả đều nhằm mục đích cangợi cảnh đẹp thiên nhiên, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tình yêu conngười và tình yêu lứa đôi và phản ánh ước mơ cao đẹp của con người muốnvượt qua mọi khó khăn gian khổ để xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc
2.2.1.a Ngôn ngữ_chữ viết.
Người Sán Dìu cũng như người Việt đã chịu ảnh hưởng sâu sắc củachữ Hán Biểu hiện nổi bật là đều thu nạp và dung hoà rất nhiều từ ngữ gốcHán vào tiếng nói của dân tộc mình, đồng thời vận dụng nét bút và nguyên tắcbiểu âm, biểu ý của chữ Hán để tạo ra chữ viết cho dân tộc mình Chứng tíchcủa chữ tượng hình Sán Dìu còn lại đến nay đó là một khối lượng lớn các tàiliệu chữ Hán còn được lưu giữ lại trong các kho gia thư của gia đình ngườiSán Dìu
Trang 29Chữ tượng hình Sán Dìu chưa bao giờ được coi là văn tự chính thứccủa dân tộc Sán Dìu cũng chưa hề được chuẩn hoá Ngày nay người Sán Dìu
đã có hệ thống chữ viết mới được đặt ra dựa theo các chữ cái Latinh Songchữ tượng hình được mượn từ chữ Hán của người Sán Dìu vẫn là công cụchuyên chở và thừa kế di sản văn hoá cổ truyền của người Sán Dìu, vẫn hiệnhữu trong đời sống văn hoá tín ngưỡng Bước đầu tìm hiểu về ngôn ngữ củangười Sán Dìu, chúng ta thấy ngưòi Sán Dìu có ngôn ngữ ngữ hệ Hán_Tạng
Âm phát ra của tiếng Sán Dìu cũng có các âm như: âm môi, âm lưỡi, âm bệthơi Người Sán Dìu trong quá trình sử dụng ngôn ngữ đã dùng hệ thống chữcái Latinh để ghi lại tiếng nói của mình cho dễ tiếp thu
Ngôn ngữ của mỗi dân tộc bao giờ cũng có ngôn ngữ nói và ngôn ngữviết: Ngôn ngữ nói được thể hiện qua tiếng nói, ngôn ngữ viết được thể hiệnqua chữ viết Thế nhưng không phải dân tộc nào cũng tự sáng tạo ra chữ viếtriêng cho mình, phải đi mượn chữ viết của dân tộc khác để kí âm cho tiếngnói của dân tộc mình Dân tộc Sán Dìu cũng là một trong số các dân tộc nhưthế khi chưa có chữ viết, họ đã mượn chữ Hán để kí âm cho tiếng mẹ đẻ củamình, coi đó là ngôn ngữ riêng của dân tộc Sán Dìu
2.2.1.b Văn thơ.
Người Sán Dìu không chỉ sáng tạo văn nghệ trong những lúc vui mừng
mà đồng bào còn có những áng thơ, điệu nhảy trong những lúc đau buồn, tang
ma Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, văn than của người Sán Dìu
là loại văn thương xót người chết với những lời lẽ lâm ly thống thiết Vănthan thường nói lên than thế, sự nghiệp của người qua cố Ca ngợi đức tínhcần cù lao động và lòng tận tụy hi sinh vì con cái của người quá cố để concháu học tập, hay nói về đoạn đường mà người quá cố sẽ đi đến Sau đây xindẫn một đoạn văn than của người Sán Dìu như sau:
Trang 30“Văn rời phòng ốc.
