Trong khi đó, công tác quản lý chất thải rắn nguy hại và xử lý nước thải y tế của các bệnh viện còn chưa hiệu quả do một số nguyên nhân như thiếu kinh phí chi thường xuyên và năng lực vậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Trần Ngọc Diệu Linh ĐỀ XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Trần Ngọc Diệu Linh
ĐỀ XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THANH HÀ PGS.TS NGUYỄN THỊ HÀ
Hà Nội - 2015
Trang 3i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế 3
1.1.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới 3
1.1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam 4
1.2 Nguồn phát sinh và đặc tính nước thải y tế 7
1.2.1 Nguồn phát sinh nước thải bệnh viện 7
1.2.2 Đặc tính nước thải bệnh viện 8
1.3 Nguy cơ ảnh hưởng của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng 10 1.3.1 Nguy cơ đối với sức khỏe 10
1.3.2 Nguy cơ đối với môi trường 12
1.4 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số phương pháp xử lý nước thải y tế hiện nay 13
1.4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và tại Việt Nam 13
1.4.2 Một số phương pháp xử lý nước thải y tế 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin 31
2.2.2 Phương pháp lấy mẫu phân tích 32
2.2.3 Phương pháp đánh giá, so sánh 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Kết quả khảo sát hiện trạng chất thải rắn y tế tại BVĐK Hà Đông 36
3.1.1 Thực trạng phát thải chất thải rắn y tế 36
3.1.2 Kết quả điều tra về công tác quản lý chất thải rắn y tế 37
3.1.3 Kết quả quan sát về thực trạng thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế 39
3.1.4 Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế 44
Trang 4ii
3.2 Kết quả khảo sát hiện trạng phát sinh nước thải tại bệnh viện đa khoa Hà
Đông 52
3.2.1 Kết quả khảo sát các dòng nước thải 52
3.2.2.Kết quả khảo sát hiện trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải 54
3.3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Hà Đông 71
3.3.1 Giải pháp tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý CTRYT 71
3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải y tế 77
3.4 Đánh giá giải pháp đề xuất 78
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….83
Trang 5iii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Hà và TS Nguyễn Thanh Hà, người đã tận tình hướng dẫn, giúp tôi có kỹ năng nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn này Xin gửi lời chân thành cảm ơn tới
CN Nguyễn Văn Toán, phòng Hành chính Quản trị, khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn nói riêng và tập thể cán bộ nhân viên Bệnh viện đa khoa Hà Đông nói chung đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể thầy cô giáo trong Khoa Môi trường, đặc biệt là các thầy cô Bộ môn Công nghệ Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức
bổ ích, thiết thực cũng như sự nhiệt tình, ân cần dạy bảo trong 2 năm học vừa qua
Cuối cùng tôi xin gửi sự biết ơn sâu sắc đến bố mẹ, gia đình và bạn bè đã quan tâm động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
HỌC VIÊN
Trần Ngọc Diệu Linh
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD Nhu cầu oxy sinh hóa BTNMT Bộ Tài nguyên và môi trường BVĐK Bệnh viện đa khoa
COD Nhu cầu oxy hóa học CTRYT Chất thải rắn y tế CTYT Chất thải y tế CTYTNH Chất thải y tế nguy hại HTXLNT Hệ thống xử lý nước thải PAC Poly Aluminium Chroride QCVN Quy chuẩn Việt Nam
SS Suspended solid
Chất rắn lơ lửng TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam WHO World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chất thải rắn y tế theo giường bệnh trên thế giới 3
Bảng 1.2 Số lượng cơ sở y tế theo tuyến tại Việt Nam 4
Bảng 1.3 Chất thải rắn y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 5
Bảng 1.4 Các thông số ô nhiễm trong nước thải bệnh viện 9
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá công nghệ phù hợp với Việt Nam 34
Bảng 3.1 Thực trạng phát thải chất thải rắn y tế tại BVĐK Hà Đông 36
Bảng 3.2 Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế 39
Bảng 3.3 Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế 41
Bảng 3.4 Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế 42
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh được tập huấn quy chế quản lý chất thải y tế 45
Bảng 3.6 Hiểu biết của nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 46
Bảng 3.7 Hiểu biết của nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh 47
về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 47
Bảng 3.8 Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế 47
Bảng 3.9 Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân với thực hành bỏ rác đúng quy định 48
Bảng 3.11 Thực trạng nhà lưu giữ chất thải rắn y tế 50
Bảng 3.12 Kết quả phân tích nước thải bệnh viện đa khoa Hà Đông 60
Bảng 3.13 Danh mục các thiết bị chính và điện năng tiêu thụ 63
Bảng 3.14 Chi phí điện năng cho hệ thống xử lý nước thải 64
Bảng 3.15 Chi phí hóa chất cho hệ thống xử lý 64
Bảng 3.16 Chi phí nhân công vận hành hệ thống xử lý nước thải 65
Trang 8vi
Bảng 3.17 Tổng hợp đánh giá chỉ tiêu kinh tế 65 Bảng 3.18 Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh khu xử lý nước thải Bệnh viện đa khoa Hà Đông 67 Bảng 3.19 Lượng hóa các tiêu chí đánh giá công nghệ của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Hà Đông 68 Bảng 3.20 Đề xuất giải pháp nâng cao, bổ sung cơ sở vật chất 73 Bảng 3.21 Đề xuất giải pháp và chi phí sơ bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Hà Đông 78 Bảng 3.22 Xếp thứ tự ưu tiên các giải pháp đề xuất 79
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Các bước xử lý nước thải của DEWATS 22
Hình 1.2 Cấu tạo và hình ảnh thiết bị CN 2000 25
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Bệnh viện đa khoa Hà Đông 29
Hình 3.1 Quy trình thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa 37
Hình 3.2 Tỷ lệ nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh được tập huấn quy chế quản lý chất thải rắn y tế 45
Hình 3.4 Hệ thống thoát nước thải tại bệnh viện đa khoa Hà Đông 54
Hình 3.5 Trạm xử lý nước thải tại bệnh viện đa khoa Hà Đông 55
Hình 3.6 Quy trình công nghệ xử lý tại Trạm xử lý nước thải tập trung 56
Hình 3.7 Bể điều hòa 57
Hình 3.8 Thiết bị hợp khối V69 57
Hình 3.9 Bể khử trùng 58
Hình 3.10 Bể chứa bùn 59
Trang 101
MỞ ĐẦU
