Lí do chọn đề tài Lựa chọn đề tài Sự vận động của thơ tình Việt Nam qua hai thế hệ nhà thơ nữ từ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn tới Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư cho Khóa luận của mình,
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lựa chọn đề tài Sự vận động của thơ tình Việt Nam qua hai thế hệ nhà thơ nữ ( từ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn tới Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư) cho
Khóa luận của mình, chúng tôi xuất phát từ những lí do sau:
Thứ nhất, thơ tình là địa hạt hấp dẫn đối với các nhà thơ ở mọi thời đại Tình
yêu là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp của con người và là nguồn đề tài bất tận của thi ca Đặc biệt, các nhà thơ nữ với sự nhạy cảm riêng mang đặc trưng phái tính luôn có cách cảm nhận và thể hiện tình yêu trong thơ rất đặc biệt
Trong lịch sử văn học Việt Nam, có thể nói, không thời kì nào thiếu vắng mảng sáng tác về đề tài tình yêu Những vần thơ tình đằm thắm, ngọt ngào được cất lên từ những bài ca dao, dân ca và không ngừng được kế thừa, tiếp nối qua các thế
hệ nhà thơ thời kì trung đại Nhưng phải đến thế kỉ XX, thơ tình mới được phát triển một cách thực sự sâu rộng trong nền thơ dân tộc với những tên tuổi như Tản Đà, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử,… Từ những năm 60 của thế kỉ này, hàng loạt các nhà thơ trẻ xuất hiện, trong đó chiếm số lượng không nhỏ là các cây bút nữ như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ, Anh Thơ, Vân Đài… đã đem đến cho thơ ca nhiều tiếng nói trẻ trung, sôi nổi, đầy ắp những trải nghiệm về con người, cuộc sống Đặc biệt, từ năm 1986, sự nghiệp Đổi mới diễn ra trên mọi cấp độ đã làm thay đổi diện mạo đất nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng tình cảm và tư duy sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ cũng như của các văn nghệ sĩ nói chung Thơ mang một diện mạo mới và thể hiện một tầm nhìn mới Riêng trong mảng thơ tình, sự xuất hiện của các nhà thơ đương đại như Lê Đạt, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh,… đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng cũng như giới nghiên cứu, phê bình bởi những tìm tòi táo bạo theo hướng hiện đại, đi sâu vào vấn đề bản thể con người với “khát vọng thành thực”
Thứ hai, trong nền thơ hiện đại Việt Nam, Xuân Quỳnh (1948-1988) là một
gương mặt tiêu biểu Lại Nguyên Ân từng nói: “ Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương qua
Trang 2các chặng đường phát triển, phải đến Xuân Quỳnh nền thơ ấy mới thấy lại được một
nữ sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào và phong phú như vậy” Mảng thơ viết về đề tài tình yêu, hạnh phúc của Xuân Quỳnh ngay từ khi ra đời đã thu hút dược sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học Mảng thơ này thể hiện khá rõ nét “tính cổ điển” của thơ Việt Nam thời kì trước Đổi mới Trải qua những năm tháng sống và viết, yêu thương và lao động nghệ thuật hết mình, chị đã để lại những vần thơ tình thể hiện tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, nhân hậu, đầy nữ tính
Viết về thơ tình trong thời kỳ này cũng phải kể đến nhà thơ nữ Phan Thị Thanh Nhàn (sinh 1943) Chị làm thơ từ rất sớm, đầu những năm 60 đã có thơ đăng báo Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn, Phan Thị Thanh Nhàn đã để lại những dấu ấn khó phai trong lòng độc giả bởi tiếng thơ trữ tình duyên dáng mà ý nhị, kín đáo Đặc biệt ở mảng thơ tình, chị đã góp một tiếng nói quan trọng vào khát vọng yêu, khát vọng hạnh phúc muôn đời của phụ nữ Đặng Tương Như có lần phát biểu:
