Trong đó thị trường khách Nhật Bản cùng với thị trường khách Trung Quốc, Mỹ, Anh, Hàn Quốc là những thị trường khách quốc tế đến Việt Nam.. Chúng ta có thể hiểu khách du lịch là những ng
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BÁO CÁO MÔN: TÂM LÝ KHÁCH DU LỊCH
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
I Tâm lý khách du lịch: 3
1 Khách du lịch là gì? 3
2 Tâm lý khách du lịch là gì? 3
II Khái quát về Nhật Bản: 4
1 Điều kiện tự nhiên: 4
1.1 Vị trí địa lý: 4
1.2 Địa hình: 4
1.3 Núi non: 4
1.4 Bình nguyên: 5
1.5 Sông hồ: 5
1.6 Bồn địa và cao nguyên: 5
1.7 Biển và bờ biển: 5
1.8 Khí hậu: 5
2 Dân số: 6
3 Kinh tế: 6
4 Chính trị: 8
5 Tôn giáo: 8
6 Giáo dục: 9
III Tâm lý của người Châu Á: 10
IV Tính cách của người Nhật Bản: 12
1 Tính nghiêm túc, kỉ luật cao: 12
2 Làm việc có kế hoạch: 12
3 Người Nhật Bản rất coi trọng học vấn: 12
4 Tinh thần làm việc tập thể: 13
5 Tính tiết kiệm và làm việc chăm chỉ: 14
Tính tiết kiệm: 14
Làm việc chăm chỉ: 14
6 Người Nhật Bản rất lịch thiệp trong giao tiếp: 14
7 Người Nhật Bản thích tham gia vào các hoạt động tình nguyện: 16
V Khẩu vị và cách ăn uống của người Nhật Bản: 16
1 Khẩu vị: 16
2 Cách ăn uống: 18
VI Đặc điểm khi đi du lịch của người Nhật Bản: 19
VII Kết luận – Kiến nghị: 21
1 Kết luận: 21
2 Kiến nghị: 22
VIII Tài liệu tham khảo: 23
MỞ ĐẦU
Trang 3Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích,một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịch là nhu cầu quantrọng trong đời sống văn hóa – xã hội
Về mặt kinh tế du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọngcủa nhiều nước công nghiệp phát triển Du lịch được coi là ngành công nghiệp – côngnghiệp du lịch Và hiện nay ngành công nghiệp này đứng sau công nghiệp dầu khí và
ô tô Đối với nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thì du lịch được coi làcứu cánh để vực dậy nền kinh tế của quốc gia
Phát triển du lịch quốc tế và nội địa đã trở thành một chính sách quan trọng củaĐảng và Nhà nước ta vì ngành du lịch không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn gópphần tăng cường mối quan hệ quốc tế, củng cố hòa bình, thúc đẩy giao lưu văn hóagiữa các nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trong nhữngnăm qua lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng với tốc độ trungbình năm là 21,9 %
Trong đó thị trường khách Nhật Bản cùng với thị trường khách Trung Quốc,
Mỹ, Anh, Hàn Quốc là những thị trường khách quốc tế đến Việt Nam Đó cũng lànhững thị trường khách nguồn cơ bản của vùng Đông Nam Á và trên thế giới
Nhật Bản là một trong những đất nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới.Thu nhập bình quân trên đầu người là 29.400 USD/năm (năm 2004) Đây cũng là mộttrong những nước có dân số đông 127.417.244 người (năm 2005) Cùng với nhữngchính sách tiên tiến về kinh tế, văn hóa và giáo dục Nhật Bản còn có chính sáchkhuyến khích người dân đi du lịch để phục hồi sức khỏe, nâng cao tầm hiểu biết vàcũng là biện pháp để cân bằng cán cân thương mại Khách du lịch Nhật Bản là thịtrường khách có khả năng thanh toán cao, số lượng khách đi du lịch nước ngoài lớntrên 15 triệu lượt khách / năm Trong giai đoạn 1995-1996, khách Nhật Bản trung bìnhchiếm khoảng 8% - 10% tổng số khách quốc tế đến với tốc độ tăng trưởng hàng năm
là 11,2% Thị trường khách Nhật Bản sẽ luôn là thị trường gửi khách hàng đầu trênthế giới nên đây cũng là lợi thế cho du lịch nhiều nước trong đó có Việt Nam
Nhưng lượng khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam đang có xu hướng giảmdần Thực trạng này đòi hỏi Đảng và Nhà Nước,Tổng Cục du lịch Việt Nam và các cơquan chức năng có liên quan đến du lịch đưa ra các chiến lược hợp lý nhằm thu hútkhách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam ngày càng đông hơn Để có thể thu hút khách
du lịch Nhật Bản thì trước tiên phải hiểu được tâm lí của họ do đó nhóm chọn đề tài :
“Tâm lý khách du lịch người Nhật Bản”
Trang 4I Tâm lý khách du lịch:
1 Khách du lịch là gì?
Thuật ngữ du lịch trong tiếng anh: Tour có nghĩa là cuộc dạo chơi, cuộc dãngoại ngày nay đã được quốc tế hóa là “Tourism”, còn “tourist” là người đi du lịchhay còn gọi là du khách
Chúng ta có thể hiểu khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thườngxuyên của mình đến nơi có điều kiện để nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng caosức khỏe, tham quan vãn cảnh, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức cái mới lạ,hoặc kết hợp việc nghỉ ngơi với việc hội hợp, kinh doanh, nghiên cứu khoa học…Tạihội nghị của tổ chức Du lịch thế giới (WTO), tháng 9-1968, đã chính thức xác định:
Khách du lịch là những người lưu lại một điểm tại nơi không phải là nhà mìnhvới mục đích chính của sự di chuyển không nhằm kiếm tiền
Khách du lịch quốc tế bao gồm: những người hành trình ra nước ngoài với mụcđích thăm viếng người thân, nghỉ dưỡng chữa bệnh, tham gia các hội nghị, hộithảo quốc tế, ngoại giao thể thao, thực hiện công vụ (kí kết hợp đồng mua bánthăm dò thị trường…), những người đi trên các chuyến tàu vượt biển đạidương
Có hai loại: khách du lịch và khách tham quan Sự khác biệt giữa khách du lịch
và khách tham quan là khách tham quan không lưu lại qua đêm ở nơi đến du lịch
Các nhu cầu sinh lý cơ bản
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu về quan hệ xã hội
Nhu cầu được tôn trọng
Trang 5 Nhu cầu tự khẳng định (Tự thể hiện)
Con người tiến hành các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, đó cũng
là tâm lý chung của những người đi du lịch
II Khái quát về Nhật Bản:
1 Điều kiện tự nhiên:
1.1 Vị trí địa lý:
Nhật Bản nằm ở phía đông châu á,
phía tây của Thái Bình Dương Nhật Bản
gồm 4 đảo chính: Honshu, Hokkaido,
Kyushuy và Shikoku Có nhiều dãy đảo và
có khoảng 3.900 đảo nhỏ Honshu chiếm
60% diện tích Những quốc gia và lãnh
thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga,
Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển
Đông Hải là Trung Quốc và Đài Loan đi
xa hơn về phía Nam là Philippines và quần
Điểm cao nhất ở Nhật Bản là đỉnh núi Phú Sĩ, cao tuyệt đối 3776m Điểm thấpnhất ở Nhật Bản là một hầm khai thác than đá ở Hachinohe -135m
1.2 Núi non:
Trang 6Nhật Bản có nhiều dãy núi lớn, nổi
tiếng nhất là ba dãy núi thuộc Alps Nhật
Bản Các dãy núi phần nhiều là từ đáy
biển đội lên và có hình cánh cung Núi cao
trên 3000m ở Nhật Bản có đến hơn một
chục ngọn Trên Alps Nhật Bản tập trung
khá nhiều đỉnh có độ cao trên 2500m Số
núi lửa đang hoạt động có khoảng gần
200 Hình II.2: Núi non của Nhật Bản
1.3 Bình nguyên:
Nhật Bản có gần 60 bình nguyên nằm ở ven biển (đồng bằng ven biển), nơi cósông đổ ra Tổng diện tích các bình nguyên bằng khoảng 20% diện tích cả nước Cácbình nguyên nhìn chung đều hẹp Bình nguyên lớn nhất là bình nguyên Kanto
1.4 Sônghồ:
Nhật Bản có nhiều con sông: có khoảng 111 con sông dài 20 -30 km và khoảng
210 con sông dài 39 km hoặc trên Sông ngòi ngắn, dốc, nhiều thác ghềnh Lượngnước lớn vào mùa hè và mùa xuân Khối lượng chất trầm tích vận chuyển nhiều