Chất thải y tế hiện nay đang là vấn đề cả xã hội quan tâm Chất thải rắn nguy hại và nước thải y tế nếu không được quản lý và xử lý đúng cách, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường Trong thời gian qua, công tác quản lý chất thải
y tế ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan tuy nhiên việc quản lý chất thải vẫn còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được nhu cầu
Theo số liệu của Bộ Y tế, có khoảng 1.254 bệnh viện các tuyến với tổng lượng chất thải rắn phát sinh là khoảng 450 tấn/ngày (trong đó có 47 tấn là chất thải rắn nguy hại) Tổng lượng nước thải y tế phát sinh cần xử lý khoảng 125.000 m3/ ngày [6] Việt Nam đang trong quá trình phát triển đô thị hóa, hiện đại hóa Sự phát triển kinh tế của xã hội làm gia tăng nhu cầu khám chữa bệnh đồng thời lượng chất thải phát sinh cũng ngày càng tăng lên.Tình trạng quá tải trong các bệnh viện thường xuyên diễn ra, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh Trong khi
đó, công tác quản lý chất thải rắn nguy hại và xử lý nước thải y tế của các bệnh viện còn chưa hiệu quả do một số nguyên nhân như thiếu kinh phí chi thường xuyên và năng lực vận hành hệ thống xử lý chất thải chưa đáp ứng được yêu cầu
Hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh nhưng bên cạnh lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn còn một lượng lớn từ các hoạt động thăm nuôi của người nhà bệnh nhân và các hoạt động dịch vụ khác trong bệnh viện Chính vì vậy, hệ thống quản lý, xử lý chất thải y tế của các bệnh viện luôn bị quá tải, chất lượng và hiệu quả xử lý chất thải cũng bị hạn chế dẫn tới nguy cơ phát tán các yếu tố nguy hại ra môi trường
Bệnh viện đa khoa Hà Đông là cơ sở điều trị tuyến cuối của Hà Tây cũ nay thuộc Bệnh viện Đa khoa tuyến thành phố của Hà Nội với quy mô 570 giường bệnh với số lượng bệnh nhân khám bệnh trung bình 500-600 ca mỗi ngày Hiện nay bệnh viện thường xuyên trong tình trạng quá tải giường bệnh Đây là bệnh viện nằm ở nơi tập trung đông dân cư nên việc quản lý và xử lý chất thải y tế không đạt yêu cầu
sẽ có nguy cơ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe và môi trường sống của cộng đồng dân cư lân cận Để đảm bảo đúng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực môi
Trang 112
trường, việc quản lý, xử lý chất thải cần tiến hành thường xuyên liên tục Tuy nhiên trong 7 năm qua từ khi hệ thống xử lý nước thải được đưa vào sử dụng tại bệnh viện chưa từng được đầu tư, nâng cấp sửa chữa, thay mới Đặc biệt, trong 5 năm gần đây chưa có nghiên cứu chính thức nào về thực trạng quản lý, xử lý chất thải y tế của BVĐK Hà Đông
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đề xuất và đánh giá giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý, xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông” với mục tiêu như sau:
Mục tiêu đề tài:
Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn, nước thải y tế và hiệu quả công tác quản lý môi trường bệnh viện nhằm đề xuất giải pháp phù hợp tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ môi trường của bệnh viện đa khoa Hà Đông
Nội dung nghiên cứu:
1 Khảo sát thực trạng phát sinh và quy trình quản lý chất thải rắn y tế tại BVĐK Hà Đông thông qua bảng kiểm và quan sát thực tế
2 Khảo sát hiện trạng xả thải và đánh giá hiệu quả của hệ thống thu gom, xử lý nước thải tại BVĐK Hà Đông
3 Nghiên cứu các giải pháp quản lý chất thải rắn và nâng cao hiệu quả của công trình xử lý nước thải
Trang 123
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế
1.1.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
Khối lượng CTRYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp, thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân ở các khoa phòng
Bảng 1.1 Chất thải rắn y tế theo giường bệnh trên thế giới [11]
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển
có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với
tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao)
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ
Trang 134
1.1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo PGS.TS Nguyễn Huy Nga, cả nước có 13.511 cơ sở y tế các loại bao gồm:
Bảng 1.2 Số lượng cơ sở y tế theo tuyến tại Việt Nam [11]
Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998, cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác nhau Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTRYT phát sinh lớn nhất
Trang 145
Bảng 1.3 Chất thải rắn y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam [11]
Tuyến bệnh viện Đơn vị Tổng lượng
Theo quy chế quản lý CTYT được Bộ Y tế quy định tại Quyết định
43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30/11/2007, chất thải trong các cơ sở y tế được
chia thành 5 loại căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất
nguy hại:
a) Chất thải lây nhiễm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn
của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh
vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
cách ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
b) Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
Trang 156
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
Trang 167
1.2 Nguồn phát sinh và đặc tính nước thải y tế
1.2.1 Nguồn phát sinh nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện rất nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ, bởi lẽ các bệnh viện tập trung những người mắc bệnh là nguồn của nhiều loại mầm bệnh đã biết hoặc đôi khi còn chưa biết đối với khoa học hiện đại
Nước thải bệnh viện phát sinh từ những nguồn chính sau:
- Nước thải là nước mưa chảy tràn trên toàn bộ diện tích của bệnh viện
- Nước thải sinh hoạt từ khu nhà bếp, nhà ăn, khu hành chính bệnh viện, phòng bệnh nhân, chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy, hóa chất tẩy rửa…
- Nước thải từ các hoạt động khám và điều trị như:
+ Nước thải có nguồn gốc từ các ca phẫu thuật, từ quá trình xét nghiệm, hoạt động khám chữa bệnh (giải phẫu bệnh, huyết học, truyền máu, lau rửa sau các ca mổ, khoa lây) chứa các dịch sinh học, vi trùng gây bệnh, chất thải nguy hại
+ Nước thải từ phòng chụp X quang, kho dược liệu và hóa chất chứa các hóa chất (trong đó có các hóa chất độc hại), kim loại nặng, dung môi hữu
cơ, hóa chất xét nghiệm, các hợp chất vô cơ, chất phóng xạ, dược phẩm quá hạn sử dụng
- Nước giặt giũ quần áo, ga, chăn, màn…cho bệnh nhân