“Đọc thơ tình Phan Thị Thanh Nhàn thấy hiện lên một phụ nữ yêu hết mình với một tình yêu không đòi hỏi đền đáp, bao giờ cũng lặng lẽ hiến dâng, một tình yêu luôn giày vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng và oán trách”
Thứ ba, Vi Thùy Linh (1980) là một trong những hiện tượng gây tranh cãi
nhiều nhất của văn học đương đại Xuất hiện trên thi đàn từ những năm cuối của thế
kỉ XX, cùng với các cây bút nữ khác như Phan Huyền Thư, Nguyễn Bảo Chân, Lê Thị Mĩ Ý,… Sáng tác của Vi Thùy Linh nói chung và mảng thơ tình của chị nói riêng đã mang lại nhiều cái lạ, phù hợp với tôn chỉ của các nhà thơ trẻ là: sáng tác chỉ cần có cái lạ là thành công Vi Thùy Linh thuộc mẫu nhà thơ “nổi loạn”, đòi chống lại sự tập thể hóa và đề cao cái “tôi” cá nhân trong thơ Nhưng sự “nổi loạn”
đó đôi khi rơi vào cực đoan Ở mảng thơ tình, người đọc nhận thấy rất rõ sự khác biệt sâu sắc trong cách cảm, cách viết của chị so với thế hệ của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn (mặc dù, khoảng cách thế hệ, thời gian giữa các tác giả này chưa phải là lớn)
Trang 3Thứ nữa là Phan Huyền Thư (sinh 1972), một nhà thơ nữ đương đại cũng
“đình đám” không kém và được xem là một gương mặt thơ nổi loạn và phá cách
Sinh ra trong một gia đình làm nghệ thuật, mẹ là nghệ sĩ ưu tú Thanh Hoa, bố
là nhạc sỹ Phan Lạc Hoa, Phan Huyền Thư phần nào được thừa hưởng gen nghệ thuật của những người sinh thành Và đối với chị, thơ tình là tiếng nói của kẻ thất tình, của người chưa được thoả mãn ái tình cho nên người ta có quyền đòi hỏi và bày tỏ những gì người ta muốn cho dù điên hay tỉnh, kiềm chế hay bức xúc, tinh tế hay nồng nàn
Thứ tư, đặt các bài thơ viết về tình yêu của các tác giả này cạnh nhau, độc giả
sẽ thấy được xu hướng vận động của văn học Việt Nam nói chung và của thơ ca Việt Nam đương đại nói riêng Có thể nói, so với thế hệ của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn thì thế hệ của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư đã rẽ sang một hướng khác Trong bước đi mới đó, vấn đề cần được nhận thức một cách rõ ràng, khách quan là: thơ của lớp trẻ, thế hệ sau đã có những mặt kế thừa, phát huy được giá trị truyền thống, tạo đà cho những đổi mới, cách tân theo hướng tích cực; nhưng bên cạnh đó, có những phương diện “thoái lui”, đi quá giới hạn của những chuẩn mực thẩm mĩ, đạo đức xã hội và tâm lí tiếp nhận của phần đông người Việt
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, khi lựa chọn mảng thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi hoàn toàn không có chủ đích coi đó là hai “cái mốc” trong sự vận động của thơ tình các tác giả nữ trong văn học Việt Nam hiện đại Sở dĩ chúng tôi lựa chọn sáng tác của bốn nhà thơ này bởi chúng tiêu biểu cho “hai dòng phong cách, xu hướng lớn” của việc sáng tác thơ tình ở hai thời kì: trước và sau Đổi mới
Từ đó, khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng, từ “điểm” để nhìn ra “diện”, từ những trường hợp, hiện tượng cụ thể để đi đến những nhận định khái quát, rút ra những bài học về sự vận động của thơ ca Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 4Ở đây, chúng tôi tạm chia lịch sử nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh thành hai giai đoạn lớn: trước và sau 1988
- Giai đoạn trước năm 1988
Qua tìm hiểu, chúng tôi có thống kê được một số bài viết tiêu biểu:
