BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO********** TÓM TẮT BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP BỘ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC ĐỂ ỨNG NGUỒN NHÂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
**********
TÓM TẮT BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC ĐỂ ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÃ QUA ĐÀO TẠO PHỤC VỤ SỰ NGIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: TS Vi Thái Lang
HÀ NỘI-2011
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 như tinh thần của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta phải dựa vào nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người giữ vị trí trọng yếu và quyết định
Sở dĩ như vậy là do đất nước ta sau hơn mười năm đổi mới (Tính đến Đại Hội VIII) chúng ta đã ra tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mặt khác,
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ trong trong thời đại ngày nay
và việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đã đặt ra những yêu cầu mới đối với sự phát triển của đất nước, đó là: cần phải đi tắt đón đầu ở một số lĩnh vực; cần biết tận dung và phát huy mọi cơ hội, mọi nguồn lực; đặc biệt là cấn phải có những con người nắm bắt được tri thức và công nghệ hiện đại, vận dụng sáng tạo những tri thức và công nghệ đó vào sự nghiệp phát triển đất nước Do đó, Đảng ta đã xác định: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá…lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [10- tr.71] là yếu tố quyết định Tại Đại hội Đại biểu lần thứ XI Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ” là một trong ba khâu đột phá trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2011 - 2020 ( 15 - tr.32)
Miền núi phía Bắc, được xác định là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của nước ta, có vai trò quyết định đối với môi trường sinh thái của toàn bộ phía Bắc Vùng này có diện tích chiếm gần 1/3, diện tích tự nhiên và 13,2% về dân số so với cả nước Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xét trên nhiều chỉ tiêu và phương diện thì điểm xuất phát của miền núi phía Bắc còn thấp so với nhiều địa phương khác trong cả nước Vì vậy, cùng với việc nâng cao các tiền
đề vật chất khác thì việc phát triển nguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở khu vực này có vị trí rất quan trọng
Để có thể phát triển nguồn lực con người thì phát triển giáo dục và đào tạo ở khu vực này là yếu tố quyết định Vì những lẽ trên, chúng tôi đã chọn:
“Một số giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc để đáp ừng nguồn nhân lực đã qua đào tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hịên đại hoá ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trang 3Nguồn nhân lực và phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề luôn được quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, nhất là trong thời gian gần đây, con người được đặt ở trung tâm của mọi sự phát triển, vì vậy trên từng khía cạnh khác nhau của đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu
Ở nước ta đã có chương trình khoa học cấp Nhà nước nghiên cứu về
con người mang mã số KX – 07 với tiêu đề “Con người Việt Nam - mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” Trong số 19 đề tài của chương trình, có đề tài KX- 07 – 14 nghiên cứu “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế mới” Ở đề tài này, các tác giả đã đề cập vấn đề tương đối
rộng về đối tượng và phạm vi nghiên cứu Vì vậy, đề tài được phân chia thành
ba đề tài nhánh: nhánh 1 – nghiên cứu về nội dung, phương pháp bồi dưỡng
và đào tạo lại; nhánh 2 – nghiên cứu về chính sách bồi dưỡng và đạo tạo lại; nhánh 3 – nghiên cứu về các chính sách tuyển dụng và sử dụng lao động Chương trình khoa học này được thông qua là một định hướng cơ bản cho các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà Nước ta đối với vấn đề liên quan đến nguồn lực con người; đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận quan trọng cho các công trình nghiên cứu các vấn đề cụ thể khác về phát triển con người trong tình hình mới
Ở góc độ phát triển giáo dục và đào tạo, mỗi công trình lớn nhỏ khác nhau muốn nghiên cứu đến sự phát triển đất nước đều quan tâm đến phát triển vấn đề này, do đó có rất nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến Công
trình “Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài” của Nghiêm Đình Vì, Nguyễn
Đắc Hưng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Công trình này tập trung nêu những cơ hội, thách thức và nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam
trong những năm đầu của thế kỷ XX Công trình “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” của Trần Khánh Đức Công trình này đã đề
cập đến những yêu cầu của thời đại ngày nay đối với giáo dục, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm về tư duy giáo dục hiện đại, bao gồm cả nội dung, phương pháp, cách thức quản lý, đánh giá chất lượng và cả những chính sách
và chiến lượng cho giáo dục hiện nay Đặc biệt, ở công trình này, tác giả đã giới thiệu mô hình và kinh nghiệm giáo dục của một số nước trên thế giới và trong khu vực, trong đó đáng lưu ý là nền giáo dục Nhật Bản qua các thời kỳ,
đó là bài học quý báu đối với sự nghiệp giáo dục của nước ta nói chung, đối với giáo dục và đào tạo ở miền núi phía Bắc nước ta nói riêng Mặt khác, hằng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, có không dưới bốn mươi bài báo và bản tin bàn đến vấn đề giáo dục và đào tạo ở nhiều góc độ khác nhau; từ những chiến lược phát triển giáo dục đến phương pháp cụ thể và kể
cả những bất cập và hạn chế đều được đưa ra trên các mặt báo, tạp chí và những bản tin phát thanh, truyền hình, các trang báo mạng;v.v Vì vậy, trong khuôn khổ của đê tài này, chúng tôi không tham vọng kể tên hay đánh giá
Trang 4mức độ ảnh hưởng của những công trình đó đến sự phát triển của giáo dục nước ta, mà chúng tôi sẽ tiếp thu, tham khảo những đề xuất, những kiến nghị phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài Khu vực miền núi phía Bắc nước ta
là một trong những vùng đặc biệt, do đó được các cấp, các ngành rất quan tâm nhất là những động lực tạo đà cho sự phát triển ở đây, và vì vậy, vấn đề giáo dục của vùng này cũng đã có một số công trình nghiên cứu và có nhiều những
đề án, dự án của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các tổ chức quốc tế và của các nhà khoa học nhằm hỗ trợ cho sự phát triển giáo dục ở vùng này, tuy nhiên hiệu quả thu được chưa tương xứng với những gì đã đầu tư
Như vậy, tuy đã có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu về con người,
về nguồn nhân lực, về phát triển giáo dục và đào tạo theo những khuynh hướng và phạm vi rộng, hẹp khác nhau nhưng chưa có một đề tài nào tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển giáo dục đào tạo ở địa bàn khu vực miền núi phía Băc nước ta để đáp ứng nhu cầu tạo nguồn nhân lực qua đào tạo
trong thời đại ngày nay Vì vậy, vấn đề “Một số giải pháp phát triển giáo dục
và đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc để đáp ứng nguồn nhân lực đã qua đào tạo phục vụ sự công nghiệp hoá hịên đại hoá ở nước ta hiện nay” cần
được nghiên cứu một cách cụ thể từ nhiều khía cạnh
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nguồn nhân lực bao hàm nhiều phương diện, đề tài này không nghiên cứu nguồn nhân lực nói chung với tất cả các mặt của nó, mà chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề đang ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục đào tạo ở miền núi phía Bắc nước ta, cũng như tác động của nó đến chất lượng nguồn nhân lực, qua đó đề tài khuyến nghị một số giải pháp nhằm phát triển giáo dục và đào tạo vùng này, nhằm tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
a, Mục đích: Xác lập căn cứ khoa học cho việc đề xuất phương hướng
và giải pháp phát triển giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở miền núi phía Bắc nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu công nghịêp hoá, hiện đại hoá
b, Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của nguồn nhân lực đối với công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước nói chung, miền núi phía Bắc nói riêng
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng và tình hình giáo dục và đào tạo ở miền núi phía Bắc nước ta, chỉ ra nguyên nhân cần khắc phục
- Đề xuất và kiến giải những quan điểm định hướng và giải pháp khả thi phát triển giáo dục đào ở miền núi phía Bắc nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 55 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài
Sử dụng phương pháp biện chứng mác xít, kết hợp với các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, điều tra xã hội
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Trên cơ sở những luận cứ khoa học được xác lập, đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và tình hình giáo dục và đào tạo ở miền núi phía Bắc, từ đó làm nổi bật sự cần thiết phải phát triển giáo dục đào tạo để nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Kiến giải có căn cứ lý luận và thực tiễn những giải pháp cơ bản phát triển giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
- Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan tham mưu của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh miền núi phía Bắc và các cơ quan hữu trách; dùng làm tài liệu tham khảo trong các trường Đại học Sư phạm, các trường ở các bậc học, các cơ sở đào tạo nghề
7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 1.1 Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.1.1 Nguồn nhân lực
Khái niệm “Nguồn nhân lực”: Tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của người sử dụng, có thể hiểu khái niệm này có nội hàm rộng, hẹp khác nhau, song về cơ bản các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: nguồn nhân lực,
đó là nguồn lực con người, bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần
và sự tương tác giữa các cá nhân trong một cộng đồng xã hội, một quốc gia, được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào những công việc hữu ích
Từ những quan điểm đó, có thể hiểu nguồn nhân lực có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Những người có khả năng tham gia vào quá trình lao động sản xuất
ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội
+ Nguồn nhân lực phải là những người trong một độ tuổi nhất định trong khuôn khổ quy định của pháp luật
+ Khả năng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của nguồn nhân nhân lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cơ bản nhất là chất lượng và số lượng của nó
- Nguồn nhân lực chất lượng cao: Được hiểu là nguồn nhân lực được đào tạo cơ bản, nắm được những tri thức khoa học hiện đại và có khả năng ứng dụng những tri thức đó vào sản xuất ở các lĩnh vực cụ thể nhất định Nói cách khác là những nhân lực được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo cao, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá cạnh tranh quyết liệt và đầy biến động như hiện nay, yêu cầu phải có một đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao càng cần thiết và có thể khẳng định rằng thế thắng sẽ nghiêng về dân tộc hay quốc gia nào có sở hữu đông đảo nguồn nhân lực chất lượng cao Do đó, đối với những vùng kinh tế cần đẩy mạnh sư phát triển, phải có đội ngũ này dưới nhiều hình thức hác nhau Nghĩa là nếu có nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ để tự nó sẽ làm cho vùng miền ấy phát triển là tốt nhất, nhưng nếu chưa
có nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ thì cần biết tận dụng các cơ hội để
sở hữu hay phát huy vai trò của lực lượng này của vùng khác
Trang 71.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Nghị quyết Hội nghị Trung ương
7 khoá VII đưa ra khái niệm như sau: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến
bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao” ( 10- tr.65)
Thực chất vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã từ lâu được Đảng
ta xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ Kể từ đó, các kỳ Đại hội Đại biểu và Hội nghị của các nhiệm kỳ đều đặc biệt quan tâm đến những nhiệm vụ cụ thể trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trên nguyên tắc xuất phát từ thực tế và nhận thức rằng nước ta là một nước nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, Đảng ta đã đưa ra định hướng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng Trong giai đoạn hiện nay, chưa thể và cũng không thể đi xa hơn trên con đường thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Chúng ta
có thể có mua được công nghệ và đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp lớn với những công nghệ hiện đại, nhưng nguồn lực con người chưa sẵn sàng thì điều đó sẽ không mang lại hiệu quả và chỉ làm chậm thêm sự phát triển Chính vấn đề này là bài học quan trọng cho việc định hướng để phát triển khu vực miền núi và vùng chậm phát triển ở nước ta hiện nay
Để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, mục tiêu và nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần thiết phải có nguồn nhân lực tương xứng, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trước mắt và đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu dài Nguồn nhân lực đó phải có chất lượng ở mọi trình độ từ những người tham gia lao động giản đơn cho đến cán bộ kỹ thuật và người quản lý Ở vùng sâu, vùng xa như khu vực miền núi phía Bắc nước ta càng cần phải tính đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực Điều đó chỉ có thể được đáp ứng thông qua phát triển giáo dục và đào tạo
1.2 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực.
