+ Mặt khác một nguyên nhân trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau cũng có thể sinh ra những kết quả khác nhau.. Do vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải phân tích va
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mở đầu
Chương 1 Một số nội dung cơ bản
1.2 Quan hệ biện chứng nguyên nhân và kết quả 5
Chương 2 Vấn đề môi trường
Chương 3 Vấn đề việc làm ở Việt Nam
Chương 4 Sự phát triển của kinh tế Nhật Bản
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong tiểu luận là những kết quả của riêng bản bản thân tôi Bản tiểu luận này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Nếu không tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, ngày 15 tháng 02 năm 2012
Học viên thực hiện
Trần Hải Yến
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định Các phạm trù được xem là điểm nút của mạng lưới các sự vật, hiện tượng, là những nấc thang của quá trình nhận thức V.I.Lênin viết : “ Trước con người, có mạng lưới những hiện tượng tự nhiên Con người bản năng , người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên Người
có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên , những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó, tức là của sự nhận thức thế giới, chúng là những điểm nút của mạng lưới, giúp ta nhận thức và làm vỡ được mạng lưới ”
Với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất, bao quát lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản Trong 6 cặp phạm trù cơ bản, cặp phạm trù nguyên nhân kết quả đóng vai trò hết sức quan trọng trong
lý luận và thực tiễn Để làm rõ nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả ta có thể lấy ba tình huống cụ thể để phân tích, đó là vấn đề môi trường, việc làm ở Việt Nam và sự phát triển của kinh tế Nhật Bản
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả
Nhiệm vụ nghiên cứu: Lấy ví dụ cụ thể để phân tích để làm rõ cặp phạm trù nguyên nhân kết quả
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong tiểu luận sử dụng những phương pháp như: phương pháp tìm
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
1.1 Phạm trù nguyên nhân - kết quả
- Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ sản sinh ra nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan
- Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động
lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau Từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định
- Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng
1.2 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả có tính khách quan, tính phổ biến và tính tất yếu Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả (nguyên nhân kết quả) là cái vốn có của bản thân sự vật, không thuộc vào ý thức của con người
- Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn đến kết quả nhất định
1.2.1 Nguyên nhân tác động tới kết quả
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện
Trang 5chỉ chú ý đến tính liên tục về thời gian thì chưa đủ Cái phân biệt quan hệ nhân quả với quan hệ kế tiếp về mặt thời gian là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau, trong quan hệ đó nguyên nhân sinh ra kết quả
- Vậy nguyên nhân sinh ra kết quả như thế nào? Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau:
+ Thực tiễn cho thấy một kết quả có thể do nhiều nguồn khác nhau sinh
ra tác động riêng lẻ hay tác động cùng một lúc
+ Mặt khác một nguyên nhân trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau cũng có thể sinh ra những kết quả khác nhau
+ Nếu các nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng chiều lên một sự vật thì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn Ngược lại nếu những nguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, điều đó
sẽ ngăn cản sự xuất hiện của kết quả Do vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải phân tích vai trò của từng loại nguyên nhân để có thể chủ động tạo ra điều kiện thuận lợi cho những nguyên nhân quy định sự xuất hiện của kết quả (mà con người mong muốn) phát huy tác dụng
- Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, ta phân thành các loại nguyên nhân khác nhau: Có nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan,…
- Và một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đó có kết quả chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,…
Trang 61.2.2 Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân.