Xuân Quỳnh - Một chồi
thơ sắc biếc Chu Nga, Tạp chí Văn học, số 01/1973
Thơ Xuân Quỳnh Thiếu Mai, Tạp chí Văn học, số 01/1983
Vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh Nguyễn Xuân Nam, trích trong Thơ, tìm hiểu và
thưởng thức, Nxb Khoa học Xã hội, 1984
Ý thức về thời gian, cảm
giác về hạnh phúc
Vương Trí Nhàn, trích Bước đầu đến với văn học,
Nxb Tác phẩm mới, 1986
- Giai đoạn sau năm 1988
Các công trình, bài viết đã được triển khai, tiến hành ở nhiều cấp độ và trên nhiều bình diện khác nhau Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu như sau:
Tên công trình Tên tác giả và nguồn tư liệu
Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh
gửi lại
Nhiều tác giả, Hội Văn học Nghệ thuật Đà Nẵng, 1989
Xuân Quỳnh - Một nửa cuộc
đời tôi Đông Mai, Nxb Khoa học Xã hội, 1995
Xuân Quỳnh - Thơ và đời Vân Long (sưu tầm và tuyển chọn), Nxb Văn
học, 1998
Xuân Quỳnh - Một giọng thơ
tình ám ảnh
Trích trong Đối thoại văn chương, Nguyễn Thị
Minh Thái, Nxb Hội Nhà văn, 1999
Nữ sĩ Xuân Quỳnh - Cuộc đời
để lại
Ngân Hà (tuyển chọn và biên soạn), Nxb Văn hóa Thông tin, 2001
Đối với Phan Thị Thanh Nhàn, lâu nay việc nghiên cứu về thơ của chị còn rất hạn chế, dường như chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính chất chuyên biệt
mà mới chỉ dừng lại ở những loại bài phân tích về từng bài thơ và loại bài tìm hiểu, nghiên cứu về cả tập thơ, giai đoạn thơ
Trong bài “ Tháng giêng hai – tập thơ của Phan Thị Thanh Nhàn, Hoàng Thị
Minh Khanh, Thúy Bắc” tác giả Phong Vũ đã phát hiện ở thơ Phan Thị Thanh Nhàn
Trang 5“sự nhạy cảm, tế nhị và duyên dáng” Song, dẫu có đôi nét thùy mị, dễ thương,
nhưng nhìn chung “thơ chị vẫn quá nhẹ nhõm” Mãi đến khi ba bài thơ Hương thầm, Xóm đê, Bản mới được giải nhì cuộc thi thơ của báo văn nghệ năm 1969 –
1970, thì Phan Thị Thanh Nhàn mới tạo được tình cảm trong giới văn nghệ sỹ và để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng đông đảo độc giả Nhà thơ Xuân Diệu, trong bài phát biểu nhân kết thúc cuộc thi thơ báo văn nghệ năm 1969 – 1970 đã dành cho Thanh Nhàn nhiều lời khen tặng
Vi Thùy Linh ngay từ những bài thơ đầu tay của chị đã tạo ra những luồng dư luận rất khác nhau, thậm chí trái chiều nhau gay gắt, “người khen thì cổ vũ hết lời
mà người chê thì cũng bầm dập đến điều” Việc tìm hiểu về thơ Vi Thùy Linh mới chỉ dừng lại ở mức độ các bài viết mang tính nhận định, đánh giá chung về một số phương diện trong sáng tác của chị (như vấn đề bản năng, chất libido,…) được đăng tải trên các báo, tạp chí và các trang mạng Bên cạnh đó, những ý kiến bàn luận về thơ Vi Thùy Linh cũng xuất hiện rải rác trong một số bài viết đánh giá tổng quan về thơ Việt Nam từ sau năm 1986 hoặc về đội ngũ các nhà thơ nữ đương đại Chúng tôi có thống kê một số bài viết nổi bật như sau:
Hiện tượng Vi Thùy Linh Nguyễn Huy Thiệp, trích Giăng lưới bắt chim, Nxb
Hội Nhà văn, 2006
Vi Thùy Linh - Nhục cảm
sáng tạo
Thụy Khuê, nguồn http://thuykhue.free.fr/stt/v/VTLinh.html
Thơ Vi Thùy Linh - Một
khát vọng trẻ
Nguyễn Thụy Kha, báo Người Hà Nội, số 08/ 2001
Với Phan Huyền Thư, cũng giống như Vi Thùy Linh, việc tìm hiểu về thơ chị cũng chỉ dừng lại ở những bài viết theo nhận định, đánh giá chung hoặc những bài phỏng vấn trên các báo và tạp chí, internet Viết về tình yêu, về chuyện chăn gối thời nào cũng có, nhưng để tình dục bước chân mạnh mẽ vào văn chương thì phải tìm ở ngôn ngữ thơ ca hiện đại Phan Huyền Thư diễn đạt những chuyện đó bằng nghệ thuật thi ca ở cấp độ ứng xử văn hóa giữa người với người, khiến tự nhiên nó
