1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách bảo hộ mậu dịch đối với nước ta hiện nay

45 4,5K 33

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 131,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi quá trình toàn cầu hóa kinh tếđang đứng trước nguy cơ phá sản bởi các quốc gia trên thế giới đang gia tăng bảo hộ mậu dịch sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu để bảo vệ sản phẩm

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 3

Chương 1: BẢO HỘ MẬU DỊCH 4

I Khái niệm bảo hộ mậu dịch: 4

II Nguyên nhân các nước bảo hộ mậu dịch 4

1 Bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ 4

2 Tạo nên nguồn tài chính công cộng 4

3 Khắc phục một phần tình trạng thất nghiệp 4

4 Thực hiện phân phối lại thu nhập 4

5 Bảo vệ việc làm và ngành công nghiệp 4

6 Bảo vệ an ninh quốc gia 4

7 Trả đũa 5

8 Văn hóa 5

III Tác động tích cực và tác động tiêu cực 10

1.Tác động tích cực 10

2.Tác động tiêu cực 11

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO HỘ MẬU DỊCH CỦA THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY 13

I Thực trạng bảo hộ mậu dịch trên thế giới hiện nay 13

1 Thực trạng hiện nay 13

2 Nguyên nhân các nước hiện nay gia tăng bảo hộ mậu dịch 15

3 Các chính sách và công cụ các nước áp dụng để bảo hộ mậu dịch 15

4 Đánh giá và giải pháp 16

II Thực trạng bảo hộ mậu dịch ở Việt Nam 18

1 Lộ trình hội nhập của Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO 18

2 Các biện pháp bảo hộ mà Việt Nam đã áp dụng: 19

3 Các biện pháp bảo hộ mậu dịch Việt Nam gặp phải: 23

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG ,GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CHO VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 26

I Định hướng cho Việt Nam 26

1 Cần thực hiện chính sách bảo hộ hợp lí 26

II.Giải pháp 30

Trang 2

1 Công cụ thuế 30

2 Công cụ phi thuế 30 KẾT LUẬN 43

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦUChính sách bảo hộ từ xưa tới nay luôn tồn tại như một chính sách thiết yếu vàquan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mọi quốc gia bởi tất cả các quốcgia dù mạnh hay yếu, dù phát triển hay đang phát triển đều muốn xây dựng và pháttriển các ngành sản xuất trong nước đồng đều và bền vững Bước sang thế kỉ XXI,khi mà tiến trình toàn cầu hoá và khu vực hoá cũng đã đi được một chặng đườngkhá dài với sự ra đời của các tổ chức kinh tế như WTO, EU, AFTA, NAFTA… tạo

ra một sân chơi chung và những quy tắc nhằm phát triển thương mại quốc tế, thìvấn đề bảo hộ càng được quan tâm nhiều hơn Bởi quá trình toàn cầu hóa kinh tếđang đứng trước nguy cơ phá sản bởi các quốc gia trên thế giới đang gia tăng bảo

hộ mậu dịch sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu để bảo vệ sản phẩm trongnước, hạn chế những hàng hóa nhập vào cũng như những nguồn vốn mà họ chọnlựa để đổ vào hoặc chuyển ra khỏi đất nước Sự ảnh hưởng của bảo hộ mậu dịchđến nền kinh tế thế giới không hề nhỏ Tổng giám đốc của tổ chức Thương mại thếgiới WTO - Pascal Lamy - đã cảnh báo rằng: “Các quốc gia đừng nhân cơ hội này

để bảo hộ mậu dịch” Năm 2009, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lên tớiđỉnh điểm, Tổng thống Brazil, Lula da Silva đã có câu nói rất đáng chú ý tại Diễnđàn Kinh tế Mỹ Latinh: "Chủ nghĩa bảo hộ chẳng khác nào một thứ ma túy, có thểgây hưng phấn tức thì nhưng sau đó sẽ đẩy nạn nhân vào trạng thái trầm cảm kéodài" Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), xu hướng bảo hộmậu dịch tại hầu hết các nước đang gia tăng, đi ngược lại với những cam kết do cácnền kinh tế công nghiệp hoá hàng đầu thế giới đưa ra Số liệu thống kê mới đây củaNgân hàng Thế giới (WB) đã chỉ ra rằng có tới 1.593 biện pháp bảo hộ mậu dịch đãđược áp dụng trên thế giới từ tháng 11/2008 đến tháng 11/2011, trong đó có 1.187biện pháp phân biệt đối xử đối với các nhà cung cấp nước ngoài Bảo hộ mậu dịchgiống như chất béo gây xơ cứng động mạch (cholesterol): tích lũy chậm chạp cácbiện pháp hạn chế thương mại từ năm 2008 và hiện nay đã tác động đến 3% tổng sốhàng hoá toàn cầu và 4% trao đổi thương mại của Nhóm các nền kinh tế phát triển

và đang phát triển hàng đầu (G-20), tạo ra thách thức không chỉ đối với WTO mà cảnền kinh tế toàn cầu Các quốc gia phát triển và đang phát triển, trong đó có ViệtNam đang phải đứng trước những lựa chọn quan trọng khi xác định hướng đi chochính sách thương mại của họ, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang thay đổinhanh chóng như hiện nay

Trang 4

Chương 1: BẢO HỘ MẬU DỊCH

I Khái niệm bảo hộ mậu dịch:

Bảo hộ mậu dịch là thuật ngữ trong kinh tế học quốc tế chỉ việc áp dụng nângcao một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động,môi trường, xuất xứ, hay việc áp đặt thuế xuất nhập khẩu cao đối với một số mặthàng nhập khẩu nào đó để bảo vệ ngành sản xuất các mặt hàng tương tự (hay dịchvụ) trong một quốc gia nào đó

II Nguyên nhân các nước bảo hộ mậu dịch

1 Bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ.

Chính phủ cần bảo vệ những ngành công nghiệp mới có tiềm năng của đấtnước để giúp chúng lớn mạnh và trưởng thành có được khả năng sáng tạo tự đổimới và sức cạnh tranh cao

2 Tạo nên nguồn tài chính công cộng.

Việc đánh thuế với hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp chính phủ có 1 khoản thu lớnphục vụ cho tài chính công cộng

3 Khắc phục một phần tình trạng thất nghiệp

Thông qua việc thực hiện thuế quan bảo hộ, việc có những hàng rào bảo hộ

sẽ giúp cho sản phẩm nước ngoài giá cao hơn Nhờ vậy mà hàng trong nước phầnnào có lợi thế hơn về giá so với hàng nhập khẩu Chính vì vậy, sẽ thúc động hoạtđộng sản xuất trong nước qua đó khắc phục một phần tình trạng thất nghiệp

4 Thực hiện phân phối lại thu nhập

Phân phối lại thu nhập xã hội là sự can thiệp của Nhà nước thông qua các quyđịnh của pháp luật, của các chính sách để vận động, thuyết phục những người có thunhập cao đóng góp để cùng nhà nước giúp đỡ cộng đồng và những người có thunhập thấp

5 Bảo vệ việc làm và ngành công nghiệp

Khi thương mại tự do phát triển thì sẽ ngày càng có nhiều hàng hóa được đivào thị trường nội địa của quốc gia đó Điều này đã làm ảnh hưởng đến các nhà sảnxuất trong nước trong nước, làm cho hàng hóa trong nước phải cạnh tranh mạnhhơn với hàng hóa nước ngoài Nếu hàng hóa trong nước không đủ sức cạnh tranh và

bị thất bại dẫn đến sản xuất giảm sút dẫn đến người lao động trong nước mất việclàm và dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao.Việc có hàng rào bảo hộ sẽ giúp cho tănglợi thế sản phẩm nội địa, qua đó bảo vệ được ngành công nghiệp trong nước, việclàm cũng được bảo vệ