1.2.1 Ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế là trụ cột của mọi sự phát triển nói chung, trong đó phát triển nguồn nhân lực không thể là ngoại lệ
Trang 8Sự phát triển của kinh tế một mặt vừa là điều kiện tiên quyết để phát triển về sức lực cơ bắp, vừa là điều kiện để phát triển về trí tuệ của nguồn nhân lực Phát triển kinh tế mang lại cho đời sống của nguồn nhân lực ổn định
cả về vật chất và tinh thần
Hiện nay, trong các hoạt động sản xuất, công nghệ thường được thay đổi rất nhanh chóng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, điều này đã thúc đẩy vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cường độ ngày càng nhanh
Nguồn nhân lực và trình độ phát triển kinh tế có quan hệ biện chứng với nhau, vấn đề phát triển kinh tế phải được giải quyết ở một mức độ nhất định thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mới có cơ sở vật chất để khắc phục Vì vậy, cần phải tìm nguyên nhân ở nhiều yếu tố khác nhau, trên cớ đó chọn đúng, chọn trúng những mắt khâu cơ bản để cùng làm cho nguồn nhân lực ở đây phát triển và đỡ tốn kém nhất về mặt kinh tế, sau đó chính nguồn nhân lực có chất lượng của vùng này sẽ tìm ra con đường để phát triển kinh tế của vùng này
1.2.2 Truyền thống văn hoá ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực.
Văn hoá là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Từ góc độ văn hóa của cộng đồng, nó thôi thúc từ đáy lòng con người, làm cho con người trong cộng đồng đó mong muốn được hoạt động Văn hóa vừa có chức năng giáo dục, vừa có chức năng hướng con người đến hoạt động thẩm
mỹ, vì vậy, nó là động lực vô hình nhưng có sức mạnh tiềm tàng đối với chất lượng nguồn nhân lực
Văn hoá là tập hợp tất cả những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, lối sống, cách ứng xử và phương thức tư duy của mỗi con người hoặc cộng đồng người Văn hoá được hình thành trên cơ sở hoạt động sản xuất vật chất của con người, mà hoạt động sản xuất vật chất phụ thuộc rất lớn vào điều kiện
tự nhiên của từng vùng
Khu vực miền núi phía Bắc nước ta có điều kiện tự nhiên đa dạng và phức tạp, đó cũng là vùng có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống,
vì lẽ đó, đây là vùng có nền văn hoá đa dạng phong phú nhất nước ta Nhiều nét văn hoá đặc sắc của khu vực đã và đang trở thành những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển toàn vùng Tuy nhiên, ở vùng này còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, bảo thủ, kết hợp với địa hình hiểm trở, giao thông, liên lạc khó khăn đã trở thành những rào cản rất lớn đối với việc giao lưu văn hóa, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, nhất là việc tiếp thu những tiến bộ khoa học, điều đó đã làm cho sự phát triển của toàn vùng còn chậm chạp
Trang 9Tiềm năng của con người là vô cùng to lớn, nhưng không phải lúc nào, ở đâu cũng phát huy hết được những tiềm năng này trong cuộc sống Văn hoá
sẽ giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người, nhận thức được vai trò của văn hoá vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2.3 Tốc độ gia tăng dân số ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực.