- Nước từ các công trình phụ trợ khác như nước từ khu vực rửa xe, nước làm mát từ điều hòa không khí, máy phát điện dự phòng…
Nước thải bệnh viện là một nguồn thải gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, ảnh hưởng đến con người vì khả năng lan rộng trong môi trường, mức độ nhiễm khuẩn cao, khả năng tồn tại lâu và nhân lên của vi khuẩn gây bệnh trong điều kiện giàu chất hữu cơ ở nước thải và nước bề mặt Nước thải bệnh viện có thể mang các mầm bệnh: tả, thương hàn, lỵ, lỵ amip, leptospyros, bệnh vàng da nhiễm trùng, viêm gan siêu vi trùng, giun sán, nấm mốc, bại liệt…
Trang 178
1.2.2 Đặc tính nước thải bệnh viện
Theo kết quả phân tích của các cơ quan chức năng, 80% nước thải từ bệnh viện là nước thải bình thường (tương tự nước thải sinh hoạt) chỉ có 20% là những chất thải nguy hại, những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù bao gồm chất thải nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân, hóa chất phát sinh từ trong quá trình giải phẫu, các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh Những nghiên cứu mới nhất cho thấy sự có mặt của một vài chất trong số chúng dẫn đến việc giảm hiệu quả làm sạch nước thải trên các công trình xử lý Ví dụ, người ta quan sát thấy việc giảm hiệu quả xử lý nước thải bệnh viện bằng lọc sinh học nhỏ giọt khi trong nước thải chứa chất kháng sinh (steptomisin) ở nồng độ 0,7 – 1 mg/L mà thực tế trong những trường hợp riêng biệt nồng độ steptomisin có thể lên đến 12 mg/L Như vậy, hiệu quả xử lý nước thải giảm đáng kể theo các chỉ tiêu hóa học đặc biệt là theo các chỉ tiêu vi khuẩn Khi nồng độ steptomisin là 12 mg/L hiệu quả xử lý thực tế bằng không
Việc sử dụng các chất hoạt động bề mặt đã làm giảm khả năng tạo huyền phù trong bể lắng, đa số các vi khuẩn tích tụ lại trong bọt Những chất tẩy rửa riêng biệt ảnh hưởng đến quá trình làm sạch sinh học của nước thải, chất tẩy rửa anion làm tăng lượng bùn hoạt tính, chất tẩy rửa cation lại làm giảm đi
Lượng chất bẩn từ một giường bệnh trong ngày lớn hơn so với lượng chất bẩn của một người của khu dân cư thải vào hệ thống thoát nước là do việc hòa vào dòng thải không chỉ chất thải từ người bệnh mà còn của bộ phận phục vụ, chất thải
từ quá trình điều trị: phần thuốc còn lại, máu, các phần cơ quan cơ thể người, hoạt động của xưởng giặt, nhà xác…
Tuy rằng lượng chất bẩn trên một giường bệnh lớn hơn lượng chất bẩn trên một đầu người khu dân cư, nhưng nồng độ chất bẩn trong 1 lít nước thải bệnh viện lại nhỏ hơn nồng độ chất bẩn trong một lít nước thải sinh hoạt Đó là do tiêu chuẩn cấp nước thực tế sử dụng trên một giường bệnh (500L/ngày) lớn hơn nhiều so với tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt trên một đầu người (ví dụ 100 hay tối đa 300L/ngày
Trang 189
Điểm đặc thù của thành phần nước thải bệnh viện khác so với nước thải sinh hoạt khu dân cư là sự lan truyền rất mạnh của các vi khuẩn gây bệnh Về phương diện này đặc biệt nguy hiểm là những bệnh viện chuyên các bệnh truyền nhiễm và bệnh viện lao, cũng như là những khoa lây của các bệnh viện sôma (somaticus – thuộc thân thể)
Nước thải bệnh viện luôn có nguy cơ tiềm tàng: tất cả các vi khuẩn gây bệnh
có thể tìm thấy trong nước thải: vi khuẩn tả (Vibrio cholera), lỵ (Shigella), thương hàn (Salmonella), E.Coli, Pseodomonas, Streptococcus, Staphylococcus,…đặc biệt các chủng này thường kháng với nhiều loại kháng sinh Nước thải nhiễm các
vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải Những bệnh truyền nhiễm loại này là bệnh tả, thương hàn, phó thương hàn, khuẩn Salmonella, lỵ, bệnh do amip, bệnh do Lamblia, Leptoxpira, Brucella, bệnh Tulare, bệnh than, lao, giun sán, viêm gan lây, bệnh nhiễm virut ruột và một vài bệnh khác
Nghiên cứu thành phần nước thải một số bệnh viện ở Xanh Petecbua (Nga) cho thấy nồng độ dao động trong các giới hạn sau: COD 102 – 141 mg/L, SS
180 – 343 mg/L, amoni 23 – 63,1 mg/L, chỉ số coli 55×107
Theo nghiên cứu của Ngô Kim Chi, nước thải bệnh viện có các đặc trưng sau: BOD: 180-280mg/L, COD: 250-500 mg/L, SS: 150 - 300mg/L, H2S: 6-8mg/L, T-N: 50-90 mg/L, T-P: 3-12 mg/L, Coliform: 106-109 MPN/100ml [8]
Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra thành phần ô nhiễm nước thải như sau:
Bảng 1.4 Các thông số ô nhiễm trong nước thải bệnh viện
thấp nhất
Giá trị cao nhất
Giá trị trung bình
Trang 19Ngoài ra, nước thải bệnh viện vốn được liệt vào danh mục chất thải đặc biệt nguy hại bởi ngoài chất thải nhiễm khuẩn từ bệnh nhân như: máu, phân, trứng giun, virus…Nguy hiểm hơn về phương diện dịch tễ là nước thải của những bệnh viện truyền nhiễm, lao và các cơ sở lây nhiễm khác Đối với các bệnh viện điều trị hoặc
có khoa điều trị ung thư, trong nước thải có chứa các chất phóng xạ, các loại hóa chất điều trị ung thư và các sản phẩm chuyển hóa phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị Sau khi hòa vào hệ thống nước thải sinh hoạt, những chất này lan truyền khắp nơi, tích lũy vào các loại thủy sản, vật nuôi, cây trồng, nhất là rau thủy canh và xâm nhập vào cơ thể con người Việc tiếp xúc gần với nguồn ô nhiễm còn làm tăng nguy cơ ung thư và các bệnh hiểm nghèo khác cho cộng đồng dân cư
1.3 Nguy cơ ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng
1.3.1 Nguy cơ đối với sức khỏe
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn Những nhóm có nguy cơ bao gồm: nhân viên y tế, bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên; bệnh nhân, người nhà và khách thăm, công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vận chuyển rác,
Trang 2011
giặt là; công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi rác hoặc lò đốt), bao gồm cả những người nhặt rác
Những chất thải từ các bệnh viện được công nhận là một vấn đề nghiêm trọng,
có thể có ảnh hưởng bất lợi tới môi trường hoặc đối với con người thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp Việc phơi nhiễm với các chất thải y tế độc hại có thể dẫn tới những sự lây nhiễm bệnh tật [27] Các bệnh như thương hàn, tả, hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS) và viêm gan siêu vi B có thể lây truyền thông qua việc quản lý yếu kém của chất thải y tế nguy hại [22] Năm 2000, WHO đã ước chừng có khoảng 23 triệu người đã bị phơi nhiễm với viêm gan virus B, C và HIV trên toàn cầu do lây nhiễm qua những bơm kim tiêm tại các cơ sở y tế [20] Những ảnh hưởng môi trường khác cũng có thể tìm thấy từ việc quản lý kém chất thải y tế đó là vấn đề ô nhiễm mùi, sự phát sinh ruồi, gián, sâu bọ, các động vật gặm nhấm và nguy hiểm hơn là sự ô nhiễm nguồn nước ngầm và sự phát triển của các loài sinh vật trong tự nhiên do việc chôn lấp chất thải y tế không đúng quy chuẩn [23, 24]