6 Bảo vệ an ninh quốc gia

Một số ngành công nghiệp đóng vai trò thiết yếu đối với quốc gia chúng tacũng phải ra sức bảo hộ Để bảo vệ những công dân, các chính phủ đã ban hành luậthạn chế những công ty có thể và không thể làm trong việc theo đuổi lợi nhuận Ví

dụ như pháp luật liên quan đến: lao động trẻ em, thương lượng tập thể, cạnh

Trang 5

tranh(chống độc quyền), bảo vệ môi trường, cơ hội bình đẳng, sở hữu trí tuệ, lươngtối thiểu, an toàn lao động và sức khỏe

7 Trả đũa

Để trả đũa dằn mặt hàng hoá các quốc gia cũng áp dụng các chính sách bảo

vệ mậu dịch với hàng hoá của mình Đó là khi thực hiện thương mại tự do khôngcông bằng Khi một nước cho nước khác được tự do vào nước mình nhưng màtrong khi đó nước đó lại thực hiện chính sách bảo hộ hàng hóa của họ không chohàng hóa của mình vào nước họ thì dẫn đến nước đó cũng sẽ thực hiện chínhsách bảo hộ để nhằm bảo vệ ngành của nước họ

8 Văn hóa

Các quốc gia hạn chế buôn bán hàng hóa và dịch vụ nhằm đạt được các mụctiêu về văn hóa nhất là mục tiêu bảo vệ bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc.Văn hóa và tự do hóa thương mại đan quyện và tác động qua lại với nhau.Văn hóamỗi quốc gia đều dần dần có sự thay đổi do có sự hiện diện của con người và sảnphẩm từ các nền văn hóa khác Những tác động ngoài mong mốn của văn hóa buộcChính phủ phải ngăn cản việc nhập khẩu những sản phẩm được coi là có hại

1.3.2 Tác động tiêu cực:

Khi đánh thuế nhập khẩu, người sản xuất hàng trong nước được lợi nhưngngười tiêu dùng bị thiệt hại vì nó làm tăng giá của hàng nhập khẩu từ mức giá thếgiới lên bằng với giá thế giới cộng với thuế nhập khẩu Đồ thị này chỉ ra tác độngcủa thuế nhập khẩu:

Khi thực hiện thương mại tự do cân bằng thị trường như sau: người tiêu dùngmuốn mua một số lượng Qd hàng hoá ở mức giá thế giới trong khi những nhà sản

Trang 6

xuất trong nước chỉ sản xuất một số lượng Qs ở mức giá thế giới Bằng cách nhậpkhẩu phần thiếu hụt (chênh lệch giữa Qd và Qs) ở mức giá thế giới, người tiêu dùng

có thể thoả mãn toàn bộ nhu cầu ở mức giá này

Khi có thuế nhập khẩu cân bằng thị trường như sau: giá hàng hoá trong nước

bị tăng lên đến mức bằng giá thế giới công với thuế nhập khẩu kích thích những nhàsản xuất trong nước sản suất thêm, đẩy sản lượng sản xuất trong nước từ Qs lên Qs'.Tuy nhiên do giá tăng nên cầu của người tiêu dùng bị kéo từ Qd xuống Qd' Rõ ràngviệc giá bị đẩy lên cao đã làm cho người tiêu dùng phải trả thêm một khoản tiềnbằng diện tích của hình chữ nhật CEGH để mua số lượng hàng Qd' Khoản trả thêmnày một phần (bằng diện tích hình BCEF) được chuyển cho chính phủ dưới dạngthuế nhập khẩu thu được, một phần (bằng diện tích hình AFGH) được chuyển thànhlợi nhuận của nhà sản xuất trong nước do vậy hai phần này không làm thiệt hại lợiích tổng thể của quốc gia Tuy nhiên phần diện tích hình ABF đã bị mất trắng, đâychính là tổn thất của xã hội để chi phí cho sự yếu kém của những nhà sản xuất trongnước Diện tích hình ECD lại là một tổn thất nữa khi độ thoả dụng của người tiêudùng bị giảm sút: thay vì có thể tiêu thụ Qd hàng hoá, do có thuế nhập khẩu họ chỉ

có thể tiêu dùng Qd' mà thôi

2 Phi thuế quan:

Có các công cụ như hạn ngạch xuất nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, cấm vậnthương mại, yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, trợ cấp, rào cản kỹ thuật, thủ tục hànhchính, chống bán phá giá, phá giá tiền tệ

2.1 Hạn ngạch xuất nhập khẩu:

Là biện pháp quy định số lượng hàng hóa được đưa vào hay đưa ra khỏi mộtnước trong một quãng thời gian nhất định, thường là một năm.Có 2 hình thức đó làhạn ngạch nhập khẩu và hạn ngạch xuất khẩu

2.2 Cấm vận thương mại

Là biện pháp cấm hoàn toàn quan hệ thương mại đốivới một quốc gia nào đó.Cấm vận có thể thực hiện đối với một mặt hoặc một vài hoặc thậm chí đối với tất cảcác mặt hàng

2.3 Yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa:

Chính phủ quy định rằng một mặt hàng nào đó chỉ có thể được bán trên thịtrường trong nước nếu như một phần nhất định của mặt hàng đó được cung cấp bởicác nhà sản xuất nội địa Mục đích của quy định này là nhằm buộc các doanhnghiệp nước ngoài phải sử dụng tới nguồn lực của nước sở tại trong quá trình sảnxuất

2.4 Thủ tục hành chính:

Là quy định của chính phủ về thủ tục hải quan, thủ tục tham gia kinh doanh,thủ tục thành lập doanh nghiệp… để tại nên những cản trở thương mại Một ví dụđơn giản về thủ tục hành chính là nếu thủ tục hải quan, lưu kho lưu bãi nhằm kéodài thời gian nhập khẩu vào thị trường nội địa, khi đó, hàng nhập khẩu sẽ phải mấtnhiều thời gian thậm chí là khó có thể tiếp cận thị trường trong nước đặc biệt là

Trang 7

hàng hóa nhanh hỏng như nông sản, thủy hải sản… Điều đó góp phần hạn chế hàngnhập khẩu, tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước.

Vì vậy, thủ tục hành chính ngày càng ít được sử dụng đặc biệt là trong bốicảnh các nước đang kiện toàn hệ thống luật pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục hànhchính một mặt tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước, một mặt góp phần thuhút nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư trong nước

2.5 Trợ cấp:

2.5.1 Khái niệm:

Trợ cấp là việc Chính phủ dành cho doanh nghiệp những lợi ích mà trongđiều kiện thông thường doanh nghiệp không có được Những lợi ích đó có thể phátsinh từ việc Chính phủ trực tiếp cấp tiền hay tạo điều kiện thuận lợi về mặt tàichính, tín dụng,… cho doanh nghiệp

Có hai hình thức trợ cấp cơ bản: trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu

- Trợ cấp xuất khẩu: là loại trợ cấp nhằm mục đích đẩy, khuyến khích xuấtkhẩu hàng hóa bán ra thị trường nước ngoài có giá có thể còn thấp hơn tại thịtrường trong nước Điều này tạo sự cạnh tranh không lành mạnh trong thươngmại quốc tế

- Trợ cấp trong nước: là loại trợ cấp dành cho các doanh nghiệp chủ yếu sảnxuất hàng hóa phục vụ thị trường nội địa, hàng hóa được trợ cấp là hàng hóatiêu dùng nội địa Tuy nhiên khi hàng hóa này được người sản xuất xuất khẩuthì nó lại trở thành trợ cấp xuất khẩu Ảnh hưởng của nó khá giống với trợcấp xuất khẩu dù mục đích ban đầu khác nhau