Quy mô và tốc độ gia tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực Sự gia tăng dân số vừa đáp ứng nhu cầu số lượng nguồn nhân lực của xã hội, vừa là điều kiện để tăng trưởng, phát triển kinh tế và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Nếu quy mô dân số và sự tăng trưởng của nó phù hợp với tăng trưởng kinh tế thì nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển chất lượng nguồn nhân lực nói riêng Ngược lại, nếu dân số tăng nhanh, làm cho số lượng nhân khẩu ăn theo trên mỗi lao động cao thì sẽ có tác động tiêu cực đến việc hoạch định chính sách cũng như những đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực
Đối với những khu vực kinh tế - xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và phần lớn phụ thuộc tự nhiên thì sự gia tăng dân số rất phức tạp Bởi vì, ở những vùng đó lao động chủ yếu dựa vào sức lực cơ bắp, những lao động truyền thống của họ cần hàm lượng trí tuệ không nhiều, do đó họ cần nhiều nhân khẩu và lao động, chính điều đó làm cho vấn đề kiểm soát mức độ gia tăng dân số và quy mô ở những vùng này là rất khó khăn
Điều kiện tự nhiên trong từng vùng cũng ảnh hưởng đáng kể đến quy mô
và mức độ gia tăng dân số Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, thì dân số sẽ dễ được kiểm soát ở khía cạnh mức sinh và tỷ lệ sinh, nhưng sự gia tăng tự nhiên vẫn nhanh hơn vì những vùng khác sẽ di cư tự nhiên đến; nếu điều kiện tự nhiên khó khăn thì cũng dẫn tới tình trạng sinh đẻ không theo kế hoạch, di cư
tự do đi, tất cả những điều đó đều làm cho mọi chiến lược dân số và phát triển nguồn nhân lực không có tính khả thi
1.2.4 Các chính sách vĩ mô tác động đến chất lượng nguồn nhân lực
Chính sách vĩ mô của nhà nước có tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội như: Kinh tế; giáo dục và đào tạo; chính sách tiền lương; chính sách sử dụng nguồn nhân lực; chính sách bảo hộ lao động;v.v Với hệ thống chính sách xã hội, nhà nước có thể thiết lập được một môi trường pháp lý cho sự vận hành và phát triển của tất cả các lĩnh vực, trong đó có cả những yếu tố trực tiếp và những yếu tố giáp tiếp tác động đến chất lượng nguồn nhân lực Việc hoạch định các chính sách vĩ mô cần phải xuất phát từ những điều kiện cụ thể của từng lĩnh vực, mặt khác phải phù hợp với quy luật khách quan
Trang 10Chính sách vĩ mô có hai dạng cơ bản, một dạng là những chủ trương, đường lối chung của Đảng và Nhà nước về kinh tế - xã hội, có tầm chiến lược phát triển chung cho đất nước trong một thời gian dài Dạng thứ hai là những chiến lược cụ thể cho phát triển nguồn nhân lực, đó là những chiến lược có tính lâu dài trong vấn đề quy hoạch, phát triển theo giai đoạn, theo vùng miền;v.v vẫn được coi như chính sách vĩ mô
1.2.5 Giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực
Con người là yếu tố quyết định đối với lực lượng sản xuất Ngày nay, khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là yếu tố quyết định sự phát triển mọi mặt kinh tế - xã hội thì nguồn nhân lực càng cần được quan tâm phát triển, sự phát triển này sẽ là yếu tố quyết định đối với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước
Giáo dục và đào tạo là hệ thống chặt chẽ nhất, bài bản nhất và hoạt động theo một trình tự hợp quy luật nhất nhằm hình thành và phát triển về nhân cách, thể lực và trí tuệ của nguồn nhân lực Vì vậy, giáo dục có vừa có chức năng văn hoá xã hội, vừa có chức năng kinh tế
Trong đó, chức năng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài là trọng tâm của chức năng văn hoá xã hội
Chức năng kinh tế của giáo dục cũng chính là chức năng đào tạo nguồn nhân lực Qua giáo dục, người lao động được tiếp thu những tri thức, kỹ năng lao động trên mọi lĩnh vực
Với vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo đối với vấn đề chất lượng nguồn nhân lực như trên, từ cuối những năm thế kỷ XX, hầu hết chính phủ các nước đã có những chiến lược và hành động cụ thể với giáo dục và đào tạo của quốc gia mình, tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo ở mức ngày càng cao Nước ta đang trên đường hội nhập và phát triển cũng đã và đang có những bước đi phù hợp trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo Hiến pháp của Nhà nước đã chỉ rõ “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”; coi đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; ngoài ra hầu hết các kỳ Đại hội Đại biểu của Đảng đều có những nội dung định hướng, chỉ đạo vấn đề phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước Tuy nhiên, những cố gắng của nước ta trong cải cách giáo dục vẫn còn nhiều vấn đề phải được quan tâm giải quyết một cách quyết liệt và sâu sát hơn, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc, đó cũng là nội dung trong khuôn khổ của đề tài này cần phải làm rõ
Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ GIÁO DỤC -ĐÀO TẠO Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 Thực trạng nguồn nhân lực