1.5 Bồn địa và cao nguyên:
Nhật Bản có trên 60 bồn địa- những vùng đất trũng giữa các núi, có khoảnggần 40 cao nguyên và cụm cao nguyên (những cao nguyên liền kề nhau)
1.6 Biển và bờ biển:
Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau Phía Đông và phía Nam
là Thái Bình Dương Phía Tây Bắc là biển Nhật Bản Phía Tây là biển Đông Hải PhíaĐông Bắc là biển Okhotsk Vùng biển xung quanh các quần đảo Izu, Ogasawara,Nansei của Nhật Bản chính là biển Philippines theo cách gọi của thế giới, song cácvăn kiện của chính phủ Nhật Bản vẫn chỉ gọi đó là Thái Bình Dương Vùng biển nằmgiữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seito Naikai Từ phía Nam, Nhật Bản có hải lưuKuroshio chảy qua Từ phía Bắc xuống có hải lưu Oyashio Nhật Bản có bờ biển dàivới nhiều loại địa hình Bờ biển Sanriku, Shima, Wakasa, SetoNaikai, Tây Kyushunhiều chỗ ăn sâu vào đất liền và có nhiều cửa sông Trong khi đó bờ biển Hokkaido,Shimokitahonto, Kashimanada, Enshunada, và bờ biển Nhật Bản lại ít thay đổi, cónhiều bãi cát và cồn cát
1.7 Khí hậu:
Trang 7Các đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hòa Ở hầu hết các miền củaNhật Bản đều có 4 mùa rõ rệt: mùa hè ấm và ẩm, bắt đầu khoảng giữa tháng 7 Mùaxuân và màu thu là 2 mùa dễ chịu nhất trong năm Vì có mưa nhiều và có khí hậu ônhòa nên trên khắp quần đảo Nhật Bản đều có những cánh rừng màu mỡ và cây cốixanh tốt.
Xứ sở hoa anh đào:
Đối với người Nhật Bản, hoa anh đào không chỉ là loài quốc hoa, tượng trưngcho vẻ đẹp thanh cao mà còn là nỗi buồn về sự ngắn ngủi, phù dung và tính khiêmnhường, nhẫn nhịn Cây hoa anh đào đem tặng được xem như biểu tượng hòa bình củanước Nhật với các nước khác trên thế giới Hoa anh đào mọc ở Triều Tiên và Mĩkhông có mùi hương
Trong khi đó, ở Nhật Bản, người ta ngợi ca hương thơm của hoa anh đào trongnhững vần thơ Trong ngôn ngữ Nhật, nhất là trong thơ ca, chữ ''hana'' (hoa) và''sakura'' hầu như đồng nghĩa
Hình II.3: Hoa anh đào ở Nhật Bản
2 Dân số:
Dân số Nhật Bản ước tính khoảng 127,4 triệu người, phần lớn là đồng nhấtngôn ngữ và văn hóa Dân tộc người chủ yếu là dân tộc Yamato cùng với các nhómdân tộc thiểu số như Ainu hay Ryukyuans
Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trungbình là 81,25 vào năm 2006 Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của
sự bùng nổ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Trang 83 Kinh tế:
Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển Quy mô nền kinh tếnày theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theothước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc Trải qua nhiềubiến động trong suốt lịch sử, cuối cùng kinh tế Nhật Bản đã và đang tăng trưởng,nhưng cũng nảy sinh không ít vấn đề Vào thế kỉ 16 - 17, kinh tế Nhật Bản chủ yếu lànông nghiệp trồng lúa nước và đánh bắt cá
Công nghiệp bắt đầu phát triển sau cuộc Phục Hưng Minh Trị vào giữa thế kỉ