2.5.2 Tác động của trợ cấp:

Khi hàng hóa xuất khẩu được trợ cấp, nước xuất khẩu sẽ mở rộng được thịtrường ra nước ngoài do hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá Việc mở rộngquy mô thị trường này lại gây sức ép khó khăn cho ngành sản xuất hàng hóa tương

tự của nước nhập khẩu: sự suy giảm sản lượng, doanh số bán, lợi nhuận…

Về mặt kinh tế học, tác động của trợ cấp là ngược lại với thuế quan, đồngthời cũng tạo ra phần mất mát không cho xã hội, làm giảm hiệu quả của tự do mậudịch Chính vì thế nước nhập khẩu sẽ có thể áp dụng biện pháp đối kháng “ thuếchống trợ cấp ’’ Nó là khoản thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp từ giáChính phủ nước nhập khẩu nhằm triệt tiêu những lợi thế do khoản tài trợ mang lại.Mức thuế này được thông qua sau một quá trình điều tra xác định mức độ tài trợ vàmức độ thiệt hại gây ra của nước nhập khẩu

2.6 Rào cản kỹ thuật:

Là việc Chình phủ áp dụng các điều kiện về tiêu chuẩn quy định kỹ thuật, antoàn vệ sinh dịch tễ, chất lượng sản phẩm, quy định về hàm lượng các chất, các tiêuchuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môi trường,… để tạo nên những cản trởthương mại

Trang 8

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, Chính phủ sử dụng công cụ tiêu chuẩn

kỹ thuật như một biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế nhập khẩu bằng việc đưa ra cácquy định khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu

Trái lại, các quy định này sẽ là rào cản lớn đối với hàng hóa xuất khẩu từ cácquốc gia có nền sản xuất hàng hóa chưa đạt trình độ cao Trong những năm gần đây,khi các công cụ mang tính cứng nhắc như thuế quan, hạn ngạch,… dần được dỡ bỏthì công cụ tiêu chuẩn kỹ thuật trở thành một trong các công cụ mềm dẻo ngày càngđược các quốc gia sử dụng phổ biến

2.7 Chống bán phá giá:

2.7.1 Bán phá giá:

Khái niệm: Bán phá giá hàng hóa là việc bán sản phẩm của một nước sangmột nước khác với giá thấp hơn giá bán thông thường của hàng hóa đó tại nướcxuất khẩu

Mục đích: Về cơ bản bán phá giá hàng hóa được thực hiện với 3 mục đíchchính:

- Gạt bỏ đối thủ cạnh tranh

- Thu lợi nhuận độc quyền

- Giải quyết hàng tồn kho

2.7.2 Chống bán phá giá

a) Điều kiện áp dụng:

- Hàng hóa nhập khẩu có bán phá giá

- Ngành sản xuất hàng hóa tương tự ở nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể

- Có mối quan hệ nhân quả giũa việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá và thiệthại nói trên

2.8 Phá giá tiền tệ:

Phá giá tiền tệ là việc giảm giá của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ so vớimức mà Chính phủ đã cam kết duy trì trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định Về lýthuyết, việc phá giá tiền tệ sẽ khiến cho hàng hóa sản xuất trong nước sẽ rẻ hơn mộtcách tương đối so với hàng hóa sản xuất ở nước ngoài Qua đó sẽ kích thích xuấtkhẩu, hạn chế nhập khẩu.Tuy nhiên, đây là công cụ có tính hai mặt bởi nó sẽ gópphần làm cho lạm phát tăng cao và nhiều tác dụng phụ khác Vì vậy, phải xét trêntừng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia để áp dụng cho phù hợp

IV Tác động tích cực và tác động tiêu cực

Trang 9

Bảo hộ mậu dịch giống như con dao hai lưỡi: nó bảo vệ nền kinh tế trong nước,song đồng thời cũng đẩy những nỗ lực đấu tranh cho tự do thương mại vào ngõ cụt.

1.Tác động tích cực

Làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu, qua đó bảo vệ cho sảnxuất hàng hóa trong nước, đặc biệt là ngành công nghiệp non trẻ với năng lực cạnhtranh còn kém Giúp nhà sản xuất trong nước nâng cao sức cạnh tranh, có điều kiện

mở rộng sản xuất, thâm nhập sâu rộng vào thị trường nước ngoài do bảo hộ mậudịch tạo điều kiện cho nhà sản xuất trong nước sản xuất hàng hóa với số lượng lớnlàm cho chi phí bình quân mỗi sản phẩm sản xuất trong nước giảm đáng kể

Thuế quan góp phần đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước

Làm giảm thất nghiệp chung và làm tăng thu nhập Khi được bảo hộ mậudịch, hàng hóa trong nước có lợi thế cạnh tranh hơn so với hàng hóa nhập khẩu,người tiêu dùng trong nước chi tiêu ít cho hàng hóa nhập khẩu hơn Thay vào đó họchi tiêu nhiều hơn cho hàng hóa sản xuất trong nước làm cho cầu hàng hóa củangành được bảo hộ tăng lên Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, doanh nghiệp mởrộng sản xuất và thuê thêm lao động làm giảm tỉ lệ thất nghiệp và thu nhập củangười lao động tăng lên

Thuế quan góp phần giúp chống lại bán phá giá và trợ cấp của hàng hóa nhậpkhẩu, qua đó tạo môi trường thương mại quốc tế lành mạnh, bình đẳng hơn

Góp phần cải thiện cán cân thương mại vì bảo hộ mậu dịch góp phần thúcđẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu

Bảo vệ văn hóa và truyền thống dân tộc: Văn hóa của mỗi quốc gia đều dầndần có sự thay đổi bởi sự hiện diện của con người và sản phẩm tới từ các nền vănhóa khác Điều này có thể gây ra những tác động ngoài mong muốn đối với nền vănhóa dân tộc, buộc Chính phủ phải có những biện pháp thích hợp, ngăn cản việcnhập khẩu những hàng hóa có hại để bảo vệ văn hóa và truyền thống dân tộc

2.Tác động tiêu cực

Chính phủ cần phân biệt rạch ròi giữa những ngành công nghiệp cần bảo hộ

và những ngành không cần bảo hộ Đây là công việc rất khó thực hiện, nếu nhưkhông muốn nói là không thể thực hiện được Sự bảo hộ có thể làm cho các doanhnghiệp trong nước trở nên trì trệ và không chịu đổi mới, từ đó dẫn tới sự tụt hậu sovới các doanh nghiệp, các đối thủ cạnh tranh quốc tế Một khi bảo hộ được ápđặt thì việc dỡ bỏ nó sẽ rất khó khăn

Về mặt kinh tế thì bảo hộ có hại hơn có lợi, dân chúng sẽ phải hạn chế tiêudùng vì phải trả giá cao hơn cho những sản phẩm có chất lượng thấp, còn các doanhnghiệp thì ngày càng phải dựa vào những cái ô bảo hộ của Chính phủ để tồn tại

Hoạt động của thị trường vốn quốc tế ngày nay cho phép các doanh nghiệp cóthể tiếp cận được với nhiều nguồn vốn khác nhau, do vậy không nhất thiết phải tiếpnhận từ phía Chính phủ Sự hỗ trợ của Chính phủ với doanh nghiệp trong nước cóthể dẫn đến làm giảm hiệu quả và tăng chi phí với chính những doanh nghiệp đó.Việc Chính phủ tăng hỗ trợ cho một ngành công nghiệp nào đó còn là kết quả của