1.3.1.1 Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da, qua niêm mạc, qua đường
hô hấp, qua đường tiêu hóa Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng sinh và kháng hóa chất khử trùng có thể liên quan đến thực trạng của các loại vi khuẩn kháng sinh
và kháng hóa chất khử trùng có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da mà còn gây nhiễm trùng vết thường nếu chúng bị nhiễm bẩn Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV, HBV và HCV Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm Việc tái chế hoặc xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có thể tác động lâu dài tới sức khỏe cộng đồng [5]
Trang 2112
1.3.1.2 Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hô hấp có thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây chá, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụ focmandehit và các chất dễ bay hơi khác) Tổn thương thường gặp nhất là bỏng Các hóa chất khử trùng được sử dụng phổ biến trong bệnh viện thường có tính ăn mòn Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị
rò thoát, đồ tràn Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể lan truyền bệnh trong bệnh viện, như có thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân hoặc gây ô nhiễm đất và nước
1.3.1.3 Nguy cơ của chất thải gây độc tế bào và chất thải phóng xạ
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế nào Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua hít thở hoặc các hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào
Nguy cơ của chất thải phóng xạ: cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài hạn
1.3.2 Nguy cơ đối với môi trường
1.3.2.1 Nguy cơ đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh viện Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh Chúng có thể chứa kim loại nặng, phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang Một
số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví dụ xả chung chất
Trang 2213
thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước [26]
1.3.2.2 Nguy cơ đối với môi trường đất và không khí
Nguy cơ đối với môi trường đất: việc tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệ thống xử lý nước thải, các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước và cuối cùng là tác động tới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn [26]
Nguy cơ đối với môi trường không khí: ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen Việc đốt chất thải y tế đựng trong túi nilon PE, nhựa PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit CO2, thường là HCl và SO2 Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (chứa F; Cl; Br; I) ở nhiệt độ thấp, thường tạo ra axit, như clohidric (HCl) Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxin, một loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp Các kim loại nặng, như thủy ngân, có thể thải theo khí lò đốt Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏe con người trong dài hạn [26]
1.4 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số phương pháp xử lý nước thải y tế hiện nay
1.4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1.1 Thực trạng và một số nghiên cứu quản lý chất thải rắn trên thế giới
Tại khu vực châu Á, vấn đề quản lý chất thải y tế đang nhân được nhiều sự quan tâm của các Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ Tuy nhiên, không có nhiều quốc gia có đủ điều kiện và những quy định để kiểm soát hoàn toàn được vấn
đề chất thải y tế Một trong những gợi ý của các tổ chức quốc tế như WHO hay Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) là các quốc gia cần có một khung pháp luật đủ mạnh cũng như tuân theo những quy định chung của quốc tế trong việc quản lý chất thải y tế Việc quản lý chất thải y tế chỉ có thể được giải quyết bền
Trang 2314
vững khi các quốc gia có những chiên lược hợp lý đồng thời phối hợp, học tập các
tổ chức, cơ quan trong nước và ngoài nước [20] Tại các quốc gia phát triển như Nhật Bản, Singapo thì công tác quản lý chất thải y tế được thực hiện đúng như những yêu cầu về quản lý chất thải y tế của WHO Một số nước đang phát triển như Malaysia, Philippin và Việt Nam cũng đang thực hiện đúng theo các yêu cầu trong quản lý chất thải y tế của WHO nhưng mức độ quản lý vẫn chưa được toàn diện do một số yêu tố tác động như tài chính, luật pháp, công nghệ và chiến lược dài hạn của Chính phủ Một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Thái Lan, Myanma thì không hoàn toàn thực hiện theo các tiêu chuẩn của WHO [20] Hiện nay công nghệ xử lý chất thải y tế đã có những thay đổi tích cực, tuy nhiên vấn
đề áp dụng công nghệ vào xử lý CTYT cần có nguồn tài chính lớn, đây cũng là vấn
đề với nhiều quốc gia đang phát triển khi không có đủ nguồn lực kinh tế để áp dụng công nghệ xử lý chất thải hiện đại Một số các quốc gia/khu vực đang sử dụng những công nghệ tốt như Hà Lan, Hồng Kông, Singapo – công nghệ nhiệt có thu hồi năng lượng để phục vụ cho các mục đích dân sự; hay Nhật Bản, Thụy Sĩ – công nghệ thu hồi nhiệt và thu hồi sản phẩm để tái chế Trong khi đó các nước kém phát triển và đang phát triển thì việc xử lý chất thải y tế gặp rất nhiều khó khăn do không
áp dụng được những công nghệ xử lý CTYT an toàn, hiện đại [28]
Một nghiên cứu ở tỉnh Nam Ninh, Trung Quốc năm 2009 chỉ ra rằng mức độ phát thải chất thải y tế tại các cơ sở y tế trong nghiên cứu dao động từ 0,5–0,8 kg/giường (trung bình là 0,68 kg/giường) Việc phân loại các loại chất thải y tế được thực hiện tại 73% các cơ sở y tế nhưng có khoảng 20% số bệnh viện tại thành phố vẫn sử dụng nhân công không phù hợp cho việc phân loại chất thải y tế; 93,3% bệnh viện có nơi lưu trữ tạm thời chất thải y tế tuy nhiễn việc tập huấn và giáo dục cho các cán bộ y tế có nhiệm vụ trong công tác quản lý chất thải y tế chưa có, khoảng 20% trong số các bệnh viện [30] Một nghiên cứu khác năm 2009 tại thành phố Damanhour (Hy Lạp) (với 8 bệnh viện được lựa chọn tương ứng 4733 giường bệnh) đã chỉ ra tổng lượng chất thải y tế vào khoảng 1.249 kg/ngày, trong đó lượng rác thải theo giường bệnh/ngày vào khoảng 0,23-0,27 kg, trung bình là 0,85 kg, con