19 (năm 1868) Bước sang thế kỉ 20, ngành công nghiệp của Nhật Bản đã phát triển rõrệt Trong suốt đầu thế kỉ 20, các ngành công nghiệp được ưa chuộng và phát triểnnhất là sắt thép, đóng tàu, chế tạo vũ khí, sản xuất xe cộ Nhờ các ngành này mà quânđội Nhật Bản bành trướng ra ngoài Trong số những vùng mà Nhật chiếm được, đángchú ý nhất là Mãn Châu Lý của Trung Hoa và Triều Tiên
Mặc dù ưu thế ban đầu nghiêng về Nhật Bản Tuy nhiên, đến năm 1945, nướcnày nằm trong tầm ném bom của đối phương Máy bay ném bom của quân Đồng minh
đã tàn phá nhiều thành phố Đáng chú ý nhất là vụ ném bom nguyên tử Hiroshima vàNagasaki đã gây ra sức tàn phá lớn trên quy mô rộng Sau vụ ném bom, các thành phố
và nhà máy bắt đầu tái thiết lại
Vận mệnh của Nhật thay đổi sau khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào năm
1950 Mỹ muốn Nhật sản xuất vũ khí để cung cấp cho lực lượng ủng hộ Nam TriềuTiên Sản lượng công nghiệp, đặt biệt trong các lĩnh vực như sắt thép và đóng tàu,tăng nhanh chóng Nhờ sự hỗ trợ tài chính của Mỹ và quyết tâm khôi phục lại đấtnước, đến khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc vào năm 1953, nhiều nhà máy mới đãđược xây dựng Sau sự bùng nổ kinh tế, các hãng điện tử hàng đầu thế giới đã xuấthiện như Sony, Panasonic hay Honda
Nền kinh tế của Nhật Bản phát triển chưa được bao lâu thì bỗng nhiên suythoái Trong những năm gần đây, rất nhiều công ty bị phá sản - hơn 17.000 công ty.Đây cũng là điều dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp tăng So với các nước phương Tây thì tỉ lệthất nghiệp của Nhật ít hơn nhiều, nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn Nhật Bản thì con số
đó lại cao - 5,2% vào năm 2003 Trong số những người bị thất nghiệp, rất nhiều người
đã phải ngủ ngoài đường vì không có nhà, hay thậm chí là tự tử Trước tình hình đó,Nhật Bản đang cố khắc phục để xây dựng lại nền kinh tế tốt hơn
Khi Nhật Bản bị bể bóng đầu tư cổ phiếu và địa ốc năm 1989 rồi kinh tế sa sút
từ năm 1991 thì trong 22 năm liên tục, GDP của Nhật Bản không tăng, kinh tế suygiảm 7 lần và 15 vị Thủ tướng đã thay nhau cầm quyền mà không có giải pháp thíchhợp Suốt 13 năm qua, lãi suất tại Nhật nằm ở số không, kinh tế giảm phát, hàng hóaxuống giá nhưng bán không chạy, gánh công trái đã lên tới 240% tổng sản lượng
Sau thời gian trì trệ, thì vào năm 2013 kinh tế tại các khu vực trên đất nướcNhật Bản đang trên đà phục hồi với tốc độ vừa phải với hai nhân tố quan trọng là xuất
Trang 9khẩu và tiêu dùng trong nước đều tăng nhờ thực hiện chính sách kinh tế Abenomics
do Thủ tướng Shinzo Abe đề xướng Chính sách kinh tế Abenomics hướng đén 3 mụctiêu lớn: thứ nhất là tăng chi để nâng mức đầu tư trong các dự án xây dựng, thứ hai làbơm thêm tiền vào kinh tế để đẩy lui nạn giảm phát và đạt mức tăng trưởng cao hơn,thứ ba là cải tổ cơ chế kinh tế và cả xã hội để kéo đất nước ra khỏi 20 năm trì trệ
Động lượng thứ hai là bơm tiền như vậy thì sẽ làm đồng Yên mất giá và thực tếthì đồng Yên đã sụt 30% so với USD và 37% so với đồng Euro Đó là chủ trương
“Enyasu”, tức là “Đồng Yên rẻ”
Về triển vọng kinh tế, BOJ vẫn thể hiện sự lạc quan với dự đoán gần đây nhất
là nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng trung bình ở mức 2,7 % trong năm tài khóa kéodài tới tháng 3-2014, với tỷ lệ lạm phát ở mức 0,7%
Âu, cụ thể là hình mẫu của nghị viện Đức Bundestag Vào
1896 chính quyền Nhật thành lập bộ luật dân sự Minpo dựatrên mô hình của bộ luật dân sự Pháp Mặc dù có thay đổi sauThế chiến II nhưng bộ luật cơ bản còn hiệu lực đến nay
Quan hệ quốc tế: Nhật Bản hiện là thành viên của Liên Hiệp Quốc và là thànhviên không thường trực của Hội đồng bảo an; một trong những thành viên “G4” tìm sựchấp thuận cho vị trí thành viên thường trực Hiện Nhật Bản là thành viên của nhiều tổchức quốc tế gồm G8, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)
và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) và là một nước hào phóng trong công tác cứutrợ và nỗ lực phát triển các dự án quốc tế chiếm khoảng 0,19% tổng thu nhập quốcdân (GNI) năm 2004
5 Tôn giáo:
Có thể nói Nhật Bản là một trong
những quốc gia phức tạp nhất thế giới về
tôn giáo Ở đây cùng đồng thời tồn tại
các phong tục tập quán có nguồn gốc và
theo phong cách tôn giáo khác nhau
Trang 10Người Nhật đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm mới, đi thăm cácchùa chiền của đạo phật vào mùa xuân nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vàodịp lễ Noel theo cách của đạo Thiên chúa Các đám cưới thường được tổ chức theonghi lễ của thần đạo hoặc đạo thiên chúa
Hình II.4: Đại tượng phật Ushiku
Nhưng thủ tục ma chay lại tiến hành theo nghi lễ của đạo phật Có những ngườimột lúc theo hai hoặc ba đạo, do đó vào năm 1995 theo thống kê của cuốn niên giám
về tôn giáo của hiệp hội văn hóa thì tín đồ của tất cả các giáo phái cộng lại là 219,83triệu, gần gấp đôi dân số Nhật lúc bấy giờ là 120triệu
Tuy vậy ở Nhật ngày nay đạo phật chiếm ưu thế hơn so với các đạo khác, vớikhoảng 92 triệu tín đồ, mặc dù trên thực tế thì các tín đồ này cũng không tuân theo cácqui định của đạo phật một cách nghiêm ngặt
Đạo cơ đốc cũng khá thịnh hành với khoảng 1,7 triệu giáo dân Đạo cơ đốcđược đưa vào Nhật năm 1549 phát triển nhanh chóng vào nửa sau của thế kỷ đó, khitrong nước có nhiều xung đột, không ổn định và được chào đón bởi những người đangcần một biểu tượng tinh thần mới, cũng như những người hi vọng làm giàu trong buônbán hay hy vọng tiếp thu kỹ nghệ mới đặc biệt là kỹ nghệ sản xuất vũ khí của tâyphương Tín đồ cơ đốc giáo hiện nay bao gồm có tín đồ tin lành và thiên chúa, nhưngtín đồ tin lành đông hơn.Các tín đồ tin lành đã kỷ nịêm 100 năm ngày tôn giáo của họtrên đất Nhật vào năm 1959
Trong số các tôn giáo khác, đạo Hồi có khoảng 155.000 tín đồ, bao gồm cảnhững người nước ngoài cư trú tạm thời trên đất Nhật
Đạo gốc của Nhật bản là Shinto (Thần đạo).Thần đạo có nguồn gốc từ thuyếtvật linh của người Nhật cổ.Thần đạo cho rằng cây cối, loài vật trong thiên nhiên đều