Trang 10

của sự vận động chính trị của một số nhóm có quyền lợi đặc biệt Nếu điều này xảy

ra thì những người tiêu dùng hoàn toàn không có lợi gì từ việc hỗ trợ của Chính phủ

và họ sẽ ngừng ngay việc mua những hàng hóa có chất lượng thấp do các doanhnghiệp được bảo hộ sản xuất ra Điều này có thể khuấy động tính cạnh tranh tiêucực, thậm chí có thể dẫn tới chiến tranh thương mại giữa các quốc gia Nước ápdụng chính sách này hoàn toàn có thể bị các nước khác trả đũa

Cạnh tranh lớn nhất trong bất kỳ quốc gia nào không phải là cạnh tranh giữacác công ty trong nước với các đối thủ nước ngoài mà là cạnh tranh giữa các công

ty trong nước với nhau nhằm tranh giành nguồn vốn và lao động khan hiếm trên

“sân nhà” Các rào cản thương mại và các khoản trợ cấp có thể làm tăng sản lượngđầu ra, tăng việc làm cho người lao động và mang lại mức lợi nhuận cao hơn chomột số ngành công nghiệp trong nước, nhưng họ đạt được điều đó bằng cách gâybất lợi cho các công ty nội địa khác không được trợ cấp hay được bảo hộ Và nếunguồn lợi nhuận trong các ngành công nghiệp được chính phủ ưu đãi là giá trongnước cao hơn chứ không phải là nhờ năng suất cao hơn, thì khoản lợi nhuận nàychẳng qua chính là thu nhập bị mất đi của một số người khác trong quốc gia này

Do đó, khoản lợi nhuận này không làm tăng thu nhập quốc dân Các chính sách nàygây thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước cũng như cho các công ty sử dụngnguyên liệu nhập khẩu, và đem lại lợi ích cho các nhà sản xuất có những mối quan

hệ chính trị rộng chuyên sản xuất những sản phẩm cạnh tranh với hàng nhập khẩu

Vì các chính sách bảo hộ thường không rõ ràng và tiến trình thực hiện thường cũngkhông công khai nên những công ty này luôn có điều kiện thuận lợi để tiến hành cáccuộc vận động hành lang phục vụ lợi ích riêng của họ Xét về phúc lợi xã hội, việctìm mọi cách để làm tăng lợi nhuận của các ngành công nghiệp năng suất thấpthường kéo theo tái phân phối thu nhập, làm giảm thu nhập của những người nghèonhất trong xã hội và đẩy các nguồn lực khan hiếm ra khỏi các khu vực kinh tế cókhả năng tạo ra mức độ tăng trưởng kinh tế cao

Trang 11

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO HỘ MẬU DỊCH CỦA

THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY

I Thực trạng bảo hộ mậu dịch trên thế giới hiện nay

1 Thực trạng hiện nay

Năm 2011 kinh tế các nước đều trong tình trạng suy giảm, nhất là các nướckhủng hoảng nợ công làm mậu dịch thế giới cũng u ám và giảm sút Báo cáo mớinhất về tình hình buôn bán thế giới do Tổ chức mậu dịch thế giới (WTO) công bốcuối tháng 12/2011 cho biết mức tăng trưởng mậu dịch thế giới năm 2011 chỉ đạt5,8% thấp hơn so với mức dự kiến ban đầu 6,5% Đây là mức tăng thấp nhất 18năm qua, trong đó các nước phát triển chỉ tăng 3,7%, nước đang phát triển tăng8,5% Năm 2010, mức tăng trưởng mậu dịch thế giới  đạt 14,5% cho dù vẫn bị tácđộng tiêu cực của năm 2009 để lại Đầu Quý 1/2011, mậu dịch thế giới có bướckhởi sắc đáng mừng với mức tăng tới 22%, nhưng sau đó cứ lùi dần và cả năm chỉtăng được 5,8% Thương mại thế giới bắt đầu xu hướng đi xuống vào giữa năm

2008, khi nền kinh tế toàn cầu bắt đầu suy thoái

Trước áp lực phục hồi kinh tế, các quốc gia đã buộc phải áp dụng một loạtchính sách mang tính bảo hộ (như thuế quan, trợ giá và bảo lãnh tài chính) nhằmbảo vệ sản xuất trong nước Vấn đề bảo hộ mậu dịch đang ngày càng nóng lên saukhi các nước đưa ra các gói kích thích kinh tế lớn và khuyến khích dùng hàng nội

để giảm bớt khó khăn cho các nhà sản xuất Ngoài việc che chắn, bảo vệ cho nềnsản xuất trong nước trước sức tấn công của hàng hóa nhập khẩu, nhiều nước đang rasức nâng đỡ các ngành công nghiệp yếu kém trong nước. Những lo lắng về tìnhtrạng bảo hộ thương mại trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã trở thànhmột trong những nội dung chính của các diễn đàn, hội nghị quốc tế trong năm 2008-

2009, như: Hội nghị Bộ trưởng Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái BìnhDương (APEC, tháng 11/2008); Hội nghị Nhóm 20 nền kinh tế phát triển và đangnổi lên (G20, tháng 11/2008); Hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN+3 (tại TháiLan, tháng 2/2009); Hội nghị Bộ trưởng Tài chính G7 (tại Italia, tháng 2/2009)…

Tiêu biểu cho xu hướng bảo hộ mậu dịch là nước Mỹ với chương trình “BuyAmerican”, làm dấy lên lo ngại rằng các nước khác như Trung Quốc, cũng có thểhành động tương tự - điều sẽ gây tổn hại thêm đối với thương mại toàn cầu tronggiai đoạn khủng hoảng hiện tại Bên cạnh đó, quyết định tài trợ 17,4 tỷ USD của

Mỹ cho ngành xe hơi cũng đang bị giới phân tích đánh giá là một hành động trợ cấpkhông công bằng, đặt các đối thủ cạnh tranh vào vị trí bất lợi Nước Mỹ cũng gặpphải nhiều chỉ trích gay gắt từ các thành viên của WTO khi Mỹ tái ban hành nhữngbiện pháp trợ giá xuất khẩu đối với các sản phẩm sữa của nước này, bởi cảnh báorằng nó có thể là một tiền lệ nguy hiểm khiến thế giới quay lại chủ nghĩa bảo hộ,đặc biệt có nguy cơ bùng nổ thành những cuộc chiến thương mại. 

Trung Quốc cũng tuyên bố phương châm “Buy Chinese” của mình chỉ mộtvài tháng sau chương trình “Buy American” Sau nhiều chỉ trích với các kế hoạchbảo hộ mậu dịch của Mỹ, đến lượt mình, Trung Quốc bị lên án đã đi ngược lại tinhthần chống chủ nghĩa bảo hộ khi yêu cầu các cơ quan chính phủ mua hàng hóa sản

Trang 12

xuất trong nước nếu có thể cho các dự án sử dụng ngân sách nhà nước, nhằm đảmbảo khoản tiền 585 tỷ USD trong gói kích thích kinh tế có lợi cho các doanh nghiệptrong nước.