Trang 24so với nhiều quốc gia khác như tại Bangladesh (0,8-1,6 kg/ngày/giường), Malaysia (1,9 kg/ngày/giường) hay Việt Nam (2,27 kg/ngày/giường – chỉ trên địa bàn thành phố Hà Nội) [27] Việc phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện này đạt 100% tuy vậy vẫn có 25% số bệnh viện đã không sử dụng hoàn toàn đúng những dụng cụ đựng để thu lại các loại chất thải y tế Tuy vậy, tại đây số lượng các bác sỹ, y tá những người có trách nhiệm trong quản lý chất thải y tế được tập huấn là rất cao, tương ứng với 98% bệnh viện có những khóa tập huấn ngắn hạn cho các đối tượng nêu trên; có những bệnh viện hàng tháng tập huấn định kỳ một lần cho các đối tượng liên quan (63% số bệnh viện) Có thể nói công tác tập huấn quản lý chất thải thường xuyên là một ưu điểm nổi bật ở nghiên cứu này [29]
Công tác quản lý chất thải y tế tại các quốc gia trên thế giới rất đa dạng Các yếu tố tạo nên sự khác biệt trong quản lý chất thải rắn y tế đó có thể là sự hỗ trợ kinh phí, công nghệ, vật lực trong quản lý chất thải y tế của một quốc gia, mức độ tham gia của các đơn vị hay trong công tác phối hợp thực hiện của cơ quan có liên
Trang 2516
quan Ở một cấp độ cao hơn đó là sự khác biệt về mặt pháp luật và thực thi pháp luật của các đơn vị có liên quan trong công tác quản lý chất thải y tế
1.4.1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo số liệu của Bộ Y tế, có khoảng 1.254 bệnh viện các tuyến với tổng lượng chất thải rắn phát sinh là khoảng 450 tấn/ngày (trong đó có 47 tấn là chất thải rắn nguy hại) Số lượng chất thải y tế nguy hại cần được xử lý cũng tăng lên theo thời gian, ước tính tới năm 2020 là 93 tấn/ngày [5] Xử lý chất thải y tế đang trở thành một gánh nặng cho tất cả các cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc khi mà hầu hết chất thải y tế nguy hại đều chưa được xử lý một cách triệt để Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, tính đến năm 2010 thì chỉ có 40% bệnh viện có lò đốt hiện đại
để xử lý CTYT, 30% bệnh viện sử dụng lò đốt thủ công [1] Tính đến năm 2012, Cục Quản lý Môi trường Y tế cho biết có khoảng 500 lò đốt (2 buồng và 1 buồng) đang được sử dụng tại các bệnh viện để xử lý CTYT [5] Tuy nhiên việc sử dụng các lò đốt đang là vấn đề gây ô nhiễm môi trường và trên thực tế xu hướng thế giới đang loại bỏ dần công nghệ đốt vì có thể thải ra những chất khó phân hủy như: Dioxin, Furan hoặc những chất khó phân hủy khác và rất khó kiểm soát được những công nghệ đốt này [5] Bên cạnh đó, thực trạng tại tuyến y tế cấp tỉnh, phần lớn chất thải y tế được thuê xử lý (rủi ro, nguy cơ ô gây ô nhiễm môi trường cao, khó kiểm soát chất lượng); còn đối với tuyến huyện, thị xã thì chất thải rắn được xử lý hết sức
đa dạng với nhiều loại hình khác nhau và rất khó kiểm soát
Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Hoạt động phân loại còn tồn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi chất thải y tế, còn để lẫn nhiều chất thải y tế thông thường vào chất thải y tế nguy hại và ngược lại Hệ thống
kí hiệu, màu sắc, mã vạch của túi, thùng đựng chất thải chưa đầy đủ và thống nhất
Trang 2617
Tình trạng nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế đang làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số những bệnh viện đã tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số bệnh viện (11,4%) thu gom vật sắc nhọn vào các hộp không an toàn (vẫn có khả năng đâm xuyên)
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả còn cho thấy: tỷ lệ cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về cách thức phân loại chất thải thành 5 nhóm chưa cao, hiểu biết về mã màu sắc, dụng cụ đựng chất thải y tế còn chưa đầy đủ, bên cạnh đó công tác đào tạo tập huấn của bệnh viện còn chưa thường xuyên, do đó hoạt động phân loại chất thải chưa đạt được kết quả như mong đợi
Thực trạng công tác thu gom chất thải rắn y tế
Hầu hết các chất thải y tế được các bệnh viện thu gom, vận chuyển ngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom chất thải theo đúng quy định chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [9] Phương tiện thu gom chất thải như túi, thùng, xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết còn thiếu và không đạt tiêu chuẩn Trong khi đó hiểu biết của các nhân viên trong bệnh viện đặc biệt là các nhân viên thu gom còn chưa cao Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ các cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi chất thải y tế không cao (24,6%), chính vì vậy, hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế chưa đảm bảo an toàn và chưa đúng quy trình hướng dẫn của Bộ Y tế về quản lý chất thải y tế Ngoài công tác đào tạo, trang bị kiến thức cho cán bộ nhân viên y tế còn ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộ cho nhân viên trực tiếp tham gia vào hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa được quan tâm
Công tác lưu giữ chất thải rắn y tế
Hầu hết các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khu đất của bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ rủi ro do rơi vãi vật sắc nhọn, nhiều côn
Trang 2718
trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung chất thải không có mái che, không có hàng rào bảo vệ, không có khóa…vị trí ở xa tầm kiểm soát của nhân viên lưu giữ chất thải nên côn trung, chuột, súc vật, con người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải chung đạt tiêu chuẩn quy định
Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế
Theo báo cáo gửi về Cục quản lý Khám chữa bệnh, hiện có 34/36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế thực hiện ký hợp đồng thuê công ty môi trường đô thị vận chuyển chất thải y tế thông thường ra ngoài các cơ sở y tế để xử lý Đối với chất thải y tế nguy hại, hiện có 8 bệnh viện có lò đốt còn lại 28/36 bệnh viện thuê công t môi trường đô thị xử lý bằng lò đốt tập trung của cơ sở thiêu hủy trên địa bàn Các bệnh viện ký hợp đồng với các công ty thu gom, vận chuyển chất thải y tế là tương đối phổ biến (do số lượng các bệnh viện không có lò xử lý chất thải còn nhiều, kinh phí vận hàng các lò hoạt động cao), tuy nhiên sự phối hợp liên ngành giữa hai bên chưa thực sự tốt Hầu hết các nhân viên y tế trong bệnh viện không biết các yêu cầu cần thiết của quy trình vận chuyển chất thải y tế ra ngoài bệnh viện, đồng thời cũng không quan tâm việc xử lý chất thải bên ngoài ra sao
Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta Tuy nhiên, giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều vì thực trạng quản lý chất thải bệnh viện đang đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức
Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất thải y tế là rất lớn Theo ước tính sơ bộ, tổng kinh phí cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải vào khoảng 1.160 tỷ đồng, chưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì [6] Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngân sách Nhà nước, hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, nguồn hỗ trợ
từ các Chính phủ và tổ chức phi Chính phủ
Trang 2819
Hiện nay các bệnh viện được trang bị các lò đốt hiện đại nhưng kinh phí để vận hành, bảo trì và trả lương cho nhân viên còn chưa được quy định rõ ràng lấy từ nguồn ngân sách nào Kinh phí đầu tư để thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải
là rất lớn, trong khi đó, các bệnh viện không được tự nâng giá khám chữa bệnh để
bù vào chi phí quản lý chất thải của mình Vì vậy, đã có những trường hợp bệnh viện đã được trang bị lò xử lý chất thải hiện đại nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí
Bên cạnh đó, kiến thức về quản lý chất thải y tế của cán bộ, nhân viên y tế, nhân viên trực tiếp làm công tác xử lý chất thải, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân còn chưa cao, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và tiêu hủy chất thải y tế Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện cũng
là yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải tại bệnh viện
Công tác truyền thông tập huấn là một yếu tố quan trọng trong vấn đề quản lý chất thải Nhiều nghiên cứu cho thấy, những bệnh viện được tập huấn thường xuyên
về quản lý chất thải y tế thì kiến thức và thực hành của cán bộ nhân viên tại bệnh viện đó tốt hơn
Quy chế quản lý chất thải theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT năm 2007 được ban hành dựa trên căn cứ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định về Quản lý chất thải nguy hại đã có nhiều bất cập cần sửa đổi cho phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường 2014 và thông tư 36:2015 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại
1.4.2 Một số phương pháp xử lý nước thải y tế
Hiện nay, nước ta đã ứng dụng nhiều giải pháp công nghệ để xử lý nước thảibệnh viện, tuy nhiên với thành phần và đặc tính nước thải có BOD/COD ≥ 0,5 thì hầu hết các bệnh viện đều áp dụng công nghệ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học Nhờ hoạt động của các vi sinh vật, các chất ô nhiễm bị phân giải thành
nước, chất khí và các chất vô cơ đơn giản
Trang 2920
1.4.2.1 Ao hồ sinh học (hay còn gọi là ao hồ ổn định nước thải)
Xử lý nước thải trong các ao hồ ổn định là phương pháp xử lý đơn giản nhất
và đã được áp dụng từ lâu Phương pháp này không yêu cầu kỹ thuật cao, vốn đầu tư
ít, chi phí vận hành thấp, quản lý đơn giản và hiệu quả khá cao, tuy nhiên thời gian xử
lý khá dài ngày, đòi hỏi mặt bằng rộng và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Cơ sở khoa học của phương pháp là dựa vào khả năng tự làm sạch của nước, chủ yếu là vi sinh vật và các loài thủy sinh khác, các chất ô nhiễm bị phân hủy thành các chất khí và nước Như vậy, quá trình làm sạch không phải thuần nhất là quá trình hiếu khí, mà còn có cả quá trình tùy tiện và kị khí
Theo kết quả quan trắc của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2011, nước thải xử lý bằng phương pháp ao hồ sinh học chưa đạt tiêu chuẩn cho phép: BOD5 57; sunfua 5,5 mg/L; coliform 40000 MPN/100mL nước thải trong khi QCVN 28:2010 cột B có các giá trị tương ứng là 50; 4,0 mg/L và 5000 MPN/100mL nước thải Như vậy, bệnh viện cần có kế hoạch xây dựng hệ thống xử lý mới để nâng cao hiệu quả xử lý [18]
1.4.2.2 Bể phản ứng sinh học hiếu khí – AEROTANK
Nước thải chảy bể Aerotank và được sục khí, khuấy đảo nhằm tăng cường lượng oxi hòa tan và tăng cường quá trình oxi hóa chất ô nhiễm hữu cơ có trong nước
Nước thải sau khi đã được xử lý sơ bộ còn chứa phần lớn các chất hữu cơ ở dạng hòa tan cùng các chất lơ lửng đi vào bể Aerotank Các chất lơ lửng này là một
số chất rắn và có thể là các chất hữu cơ chưa phải là dạng hòa tan Các chất lơ lửng này như giá thể cho vi khuẩn cư trú, sinh sản và phát triển, dần thành các cặn bông Các hạt này hình thành và lơ lửng trong nước, do vậy quá trình xử lý nước thải ở aerotank được gọi là quá trình xử lý với sinh trưởng lơ lửng của quần thể vi sinh vật Các bông cặn này cũng chính là bùn hoạt tính Trong nước thải có những hợp chất hữu cơ hòa tan – loại hợp chất dễ bị vi sinh vật phân hủy nhất Ngoài ra, còn có loại hợp chất hữu cơ khó bị phân hủy hoặc loại hợp chất chưa hòa tan, khó hòa tan
ở dạng keo – các dạng hợp chất này có cấu trúc phức tạp cần được vi khuẩn tiết ra
Trang 3021
enzim ngoại bào phân hủy thành những chất đơn giản hơn rồi sẽ thẩm thấu qua màng tế bào và bị oxi hóa tiếp thành sản phẩm cung cấp vật liệu cho tế bào hoặc sản phẩm cuối cùng là CO2 và nước Các hợp chất hữu cơ ở dạng keo hoặc ở dạng các chất lơ lửng khó hòa tan sẽ khiến quá trình oxi hóa bởi vi sinh vật xảy ra khó khăn hoặc chậm hơn
Nhiều bệnh viện đã áp dụng bể aerotank để xử lý nước thải như bệnh viện Nhân dân Gia Định; bệnh viện Thống Nhất – TP Hồ Chí Minh; bệnh viên đa khoa tỉnh Phú Thọ, …
1.4.2.3 Công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt - BIOFILTER
Lọc nhỏ giọt là loại bể lọc sinh học với vật liệu tiếp xúc không ngập trong nước Các vật liệu lọc có độ rỗng và diện tích mặt tiếp xúc trong một đơn vị thể tích
là lớn nhất trong điều kiện có thể Nước đến lớp vật liệu lọc chia thành các dòng hoặc hạt nhỏ chảy thành lớp mỏng qua khe hở của vật liệu, đồng thời tiếp xúc với màng sinh học ở trên bề mặt vật liệu và được làm sạch do vi sinh vật của màng phân hủy hiếu khí và kị khí các chất hữu cơ có trong nước các chất hữu cơ phân hủy hiếu khí sinh ra CO2 và nước, phân hủy kị khí sinh ra CH4 và CO2 làm tróc màng ra khỏi vật mang, bị nước cuốn theo Trên mặt giá mang là vật liệu lọc lại hình thành lớp màng mới Hiện tượng này được lặp đi lặp lại nhiều lần kết quả là BOD của nước thải bị vi sinh vật sử dụng làm chất dinh dưỡng và bị phân hủy kị khí cũng như hiếu khí: nước thải được làm sạch