có quỉ thần nên phải được thờ cúng.Phát triển với tư cách tôn giáo của cộng đồng,thần đạo đã sản sinh ra những miếu thờ gia thần và các thần hộ mệnh của địa phương.Ngoài ra, người Nhật cũng thờ các anh hùng và các thủ lĩnh xuất chúng của nhân dânqua các thế hệ khác nhau và thờ cúng hương hồn tổ tiên theo lễ nghi của đạo thần
6 Giáo dục:
Về mặt giáo dục, Nhật Bản là một trong số các quốc gia phát triển trên thế giớivới tỷ lệ người mù chữ thực tế bằng không và 72,5% số học sinh theo học lên đến bậcđại học, cao đẳng và trung cấp, một con số ngang hàng với Mỹ và vượt trội một sốnước châu Âu Điều này đã tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp của đấtnước Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại
Trong thời kỳ phong kiến, ở các thị trấn và các làng của Nhật Bản đã có cáctrường học được gọi là terakoya do nhà chùa và các cơ sở khác tổ chức Vào cuối thời
Trang 11kỳ của chế độ phong kiến (cuối thế kỷ XIX), tỷ lệ số người biết chữ đạt khoảng 40% –một con số khá cao làm cho những người phương Tây tới Nhật Bản phải ngạc nhiên.Đây là điểm khởi nguồn của hệ thống giáo dục hậu Minh Trị Tuy nhiên, cho tớiChiến tranh thế giới thứ hai, giáo dục bậc đại học ở Nhật Bản vẫn còn tồn tại như làcông cụ đào tạo một số nhỏ sinh viên để họ trở thành viên chức cấp cao của chính phủtrung ương và sự phân biệt về giới ở thời kỳ này còn rất nặng nề.
Hệ thống giáo dục Nhật Bản hiện hành đã được thiết lập ngay sau Chiến tranhthế giới thứ hai vào giữa những năm 1947 và 1950, lấy hệ thống của Mỹ làm kiểumẫu Nó bao gồm 9 năm giáo dục bắt buộc (6 năm tiểu học và 3 năm trung học cơ sở),tiếp theo đó là 3 năm trung học phổ thông không bắt buộc và 4 năm đại học Đã cónhững động thái nhằm hiện đại hoá chương trình giảng dạy.Tỷ lệ thanh niên cả namlẫn nữ tiếp tục học lên trung học phổ thông và bậc đại học sau khi đã kết thúc chươngtrình giáo dục bắt buộc đã gia tăng Trình độ chung của giáo dục đã được cải thiện,nhưng đồng thời, một số tác động tiêu cực đã nảy sinh do việc gia tăng số học sinhhoặc do chế độ nghiêm ngặt của hệ thống giáo dục
Trong số các vấn đề phát sinh, nghiêm trọng nhất có lẽ là vấn đề thi cử.Trong
xã hội hậu Minh Trị, sự phân biệt giai cấp còn nặng nề hơn ngày nay rất nhiều, giáodục được xem là con đường duy nhất dẫn đến cơ hội bình đẳng.Trong thời kỳ sauChiến tranh thế giới thứ hai, thái độ này đã gia tăng, tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt đểgiành được chỗ học trong các trường nổi tiếng.Khi đi xin việc làm, người ta thường cókhuynh hướng chỉ đánh giá ứng viên xin việc qua cái mác trường đại học người đó đãtốt nghiệp.Nếu một ứng viên tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng với một thànhtích chẳng mấy gì tốt đẹp cho lắm, người đó vẫn có thể dễ dàng xin việc hơn một sinhviên tốt nghiệp một trường đại học ít tiếng tăm, cho dù với một thành tích xuất sắc cỡnào đi nữa Chính vì vậy, để xin được việc làm tốt ở một hãng lớn, các phụ huynhphải lo cho con em mình vào học ở một trường trung học nổi tiếng Cứ thế, sự cạnhtranh thi cử lan dần xuống tới tiểu học Nhiều học sinh đã theo học tại các trườngđược gọi là trường dự bị hay trường luyện thi, hoặc theo học những giờ luyện thi docác giáo viên tư nhân dạy Việc học thêm này được tiến hành sau hoặc ngoài giờ họcchính khoá làm cho đa số các học sinh có rất ít thời gian để hoạt động vui chơi giảitrí.Đây là một mô hình đặc trưng ở Nhật Bản hiện nay Theo điều tra của Bộ Giáo dục,Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Kỹ thuật Nhật Bản thì có 37% học sinh tiểu học, 76%học sinh trung học cơ sở và 37% học sinh trung học phổ thông học tại các trườngluyện thi
Trong hệ thống giáo dục ở Nhật Bản, vai trò của gia đình, đặc biệt là người mẹrất quan trọng đối với trẻ em.Thông thường, phụ nữ Nhật Bản có xu hướng trở thànhcác bà nội trợ chuyên nghiệp sau khi lập gia đình, trong đó dạy dỗ và chăm sóc concái là một trong những nhiệm vụ chính.Trên cơ sở đó, kiểu giáo dục này đòi hỏi người
mẹ phải có trình độ học vấn cao để có thể giúp con họ vượt qua được chương trìnhgiáo dục khắc nghiệt ở đây.Vì vậy, với những người phụ nữ có trình độ học vấn cao,
Trang 12khi lấy chồng họ vẫn hoàn toàn có cơ hội để sử dụng tốt các kiến thức đã học để dạy
dỗ con cái thay vì thuê gia sư
III Tâm lý của người Châu Á:
Tâm lý của người Châu Á rất coi trọng gia đình, coi trọng việc học hành, cần
cù, coi trọng cộng đồng, coi trọng xã hội có đạo đức Tính tình của người Nhật Bản rấtchung thành, yêu nước, tôn kính, giữ gìn danh dự gia đình, thực tế, lạc quan và hàihước, tinh tế và nhạy cảm… Rất chú ý tới tác phong và đánh gía cao đức tính kiênnhẫn, lịch sự, khiêm nhường
Người châu Á rất hiếu khách, đề cao mối quan hệ bổn phận giữa Chính phủ vàCông dân
Người châu Á Thích sống một cuộc sống giản dị, không bị những đòi hỏi vậtchất dày vò, lo cho con cháu còn hơn lo cho chính mình
Cư dân ở châu Á khi gặp gỡ, chào hỏi thường dè dặt và có xu hướng tôn trọngđịa vị xã hội của cá nhân Họ luôn luôn tôn kính người lớn tuổi hoặc những người cóđịa vị xã hội cao hơn Thái độ biểu cảm và cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp của họ cũng
cụ thể
Trong công việc, người châu Á thường bày tỏ lòng biết ơn, sự khiêm tốn vàtrung thành với cấp trên, sẵn sàng thích ứng với công việc do yêu cầu của cấp trên hayngười chủ đề ra Họ coi trọng truyền thống gia đình, địa vị xã hội và học vấn Phầnlớn trong số họ thường tự bằng lòng với những gì sẵn được sắp đặt trong cuộc sống
Họ bằng lòng với số phận và thường có ý thức về việc thực hiện vai trò của mìnhtrong cuộc sống một cách hài hòa với môi trường xã hội
Người châu Á thường ít tin vào pháp luật, mà coi đó như sự áp đặt từ bên ngoàivào cuộc sống và lợi ích của họ Vì vậy mức độ tôn trọng luật pháp của họ phụ thuộcvào địa vị xã hội, học vấn, truyền thống và danh dự của gia đình Tuy nhiên, trongcộng đồng dân cư sống ở nông thôn châu Á, mức độ hiểu biết và tin tưởng luật phápcòn hạn chế và thường có xu hướng ứng xử theo tập quán truyền thống
Cũng vì vậy, trong quan hệ, họ coi trọng cộng đồng và thích phụ thuộc lẫnnhau Gia đình rất được coi trọng và đôi khi có ba, bốn thế hệ chung sống trong mộtngôi nhà