có một vẻ đẹp riêng, một vẻ nhân văn riêng
Trang 6Chúng tôi cũng xin được thống kê một số bài viết nổi bật như sau:
Thơ Phan Huyền Thư – nằm
nghiêng về cách tân
Nguyễn Thụy Kha, Tạp chí Sông Hương, số
168, tháng 2
Xin đừng làm chữ của tôi đau Nguyễn Huy Thiệp, trích Giăng lưới bắt
chim, Nxb Hội Nhà văn, 2006 Nhà thơ Phan Huyền Thư- người
nối dài sự sống cho chữ (phỏng
vấn)
Hà Thanh Vân, nguồn www.tienve.org/home/authors
3 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, thấy được những điểm tương đồng, gặp gỡ trong cách thức cảm
nhận, thể hiện và viết về tình yêu của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
Thứ hai, thấy được sự khác biệt giữa thơ tình Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh
Nhàn và thơ tình Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư tìm ra những phương diện kế thừa, phát triển cũng như những mặt hạn chế, thoái lui của thơ tình Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
Thứ ba, qua sự khảo sát, so sánh đó để hình dung được một cách khách quan
hơn về xu hướng vận động, “diễn biến” của thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung và của thơ tình các tác giả nữ nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Tìm hiểu đề tài trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu, khám phá cái
“tôi” trong thơ tình vận động từ sự chuẩn mực, cổ điển tới sự phá vỡ truyền thống
và mở ra những cách tân táo bạo
3.2 Mỗi một sáng tác thơ nhất là thơ tình thì đều bắt nguồn từ những cảm xúc lớn Vậy nhiệm vụ nữa của luận văn là phải đi sâu tìm hiểu những cảm xúc lớn
để tạo thành những áng thơ tình ghi dấu ấn của mỗi nhà thơ
3.3 Các hình tượng nghệ thuật nói trên tất yếu phải được thể hiện ra bằng văn bản ngôn từ Bởi vậy nhiệm vụ nữa không kém phần quan trọng mà luận văn
Trang 7đặt ra để giải quyết là: nghiên cứu những phương thức, phương tiện tiêu biểu, đặc sắc trong thơ của bốn nhà thơ nữ - tiêu biểu cho hai thời đại
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thơ Xuân Quỳnh: Các tác phẩm chính: Chồi biếc; Hoa dọc chiến hào; Gió Lào
cát trắng; Lời ru trên mặt đất; Sân ga chiều em đi; Tự hát; Thơ viết tặng anh; Hoa
cỏ may
Thơ Phan Thị Thanh Nhàn: Các tác phẩm chính: Tháng giêng hai; Hương
thầm; Chân dung người chiến thắng; Bông hoa không tặng; Nghiêng về anh
Thơ Vi Thùy Linh: Các tác phẩm chính: Khát; Linh; Đồng tử; Vili in love; Phim đôi – Tình tự chậm
Thơ Phan Huyền Thư: Các tác phẩm chính: Nằm nghiêng; Rỗng ngực
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp tiếp cận liên văn bản
- Phương pháp thi pháp học
7 Dự kiến đóng góp mới:
Thực hiện các nhiệm vụ trên luận văn sẽ làm nổi bật được những nét đặc sắc của thơ tình Việt Nam qua hai thế hệ nhà thơ nữ Kết quả của luận văn khẳng định bản sắc riêng độc đáo của từng ngòi bút, mặt khác thấy được sự tương đồng, gặp gỡ trong cách thức cảm nhận và thể hiện về tình yêu của bốn nhà thơ
nữ Và cuối cùng là qua sự khảo sát, so sánh thấy được xu hướng vận động, diễn biến của thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung và của thơ tình các tác giả nữ nói riêng
8 Cấu trúc Luận văn:
Chương 1: Từ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn tới Vi Thùy Linh, Phan
Huyền Thư – cái tôi trong thơ tình vận động từ chuẩn mực cổ điển tới sự phá vỡ truyền thống và mở ra những cách tân táo bạo
Trang 8Chương 2: Những cảm hứng lớn khi viết về tình yêu trong thơ tình của hai thế