Nước thải trước khi đưa vào xử lý ở lọc nhỏ giọt cần phải qua xử lý sơ bộ để tránh tắc nghẽn các khe trong vật liệu Nước sau khi xử lý ở lọc sinh học thường nhiều chất lơ lửng do các mành vỡ của màng sinh học cuốn theo, vì vậy cần phải đưa vào lắng 2, đây là thời gian thích hợp để lắng cặn
Một số bệnh viện đang áp dụng công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt này như bệnh viện A Thái Nguyên, bệnh viện C Thái Nguyên, bệnh viện đa khoa Quỳnh Phụ
- Thái Bình, sau khi xử lý đạt được tiêu chuẩn cho phép, tất cả các chỉ tiêu phân tích đều đạt QCVN 28:2010 cột B [14]
Trang 3122
1.4.2.4 Công nghệ xử lý theo mô hình DEWATS
DEWATS, hệ thống xử lý nước thải phân tán, là một giải pháp mới cho xử lý nước thải hữu cơ với quy mô dưới 1000 m3/ngày.đêm, với ưu điểm là hiệu quả xử
lý cao, hoạt động tin cậy, lâu dài, thích ứng với sự biến động về lưu lượng, không cần tiêu thụ điện năng nếu khu vực xử lý có độ dốc thích hợp, công nghệ xử lý thân thiện với môi trường, xử lý nước thải nhờ các vi sinh vật có trong nước thải hoặc nhờ quá trình tự nhiên mà không sử dụng hoá chất và đặc biệt là yêu cầu vận
hành và bảo dưỡng đơn giản và chi phí rất thấp
Hệ thống DEWATS gồm có bốn bước xử lý cơ bản với các công trình đặc trưng: quá trình lắng loại bỏ các cặn lơ lửng có khả năng lắng được, giảm tải cho các công trình xử lý theo sau Quá trình xử lý nhờ các vi sinh vật kị khí để loại
bỏ các chất rắn lơ lửng và hòa ta trong nước thải Tiếp theo là quá trình xử lý hiếu khí và cuối cùng là khử trùng
Hình 1.1 Các bước xử lý nước thải của DEWATS
Hiện nay đã có hơn 500 hệ thống DEWATS đang hoạt động hiệu quả ở các nước như Indonesia, Ấn Độ, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam và các nước Nam
Trang 3223
Phi Tại Việt Nam, hệ thống DEWATS đã được áp dụng xử lý nước thải tại: bệnh viện Nhi Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; bệnh viện đa khoa Kim Bảng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; xử lý nước thải sinh hoạt tại thôn Kiêu Kị, xã Kiêu Kị, huyện Gia Lâm, Hà Nội; Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo; … Do vậy, tiềm năng áp dụng công nghệ này vào điều kiện Việt Nam là rất lớn vì tính bền vững của công nghệ trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải hữu cơ gây ra với chi phí thấp, hiệu quả xử lý cao
Bệnh viện Nhi Thanh Hóa đã áp dụng công nghệ DEWATS với nước thải sau xử lý có các thông số COD dưới 80, BOD5 dưới 50 mg/L [13]
1.4.2.5 Công nghệ xử lý theo nguyên lý hợp khối
Nguyên lý hợp khối cho phép thực hiện kết hợp nhiều quá trình cơ bản xử lý nước thải đã biết trong không gian thiết bị của mỗi mô-đun để tăng hiệu quả và giảm chi phí vận hành xử lý nước thải Thiết bị xử lý hợp khối cùng một lúc thực hiện đồng thời quá trình xử lý sinh học thiếu khí và hiếu khí Việc kết hợp đa dạng này sẽ tạo mật độ màng vi sinh tối đa mà không gây tắc các lớp đệm, đồng thời thực hiện oxy hóa mạnh và triệt để các chất hữu cơ trong nước thải Thiết bị hợp khối còn áp dụng phương pháp lắng lamen cho phép tăng diện tích lắng và rút ngắn thời gian lưu Các thiết bị được chế tạo theo nguyên lý modul, hợp khối, tự
động rất gọn nhẹ, phù hợp với mọi điều kiện lắp đặt và sử dụng của Việt Nam
Đi kèm với giải pháp công nghệ hợp khối này có các hóa chất phụ trợ gồm: chất keo tụ PACN-95 và chế phẩm vi sinh DW-97-H giúp nâng cao hiệu suất xử lý, tăng công suất thiết bị
Ưu điểm của công nghệ
- Đảm bảo loại trừ các chất gây ô nhiễm xuống dưới tiêu chuẩn cho phép trước
khi thải ra môi trường;
- Tiết kiệm chi phí đầu tư do giảm thiểu được phần đầu tư xây dựng;
- Dễ quản lý vận hành;
- Tiết kiệm diện tích đất xây dựng;
Trang 3324
- Có thể kiểm soát các ô nhiễm thứ cấp như tiếng ồn và mùi hôi
Nhược điểm của công nghệ
- Chi phí đầu tư ban đầu cao
a) Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện V-69
Công nghệ này được Trung tâm CTC thiết kế xây dựng từ năm 1997 tại Bệnh viện V-69 thuộc Bộ tư lệnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Viện nghiên cứu và bảo quản thi thể Bác Hồ) Từ đó đến nay V-69 được phát triển và hoàn thiện nhiều lần Chức năng của các thiết bị xử lý khối kiểu V-69 là xử lý sinh học hiếu khí, lắng bậc 2 kiểu lamen và khử trùng nước thải Ưu điểm của thiết bị là tăng khả năng tiếp xúc của nước thải với vi sinh vật và oxy có trong nước nhờ lớp đệm vi sinh có độ rỗng cao, bề mặt riêng lớn; quá trình trao đổi chất và oxy hóa đạt hiệu quả rất cao
b) Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện CN-2000
Trên nguyên lý của thiết bị xử lý nước thải V-69, thiết bị xử lý nước thải CN-2000 được thiết kế chế tạo theo dạng tháp sinh học với quá trình cấp khí và không cấp khí đan xen nhau để tăng khả năng khử nitơ Khối bể có kích thước tùy thuộc vào quy mô công suất của từng trạm xử lý Bể chia làm 4 ngăn:
1 Ngăn thu nước thải
2 Ngăn nén bùn, lên men bùn
3 Ngăn điều hòa và xử lý sinh học bậc 1
4 Ngăn điều hòa và xử lý sinh học bậc 2
Trang 3425
Hình 1.2 Cấu tạo và hình ảnh thiết bị CN 2000
Theo nghiên cứu khảo sát hiện trạng nước thải bệnh viện, công nghệ xử lý nước thải theo nguyên lý hợp khối được khá nhiều bệnh viện áp dụng điển hình như
Hà Nội có 11/25; có tới 44% số bệnh viện được nghiên cứu khảo sát đang áp dụng công nghệ này
Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã áp dụng công nghệ
CN 2000, tuy nhiên theo kết quả quan trắc của Viện Y tế lao động và Vệ sinh môi trường nước thải sau xử lý chưa đạt tiêu chuẩn thải do còn bị ô nhiễm bởi một
số giá trị cao hơn mức cho phép COD (163 mg/L), BOD5 (112 mg/L) và amoni 30,03 (mg/L); trong khi đó tất cả các chỉ tiêu trong nước thải bệnh viện Việt Đức đều đạt QCVN 28:2010 cột B [18]
1.4.2.6 Hệ thống xử lý nước thải BIOFAST
Công nghệ Biofast là hệ thống xử lý nước thải theo công nghệ Mỹ có cấu trúc modul, gồm các công đoạn: xử lý yếm khí, hiếu khí, oxy hóa, khử trùng, khử mùi Công nghệ khử mùi tiên tiến, công nghệ giám sát, điều khiển vận hành hoàn toàn tự động (RmS), nhờ vậy, hệ thống xử lý nước thải Biofast có chất lượng xử lý
Trang 3526
ổn định ở tiêu chuẩn cao, tránh được các sự cố do sai sót của con người Ngoài ra,
hệ thống xử lý nước thải Biofast được thiết kế đặc biệt, có thể dễ dàng chuyển đổi hoặc nâng dung lượng theo nhu cầu sử dụng của bệnh viện Hệ thống còn có các chức năng được mở rộng như xử lý nước và tạp chất cực kỳ nhanh, dự phòng khi xảy ra dịch bệnh, số lượng bệnh nhân tăng đột biến Trong quá trình hoạt động, vi sinh yếm khí và hiếu khí sẽ phát sinh một lượng lớn khí độc và khí hôi như CH4,