Kết quả do nguyên nhân sinh ra nhưng sau khi xuất hiện kết quả không giữ vai trò thụ động đối với nguyên nhân, trái lại có sự ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng đó có thễ diễn ra theo hai hướng: thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tích cực) hoặc ngăn cản sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cưc)
1.2.3 Nguyên nhân và kết quả có thế thay đổi vị trí cho nhau
Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng Vì vậy Ph.Ăngghen đã nhận xét rằng: “Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào trường hợp riêng biệt nhất định, nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau, cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác lại là kết quả và ngược lại’’
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mối liên hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân quả Trong thế giới hiện thực không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay quá trình biến đổi không có nguyên nhân và ngược lại không có nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định
Trang 7Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện
Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn toàn diện và lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân quả
Trang 8Chương 2 VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
2.1 Giới thiệu thực trạng
Môi trường là nơi con người tồn tại, sinh sống và phát triển Môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới mọi mặt đời sống của con người Thế nhưng hiện nay, môi trường trên thới giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng
đã và đang ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Vấn đề ô nhiễm môi trường
có thể được khái quát như sau:
- Những bãi rác khổng lồ đang hình thành càng nhiều xung quanh các khu dân cư ven đô và những thành phố lớn
- Mỗi ngày có hàng nghìn lít khí độc hại thải vào môi trường
- Nguồn nước sinh hoạt của người dân và nước các con sông đang bị ô nhiễm nghiêm trọng
* Thực tế ở Việt Nam: nhiều công ty, doanh nghiệp xả nước thải chưa qua xử lí trực tiếp ra sông…
- Công ty Vedan xả nước thải công nghiệp chưa qua xử lí ra sông Thị Vải
- Công ty TNHH Xuân Hòa ở Vĩnh Phúc xây dựng đường ống ngầm rồi bơm bùn thải ra ngoài môi trường, gây ô nhiễm mạch nước ngầm và lòng đất
- Công ty Miwon ở Phú Thọ đã làm một đường ống nước thải đổ ra sông Hồng, gây ô nhiễm nguồn nước sông nghiên trọng
- Có gần 200 doanh nghiệp, trong đó điển hình là cụm công nghiệp Hoàng Gia, cụm công nghiệp Long An - Long Đình … xả thẳng nước thải ra sông Vàm Cỏ Đông gây ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng
Trang 92.2 Nguyên nhân
Ta có thể thấy hiện nay có các loại ô nhiễm điển hình như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm sóng …Từ đó có thể khái quát được một số nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường
- Khí thải từ xe máy, ô tô, các khu công nghiệp, bên cạnh đó là hơn 50% dân số chủ yếu ở các nước đang phát triển sử dụng than, củi và rơm rạ để đun nấu … là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí Đây cũng là nguyên nhân gây ra 3 triệu ca tử vong hằng năm trên thế giới và 4%trường hợp bị đau ốm
VD: các khí độc là cacbon monoxit, đioxit lưu huỳnh, các chất cloroflorocacbon và oxit nito là các chất thải công cộng và xe cộ Ôzôn quang hóa và khói lẫn sương được tạo ra khi các oxit nito phản ứng với nước và không khí xúc tác với ánh sáng mặt trời
- Tại các đô thị, việc chọn vị trí đổ chất thải hay nhà vệ sinh làm không tốt nên chất độc cũng như các tác nhân gây bệnh có thể ngấm vào nguồn nước Ở nhiều vùng, nước thải sinh hoạt không được xử lí mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nước Nước thải chảy ra sông, rạch, ao hồ gây thiếu hụt oxi, làm cho nhiều loại động vật và cây cỏ không tồn tại Ngoài ra việc xử lí các chất thải công cộng và sinh hoạt chưa hợp lí, có nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu dân cư xả trực tiếp rác thải, nước thải chưa qua xử lí ra sông, hồ cùng với việ sở dụng quá nhiều các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học, thuốc trừ sâu…dùng trong công nghiệp cũng gây ô nhiễm nguồn nước và đất
- Chất phóng xạ được sử dụng để sản xuất điện, dùng trong lĩnh vực quân sự và y học Việc xử lí chất thải phóng xạ từ các lò phản ứng dưới dạng than đốt vô cùng khó khăn Việc chôn vĩnh viễn các loại chất thải này là chuyện không thể Quá trình khai thác urani tuy không ra chất thải phóng xạ
Trang 10nguy hiểm nhưng lại tạo ra một lượng lớn chất thải có lượng phóng xạ tương đối thấp Điều này gây ảnh hưởng rất nguy hiểm tới môi trường
- Ô nhiễm tiếng ồn: tiếng ồn của các phương tiện tham gia giao thông, tiếng ồn của các công trình xây dựng, … gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe cũng như sinh hoạt, học tập, làm việc của người dân