Đệ tử thổi tù và tu tu,Đồng tử dẫn hồn lên sảnh đường
Kim đồng_ngọc nữ kính hướng dẫn
Ngọc nữ song song phụng nghênh phanĐồng tử dẫn hồn đưa hồn đi
Dẫn ra tiên sư chầu Ngọc Hoàng
Trước mộ có tiên sư nghênh tiếp
Sau có quân tiên tiến bước theo
Đồng tử dẫn hồn dẫn hồn raNgọc nữ song song bưng cơm đónTrước có tôn sư tới nghênh tiếp
Dẫn nhập phép du già trong hộiChư phật ai ai cũng tiếp dẫnTiếp dẫn hồn tiên có thiên chân
Một tiếng tù và thổi tu tu
Khảo cáo Tam Thanh với Ngọc Hoàng
Có việc lên đàng mà khải cáo
Không sự chẳng dám cáo thần tiênHôm nay về chiết lấy tiên sưThân mật trở về nơi tiên giới
Chưa cùng nộp hoá tới thiên cungMệnh thỉnh pháp sư tới bản xá
Vin tròn nộp hoá gặp Tam Thanh
Ngoài các loại hình văn thơ kể trên, người Sán Dìu có một loại văncúng khá phổ biến Đó là những áng văn mô tả về guồn gốc của dòng tộc hay
Trang 31văn răn dạy con cháu Đặc biệt sách cúng bái (nguyên bản chữ Hán) củangười Sán Dìu đến nay còn khá nhiều Đó là các loại sách cúng tiểu nhi, các
tờ điệp dùng trong lễ cấp sắc…
2.2.1.c Đố chữ.
Trong các loại hình văn hoá của người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc, chúng tacòn thấy một thể loại nữa là đố chữ Cách đố chữ của người Sán Dìu đượcdùng để đố giải chữ Hán giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau Từ
đó, chúng ta có thể thấy rằng đây chính là nội dung khá độc đáo, vừa vui tươilại vừa mang tính chất văn hoá rất đặc sắc trong sinh hoạt văn hoá dân giancủa người Sán Dìu
Chẳng hạn như đố chữ Hương:
“Thiên tư vô thành thiên
Bát tự bài lưỡng biên
Nhật hữu tại hoà hạ
Quái tại phật diện tiền.”
(Chữ thiên không phải thiênChữ bát bày ra hai bên
Nhật có ở dưới thóc
Quẻ ở trước mặt phật.)
Đố chữ Long:
“Lập tự lập đinh đương
Nguyệt tự khước hạ trường
Bốc tự đầu thượng toạ
Kí tự thủ tam phương.”
(Chữ lập đứng nghênh ngang
Chữ nguyệt dưới dài trường
Trang 32Chữ bốc ngự trên đỉnh.
Ghi chữ gửi ba phương.)
Đố câu: Phúc như đông hải
“Nhất nhân nhất khẩu tại điền điện
Nhị nhân điền biên bất thành ngân
Đại mộc đả tong điền trung quá
Nữ mẫu trú tại giang thuỷ biên.”
(Một người một miệng trên mặt ruộng
Hai ngườ bên đoòng chẳng thành dải
Cây to đem đánh qua trong một ruộng.) Như vậy văn hoá văn nghệ dân gian của người Sán Dìu là một kho tàng
di sản văn hoá vô cùng phong phú và đặc sắc Phần lớn các bài hát, bài thơđều được viết bằng chữ Hán theo thể văn ngôn, nhưng trong đó không thểtránh khỏi những chữ dùng nôm na theo thể âm địa phương không hoàn toàngiống như văn ngôn
Về thể loại, văn hoá văn nghệ dân gian của người Sán Dìu cũng vôcùng đa dạng Với các hoạt động văn nghệ, người Sán Dìu có thể hát ở mọinơi, mọi lúc, trong công việc và thời điểm khi điều kiện cho phép Nó không
bị ràng buộc chăth chẽ cũng không bị phụ thuộc vào không gian và thời gian
Đó là các cuộc hát mừng năm mới (Slin nen cô), hát mừng nhà mới (Soọngslin ốc cô), hát đối đáp (Toi tạp cô), hát giao duyên (Chốc mỏi cô) với các địađiểm trong nhà, dưới bếp, ngoài đường, trên nương hay trong các dịp lễ hộivới mọi hoàn cảnh, kể cả khi vui và buồn như các loại ca than, ca cúng bái
2.2.1.d Soọng cô.
Soọng cô là dân ca của đồng bào dân tộc Sán Dìu Soọng cô chủ yếu làphần hát đối đáp giao duyên, sau đó là phần hát trong đám cưới Soọng cô
Trang 33được hát theo sách, có bài bản sẵn, người di hát phải thuộc sách hát, họ dẫncân hát trong sách ra để hát đố, người đáp cũng nhờ thuộc sách mà trích ranhững câu hợp cảnh, hợp tình để hát đáp câu đối phương hát hỏi.
Người Sán Dìu học hát chủ yếu bằng truyền miệng, đêm đêm trai gái tụtập ở nhà những người già biết hát để học hát Người Sán Dìu không chỉ hát ởtrong làng với nhau mà còn tổ chức đi chơi hát rất xa Từ Vĩnh Phuc đi hát ởTuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh…Thông thường họ có bà con, anh
em, họ hàng ở xa đâu đó, hàng năm phải đi thăm thú nhau Dịp ấy rủ năm bảyanh em hoặc dăm bảy cô, thông thường nữ giới có một bà già làm trưởngđoàn Khi đến nơi đặt vấn đề xong, chhủ nhà thổi tù và lên cho trai làng biết
có khách đến làng Tốp trai hoặc tốp gái đến hát đều chưa vợ, chưa chồng,nếu anh nào có vợ trà trộn vào họ cũng sẽ dò ra và hát đuổi cho xấu hổ màphải về Khi đến hát, họ phải têm trầu mời chủ nhà, có lời xin hát Họ thường
tổ chức hát ở nhà ngang, nhà bếp, kiêng hát ở gian chính có bàn thờ
Có khi họ hát đến bảy tám đêm liền, nếu đôi bên tài hát, thuộc nhiều,đối đáp không thua nhau thì còn kéo dài hơn mười đêm Nếu bên nào hát lạicâu đã hát thì bị coi là thua cuộc thì họ tự chán mà giải tán Mỗi đêm hátthường có các bước: chập tối hát gọi, mời ngồi xuống chiếu, mời nước, mờitrầu; nửa đêm là hát hỏi: hỏi về quê quán, gia sư, hát thăm dò tìm hiểu nghềnghiệp, ý nguyện của nhau…canh ba chủ nhà mời ăn lót dạ xôi hoặc chècháo…sau đó là hát chào, hát xin về, hát níu giữ nhau Sáng ra thì họ vừa tiễnnhau ra cổng vừa hát hẹn hò cuộc hát tới Khi hát khồng đùa cợt, không vìphục tài, cảm thông, yêu mến nhau mà tách ra đưa nhau đi tỏ tình riêng Nếuưng nhau, thích nhau thì tìm gặp nhau rồi lựa tìm ông bà mối (mu nhin) mốimanh cho mình
Trang 34Nổi bật lên trong sinh hoạt dân ca Soọng cô đó là hình thức sinh hoạtcộng đồng giữa hai nhóm một bên là nam, một bên là nữ, giữa làng nọ vớilàng kia, đã xuất hiện từ lâu đời nhằm củng cố tình quê hương làng xóm, mốiquan hệ cùng dòng họ, cùng tiếng nói dân tộc Từ khi gặt hái xong cho đếnlúc bước vào cày cấy, vào dịp đông xuân, bà con đi lại thăm hỏi nhau Họ tổchức thành từng đoàn từ 4_5 người, có khi hơn chục người bao gồm thanhniên nam nữ chưa vợ, chưa chồng do một người có tuổi thông thạo tập quán,phong tục, biết hát nhiều bài dân ca dẫn đầu
Bài hát đầu tiên trong đêm hát thường là ca ngợi cảnh đẹp làng xómquê hương, gây được mối tình cảm sâu sắc giữa người chủ nhà và bạn hát.Câu ca Sán Dìu:
“Soọng theo sình cô ca thai xon
Son thoi con mị xèng kít kít
Mói nhõng cày con diu tôi sluy
Dọi lu lọi tạo tách slin loàng.”
Tạm dịch là:
“Xin cất lời ca chúc xóm làng
Đầu làng cuối xóm sạch bang trơn
Làng em có những cây đa lớn
Đường xa tới đây được mát lòng.”
Chủ nhà hiếu khách cũng đáp lại tình cảm vui vẻ của bạn hát từ làng xatới, chẳng quên mời bạn bè chén nước, bát cơm sâu nặng nghĩa tình làng trênxóm dưới Câu ca Sán Dìu:
“Sloọng lẹng chám sài, chám mòng tông
Mòng tông chuý van phác phông phồng
Mạo tin kỳ lòng slịch ết vón