Ấn Độ đã tăng thuế suất nhập khẩu dầu đậu nành thêm 20% để bảo hộ nôngdân trong nước khi giá dầu ăn trên thị trường thế giới giảm mạnh trong khiIndonesia bắt đầu hạn chế nhập khẩu ít nhất 500 mặt hàng với nhiều biện pháp hạnchế khác như yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu phải có giấy phép đặc biệt và phảinộp một khoản lệ phí mới Nga sử dụng biện pháp tăng thuế suất nhập khẩu xe hơithêm 35%, đồng thời thuế thịt heo và thịt gia cầm cũng được điều chỉnh tăng.Argentina và Brazil cũng đang tìm cách nâng thuế suất nhiều mặt hàng nhập khẩu,

từ rượu vang đến hàng dệt may, hàng da giày và trái cây vào các nước này

Đối mặt với khủng hoảng tài chính và dòng sản phẩm giá rẻ từ bên ngoài,chính phủ các quốc gia Nam Mỹ ngày càng không che giấu ý đồ ngăn chặn hàngnhập khẩu Ví dụ điển hình là việc các nước thuộc Khối thị trường chung Nam Mỹ(MERCOSUR) đã quyết định tăng thuế đối với các mặt hàng nhập khẩu tại cuộchọp cuối năm 2011 Tháng 2/2012 vừa rồi, Chính phủ Argentina quyết định hạn chếhàng nhập khẩu từ Liên hiệp Anh, chỉ vài tháng sau quyết định tăng thuế đối vớimột số sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc Trong khi đó, Pháp và EU cũng khôngthiếu kinh nghiệm trong việc bảo hộ thị trường của mình Hàn Quốc tăng thuế hảiquan từ 1% tới 3% đối với xăng dầu nhập khẩu và Indonesia đã giảm nhập cảng đốivới các sản phẩm điện tử với cái cớ chống buôn lậu

Trong cuộc khủng hoảng lần này, Mỹ cũng được coi là nước có thể sẽ châmngòi cho cuộc chiến tranh thương mại Điều khoản “Buy American” được đưa ratrong gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD của Mỹ như là một thách thức đốivới các nước Nó là cơ sở gây nên cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ với cácnước, và sau nữa là cuộc chiến tranh thương mại trên toàn cầu. Để trả lời cho hànhđộng của Mỹ, Trung Quốc cũng đã đưa ra chương trình “Buy Chinese” như là mộtthông điệp với nước Mỹ rằng, rào cản thương mại có thể gây tác động theo 2 chiều:tích cực và tiêu cực Tranh chấp Mỹ - Trung về việc tỷ giá hối đoái của đồng nhândân tệ cũng có thể là nguy cơ cho cuộc chiến tranh thương mại giữa hai nước khitháng 5/2009 vừa qua, Mỹ lại tiếp tục cáo buộc rằng Trung Quốc đã thao túng tỷ giáđồng nhân dân tệ nhằm khuynh đảo mối quan hệ thương mại giữa hai nước theohướng có lợi cho Trung Quốc Đó cũng là nguyên nhân khiến Quốc hội Mỹ đangxem xét một đạo luật trả đũa những quốc gia bị coi là thao túng đồng tiền để giànhlợi thế trong thương mại quốc tế, và nó cũng có thể là khởi nguồn cho một cuộcchiến tranh thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc Gần đây nhất việc Mỹ tăng thuếvới các loại lốp ôtô của Trung Quốc và Trung Quốc điều tra chống bán phá giá phụtùng ôtô, thịt là minh chứng rõ nhất cho tình hình này. 

Căng thẳng quan hệ thương mại Mỹ - EU cũng phát sinh từ mâu thuẫn đốivới chế độ bảo hộ mậu dịch của mỗi bên Những điều khoản hỗ trợ nền kinh tế nộiđịa của Mỹ cũng là nguyên nhân gây nên nhiều chỉ trích từ các nước Liên minhchâu Âu, trong đó tiêu biểu là Canada và Thụy Sỹ, cảnh báo sẽ áp dụng biện pháp

Trang 13

trả đũa nếu Mỹ thực thi điều khoản “Buy American” trong gói kích thích kinh tếcủa mình.

2 Nguyên nhân các nước hiện nay gia tăng bảo hộ mậu dịch

Nguyên nhân đầu tiên là tình hình kinh tế thế giới suy giảm, nhất là khủnghoảng nợ công của Châu Âu, bất ổn ở thế giới Arập, động đất và sóng thần ở NhậtBản, thiên tai ở nhiều nước trên khắp thế giới Dẫn đến kim ngạch xuất nhập khẩucủa 7 nước công nghiệp phát triển và 5 nước Nhóm BRICS đang trỗi dậy trong Quí2/2011 chỉ tăng 1,1%, thấp hơn rất nhiều so với Quí 1/2011 GDP của các nước pháttriển chỉ tăng 1,6%, của Mỹ chỉ tăng 1,5%, của Trung Quốc chỉ đạt 9%, của Ấn Độchỉ tăng 7,8% Kinh tế thế giới suy giảm làm giao dịch buôn bán trên thị trường tính

từ đầu năm tới tháng 5/2011 giảm tới gần 3.300 tỉ USD

Khủng hoảng kinh tế làm tình trạng thất nghiệp gia tăng ở các nước đang trởthành vấn đề đáng lo ngại Khi hàng triệu người mất việc làm hoặc không thể tìmđược việc làm sẽ khiến họ mất đi khả năng tự cứu lấy bản thân, lòng tự trọng và hyvọng. Hậu quả có thể bao gồm cả sự bất ổn về xã hội và chính trị. Tại khắp cácnước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu Âu, các chính phủđang nỗ lực tìm cách để giảm bớt tình trạng suy thoái kinh tế, tối thiểu hóa số người

bị mất việc làm và khôi phục tăng trưởng kinh tế nhanh nhất có thể. 

Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch tăng lên đáng kể trở thành rào cản trao đổi buônbán giữa các nước Nguyên nhân là do các nước đều muốn bảo vệ kinh tế trongnước, bảo hộ người dân của mình nên đã dựng lên các dinh lũy ngăn chặn lưu thôngbuôn bán với thế giới bên ngoài

3 Các chính sách và công cụ các nước áp dụng để bảo hộ mậu dịch.

3.1 Chính sách

Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới vẫn áp dụng chính sách bảo hộ mậudịch để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước cũng như an ninh quốc gia Thực tế thìcác quốc gia áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch được thể hiện như sau:

Đối với các quốc gia đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thìviệc áp đặt này chỉ được phép đối với một hay nhiều thành viên khác của WTO khi

và chỉ khi phán quyết của WTO cho phép quốc gia này làm điều đó (với các chứng

cứ cho thấy các thành viên kia đang thực hiện việc bán phá giá hay hỗ trợ bấthợp pháp cho ngành sản xuất của mình v.v)

Đối với các quốc gia chưa gia nhập WTO hoặc quốc gia là thành viên củaWTO áp đặt đối với các quốc gia chưa là thành viên WTO hay ngược lại

Việc áp đặt này hoàn toàn nằm trong ý chí chủ quan của từng quốc gia hoặcsau khi nhận được đơn kiện của các (nhóm, hiệp hội) công ty tại quốc gia đó về việcbán phá giá Các vụ kiện tôm hay cá tra, cá ba sa tại Mỹ vừa qua đối với các quốcgia xuất khẩu các mặt hàng này là một ví dụ cho thấy việc áp đặt bảo hộ mậu dịch.3.2 Các công cụ

Hiện nay các nước sử dụng các công cụ như gia tăng mức thuế được lựachọn, sự giảm giá tiền tệ để làm cho giá các mặt hàng xuất khẩu rẻ hơn và giá các

Trang 14

mặt hàng nhập khẩu đắt hơn, sự trợ cấp xuất khẩu cho nhiều loại mặt hàng, điềukhoản “mua hoặc thuê ở địa phương” và các biện pháp chống bán phá giá mà có thểgiúp cho các nhà sản xuất trong nước chống lại các đối tác thương mại bị buộc tội làbán hàng hóa với mức giá thấp hơn chi phí sản xuất,…để bảo hộ mậu dịch

Ví dụ như Malaysia cấm việc thuê các công nhân từ nước ngoài ở các nhàmáy, cửa hàng bách hóa và các nhà hàng để bảo vệ các công dân của họ tránh khỏi

sự thất nghiệp Chính phủ này cũng yêu cầu các công ty sa thải những nhân viên làngười nước ngoài nếu các công ty này buộc phải cắt giảm nhân viên Hơn 3 triệucông nhân nước ngoài hợp pháp và bất hợp pháp, trong đó chủ yếu là có xuất xứ từIndonesia và Philippines sẽ bị buộc thôi việc