2.3 Kết quả
- Đối với sức khỏe con người
Ô nhiễm không khí có thể giết nhiều cơ thể sống, trong đó có con người Ô nhiễm ôzôn có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm vòm họng, đau ngực, tức thở Ô nhiễm nước gây ra xấp 14000 cái chếtmooix ngày, chủ yếu do ăn uống bằng nước chưa được xử lí Các chất hóa học và kim loại nặng nhiễm trong thức ăn, nước uống có thể gây ung thư Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm, mất ngủ…
- Đối với hệ sinh thái
+ Đioxit lưu huỳnh và các oxit nito có thể gây ra mưa axit làm giảm độ
PH của đất
+ Đất bị ô nhiễm có thể trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng Điều này sẽ ảnh hưởng cơ thể sống khác trong lưới thức ăn
+ Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực hiện quang hợp
+ Khí CO2sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, phá hủy dần các khu vực du lịch tự nhiên mà nó sẵn có
Trang 112.4 Giải pháp
-Người dân tự nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn môi trường
-Nhà nước đề ra các chính sách, quyết định về việc giữ gìn và bảo vệ môi trường Đồng thời, tăng cường việc thanh tra, điều tra và xử lí nghiêm những cá nhân, đơn vị, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường
-Tuyên truyền, giáo dục ý thức về môi trường thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, báo, internet…
Trang 12Chương 3 VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
3.1 Giới thiệu thực trạng
Việt Nam - một quốc gia đang trên đà phát triển, một đất nước đang hướng nền kinh tế sang công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì luôn phải đối mặt với không ít những thách thức Những vấn đề giải quyết việc làm cho người dân đang là vấn đề đáng quan tâm hơn cả, nhất là khi đặt vào thực tế tình hình dân số nước ta hiện nay Với dân số trung bình cả nước năm 2010 là 86,97 triệu người trên diện tích khoảng 331051,4 km2 thì mật độ dân số của Việt Nam là khá đông so với các nước trên thế giới
Theo kết quả tra lao động và việc làm, tại thời điểm 01/4/2010 cả nước
có 77,3% người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, trong đó khu vực thành thị là 69,4%; khu vực nông thôn 80,0%; lao động nam 81,8%; lao dộng nữ 73% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động là 4,31% trong đó khu vực thành thị là 1,95%; khu vực nông thôn là 5,24%; lao động nam 4,2%; lao động nữ là 4,44% Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó khu vực thành thị là 4,43%; khu vực nông thôn là 2,27%; lao động nữ 3,58%
3.2 Nguyên nhân
- Nguyên nhân chủ yếu đó là sự gia tăng dân số tự nhiên không ngừng Kết quả nghiên cứu cho thấy: sau 10 năm (từ 1999 đến 2009), dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu người Như vậy, trung bình mỗi năm dân số nước ta tăng gần 1 triệu người Nếu tình trạng này cứ tiếp tục kéo dài thì theo dự báo tỷ lệ thất nghiệp trong lực lượng lao động đến năm 2020 là 2,5%, tương đương
Trang 13- Chất lượng lao đông của lao động người Việt Nam còn hạn chế Một
ví dụ điển hình chứng minh cho điều này: Khảo sát năm 2009 tại 3 thành phố lớn Đà Nẵng, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh có trên 100 nghìn việc làm cần tuyển lao động, tuy nhiên số người lao động đến đăng ký tuyển dụng chỉ bằng 17% nhu cầu kể trên, số người lao động đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng chỉ có 6% Với bản chất là một đất nước mang truyền thống của nền nông nghiệp lúa nước, đặt trong tình hình hiện nay khi mà kinh tế đang dần chuyển sang công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì lại có những đòi hỏi về chất lượng của con người tham gia lao động rất khác nhau Những tác phong làm việc của chúng ta từ trước đến nay không còn phù hợp với tình hình hiện tại, sự thiếu kinh nghiệm cũng như thái độ đối với công việc chưa đúng đắn cũng ảnh hưởng tới vấn đề giải quyết việc làm
- Do xu hướng chạy theo xu thế thời đại Một ngành nghề đang thiếu người trầm trọng nhưng có một số ngành thì lại thừa nguồn nhân lực Cụ thể được biết trong kì tuyển sinh đại học năm 20910 vừa qua, số lượng thí sinh đăng kí làm hồ sơ dự tuyển vào các ngành trong khối kinh tế cao hơn hẳn so với số lượng thí sinh đăng kí dự thi cào các ngành trong khối kĩ thuật hay một
số ngành nghề khác Nhiều người không tìm hiểu xem bản thân mình phù hợp với ngành nào, có thể làm nghề gì mà đã vội vàng quyết định thi vào một ngành phù hợp với bản thân
Và còn một số những nguyên nhân khác nữa cũng ảnh hưởng tới vấn đề việc làm của nước ta hiện nay Chúng ta cần xem xét một cách toàn diện để
có thể hạn chế tối đa những vấn đề trên…
3.3 Kết quả
- Qua những nguyên nhân nói trên, chúng ta có thể nhân thấy được