hệ nhà thơ nữ
Chương 3: Nét độc đáo về nghệ thuật biểu hiện trong thơ tình của Xuân Quỳnh,
Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
TỪ XUÂN QUỲNH, PHAN THỊ THANH NHÀN TỚI VI THÙY LINH, PHAN HUYỀN THƯ- CÁI “TÔI” TRONG THƠ TÌNH VẬN ĐỘNG TỪ CHUẨN MỰC CỔ ĐIỂN TỚI SỰ PHÁ VỠ TRUYỀN THỐNG VÀ MỞ RA
NHỮNG CÁCH TÂN TÁO BẠO
Trang 91.1 Sự thống nhất về cách thức thể hiện cái “tôi” trong thơ tình suốt hành trình sáng tạo từ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn tới Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
1.1.1 Cái “tôi” nồng nàn, đắm say, khát khao yêu thương, hạnh phúc mà
luôn sẵn sàng hi sinh, dâng hiến cho tình yêu 1.1.2 Cái “tôi” mạnh mẽ, quyết liệt, chủ động và rất “hiện đại” trong
tình yêu 1.1.3 Cái “tôi” mang nhiều dự cảm, lo âu trong tình yêu
1.1.4 Cái “tôi” xót xa, ngậm ngùi cho những thiệt thòi mà phái nữ
thường phải chịu đựng trong tình yêu
1.2 Cái “tôi” trong thơ tình Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn - một cái “tôi” tiêu biểu cho tính truyền thống, chất cổ điển của thơ nữ thời kì từ kháng chiến chống Mĩ đến trước Đổi mới
1.2.1 Cái “tôi” luôn ngập tràn tình yêu thương, lòng vị tha, tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng dâng hiến tất cả cho tình yêu, hạnh phúc đời thường
1.2.2 Cái “tôi” dù rất táo bạo, chủ động, hiện đại trong tình yêu nhưng vẫn
luôn giữ được sự nhuần nhị, nữ tính, truyền thống
1.3 Cái “tôi” trong thơ tình Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư - một cái “tôi” phá
vỡ truyền thống, mở ra những cách tân táo bạo
1.3.1 Cái “tôi” thể hiện khát khao khoái cảm trực diện, cháy bỏng
1.3.2 Cái “tôi” mang khát vọng về sự bình đẳng và sự hòa hợp tự do,
khoáng đạt trong tình yêu
1.3.3 Cái “tôi” mang quan niệm vấn đề thân xác như là sự hiện hữu
thường trực, một yếu tố tất yếu trong tình yêu
CHƯƠNG 2:
NHỮNG CẢM HỨNG LỚN KHI VIẾT VỀ TÌNH YÊU
TRONG THƠ TÌNH CỦA HAI THẾ HỆ NHÀ THƠ NỮ
Trang 102.1 Viết về một niềm khát khao “yêu và được yêu”, một trái tim sẵn sàng
“cho đi và nhận lại” bằng cái nhìn mang thiên tính nữ - sợi dây xuyên suốt hành trình sáng tạo thơ tình từ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn tới Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
2.2 Những cảm hứng lớn khi viết về tình yêu trong thơ tình Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn
2.2.1 Viết về Anh - “người vĩ đại của đời em”
2.2.2 Sống giữa hạnh phúc nhưng trái tim nhạy cảm vẫn không thôi
những khắc khoải, lo âu về sự tan vỡ của tình yêu
2.3 Những cảm hứng lớn khi viết về tình yêu trong thơ tình Vi Thùy Linh,
Phan Huyền Thư
2.3.1 Viết về “Anh” - một khách thể lạnh lùng và có phần mơ hồ, đối
tượng thỏa mãn khát vọng yêu mãnh liệt đến cuồng si 2.3.2 Viết về nỗi đau bị phụ bạc, những ám ảnh trong tình yêu và sự kết
hợp trong thơ nỗi đau của tình yêu và nỗi đau của sự sáng tạo 2.3.3 Sự tô đậm cái “tôi” tính nữ hay là cuộc trở về của tính nữ vĩnh cửu
CHƯƠNG 3:
NÉT ĐỘC ĐÁO VỀ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG THƠ TÌNH CỦA XUÂN QUỲNH, PHAN THỊ THANH NHÀN VÀ VI THÙY LINH, PHAN HUYỀN THƯ
3.1. Hình ảnh và hệ biểu tượng
3.1.1 Hình ảnh và hệ biểu tượng trong thơ tình Xuân Quỳnh, Phan Thị
Thanh Nhàn - sự sáng tạo trên cơ sở tiếp nối và phát huy cao độ những lớp ý nghĩa truyền thống
3.1.1.1 Hình ảnh con sóng - bờ xa, thuyền - biển, trời- đất, núi- biển biểu
tượng của khát vọng tình yêu, ước mơ hạnh phúc và sự thủy chung trong tình yêu