Theo báo cáo năm 2012 của WTO, hiện nay các nước cũng đang có xu hướng

sử dụng các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ mậu dịch Báo cáo công bố ngày20/7 nêu rõ các biện pháp phi thuế quan (NTM) như : các tiêu chuẩn, quy chế đốivới hàng công nghiệp và nông sản - tác động đến hoạt động thương mại thậm chícòn lớn hơn cả thuế quan, làm nảy sinh các thách thức mới và rắc rối lớn hơn tronghợp tác quốc tế trong thế kỷ 21 Các biện pháp phi thuế quan phản ánh các mục tiêuchính sách công như đảm bảo về y tế, an toàn và quyền lợi của người tiêu dùng… ,nhưng cũng nhằm mục đích tăng bảo hộ mậu dịch và gây thất bại trong buônbán. Báo cáo của WTO nêu bật các biện pháp phi thuế quan như hàng rào kỹ thuậtđối với thương mại (TBT), các biện pháp quy chế về vệ sinh và vệ sinh thực vật(SPS) và các quy chế trong nước về dịch vụ

là bước thoái lui của kinh tế toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng tài chính

Những hạn chế thương mại nhằm bảo vệ thị trường nội địa mà nhiều nước ápdụng năm 1930 là một minh chứng điển hình khi những biện pháp đó đã leo thangthành một cuộc chiến tranh thương mại, khiến cho cuộc Đại Suy thoái 1929-1933 bịkéo dài và nghiêm trọng hơn Để đối phó lại với cuộc khủng hoảng tài chính năm

1929, Quốc hội Hoa Kỳ đã tăng thuế suất lên mức cao nhất trong lịch sử của nướcnày Trong vòng một năm, hơn 24 đối tác thương mại của Hoa Kỳ đã trả đũa bằngcách hạn chế nhập khẩu các sản phẩm của Hoa Kỳ Những biện pháp trả đũa nàylàm ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ quốc tế, và theo quan điểm của các nhà sử họcthì nó góp phần làm bùng nổ Chiến tranh Thế giới lần thứ II

WTO dự báo triển vọng mậu dịch thế giới năm 2012 chưa có gì sáng sủa, lạcquan mà vẫn bao trùm màu xám Bởi vì kinh tế toàn cầu vẫn trong tình trạng suygiảm kể cả các nước có nền kinh tế năng động nhất như Trung Quốc, Ấn Độ,Braxin và không loại trừ bị rơi vào khủng hoảng đợt 2, tình hình này tác động

Trang 15

không nhỏ tới mậu dịch thế giới WTO dự đoán năm 2012 mậu dịch thế giới vẫndẫm chân tại chỗ, tức là vẫn ở “số 0” Đánh giá chung về tình hình buôn bán thếgiới, WTO cho rằng Châu Á vẫn là đầu tàu lôi kéo mậu dịch toàn cầu, nhất là TrungQuốc, nước hiện có kim ngạch buôn bán lớn nhất thế giới và Ấn Độ năm 2011 đãgia nhập Câu lạc bộ “Top-10” nước có kim ngạch buôn bán hàng đầu thế giới.Chính phủ Trung Quốc tuyên bố do tăng cường nội nhu, nên tới năm 2025 kimngạch buôn bán hàng hóa đạt 6.300 tỉ USD, tăng 1,5 lần so với năm 2011, đây lànhân tố kích thích mậu dịch thế giới.

Theo Chủ tịch Hội đồng Xúc tiến thương mại quốc tế Trung Quốc, ông WanJifei, việc chủ nghĩa bảo hộ gia tăng đang gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế thếgiới "Bảo hộ thương mại là hành động thiển cận và hẹp hòi Nó không thể giảiquyết được những vấn đề như thất nghiệp hay tăng trưởng kinh tế toàn cầu"

Theo WTO, thương mại và tự do hóa thương mại thậm chí có thể còn lànhững công cụ hữu hiệu hơn để xóa đói, giảm nghèo và giúp cho các quốc gia cónguồn lực kinh tế để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết nhất của họ Tổng giám đốcWTO Pascal Lamy nhấn mạnh rằng chính sách tăng trưởng dựa vào thương mại đãđưa Hàn Quốc từ một nước có thu nhập bình quân đầu người cách đây 50 năm thấphơn Senegal hay Bolivia nay đã trở thành nhà đóng tàu lớn nhất thế giới và nhà sảnxuất xe hơi lớn thứ 5 thế giới

Các quốc gia phát triển và đang phát triển đang phải đứng trước những lựachọn quan trọng khi xác định hướng đi cho chính sách thương mại của họ, trong bốicảnh nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng như hiện nay Về lý thuyết,việc áp đặt các biện pháp bảo hộ mậu dịch có thể đem lại lợi ích nhất thời cho cácnhà sản xuất trong nước, đảm bảo được mục tiêu xã hội cho riêng quốc gia sử dụngcác hàng rào kỹ thuật này, bao gồm việc đảm bảo được công ăn việc làm cho một sốnhóm người lao động Tuy nhiên, mặt trái của nó là làm cho các nhà sản xuất trongnước có cơ hội đầu cơ trên giá bán hàng (hay dịch vụ) ở mức có lợi nhất cho họ màkhông cần đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, gâythiệt hại cho người tiêu dùng Trong khi đó, cả lý thuyết và thực tiễn đều chỉ ra rằngtiến trình toàn cầu hóa và mở cửa thương mại đã, đang và sẽ là nền tảng cho tăngtrưởng kinh tế, ổn định việc làm và cải thiện cuộc sống cho hàng triệu người trêntoàn thế giới

Trang 16

II Thực trạng bảo hộ mậu dịch ở Việt Nam.

1 Lộ trình hội nhập của Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO

1.1 Các quy tắc của WTO

Không phân biệt đối xử: Mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm của một

thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành chosản phẩm của một nước thứ 3 (Đãi ngộ Tối huệ quốc - MFN) Tuy nhiên, vẫn cómột số ngoại lệ trong nguyên tắc này Chẳng hạn, các nước có thể thiết lập một hiệpđịnh thương mại tự do áp dụng đối với những hàng hoá giao dịch trong một nhómquốc gia, phân biệt với hàng từ bên ngoài nhóm

Thương mại ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán: Các hàng

rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch địnhchiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranhhoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuậnthông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương Đến nay đã có 8 vòngđàm phán kể từ khi GATT được hình thành vào năm 1947

Dễ dự đoán: Đôi khi cam kết không tăng một cách tuỳ tiện các hàng rào

thương mại (thuế quan và phi thuế quan khác) đem lại sự an tâm rất lớn cho các nhàđầu tư Với sự ổn định, dễ dự đoán, thì việc đầu tư sẽ được khuyến khích, việc làm

sẽ được tạo ra nhiều hơn và khách hàng sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lànhmạnh trên thị trường Hệ thống thương mại đa phương là một nỗ lực lớn của cácchính phủ để tạo ra một môi trường thương mại ổn định và có thể dự đoán

Hệ thống thương mại này cũng cố gắng cải thiện khả năng dễ dự đoán và sự

ổn định theo những cách khác Một trong những cách làm phổ biến là ngăn chặnviệc sử dụng hạn ngạch và các biện pháp khác của các nước hạn chế số lượng hàngnhập khẩu Bên cạnh đó, WTO cũng giúp các nguyên tắc thương mại của các nướctrở nên rõ ràng và minh bạch hơn Rất nhiều hiệp định của WTO yêu cầu chính phủcác nước thành viên phải công khai chính sách

Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng: WTO đôi khi được

miêu tả như là một hệ thống "thương mại tự do", tuy nhiên điều đó không hoàn toànchính xác Hệ thống này vẫn cho phép có sự tồn tại của thuế quan và trong một sốtrường hợp nhất định, vẫn cho phép có các biện pháp bảo hộ Như vậy, nói mộtcách chính xác hơn thì WTO đem lại một sự cạnh tranh lành mạnh và công bằnghơn

WTO cũng có thể hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh khôngbình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanhnghiệp nhất định

Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi: Các ưu đãi này

được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền

và không phải thực hiện một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ haythời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách

Trang 17

1.2 Lộ trình hội nhập của Việt Nam

Năm 2006: Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới(WTO) Việt Nam đã ký kết các điều khoản liên quan đến bảo hộ mậu dịch như:

- Việt Nam cam kết từ thời điểm gia nhập WTO không áp dụng mới và không

áp dụng thêm các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu không phù hợp quyđinh của WTO Cụ thể:

 Bãi bỏ các biện pháp hạn ngạch trước thời điểm gia nhập:

 Bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu từ thời điểm gia nhập

 Bãi bỏ tất cả các hạn ngạch nhập khẩu trừ hạn ngạch thuế quan đối với thuốc

lá nguyên liệu, trứng gia cầm, đường thô, đường tinh luyện, muối

 Bãi bỏ các biên pháp cấm nhập khẩu đang được áp dụng tại thời điểm gianhập như đối với: thuốc lá điếu và xì gà, ô tô cũ không quá 5 năm, xe máy códung tích 175 cm3 trở lên

- Việt Nam cũng tham gia đàm phán để đạt được thỏa thuận về cắt giảm thuếquan:

 Mức giảm thuế bình quân toàn biểu thuế: khoảng 23% (từ mức 17,4% năm

2006 xuống còn 13,4% , thực hiện dần trong 5-7 năm)

 Số dòng thuế cam kết giảm: khoảng 3800 dòng thuế (chiếm khoảng 35,5% sốdòng của biểu thuế) Nhóm mặt hàng có cam kết giảm nhiều nhất gồm: dệtmay, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, máy móc thiết bị điện-điện tử, thịt lợn-

bò, phụ phẩm

 Số dòng thuế ràng buộc theo mức thuế trần : 3170 dòng thuế (305 số dòngbiểu thuế), chủ yếu đối với các nhóm hàng như: xăng dầu, kim loại, hóa chất,một số phương tiện vận tải

2 Các biện pháp bảo hộ mà Việt Nam đã áp dụng:

Việt Nam là nước đang phát triển, xuất phát điểm thấp, nước ta phụ thuộcnhiều vào xuất khẩu và kêu gọi đầu tư, nên có rất ít các hình thức "hạn chế mậudịch phi thuế quan " (đúng nghĩa) được áp dụng ở Việt Nam mà chủ yếu chúng ta

áp dụng hàng rào thuế quan (đánh thuế cao các mặt hàng cần hạn chế như ô tôchẳng hạn)

Về thuế quan: cùng với việc hội nhập ngày càng sâu và rộng và tham gia

tích cực vào các tổ chức, diễn đàn mang tầm khu vực và quốc tế như: ASEAN,AFTA, WTO, APEC Việt Nam đã cam "kết cắt giảm đáng kể thuế quan nhằm tạo

sự bình đẳng giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất ở nước ngoài

Nó thực sự đặt ra một thử thách vô cùng to lớn đối với nhà sản xuất trong nước đặcbiệt là những hàng hóa có trình độ sản xuất chưa cao, chưa có nhiều kinh nghiệmtrong tham gia thương mại quốc tế trước sự tấn công ồ ạt của hàng hóa nhập khẩu.Tuy nhiên, nó lại tạo sự cạnh tranh gay gắt, góp phần thanh lọc những nhà sản xuất làm

ăn kém hiệu quả và quan trọng hơn cả là mang lại lợi ích to lớn cho người tiêu dùngtrong nước Dưới đây là bảng số liệu về cắt giảm thuế theo một số nhóm hàng chính

Trang 18

khi gia nhập WTO (bảng 1) và các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theongành trong WTO (bảng 2).

Bảng 1 - Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo một số nhóm hàng chính

STT Mặt hàng Thuế suất MFN (%)

Thuế suất khi gia nhập(%)

Thuế suất cuối cùng (%) Thời hạn thực hiện

1 số sản phẩm nông

nghiệp

1 số sản phẩm công nghiệp

Trang 19

- Dệt may (t/s bình quân) 37,3 13,7 13,7

Thực hiện ngay khi gia nhập (theo

2.HĐ hài hòa hóa chất

3.HĐ thiết bị máy bay

dân dụng CA-tham gia

Vì lý do đó mà nhà nước ban hành thuế tiêu thụ đặc biệt một mặt hạn chế hàng hóanày nhập khẩu vào thị trong nước giảm lãng phí trong tiêu dùng của dân chúng, mộtmặt nhằm bảo hộ cho sản xuất hàng hóa này ở trong nước tạo điều kiện cho sảnxuất hàng hóa này có cơ hội phát triển, mở ra triển vọng xuất khẩu

Về trợ cấp: Nhằm góp phần thúc đẩy xuất khẩu,Việt Nam đã áp dụng trợ cấp

theo các hình thức khác nhau cho những mặt hàng còn gặp khó khăn chưa tự đứngvững trên thị trường trong nước cùng như thị trường quốc tế Các biện pháp trợ cấp

cụ thể là:

- Đối với sản phẩm gạo: Hỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu hoạch, hỗtrợ lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hỗ trợ lãi suất xuất khẩu gạo trảchậm, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, thường xuất khẩu

Trang 20

- Đối với mặt hàng cà phê: Hoàn phụ thu, bù lỗ cho tạm trữ cà phê xuất khẩu,

bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, hỗ trợ lãi suất tạm trữ, thường xuấtkhẩu

- Đối với rau quả hộp: Hỗ trợ xuất khẩu cho dưa chuột, dứa hộp, thường xuấtkhẩu

- Đối với thịt lợn: hỗ trợ lãi suất mua thịt lợn, bù lỗ xuất khẩu thịt lợn, thườngxuất khẩu

- Đường: Hỗ trợ giá, hỗ trợ giống mía, giảm thuế VAT 50%, hỗ trợ lãi suấtsau đầu tư, bù chênh lệch tỷ giá , hỗ trợ lãi suất thu mua mía trong vụ thuhoạch, hỗ trợ phát triển vùng mía nguyên liệu

- Chè, lạc nhân, thịt gia súc gia cầm các loại, hạt tiêu, hạt điều: Thưởng theokim ngạch xuất khẩu

- Sản phẩm, phụ tùng xe hai bánh gắn máy: Thuế suất nhập khẩu ưu đãi theo tỷ

lệ nội địa hoá

- Xe đạp, quạt điện: Ưu đãi vế tín dụng, miễn giảm thuế thu nhập doanhnghiệp, miễn thuế xuất khẩu, miễn thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng, vật tư,thiết bị lẻ, hỗ trợ lãi suất, vay vốn ngân hàng

- Tàu biển 11,500 tấn, động cơ đốt trong dưới 30 CV, máy thu hình màu, máy

vi tính: Miễn thuế nhập khẩu, Ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp, ưu đãi vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, giảm tiềnthuê đất

- Sản phẩm phần mềm; ưu đãi về thuế suất thu nhập doanh nghiệp, miễn thuếthu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, miễn thuế xuất khẩu,miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu, ưu đãi về tín dụng, ưu đãi về sử dụngđất và thuê đất

- Sản phẩm cơ khí: Ưu đãi vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước

- Sản phẩm dệt may: Vốn tín dụng ưu đãi, ưu đãi đầu tư, bào lãnh của chínhphủ, cấp lại tiền sử dụng vốn để tái đầu tư, hỗ trợ kinh phí xúc tiến thươngmại

- Gốm sứ, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre lá: thưởng theo kim ngạch xuất khẩu

- Hỗ trợ bằng tín dụng giúp cho nhà sản xuất có đủ điều kiện tài chính để muahàng hóa phục vụ sản xuất xuất khẩu

Về rào cản kỹ thuật:

Việt Nam cho tới nay chưa áp dụng được biện pháp này trong bảo hộ mậudịch của mình bởi thực tế nhiều chỉ tiêu kỹ thuật của Việt Nam vẫn còn thấp hơnnhiều so với mức chuẩn quốc tế nên hàng hóa nhập khẩu dễ dàng đáp ứng được cáctiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam để ra do được sản xuất với trình độ công nghệ cao đặcbiệt là hàng hóa có xuất xứ từ những nước phát triển như: Mỹ, Nhật Rào cản kỹthuật của Việt Nam chủ yếu dùng để ngăn chận những hàng hóa đã gây nguv hiếm

và bị phát hiện từ nước ngoài như: sữa nhiễm chất melamine gây nguy hiểm chothận hay rau quả của Nhật có nhiễm phóng xạ do động đất vừa qua,…

Một thực trạng đáng buồn là tuy đi gia nhập WTO được gần 5 năm nhưng số lầnViệt Nam sử dụng quyền của mình để kiện các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài

là rất ít

Trang 21

3 Các biện pháp bảo hộ mậu dịch Việt Nam gặp phải:

Theo Ban quản lí chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, tình hình xuấtkhẩu của nước ta đang gặp nhiều khó khăn hơn do các quốc gia nhập khẩu gia tăngbảo hộ mậu dịch, gây cản trở cho hàng xuất khẩu của Việt Nam Ban quản lý nàycho biết, trong năm 2011, các quốc gia nhập khẩu đã đưa ra 339 biện pháp hạn chếthương mại mới, trong đó có nhiều biện pháp hạn chế mạnh hoặc làm biến dạngthương mại, đã được ghi nhận trong buôn bán quốc tế, tăng 53% so với năm 2010.Đáng chú ý là các biện pháp mới về hạn chế xuất khẩu tăng nhanh nhất, tuy chỉchiếm 19% trong tổng số các biện pháp hạn chế thương mại (WTO, 2011)

Một chuyên gia về  thương mại của Bộ Công Thương cho biết, xu hướng nàyđược dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm 2012 và 2013, sẽ gây khó cho các mặt hàngxuất khẩu của Việt Nam Các lĩnh vực thương mại bị tác động lớn nhất bởi các biệnpháp mới hạn chế buôn bán là thép và các sản phẩm thép cơ bản, máy móc và thiết

bị, hoá chất hữu cơ, sản phẩm thịt, các sản phẩm từ nhựa, thiết bị vận tải, ngũ cốc,sản phẩm gỗ các loại Không những bị các rào cản thương mại mà những lợi thếcạnh tranh về giá của Việt Nam đang dần mất đi khi các quốc gia khác cũng đang

cố gắng cạnh tranh bằng việc cung cấp lao động giá rẻ hơn hoặc thông qua các biệnpháp nâng cao năng suất tích cực hơn

Chống bán phá giá và chống trợ cấp:

Một trong số những khó khăn cho việc xuất khẩu của Việt Nam qua các nướckhác là bởi hàng rào chống bán phá giá và chống trợ cấp Trong năm 2009, cácdoanh nghiệp Việt Nam đã phải đối diện với “con số kỷ lục” các vụ kiện phòng vệthương mại, trong đó có 7 vụ ở 6 thị trường khác nhau Theo VCCI, năm 2009 lànăm bận rộn và nhức đầu cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam Cơ quan này cho biếtkhi kinh tế thế giới rơi vào suy giảm không chỉ thị trường Âu- Mỹ mà bây giờ còn

bị các thị trường Ấn Độ, Braxin cũng kiện bán phá giá  hàng xuất khẩu từ ViệtNam, trong đó, Ấn Độ kiện các doanh nghiệp thép Việt Nam; Braxin kiện cácdoanh nghiệp giày dép, dù hai nước này đều xuất siêu sang Việt Nam. Trong năm

2010, Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ kiện chống bán phá giá tăng từ thịtrường Âu – Mỹ từ giày dép, cá ba sa sẽ có thể đang lan sang các mặt hàng như dệtmay, đồ gỗ, thép và đinh Ngoài ra một số mặt hàng có thể cũng sẽ bị điều tra nhưtúi nhựa, và một số mặt hàng mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa Trong

10 năm qua , số vụ kiện chống bán phá giá nhắm vào hàng Việt Nam đã lên đến con

số 42, và các chuyên gia dự đoán, thời gian tới sẽ còn thêm nhiều vụ kiện tụng dokinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu

Ngày 15/11/2011, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra quyết định khởi xướngđiều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm ống thép cac-bon tiêuchuẩn nhập khẩu từ Việt Nam Ngày 18/01/2012, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC)

đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sảnphẩm mắc áo bằng thép (steel wire garment hangers) nhập khẩu từ Việt Nam

Biện pháp tự vệ:

Trang 22

Số liệu các vụ kiện tự vệ ở nước ngoài đối với hàng hóa Việt Nam.

tra

Kết quả

09/04/2009 Thépcuộn/tấm/xẻ băng

cán nóng

Ấn Độ Vụ kiện chấm dứt, không áp dụng biền pháp tự vệ (08/12/2009)

2006 Hoa chất STPP Philippines Vụ kiện chấm dứt do không có thiệt hại nghiêm trọng đối với

ngành sản xuất nội địa

2005 Xe đạp Canada Vụ kiện chấm dứt do không có thiệt hại nghiêm trọng đối với

ngành sản xuất nội địa

2003 Kính nổi Philippines Kính nổi không màu: 3,971peso/MT Kính nổi phủ màu:

5,016peso/MT

2001 Gạch ốp lát Philippines 2,15 peso/kg

Ngoài ra, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do vướngphải các rào cản về kỹ thuật như: Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinhdịch tễ, các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môi trường, dư lượngthuốc bảo vệ thực vật, chất kháng sinh Một ví dụ điển hình là vụ tôm Việt Namxuất khẩu sang Nhật Bản bị phát hiện nhiễm dư lượng kháng sinh vượt mức chophép Theo thông tin cảnh báo mới nhất tại thị ữường Nhật, trong 2 tháng đầu năm

2011, vẫn có đến 16 lô tôm của Việt Nam bị phát hiện nhiễm dư lượng kháng sinhvượt mức cho phép (tháng 1/2011 có lô; tháng 2/2011 có 5 lô), trong đó phần lớn làTrifluralin, Chloramphenicol Điều này khiến hoạt động xuất khẩu tôm Việt Namsang thị trường Nhật Bản ngày tiếp tục khó khăn

Qua bảng tổng hợp số liệu trên ta thấy, hàng xuất khẩu Việt Nam ra thịtrường thế giới vẫn còn gặp vô số khó khăn đặc biệt khi xuất khẩu vào các thịtrường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU và cũng bị ảnh hưởng trực tiếp từ các nhân

tố khách quan khác như chính trị, kinh tế Có rất nhiều lý do để giải thích cho việccác nước nhập khẩu áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩuViệt Nam Trước hết, ta cần hiểu:" Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện

Ngày đăng: 06/04/2016, 09:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hóa theo ngành trong WTO - Chính sách bảo hộ mậu dịch đối với nước ta hiện nay
Bảng 2 Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hóa theo ngành trong WTO (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w