H2S, NH3, NOx, CO2 và các hơi acid hữu cơ khác Hệ thống Biofast có modul xử lý khép kín và thu gom triệt để khí thải trước khi thải ra ngoài Đây cũng là hệ thống
xử lý nước thải duy nhất tại Việt Nam hiện nay có khả năng khử mùi hôi và tiêu diệt khí độc
Nhiều bệnh viện hiện nay đã lắp đặt hệ thống Biofast như bệnh viện Việt Pháp, bệnh viện tâm thần, bệnh viện Bình Dân - TP Hồ Chí Minh…
Ưu điểm của Johkasou MBR
- Công nghệ tiên tiến, hiệu quả xử lý cao, ổn định lâu dài;
- Chất lượng nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn quốc tế;
- Không gây mùi hôi khó chịu;
- Tuổi thọ cao (trên 100 năm), chống chịu được các chấn động địa chấn của động đất, ít bị hư hỏng trong môi trường sụt lún nền móng, sau khi lắp đặt mỹ quan của công trình được đảm bảo;
- Cấu trúc vững chắc, gồm một hay nhiều modul, thích hợp cho mọi công suất xử lý từ 1m3/ngày.đêm đến 1400m3/ngày.đêm hoặc lớn hơn;
Trang 36- Thời gian lắp đặt ngắn (2 - 30 ngày) tùy theo quy mô xử lý
Hệ thống Johkasou MBR đã được lắp đặt ở nhiều bệnh viện như bệnh viện Đống Đa – Hà Nội, bệnh viện Nguyễn Tri Phương – TP Hồ Chí Minh, bệnh viện Chí Linh – Hải Dương, trung tâm y tế Quận Thanh Khê – Đà Nẵng…
Trang 3728
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhóm 3: bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
* Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải:
- Hồ sơ, sổ sách quản lý chất thải y tế của bệnh viện
- Dụng cụ thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế
- Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải
Giới thiệu khái quát Bệnh viện đa khoa Hà Đông:
Bệnh viện đa khoa Hà Đông có lịch sử hình thành và phát triển gần 100 năm, nguyên là cơ sở điều trị tuyến cuối của Hà Tây cũ nay là BVĐK hạng I tuyến thành phố của Hà Nội, với nhiệm vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân khu vực phía Tây – Nam thành phố và các vùng lân cận
Bệnh viện được xây dựng trên khu đất rộng 31.035 m2tại địa chỉ số 2, phố Bế Văn Đàn, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội Khu vực bệnh viện là nơi tập trung dân cư cao
- Phía Đông giáp đường Nguyễn Thái Học và khu tập thể BVĐK Hà Đông
- Phía Tây giáp đường phố Nguyễn Viết Xuân và Trường cao đẳng y tế
- Phía Bắc giáp hồ nước và khu tập thể Bệnh viện
- Phía Nam giáp đường phố Bế Văn Đàn và khu dân cư
Trang 384 Khoa Sinh hóa
5 Khoa Vi sinh
6 Khoa Chẩn đoán hình ảnh
7 Khoa Thăm dò chức năng
8 Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
9 Khoa Giải phẫu bệnh
3 Khoa Ngoại tổng hợp
4 Khoa Ngoại chấn thương
5 Khoa Gây mê hồi sức
6 Khoa Sản
7 Khoa Nội tổng hợp
8 Khoa Nội tiêu hóa
9 Khoa Nội tim mạch
10 Khoa Nội thận tiết niệu
11 Khoa Nhi
12 Khoa Y học cổ truyền
13 Khoa Mắt
14 Khoa Tai mũi họng
15 Khoa Răng hàm mặt
16 Khoa Các bệnh nhiệt đới
17 Khoa Hô hấp và bệnh phổi
18 Khoa Phục hồi chức năng
19 Đơn nguyên Ung bướu
Trang 3930
Bệnh viện đa khoa Hà Đông hiện có 570 giường bệnh theo kế hoạch được giao nhưng số lượng thực tế là 640 giường, công suất sử dụng giường bệnh đạt 110 % Với 647 cán bộ nhân viên và 39 khoa phòng gồm các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
và phòng chức năng, trong năm qua, bệnh viện đã khám cho trên 200 nghìn lượt bệnh nhân, trong đó số bệnh nhân điều trị nội trú là 29.652 người, số ca phẫu thuật được thực hiện là 8.796 lượt bệnh nhân [2]
Để thu hút người bệnh đến điều trị, bệnh viện đã triển khai thực hiện nhiều kỹ thuật mới nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người bệnh Công tác chăm sóc và phục vụ người bệnh cũng luôn được bệnh viện chú trọng Tinh thần thái độ phục vụ người bệnh và y đức luôn được duy trì Người bệnh được phục vụ tận tình, chu đáo; các quy tắc ứng xử và giao tiếp của các y bác sĩ, đặc biệt
là các điều dưỡng viên, hộ lý đã được nâng cao
Nhờ vậy trong những năm qua, bệnh viện đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, được Ngành đề nghị Bộ Y tế công nhận danh hiệu Bệnh viện xuất sắc toàn diện 7 năm liền Năm 2009, Bệnh viện vinh dự được nhận Huân chương Lao động hạng III do Chủ tịch nước trao tặng Có được thành công đó là do có sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên trong toàn bệnh viện
* Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện đa khoa Hà Đông:
- Quyết định số 416/TN&MT-MTg ngày 29/11/2007 v/v chứng nhận cơ sở đã hoàn thành việc thực hiện các biện pháp xử lý triệt để theo quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ
- Quyết định số 655/QĐ-TNMT ngày 10/12/2009 v/v phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường đối với bệnh viện đa Khoa Hà Đông
- Sổ đăng ký chủ nguồn thải mã số: QLCTNH: 01.000.314.T ký ngày
16/12/2013 (Cấp gia hạn lần 2)
Trang 4031
- Về hoạt động của lò đốt rác thải Y tế nguy hại tại bệnh viện: bệnh viện đã có Quyết định số 63/QĐ-BV ngày 20/05/2010 về việc ngừng hoạt động đốt rác đối với
lò đốt rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện
- Tháng 6 năm 2010, bệnh viện đã ký HĐKT với Công ty CPMTĐT- URENCO
10 về việc thu gom vận chuyển và xử lý rác thải y tế nguy hại cho bệnh viện đến hết năm 2014
- Năm 2015, bệnh viện đã ký HĐKT với Công ty cổ phần Môi trường Thuận Thành về việc thu gom, vận chuyển và xử lý thải y tế nguy hại cho bệnh viện
- Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước số 46/GP-TNMT-TNN&KTTV, ngày 05/04/2010 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp (Bệnh viện đã xin gia hạn cấp phép xả thải tại Quyết định số 178/QĐ- STNMT ngày 22/7/2013)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
2.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Về việc thực hiện thủ tục pháp lý bảo vệ môi trường trên cơ sở y tế như: giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, đề án quản lý và bảo vệ môi trường, sổ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại Học viên thu thập thông tin tại phòng Hành chính quản trị
Về thực trạng phát sinh chất thải rắn:
- Cân định lượng toàn bộ rác thải hàng ngày của bệnh viện 2 lần
- 3 tháng cân 1 lần Lần 1 vào tháng 5 năm 2015 Lần 2 vào tháng 8 năm
2015
Về quy trình tổ chức quản lý chất thải rắn tại bệnh viện:
- Kết hợp thu thập quy chế quản lý chất thải rắn y tế được bệnh viện ban hành để áp dụng đối với tất cả các khoa phòng cùng với phỏng vấn cán bộ khoa kiểm soát nhiễm khuẩn
Về thực trạng công tác thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế: